THỰC TẠI VÀ CHÍ
ĐẠO
Phổ Nguyệt
LỜI TỰA
Nỗ
lực đi tìm chân lý nhứt là những tri thức dẫn đến sự giải thoát
khỏi thân phận làm người đầy mọi ràng buộc khổ đau để tìm lại chính
mình tự do tự tại, tất cần một ít trí tuệ và tích cực, đối với
những ai có khát vọng hướng đến hay đạt đến vương quốc của Thượng
Đế hay Thiên Đàng, Tây Phương Cực Lạc hay Niết Bàn. Phổ Nguyệt trình
bày trong tập sách nầy những tri kiến thiết thực cho nhận thức, từ
đó phát triển khả năng tư duy và tự vượt khỏi mọi ràng buộc với
hai mục đích sau đây:
Phần
Một: Điểm sách, ghi lại những tư tưởng về thực tại--của các triết
gia, bậc trí giả, nhà đạo học, các tôn giáo và những nhận định của
các dịch giả--cốt để tự học hỏi, nghiên cứu, mở rộng kiến thức và
giới thiệu đến những ai khao khát những tri thức dẫn đến chân phúc;
Phần
hai: Giải thoát tri kiến tức là lột xác những tri kiến giả lập nầy
để khôi phục chân tính của chúng, khai mở chúng để thấy được, giáp
mặt và thâm nhập, trên tiến trình thể hiện và nắm bắt cứu cánh.
Có như vậy thì cuốn sách nầy mới có nhiều lợi ích dẫn đến Chí Đạo.
Phần
hai cuốn sách là phần trình bày lý giải và phương pháp của Phổ
Nguyệt về "Tánh Giác" nói chung và "Bát Nhã Tâm Kinh
Qua Lăng Kính Thời Không" nói riêng. Trí Bát Nhã Cứu Cánh là con
đường đi đến chân nguyên một cách nhanh nhứt, con đường trực chỉ nhân
tâm, một pháp môn đốn ngộ. Với ý chỉ và phương pháp của Trí Bát
Nhã Cứu Cánh, tất nhiên sự giải lý và thực hiện phải trực tiếp
thấy được, hiểu được ngay và hành được ngay; đó mới là chủ yếu.Kinh
qua tư duy và thực hiện, thấy phương pháp của Bát Nhã Tâm Kinh thâm
sâu và tối ưu, Phổ Nguyệt xin chia sẻ những gì đã trực ngộ tới
những ai có lòng khao khát chân lý.
Cái
tri kiến được nhận định về thực tại theo thế tục, ngay cả tri kiến
dẫn đến thực tại theo tư duy của các tôn giáo, của các trí giả chú
giải phê phán đều là những nhận định chủ quan mà thôi. Như tinh yếu
của "Bát Nhã Tâm Kinh" là thể tài thâm sâu, mà biết bao
nhiêu nhà đạo học, trí giả đã từng nghiên cứu và chú giảng; càng
có nhiều tư tưởng diễn giảng thì càng có thêm nhiều ý kiến mới lạ
dễ thấy nhiều đường suy nghiệm, rất gía trị cho tư duy. Tri kiến của
các tôn giáo, chẳng hạn, "Trí Bát Nhã Cứu Cánh" tự nó có
thể biện minh cứu cánh vì chính những tri kiến ấy đã mang chứa sẵn
đầy đủ tự tính mọi sự vật. Những ai tri nhận thâm sâu thực tại mới
có cái nhìn chính xác hơn.
Quan
trọng ở phần hai cuốn sách là phần khai sáng giải lý cơ cấu tri
kiến và phương tiện đạt cứu cánh chỉ là một phần chủ yếu trong cả
quá trình tu học phức tạp và đầy đủ của các tôn giáo. Do đó, vấn
đề giới luật, tín điều, giáo điều của các tôn giáo, hay nội qui của
các pháp môn là sự quan thiết khác, không nằm trong nhận định lý
giải phương pháp cứu cánh nầy.
Hình
thức có nhiều sơ sót, như trình bày, chánh tả, đánh máy v.v...Riêng
nội dung phần hai, ở mục phân giải "Tánh Giác" và "Trí
Bát Nhã Cứu Cánh" là chủ kiến của tác giả; do vậy Phổ Nguyệt
cần sự chỉ điểm thêm của các bậc đạo học, trí giả. Mong rằng quyển
sách nầy sẽ đem lại lợi ích không nhỏ trong đạo sống hàng ngày cho
quý độc giả.
Mùa
Thu 2001
PHỔ NGUYÊT
PHẦN MỘT
TRI KIẾN
Sống là diễn trình sinh hoạt nhằm thỏa mãn nhu cầu vật
chất và tinh thần của con người. Sinh hoạt do tác động của nhu cầu
đáp ứng thiết thực. Đó là bản năng sinh tồn. Nếu thiếu các nhu yếu
ấy tất không sống được.
Trong đời sống, tâm lý được biểu hiện bằng tình cảm,
lý trí và hoạt động. Kinh qua học hỏi, va chạm trong cuộc sống, tâm
chúng ta đã chứa đựng trong tàng thức những tri kiến hỗn tạp. Sáu
thức ra vào sáu căn, nhân đó có tham trước muôn cảnh tạo thành
nghiệp dữ, che khuất bổn thể chơn như. Do ba độc (Tham Sân Si) sáu
giặc (lục thức hay sanh lục tặc), nên chúng ta bị mê hoặc và rối
loạn thân tâm, trôi giạt trong sanh tử luân hồi, lăn lóc trong sáu
đường (lục đạo: Thiên, Nhơn, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Qủy và Địa Ngục),
chịu cảnh khổ đau.
Nghiệp thức như có hấp lực, lôi kéo thân khẩu ý chạy
theo tâm viên ý mã của mình. Tâm thức theo thời gian kết nạp. Tâm
vốn không thiện không ác, chỉ vì có Hành nên có thức qua trung gian
của Tâm mà ta gọi Tâm thiện tâm ác. Gọi như thế là ta gọi cái
trạng thái của thức mà thôi. Biến thể của chơn tâm là vọng Tâm.
Biến thể ấy gồm có 5 trạng thái:
-Hiểu biết chơn thật do tri thức, do suy luận, do sự
điêu luyện (kinh nghiệm) là những tiêu chuẩn của chơn lý;
-Vô Minh (Không phân biệt phải trái, chánh tà) là sự
hiểu biết sai lầm, không phải thực trạng của Tâm;
-Vọng ngữ là nói những điều không có thực để thoả
mãn vọng tâm;
-Giấc ngũ thường sanh chiêm bao, là điều hư vọng không
căn cứ. Mộng mị do vọng tâm hiện ra, những điều ấy là phản ảnh của
sự ước muốn hay lo sợ, hậu qủa của những tội ác;
-Trí nhớ là vọng tâm ghi lại những điều đã trải qua
mà còn luyến ái.
Bóng tối mờ mịt của vọng tâm (vô minh) phải được soi
sáng, quét sạch, lắng đọng, sàn sẩy, thanh lọc thì chơn tâm hiển
bày. Muốn làm việc đó phải có Ánh Sáng, cái hiểu biết sâu sắc
căn cơ tột cùng của Lý-Sự. Cái biết đó là Tri Thức. Vậy tri thức
là gì? Vai trò tri thức ra làm sao? Hậu quả.
Mỗi lần nhìn một trần cảnh là có một thức qua sự ghi
nhận của Tâm. Hiện thức ấy chỉ xuất hiện lúc ấy và dứt liền ngay,
thức đó là chơn thức; qua một sát-na thức ấy lập lại mà ta xem như
là còn lưu lại, đó là vọng thức chứ không phải là cái thức đầu
tiên. Thấy một hình ảnh một chiếc dép quăng trên cao rơi xuống, sau
nhớ lại, ảnh thức (dép) sau là vọng là giả. Nếu cái hiện hữu ấy
khi mới thấy liền biến mất ngay, nó sẽ hiện hữu (trong tàng thức)
không bao giờ chấm dứt. Hiện tượng vô thường không phải đột biến,
nó nối liền nhiều điểm li ti của sát na biến diệt liên tục. Những
điều mà Phật gọi là vọng chấp mê lầm, với Thuyết Tánh không,
chúng chỉ là những hiện tượng như huyển như mộng. Nhận thức mà ta
gọi là cụ thể, được đi đôi với một tên gọi nào đó, không có tên
gọi thì đối tượng không là gì cả. Đối tượng được đặt tên không phải
là đối tượng trực quán của chân trí. Như thế đối tượng của tri thức
không là gì khác hơn là giả tượng. Bản chất của tri thức đã được
cấu tạo bằng nhiều giả tượng như thế - chỉ khi những giả tượng nầy
bị hủy diệt, bản chất tri thức mới trở thành chân trí. Lúc ấy sự
thể mới xuất hiện như là đối tượng hiện quán. Do vậy kết cấu của
Tri Thức được hình thành bằng những cảm giác, kinh nghiệm, va chạm ý
thức theo thời gian lập đi lập lại, chúng ta mới có tri thức rõ
rãng. Cái tri thức chủ động nầy bao gồm cả những điều chúng ta kinh
nghiệm (tri nhận) mà còn những kiến thức của tha nhân nữa. Gọi chung
tất cả là tri kiến.
Những tri kiến nầy rất quan trọng trong đời sống của
con người. Nó là lối sống cảm nghĩ và hành động. Thiếu nó con người
trở nên vô tích sự không những cho bản năng sinh tồn mà còn là con
người mất trí. Tri kiến bao gồm cái chánh cái tà, cái đúng cái sai
hay cái thiện cái ác. Chúng ta, trong đời từng lăn lóc qua cảnh tình
của thế sự tất phải gặp nhiều cái đúng, tốt cũng như cái sai cái
xấu. Có thực nghiệm hai mặt của vấn đề ta mới phân biệt chọn lựa
thích hợp cái thực chất vấn đề đó. Cũng như thế, muốn thực hành
bát chánh đạo, chúng ta phải trải qua tư duy rèn luyện ta mới có cái
nhìn đầy đủ, rõ ràng hầu chọn lựa, thực hành đúng chánh đạo được.
Vai trò của Tri Thức thiết yếu như vậy, chúng ta làm thế nào sử
dụng tốt trong dòng đời, trong cuộc sống đạo của mình?
Dùng một con dao thì sự ích lợi của nó không ai phủ
nhận, nhưng tai hại của nó cũng không ít, khi lơ đảng đứt tay ngay. Tri
kiến cũng vậy. Một kho tàng chứa nhiều Tri Kiến hỗn độn, khi muốn
cần dùng khó tìm được ngay cái cần ích, chỉ lẩn quẩn quanh co tốn mất
thời gian. Hậu quả, những nhà trí thức, học giả, triết gia vv... có
những nhận thức đa dạng hay bất mãn với những hiện tượng vô thường,
rồi cảm thấy lạc lõng giữa dòng đời vô nghĩa, tất khao khát muốn
thoát ly những ràng buộc chằng chịt, những bứt rứt xao xuyến tuyệt
vọng của hố thẳm tư tưởng. Cái Tri Kiến vô tận, cái trí khôn không
đáy, tham cầu không bao giờ thỏa mãn đó, là những dòng biến đổi và
lưu chuyển của Tâm viên, ý mã mà thôi.
Muốn tháo gở rối rắm đó, đồng thời cũng là tìm đường
chấm dứt cuộc đời trầm luân oan nghiệp, Phật là người giác ngộ, đã
dùng những phương cách để tự mình thực chứng, thoát khỏi mọi ràng
buộc của nghiệp thức, nên phổ biến giáo pháp của ngài. Pháp học
thì mênh mông, pháp hành cũng khá phức tạp. Minh tâm kiến tánh là
diễn tả sự thực chứng tự tại vô ngại. Bước vào đạo là làm sao
thực hành cho được minh tâm là điều không phải đơn giản. Tám vạn
bốn ngàn pháp môn là những phương cách Phật đưa ra qua qúa trình thực
chứng và giác ngộ để độ chúng sanh tùy căn cơ trình độ. Tâm đeo
nặng nhiều tri kiến mà tri kiến là trạng thái của Vọng Tâm, cho nên
nếu ta dẹp bỏ hết gánh nặng đó đi thì tâm còn gì ràng buộc? Giải
thoát tri kiến là phương pháp để được minh tâm vì chơn tâm không còn
dính dáng gì đến biến thể (vọng: tri kiến) của nó nữa - Trước khi
bàn đến giải thoát tri kiến, chúng ta thử bàn sơ vấn đề thực tại
qua các học thuyết Đông Tây.
CHƯƠNG MỘT
VỀ THỰC TẠI
Nói
đến thực tại là dùng ngôn ngữ để diễn tả cái thực có - cái có
thực là diễn trình của tư duy hay là thể nghiệm của ý thức? Quý độc
giả cũng đã từng tham khảo, lý luận đã trình bày trong sách triết
thuyết khá đầy đủ rồi, nhưng chủ ý của tác giả là muốn nêu lại
cái thực tại kinh nghiệm, quá trình tư duy của mình để soi sáng thêm
phương pháp "Thắp Sáng Hiện Hữu"õ hay "Đường về Chân
Nguyên."
Chánh kiến cũng như chánh tư duy là yếu tố quan thiết
nhất để làm sáng tỏ các mặt khác trong bát chánh đạo. Không thấy
đúng, nghĩ đúng quả là khó có thể nhận định được thực tướng của
vạn hữu! Đường tơ kẻ tóc trong mai một sai lầm của nhận thức dẫn đến
biết bao mù quáng, lầm tưởng hay an tâm trong cái gọi là hiểu đúng
nhìn đúng ấy mà đi mãi trong sa mù, để rồi có một lúc nào đó, khi
chợt tĩnh cơn mê thì qúa muộn màng cho kiếp sống và lùi lại đầu
nguồn để đi nốt quãng đường còn lại âu cũng không còn kịp. Giữa
cái Thực Hư, Chân Vọng, Thực và Mộng diễn ra trong sự sống hàng
ngày trong ngôn từ, nhưng nhận ra thế nào là Thực là Mộng quả khó
và khó hơn nữa là làm thế nào sống thực với cái ý nghĩa mà chúng
ta đã manh nha, đã công nhận hay hiểu đúng cái thực nghĩa của nó.
A. Thực Tại Tuyệt Đối
Dòng tư duy của con người trong lịch sử Đông cũng như
Tây, thường bị ám ảnh bởi Tuyết Đối và cố gắng thăm dò Tuyệt Đối,
tức là muốn khám phá cái Thực Tại cuối cùng của vũ Trụ và Tâm
linh để xem nó là cái gì?
Hành trình thăm dò Tuyệt Đối của các Triết gia Tây
phương Từ Cổ Hy-Lạp đến cận đại đều dẫn đến kết luận công nhận có
một thực thể uyên-nguyên, huyền diệu, mầu nhiệm và vạn năng làm
phát hiện vũ trụ và vạn vật. Chủ ý của tác giả là muốn dẫn quý
độc giả tham quan những dòng tư tưởng Tây phương từ cận đại trở về
sau một số nét lớn làm sáng tỏ cái thực tại cuối cùng hay nói theo
Phật là nói tính thể của vạn hữu: Tánh không vậy.
HEGEL
Hegel
cho rằng có một Thực Thể Tuyệt đối mà ông gọi là ý tưởng tuyệt
đối. Theo ông chỉ có ý tưởng tuyệt đối đó mới có thực tại trọn
vẹn, cũng như thuần lý trọn vẹn. Còn tất cả sự vật trong vũ trụ
nầy đều chỉ là thực tại tương đối và thuần lý tương đối mà thôi.
Ông đề cao tiêu ngữ: "Tất cả những gì thực tại đều là thuần
lý và tất cả những gì thuần lý đều có thực tại."
Vì lý do gì và do thể thức nào ý tưởng tuyệt đối đã
làm phát hiện vũ trụ? Cuốn "Phenoménologie de l'Esprit"õ đã
trả lời điểm đó và trình bày về lịch trình chuyển hóa mà Hegel gọi
là lịch trình hiện tượng hóa. Hegel cho rằng ý tưởng không thể làm
việc gì khác ngoài việc trở lại soi sáng suy tư về chính mình. Sự hồi
quang phản chiếu đó đã khiến cho trong trạng thái thuần nhất của ý tưởng
bỗng đột khởi một mầm mâu thuẫn. Và chính mâu thuẫn nầy là động cơ
xô đẩy ý tưởng phải dời bỏ trạng thái thuần nhất nguyên thủy,
phải tự phóng khí để bước vào lịch trình hiện tượng hóa.
Lịch
trình nầy kinh qua nhiều giai đoạn: giai đoạn: khoáng vật, thực vật,
động vật rồi đến người. Mỗi loại đều bao gồm muôn hình vạn trạng
hiện tượng (đá, đất, cây cỏ, cầm thú) và sự sinh hoạt của mỗi
hiện tượng là một lịch trình biện chứng thu hẹp, chi phối bởi luật
tắc tương sinh, tương khắc và bao gồm ba trạng thái: chánh đề, phản
đề, tổng hợp đề. Mỗi hiện tượng đều hàm chứa một thứ thức giác
vốn là phản ảnh của ý tưởng và tùy theo giai đoạn tiến hóa thức giác
của hiện tượng tăng tiến nẩy nở thêm ra. Khi chuyển hóa đến loài
người, có sự thăng hoa của thức giác. Vì điểm đặc biệt của thức
giác con người là năng khiếu quay trở lại soi sáng vào chính mình, để
suy tư những tình tự và tư tưởng của mình. Bởi có thăng hoa của thức
giác, nên Hegel cho rằng người là một thực thể tiến hoá trong đó
thế xung đột giữa tâm linh và thể chất đạt tới mức độ khốc liệt
hơn hết. Người là cái mực độ cuối cùng trong lịch trình sa đọa của ý
tưởng đi sâu vào vật chất, nhưng đồng thời cũng là bậc thang đầu
tiên của lịch trình chuyển hóa để trở về ý tưởng tuyệt đối.
Vì thế lịch trình hiện tượng hóa của ý tưởng không
phải là một đường thẳng mà là một đường vòng trôn ốc. Ý tưởng
dời bỏ trạng thái thuần nhất nguyên thủy để chuyển hóa thành hiện
tượng như thế; trạng thái nguyên thủy là chánh đề, hiện tượng là
phản đề, chuyển tới cực độ (Người), lịch trình xoay vòng để trở về
nơi bản thể thuần nhất, trạng thái thứ ba nầy tổng hợp đề. Theo
Hegel trạng thái tổng hợp đề nầy khác với trạng thái nguyên thủy
trước khi bước vào lịch trình hiện tượng hoá, vì nó được bồi dưỡng
bởi bao kinh nghiệm tích lũy trong diễn trình. Vì sau khi tự chuyển hóa
thành hiện tượng và soi sáng chính mình trong muôn vàng hiện tượng
đó, ý tưởng mới tự giác hết thảy các năng lực trước kia tiềm ẩn
bên trong.
Như thế động cơ của mọi sự sanh thành trong vũ trụ,
chính là do tính chất thiết yếu và nội tại khiến cho thực tại uyên
nguyên phải tự phản lại mình, tự tạo một trạng thái phản đề, rồi
vượt lên trên thành một trạng thái cao hơn và tổng hợp cả hai trạng
thái trước. Nhịp điệu chuyển hóa "chánh-phản-tổng-hợp" đó
Hegel gọi là chuyển hóa biện chứng và coi đó là nhịp điệu sinh thành
của vũ trụ.
Quan Niệm Về Tự Do
Trong lịch trình hiện tượng hoá, ý tưởng phải tự mai
vong để chuyển thành khoáng vật thực vật động vật rồi người. Ở giai
đoạn khoáng vật, ý tưởng hầu như bị chìm đắm trong lớp vô tri vô
giác. Ở đây sự phóng khí của ý tưởng hết sức sâu dày, nên khó
thể tìm thấy một vết tích gì tự do trong loài khoáng vật. Khi tiến
tới loài thực vật, tự do đã mờ ảo xuất hiện, vì dù sao loài cây
cỏ đã có đôi chút lựa chọn tiến về ánh sáng chẳng hạn. Đến loài
động vật, khả năng tự do đã phát triển trọn vẹn hơn nhiều, vì thức
giác được tiến xa và gây thành những bản năng hết sức linh động.
Tới khi đến người, thức giác được thăng hoa mặc dù vẫn còn vết tích
nguyên lai động vật. Con người đã trở thành bậc thành đầu tiên biết
tự do lựa chọn để hướng tâm thức trở về ý tưởng tuyệt đối. Nói
tới quan niệm tự do của Hegel có tích cách tích lũy vì nó là một hàm
số của thức giác, nghĩa là thức giác càng nẩy nở bao nhiêu thì biên
độ của tự do càng rộng lớn bấy nhiêu.
Về phần giải thoát luận là phải làm thế nào để đạt
đến ý tưởng tuyệt đối thì hầu như Hegel đã quên lãng.
SCHOPENHAUER
Schopenhauer cho rằng cỗi nguồn của vạn vật là một
thực thể duy nhất mầu nhiệm và vạn năng. Nhưng thực thể nầy hầu như
chối bỏ mọi tính chất khác, chỉ nhấn mạnh đến ý chí mà thôi. Ý chí
có thể hiểu là năng lực tồn tại sáng tạo và Schopenhauer coi vũ trụ
như là biểu hiện của một ý chí lớn lao vô cùng vô tận. Ngay đến
người và vạn vật cũng vậy. Tâm linh cùng thể xác con người chỉ là
sự biểu hiện của ý chí. Ý chí của người cùng thể tính của ý chí vũ
trụ đều bắt nguồn từ đó mà ra. Sự thâm cảm của mỗi người về tự
ngã của mình thực ra chỉ là một vọng tưởng. Vì trên đà của ý chí
muốn sinh hóa và biểu hiện, con người đã tạp nhiễm sâu dày do sử
dụng thể xác giác quan cùng tri thức, nên lạc vào mê cung lầm tưởng
mình có một tự ngã khác biệt với ý chí của Đại Ngã. Cho nên tất
cả mọi hiện tượng, tri giác hoặc tri thức của con người đều có một
thực tại ảo ảnh. Ngay cả ý niệm về Không - Thời gian cũng là vọng
tưởng ảo ảnh. Chỉ riêng có ý chí lớn lao của Đại Ngã là có trọn
vẹn Thực Tại, và ý chí của người cũng bắt nguồn ở ý chí lớn đó.
Đối với vũ trụ, trên lộ trình nhận thức, con người thường dùng giác
quan và trí não, nên chỉ tạo nổi một hình ảnh biểu hiện về vũ trụ,
chưa phải là sự nhận thức chân thực.
Trên lộ trình sinh hóa và biểu hiện, ông cho rằng con
người càng đam mê đã biểu hiện bao nhiêu, càng sử dụng ý chí sinh
hóa bao nhiêu, thì càng gây những phiền não thống khổ ngần ấy.
Thống khổ là nghiệp dĩ đi liền với mọi kiếp sống và nó tăng thêm
như một hàm số của tri thức và đam mê. Khi con người buông mình theo
ý chí sinh hóa và biểu hiện, người đó chạy theo những ảo ảnh, tương
tự như đứa trẻ thổi phồng chiếc bong bóng sà phòng, càng thổi càng
phòng lớn mãi ra, nhưng rốt cuộc rồi cũng tan vỡ như mây khói. Cho
nên Schopenhauer nghĩ rằng ở kiếp sống nầy, không thể có hạnh phúc.
Song tự tử cũng vô ích, vì tự tử ở kiếp sống nầy, sẽ lại có kiếp
sống khác, và cái vòng triển chuyển của bào ảnh vẫn tiếp nối
không dứt.
Vậy có lối nào là cửa ngõ giải thoát hay không?
Schopenhauer nghĩ rằng ý chí sinh hóa cùng sự tri thức là nguyên nhân
của thống khổ, vậy muốn diệt khổ cần phải diệt trừ ý chí. Con
người cần phải khước từ ý chí đó, cần phải diệt trừ, và nếu có
sử dụng ý chí thì nên sử dụng ý chí để diệt trừ ý chí sinh hóa mà
thôi. Ông cho rằng khi con người đã diệt trừ được ý chí sinh hóa,
màn vọng tưởng sẽ rớt xuống và con người sẽ chấm dứt mọi thống
khổ và đạt tới trạng thái tịch diệt của Niết Bàn. Tuy nhiên khác
với giáo lý nhà Phật, tịch diệt nầy là một trạng thái tiêu cực và
niết bàn chỉ là cõi hư vô.
KIERKEGARD
Kierkegard được coi là vị tị tổ của những trào lưu hiện
sinh thế kỷ XX. Lập trường của phái hiện sinh cho rằng nhận thức của
người chỉ có thể thực hiện do một phương pháp duy nhất: đó là sự
thể nghiệm bản thân. Những ý niệm trừu tượng và khách quan về
người và vũ trụ, về Thượng Đế đều chỉ là những sản phẩm giả tạo
của lý trí. Gọi là những ý niệm đó là phổ biến nhưng thực ra không
có gì chắc chắn như thế. Cần phải gạt bỏ thái độ bàng quan đó, cần
phải nhập cuộc mới có thể nghiệm và thấy cái biết được. Cho nên
sự biết không rời sự sống của đơn vị và như thế mới thấu triệt
được tự thể. Cho nên môn phái hiện sinh tất nhiên phải thiên trọng
về trực giác nhiều hơn lý trí.
Phương pháp nhận thức nầy, Kierkegard quả đã phát triển
một cách thấu đáo. Sự phát triển đó không phải do sự kết tập một
hệ thống, vì chủ trương của ông vốn triệt để phi hệ thống. Ông đã
phát triễn bằng cách ghi lại những kinh nghiệm quằn quại dày vò
trong chính tâm tư của ông, để tìm một lối thoát cho thành phần chủ
quan của mình. Triết thuyết của ông bắt đầu bằng một cuộc hành trình
độc đáo nơi nội tâm, luôn luôn muốn vượt lên và nối liền với một
thứ Tuyệt Đối mà ông mệnh danh là Tuyệt Đối Hiện Sinh. Nó được
thâu gọn trong một trình tự biện chứng của dòng hiện sinh con người
mà chính Kierkegard đã kinh nghiệm từng giai đoạn một. Giai đoạn đầu
là Thẩm Mỹ tức là thọ lãnh về cảm giác, suy tư. Trong giai đoạn nầy,
Thức Giác tự buông trôi theo hứng khởi của khoảnh khắc hiện tại,
để tự đồng nhất với dòng sống. Trong lúc đó thức giác từ chối mọi
sự lựa chọn, chỉ chú tâm ngừng lại trong một trực cảm về những
tiềm năng của mình. Tiếp theo giai đoạn thẩm mỹ, là giai đoạn Đức
Lý. Trong giai đoạn nầy, thức giác đã rời bỏ thái độ buông mình theo
khoảnh khắc và phải so sánh lựa chọn để đồng nhất hóa những trường
hợp riêng biệt thành một ý niệm phổ biến. Chỉ khi nào thức giác
vượt khỏi hai giai đoạn thẩm mỹ vá đức lý thì con người mới có thể
thực hiện được tuyệt đối hiện sinh. Trong qúa trình biện chứng, mỗi
người đều phải luôn luôn lựa chọn, và lựa chọn một cách đam mê để
thực hiện chân lý của mình. Dòng sống đều chảy qua một bối cảnh
ngoại giới mà đặc tính chính là sự bất trắc. Và chân lý tối cao
của mỗi đơn vị hiện sinh chỉ có thể phát hiện do tác động say sưa của
thành phần chủ quan của mình để thâu nhận và giải quyết cái bất
trắc khách quan đó. Đam mê cũng là nồng cốt cho sự lựa chọn không
ngừng và con người bắt buộc phải lựa chọn và tự lựa chọn cho mình
tùy theo những tiềm năng vô cùng tận trong chủ quan của người.
Song sự bó buộc lựa chọn nầy đã làm phát sinh những
trạng thái tâm lý nào trong tâm thức con người? Đó là sự lo sợ hãi
hùng và tuyệt vọng. Hai trạng thái nầy sở dĩ có được là do sự hiện
hữu của tội lỗi. Bản chất của mỗi dòng hiện sinh đều là một bản
chất tội lỗi. Mỗi khi con người lựa chọn nó đều phải lựa chọn giữa
con đường thể hiện chân lý hoặc nẻo đường tội lỗi. Cho nên trước
khi chọn lựa bao giờ cũng lo sợ hãi hùng. Kierkegard cho hãi hùng là
sự thèm muốn một thứ gì của mình kinh sợ hoặc kinh sợ một thứ gì mà
mình thèm muốn. Trước khi chọn lựa đã vậy, đến khi đã quyết định lựa
chọn, sự quyết định đó thường phải mang một tính cách tuyệt vọng mới
có thể mở cửa ngõ cho con người tiến tới giải thoát. Tuyệt vọng là
tâm trạng chối bỏ một cách tuyệt đối tất cả những gì tương đối và
hạn định. Đó là tâm trạng của một người đã khước từ mọi tham vọng
tầm thường vốn là động cơ của tác vi con người.
Muốn đạt tới hiện sinh tuyệt đối, con người phải ruồng
bỏ hết thảy hy vọng hữu hạn. Như thế tuyệt vọng sẽ giải phóng
người ra khỏi những thứ vỏ giã tạo và làm bật dòng sống vĩnh cửu
trong tự ngã của nó. Như thế tuyệt vọng sẽ có một tác dụng giải
phóng và tuyệt vọng càng sâu dày bao nhiêu thì thức giác càng phát
triển mạnh mẻ ngần ấy. Cho nên thân phận con người không thể tránh
khỏi hãi hùng và tuyệt vọng, vì cả hai tâm trạng đó đều là dấu
vết của hiện sinh. Số mệnh mỗi người đều tùy thuộc cái thể thức
thể hiện tuyệt vọng của mình. Nếu tuyệt vọng chỉ là buồn nản chán
chường, con người sẽ lâm vào cảnh chết của tâm hồn. Trái lại tuyệt
vọng là trạng thái của một kẻ đã khước từ những gì hữu hạn nó sẽ
giúp thức giác tập trung được những nghị lực sâu xa nhất để tiến
tới trạng thái hiện sinh tuyệt đối. Nếu dòng hiện sinh của con người
là sự lựa chọn không ngừng giữa hãi hùng và tuyệt vọng thì đâu là
cứu cánh của đời sống? Trong sự giải thích về trạng thái tuyệt vọng
của Kierkegard, ta có thể nhận thấy cửa ngõ của sự giải thoát. Thực
thể con người đã là một trường đấu tranh thường xuyên giữa hữu hạn
và vô cùng tận, con người luôn luôn phải lựa chọn và lựa chọn
trong một tâm trạng tuyệt vọng, nghĩa là luôn luôn vượt khỏi trạng
thái tương đối của tâm hồn, rồi đến mực độ nào đó, làm một sự
lựa chọn trang nghiêm và cuối cùng để quyết định tự thể của mình như
một thực thể tuyệt đối, đó là thực thể hiện sinh.
Theo ý ông, trạng thái hiện sinh tuyệt đối nầy hàm
chứa tính chất tự tại; song đối với một người vẫn chỉ có thể có
được do sự thể nghiệm riêng biệt của người đó mà thôi.
Đến đây, xin tóm lược các triết gia còn lại với những
nét đặc biệt để tỏ rõ yêu cầu đầu tiên.
NIETZCHE
Tiếp đến Nietzche đã mang lại cho tư tưởng cận đại
nhiều sắc thái đặc sắc: sắc thái nổi loạn sự thống khổ dày vò
đến cùng cực, tâm trạng hãi hùng và tuyệt vọng, tính chất vô nghĩa
của mỗi thân phận và kiếp sống cũng như lời khuyến cáo con người
phải đạt vinh dự tột cùng ở trên cái vô nghĩa của kiếp sống, và
xiễn dương đến cùng tính chất siêu nhiên của mình ngay trên cái vô
nghĩa đó. Nietzsche thường quan niệm rằng vũ trụ nầy là bể đại dương
hữu cơ vô cùng tận và đại dương đó đã làm phát hiện vạn vật.
Nietzsche cũng là người am hiểu tính chất huyền diệu của tâm thể vì
trong cuốn mật ngôn của Zarathoustra, ông viết: "Zarathoustra sống
trên núi 10 năm trời, và suốt thời gian đó, hắn chơi đùa với tâm
thức mà không biết chán." Thêm nữa ông còn viết: "Tôi
ngồi đó trong niềm chờ đợi, không chờ đợi cái gì cả, chờ đợi vô
thể, chờ đợi không chờ đợi." Vô thể đây tức là tâm thể ở
trạng thái tuyệt vời.
HEIDEGGER
Heidegger cho "Dòng tồn thể trong chủ quan con
người" không phải là một bản thể bất di bất dịch, nó chính là
một tiềm năng hiện hữu thiết yếu, nó là một khả năng, một sức
chuyển động không ngừng, luôn luôn tự tại và tự vượt lên khỏi
trạng thái hiện hữu. Khả năng tự
tạo và tự vượt ấy, Heidegger cho rằng nó chính là tính cách siêu
nhiên của dòng tồn thể con người. Nhưng không phải người nào
cũng biết sử dụng năng khiếu tự tạo và tự vượt ấy đâu. Đa số mọi
người đều chỉ sống một cuộc sống hời hợt và vô nghĩa mà ông gọi
là cuộc sống thiếu thực chất. Nó không phải là một cuộc sống hiện
hữu chân chánh mà là một cuộc sống giả tạo: vì đa số thường chỉ
chạy trốn chính mình, thường khước từ không dám tìm hiểu cũng như
không dám đảm đương thân phận con người. Thái độ sống giả tạo nầy
khiến con người xa dần với dòng tồn thể chân chính, ngày càng mất
dần năng khiếu tự tạo và tự vượt, mất dần tính cách tự do thiết
yếu để rơi vào trạng thái nô lệ. Heidegger đề xướng sống có thực
chất, tức là chấp nhận và đảm đang trong tự do cái thân phận làm
người, và sử dụng đến cùng độ khả năng tự tạo và tự vượt.
Nhưng làm thế nào để sử dụng tới cùng độ cái khả
năng tự tạo và tự vượt? Con người phải tiếp nhận sự hãi hùng,
phải sống với nó và tiếp nhận những lời thức tĩnh của nó. Nhưng
hãi hùng là cái gì? Muốn hiểu trạng thái nầy, có thể so sánh nó
với trạng thái lo sợ. Nhưng khi lo sợ thường có nguyên cớ, còn hãi
hùng hình như không có nguyên cớ gì hết. Đó là trạng thái kỳ lạ,
trong đó con người thấy tâm não và dòng sống nghiêng ngả, dường như
muốn tụt vào hư vô. Cho nên trạng thái hãi hùng tức là sự thể
nghiệm hư vô. Thể nghiệm hư vô là một tác động thiết yếu, vì có
thể nghiệm hư vô mới có thể làm đột khởi dòng tồn thể trên bức
màn phong siêu hình của hư vô.
Tóm lại, con người thường hàm chứa hư vô trong tâm
khảm, tương tự như con sâu gậm nhấm, một thứ phủ định nội tại. Do
đó, thân phận con người là một niềm lo âu thường xuyên, một nỗi
thống khổ thiết yếu, luôn luôn muốn tiến tới chiếm ngự những bến
bờ xa lạ, mà nó chiếm ngự được, hoặc có lẻ không bao giờ chiếm
ngự được. Cũng trong qúa trình tự vượt thường hằng đó, dòng tồn thể
của con người đã tự phân tán một cách tích cực và làm phát hiện
thời gian. Nó không phải là một khung cảnh trống rỗng giả tạo,
không phải là một ý niệm, nó là một thể thức sinh hoạt của dòng
tồn thể con người. Chúng ta không thể nói rằng con người ở trong
thời gian, chịu đựng thời gian, mà phải nói rằng sự sinh hóa của
dòng tồn thể là một qúa trình thời hóa. Do sự phát triển thời gian
nầy, con người ngay từ khi mới lọt lòng đã phải đảm đương cái chết.
Heidegger cho rằng chết không phải chỉ là một biến cố sinh lý, nó
hàm chứa bên trong con người tương tự như hư không vậy.
Trên quá trình hiện hữu hóa, dòng tồn thể của mỗi
người đã tạo nên một hình bóng, một hệ thống tương quan qua đó vũ
trụ được sắp xếp quanh người ấy. Có thể nói rằng dòng tồn thể
thiết yếu phải ở trong vũ trụ, cũng như nó thiết yếu phải dự phóng
những tiềm năng tự tạo trên bức màn phông mù tịt vô nghĩa của sự
vật chung quanh. Nhưng cũng do sự dự phóng mà mỗi người đã tạo nên
một ý nghĩa cho cuộc sống và thế giới xung quanh mình. Nếu ta tưởng
rằng thế giới quanh ta hoàn toàn biệt lập với ta, thì đó thực là
một lầm lẫn lớn, một ảo ảnh sâu dày. Heidegger cho rằng thế giới
xung quanh không thể có được nếu không có chủ thể là ta, cũng như
dòng tồn thể của ta không thể có được nếu không có thế giới xung
quanh. Cho nên tồn thể và thế giới chỉ là hai mặt của một hình thái
hiện hữu mà thôi: đó là sự hiện hữu của tồn thể trong thế giới
xung quanh. Và trong thế giới xung quanh nầy lẻ dĩ nhiên có những kẻ
khác. Nên dòng tồn thể của mỗi người cũng là một tồn thể lo lắng
đến kẻ khác nữa.
Nói tóm lại, con người không thể có những trách nhiệm
đối với dòng tồn thể của chính mình, mà còn có trách nhiệm về cái
ý nghĩa mà nó đã tạo ra cho thế giới xung quanh. Dòng tồn thể của
người là một sự dự phóng thường xuyên gồm những bước nhảy vọt
liên tiếp và tính chất siêu nhiên của nó, là ở chỗ luôn luôn tự
phóng tiềm năng của mình vào vũ trụ và kẻ khác. Nhưng trớ trêu
thay, khi dòng tồn thể đó quay trở lại muốn soi sáng và tìm hiểu
chính mình, thì nó chỉ nhận thấy một màn sương mù dày đặc, mịt mùng
của trạng thái tồn thể đơn phác, đầy rẫy tính chất thừa thải và vô
nghĩa. Và chung quanh chỉ thấy những bóng ma lởn vởn của hư vô và sự
chết.
Tóm lại theo Heidegger, thực tại con người là một qúa
trình tự tạo và tự vượt không ngừng, tự phóng mình vào thế giới
xung quanh để tự thể hiện và đem lại một ý nghĩa cho vũ trụ, đó là
một nỗ lực mà con người phải đảm đang liên tục nếu nó muốn sống
có thực chất. Nhưng rốt cuộc sự nỗ lực ấy cũng là vô ích, vì giai
đoạn cuối cùng của cuộc hành trình chỉ là hư vô, chết chốc và vô
nghĩa.
CƠ CẤU
THUYẾT
Về nguồn gốc tinh
thần, các người đề xướng cơ cấu thuyết thường hay nhắc nhở đến
Freud, Marx và Nietzsche v.v... Họ cho rằng Freud có công khám phá Vô
Thức Tâm Lý, Marx khám phá Vô Thức Xã Hội, và Chính Trị. Lập trường
các phái nầy có thể tạm tóm theo hai điễm:
1. Cái mà ta ý thức về vũ trụ xung quanh đều chưa phải
là thực tại, mà thường khi chỉ là vỏ bề ngoài hời hợt nhất của
thực tại. Vô thức chính mới là thực tại và vô thức có thể coi
đồng âm với vũ trụ thiên nhiên. Các tư tưởng gia cơ cấu thường chỉ
trích nền triết học trước kia, cho rằng từ Platon đến Husserl đều chỉ
biết chú trọng tới cái mà ta ý thức. Platon chỉ biết ý tưởng,
Descartes chỉ nói đến "tôi tư duy", còn hiện tượng học của
Husserl cho rằng thế giới là cái ta ý thức hoặc thế giới là cái
đối diện với ý thức ta. Ngay đến các tư trào hiện sinh cũng vậy;
phái hiện sinh thường đề cao những kinh nghiệm chủ quan, song những
kinh nghiệm cũng là những thể nghiệm mà ta ý thức được mà thôi. Do
đó phái cơ cấu chủ trương rằng cần phải đi sâu vào vô thức, vì vô
thức chính là thực tại và cần phải khám phá nổi cơ cấu của vô
thức, vì cơ cấu đó chính là hình thái những tương quan thiết yếu của
Thực Tại.
2. Phái cơ cấu cho rằng nền triết học trước kia đã lầm
lẫn lớn khi coi con người như một ý thức, một lý trí, một chủ thể,
tức là một chủ thể tự phong mình là một tinh thần trung tâm để nhận
thức sự vật. Họ cho rằng chủ thể con người chỉ là một giả tưởng,
một huyền thoại, con người chỉ là huyền thoại. Do đó phái cơ cấu chủ
trương phải hất chủ thể ra khỏi trung tâm điểm và tiêu hủy chủ thể
đó đi. Nên các sách của phái nầy ta thường gặp những câu kỳ cục:
Je ne parle pas, je suis parlé; Je n'agis pas, je suis agi... Đứng trên bình
diện thăm dò tuyệt đối mà xét, chủ trương đi sâu vào vô thức và
tiêu hủy chủ thể nhận thức đều là những khẩu hiệu có giá trị,
những bước tiến để cố ôm sát lấy thực tại tối hậu. Nhưng các tư
tưởng gia cơ cấu hình như chỉ biết tung ra những khẩu hiệu mà chưa tìm
ra những phương pháp thích ứng để thực hiện chủ trương ấy. Đồng ý là
chối bỏ ý thức và đi sâu vào vô thức, nhưng trong khi khám phá vô
thức, phái cơ cấu phải dùng ý thức và lý trí để soi sáng lảnh vực
âm u của vô thức. Nên trào lưu nầy trên khởi điểm muốn chống lý
trí lại kết thúc bằng một công trình siêu lý trí. Còn về điểm muốn
"hất chủ thể ra khỏi trung tâm điểm" tiêu hủy chủ thể để
tiến tới một nền nhận thức mới quả thực họ đang bơi lội, chưa có
phương pháp nào để thực hiện được.
CÁC NỀN GIÁO LÝ ĐÔNG PHƯƠNG
Các nền giáo lý
đông phương đều qủa quyết rằng có một thực thể tuyệt đối, một thực
tại tối hậu vô hình vô ảnh, tịch nhiên vắng lặng và nó chính là
uyên nguyên của vũ trụ. Thực thể đó có thể dùng tâm thức con
người mà thể nghiệm, nhưng không thể dùng một ngôn ngữ gì, một ý
niệm nào mà diễn tả được. Nó chẳng phải là hiện hữu, cũng chẳng
phải là phi hiện hữu, nó không phải là hư không, ngoan không, hoặc
hư vô, nó là tồn thể tịch nhiên vắng lặng, thường tịch nhưng linh
diệu vô cùng. Nó là tồn thể không phải là hư vô, vì hư vô vốn
không có thực, hư vô chỉ là một giả tưởng tạo nên bởi tâm thức con
người. Ấn Độ giáo gọi Atman hoặc Brahman, Phật gọi là Như Lai Tạng
Tính, chân như, chơn không: Tâm thể, A lại da thức, vô thức..., Lão
gọi là Đạo, Khổng là Thái Cực, Nietzsche gọi là vô thể, và Jaspers
gọi là hố thẳm của siêu nhiên.
- Thực thể tuyệt đối đã phát hiện ra vũ trụ nầy trong
một cơn mê sảng và cơn mê sảng nầy chính là do năng khiếu của thực
thể tuyệt đối muốn rọi trở lại soi sáng vào chính mình. Cơn mê sảng
nầy gọi là cơn mê mộng cũng được. Để giải thích sự phát hiện ra vũ
trụ nầy, kinh sách Phật dùng hai chữ vô minh hoặc nói "nhất
niệm khởi thiện ác dĩ phân", Ấn Độ giáo dùng chữ Mya (Ảo hoá),
Lão "Đạo sinh ra vạn vật do hốt hoảng", Khổng nói "Thái
cực chia thành lưỡng nghi". Đối với mực độ thông thường của
thức giác nhân loại ngày nay, tác động làm phát hiện vũ trụ hết
sức bí ẩn huyền diệu có thể coi như một bí tích, và chỉ có người nào
có thực thể tuyệt đối mới thấu hiểu nổi tác động đó mà thôi. Có
thể nói rằng tác động làm phát hiện ra vũ trụ là một tác động
vừa mau lẹ chớp nhoáng như trong một khoảnh khắc lại vừa vô cùng
tận qua vô lượng các kiếp chúng sinh.
- Vũ
trụ nầy là một bể đại đương vô cùng tận của những ba động trùng
điệp phát sinh từ tinh lực uyên nguyên. Tốc độ của ba động càng
chậm lại bao nhiêu, tinh lực uyên nguyên càng cô đọng thành những
lớp chất thô kịch ngần ấy. Mỗi hiện tượng từ những bụi trần vi ti
cây cỏ đến các sinh vật con người, thần linh đều là những cơn lốc ba
động xoay tròn bất tuyệt theo một vòng xoáy trôn ốc bất tận.
- Mỗi
hiện tượng, mỗi sinh vật, mỗi con người, mỗi thần linh là mỗi cơn
lốc, đều chuyển động nương theo một định hướng tâm riêng biệt của
nó, và qua vô lượng kiếp, sự chuyển động hướng tâm đó tạo thành ý
niệm tự ngã của hiện tượng ấy. Trong giai đoạn đầu của lịch trình
chuyển hóa, mực độ tiến hóa càng cao bao nhiêu, ý niệm tự ngã càng
sâu dày ngần ấy, cũng như mực độ tri giác càng tế vi bao nhiêu thì
khả năng tự do cũng tăng lên ngần ấy. Trong lịch trình diễn biến,
người là loại sinh vật hàm chứa nhiều tính chất bi đát nhứt vì người
là nơi chiến trường khốc liệt nhứt giữa tâm và thể chất, giữa tự
do và tất định.
- Vũ
trụ đối với mỗi sinh vật chỉ là sự biểu hiện qua lăng kính thức
giác của sinh vật ấy hoặc qua hằng hà sa số thức giác chồng chất
của sinh vật đó. Cho nên mỗi sinh vật đều có một hình ảnh biểu
tượng riêng của mình về vũ trụ và sự biểu hiện ấy tùy thuộc
nghiệp báo và mực độ thức giác của sinh vật.
- Mỗi
loại sinh vật, tỉ dụ như loài trâu, loài cá, hoặc loài người đều có
một hình ảnh biểu tượng vũ trụ tương tự giống nhau. Sự biểu tượng
tương tự nầy của mỗi loại là do tính chất đồng nghiệp hay cộng
nghiệp, tức là do mực độ thức giác tương tự. Do đó, nếu một người
trông thấy một vật cho là trái núi, thì một người khác cũng sẽ
thấy là trái núi. Nhưng con cá tỉ dụ như nó trông thấy trái núi, thì
nó sẽ có một biểu tượng khác không giống biểu tượng của loài
người. Tuy nhiên trong một giống loại, mỗi sinh vật đều hàm chứa
những dị nghiệp ngoài phần công nghiệp.
- Vì
vũ trụ phát hiện do một cơn mê sảng, do tác động xoay trở lại của
thực thể tuyệt đối để soi sáng chính mình, nên toàn thể vũ trụ đều
mang nặng một tính cách sai biệt, tức là tính cách nhị nguyên đối đãi
như ánh sáng bóng tối, cao thấp, lớn nhỏ, chủ quan khách quan, thời
gian không gian, tinh lực vật chất, ngã phi ngã, miên tục gián
đoạn... Tính cách nhị nguyên đó chính là do sự sai biệt trong tri giác
con người. Nó tạo thành những ý niệm đối đãi, có vẽ trái ngược và
bất khả dung hòa, nhưng kỳ thực đó là những ý niệm giả tạo, những
giả tưởng tạo nên bởi tâm thức con người mà thôi.
- Một
phong cảnh của vũ trụ bên ngoài (nhìn thấy bằng mắt) cũng không
thực hơn nhưng cũng không giả hơn một cảnh giới mà ta ta thấy trong
cơn mộng. Thức giác lúc tĩnh cũng chỉ có giá trị thực tại bằng thức
giác lúc mộng mà thôi. Cả hai cảnh giới đều là thực và đều là
giả, vì chỉ có thực tại tương đối. Nếu trình độ thức giác chưa vượt
cảnh giới đó thì cảnh là thực. Nếu vượt được, cảnh trở nên giả.
Nên Trang Chu nói, Chu mộng thấy mình là bướm nhởn nhơ, lúc tĩnh dậy
thấy mình là
-
Thời gian là một mạng nhện giả tưởng dệt lên bởi sự vọng động
không ngừng của Tâm Thức. Tâm Thức vọng động thì có ý niệm, có ý
niệm là có phân biệt đối đãi, có quá khứ có tương lai.Thực ra quá
khứ chỉ là do ký ức huân tập và tương lại chỉ là do dự phóng của
tâm thức. Ký ức và dự phóng là hai con sâu gậm nhấm, đục khoét
tiêu hủy khoảnh khắc hiện tại và tạo nên thời gian.
- Các
bậc hiền nhân Đông Phương đều di ngôn rằng có một con đường để đưa
tâm thức con người đến chỗ thể nghiệm thực thể tuyệt đối. Con đường
đó là con đường phi nhị, vượt qua mọi tri giác và tư duy theo lối nhị
nguyên đối đãi, mọi ảo ảnh của giác quan hình hài mọi giả tưởng
của tâm thức.
Các
đạo ở Đông Phương (phần lớn là Phật, Ấn Độ giáo, Lão, vv...) chỉ cho
mở các cửa ngõ nhằm đưa Tâm Thức con người lên Trạng Thái Siêu
Thức và Trạng Thái Siêu Thức nầy không phải là lý trí, không hẳn
phải là trực giác, cũng không phải là phi lý trí hoặc phi trực
giác. Nó là một sự thể nghiệm ở bình diện tột vời của tâm thức,
không thể diễn tả bằng ngôn ngữ và ý niệm vì nơi đây là ngưỡng
cửa bước vào miền vô ngôn.
B. Thực Tại Tương Đối
Cái Tuyệt Đối là cái thực tại tối hậu, là cái vô
cùng tận, là chơn tánh. Cái thực tại ấy đối với chúng ta là cái
mà mục đích tối thượng của con người, muốn được trọn vẹn đầy đủ
các quyền năng, ý hướng của con người muốn thoát khỏi thân phận
làm người để đi đến Tuyệt Đối đó. Trên con đường đi tới chỗ thăm
thẳm cao xa quá sức đó, lý tưởng đó, đức Phật đã có bao vạn phương
pháp để giúp chúng sinh thực hiện thành công như đức Phật vậy. Đó
là cứu cánh xa. Bây giờ chúng tôi muốn nói đến cái thực tế trong
cuộc sống, trong cái thực tại kinh nghiệm của loài người hay nói
khác đi là thực tại tương đối.
Có một sự kiện đầu tiên xảy ra giữa một sinh vật -
không nhất thiết phải là con người và vũ trụ bao quanh. Là thực tại
bên ngoài hắn, là những đồ vật, vật chất mắt hắn trông thấy và
ghi nhận sự hiện hữu. Các đồ vật ấy thường có màu sắc, hay không
có màu hắn trông thấy, hắn còn ghi nhận được những thực tại khác
do các cảm quan khác của hắn đem lại, như tai mủi miệng da thịt... Tất
cả các thực tại do cảm quan ghi nhận được thâu gồm thành một toàn
thể, một bộ phận: cái toàn thể đó có thể coi như là vũ trụ bên
ngoài đối với hắn. Nhưng cái thực tại do cảm quan ghi nhận không
phải là thực chất của thực tại. Bởi vì cái thực tại là phải nhờ
đến sự trung gian của các giác quan của các sinh vật, do đó nó lệ
thuộc vừa vào sinh vật quan sát vừa vào một yếu tố khác là giác
quan của sinh vật đó. Giác quan là một yếu tố dễ thay đổi, không
chuyên nhứt: một sinh vật nầy có thể nhìn thấy bầu trời xanh, nhưng
một sinh vật khác có thể nhìn thành màu đỏ. Bởi thế chúng ta không
thể chấp nhận thực chất của thực tại do cảm quan của sinh vật quan
sát thực tại ghi nhận. Kế đến chúng ta hãy xem một vật còn có thể
tri giác những gì về thực tại bên ngoài mà không cần đến sự trung
gian của các giác quan không? Chúng ta hãy nhắm mắt lại và cố tách
mình ra khỏi thực tại bên ngoài, khi đó chúng ta nhận thấy rằng vẫn
còn có một ý niệm bên trong chúng ta. Ý niệm đó là ý niệm thời
gian luôn luôn trôi đi không bao giờ ngừng. Ý niệm thời gian cho ta
cảm giác về sự lâu dài, nhanh chậm. Thời gian bên trong do ta cảm
thấy nó, biết nó hoàn toàn theo trực giác, nghĩa là không cần trung
gian của bất cứ một giác quan nào. Thời gian bên trong là kết quả
của một trí nhớ về những khoảnh khắc, những đoạn thời gian đã qua.
Đến đây một ý niệm thứ hai xuất hiện: ý niệm không gian. Thực vậy,
sự gì chúng ta trông thấy chung quanh ta có vẻ không gian hơn thời
gian. Tuy nhiên chúng ta cần suy nghĩ kỹ hơn.
Thí dụ:
Chúng ta trông thấy mặt
trời, chúng ta biết rằng ánh sáng mặt trời đến với chúng ta với
một tốc độ nhất định, từ khoảng 8 phút để đi từ mặt trời đến chúng
ta. Nói một cách khác, chúng ta không trông thấy mặt trời (một vật
cổ điển về thực tại bên ngoài) vào đúng khoảnh khắc (thời gian) mà
chúng ta đang nhìn, mà trong quá khứ cách hiện tại chừng 8 phút. Nếu
thí dụ mặt trời bị nổ tung và tiêu tan đi, thì chúng ta vẫn còn trông
thấy tiếp nó nguyên vẹn trong chừng 8 phút. Đối với các vì sao trên
trời cũng thế, chúng ta trông thấy các vì sao của một thời gian cách
chúng ta hàng năm, hàng ngàn hay triệu năm. Sự kiện trên vẫn đúng
với tất cả đồ vật mà chúng ta biết được quanh ta; ở đây khoảng
thời gian cách giữa đồ vật với chúng ta có ngắn đi rất nhiều, song
không vì thế mà không có một sự cách trở còn là thời gian chớ
không hẳn chỉ có không gian. Nói một cách khác khi chúng ta nhìn
quanh, chúng ta không nhìn nguyên vẹn trong không gian, mà chúng ta còn
nhìn trong qúa khứ, nghĩa là trong thời gian.
Chính Albert Einstein cũng đã nhấn mạnh đến đặc tính của
thời gian bên ngoài là bất khả phân đối với ý niệm không gian. Nếu
chúng ta lấy 2 điểm gần nhau của thực tại bên ngoài cách xa nhau một
khoảng r trong không gian và một khoảnh khắc (t) trong thời gian, thì
điều quan hệ thiết yếu để định vị trí của hai điểm đó trong sự tương
quan của chúng đối với nhau, theo định luật tương đối bằng phương trình
sau đày:
S2 = c2t2 - r2 (S: khoảng cách không gian; c: tốc độ).
Chỉ có S là không liên quan gì (độc lập) với người quan
sát, còn t, r đều liên quan mật thiết với hắn. Còn thời gian bên
trong thì r = 0 (không có khoảng cách) nên s = ct (t thời gian bên
trong) vậy, ý niệm mà chúng ta biết được theo trực giác nghĩa là
biết được một cách toàn hảo, nguyên vẹn hơn là thời gian bên trong.
Theo định luật tương đối thì có một gạch ngang - bằng tương đối giữa
các vật chất và tinh lực, phải chăng vật chất là tinh lực qui tụ
vào một nơi? Kinh nghiệm và thực nghiêm đã hoàn toàn công nhận sự
chính xác của thuyết tương đối đại cương. Tinh lực chỉ là một hình
thức kiến trúc đặc biết của không thời gian và bản thể của nó vẫn
là không thời gian. Nói cách khác vật chất là một loại, đúng hơn
là một hình thức hình học của không thời gian. Thí dụ một tờ giấy
khi hình thức phẳng hoàn toàn, ta đem nó so sánh với không thời gian
trong những vùng không có tinh lực. Khi nào có tinh lực, tờ giấy sẽ
uốn theo một đường cong nào đó, và không còn giữ nguyên hình thức
ban đầu. Như vậy, tuy có thay đổi về hình thức (vì bị tinh lực uốn cong
lên) tờ giấy không vì thế mà thay đổi bản chất. Bản chất của nó
trước sau vẫn là một, chỉ có phương diện hình học là có khác. Luận
riêng ra, ta có thể nói rằng tinh lực và vật chất chỉ là không thời
gian với một hình thức hình học đặc biệt mà thôi.
Tóm lại, tất cả càn khôn vũ trụ đều có thể mô tả
bằng không thời gian, là bản thể bất khả phân của càn khôn vũ
trụ. Ý niệm không thời gian đó hòa lẫn làm một ý niệm thời gian
bên trong mà sự tri cảm chủ quan đem lại cho ý thức chúng ta.
Vậy Thực Tại Tương Đối là môi trường chính chúng ta
đang sống và chúng ta cố gắng để nhận ra thực tướng của nó. Nói
đến cái thực có của cái Tương Đối do cảm quan nhận được hay do ý
thức chủ quan của con người là một tương quan của các phạm trù
(khuôn, cặp) của nhị nguyên đối đãi. Nói cách khác, trong thực tế
của tri thức con người đều nhận thấy giữa cái hiện tượng và bản
chất, giữa cái bề phải và bề trái, giữa cái tối và cái sáng vv...
đều là những phân biệt đối đãi vốn sẵn có trong tư tưởng của con
người rồi.
Đến
đây tôi xin trích dẫn Sự lý không hai của Thiền Sư Vĩnh Gia Huyền
Giác, đệ tử nối pháp của Lục Tổ để diễn tả cái tuyệt đối (thực
tướng) và cái tương đối (giả tướng):
Phàm diệu ngộ thông đường
thì núi sông chẳng lắp mê danh trệ tướng thì mãy lông cũng thành
ngăn cách. Nhưng bổn nguyên của vạn pháp từ nơi thực tướng mà ra,
trần sa hoặc đến nguồn là chân tông. Cho nên vạn tượng không bờ,
bát nhã không bến, vì pháp tánh ấy vốn không, liễu đạt thành trí.Ví
như người đi biết đường thì muôn dặm có thể hy vọng đến nơi.Như người
chạm vật, thông ngòi (chấp có chấp không) thì suốt ngày bị giam trong
giới hạn, vì họbiết vật có cái bờ vô hình,ngòi có cái mé rỗng
không cùng tột. Vì vậy học Trung Đạo mới hy vọng được thật tướng,
như người chấp hữu chấp vô thì rốt cuộc quy về biên kiến, vì họ
chẳng biết tướng có, có chẳng phải có, chẵng phải không. Nay đây
sắc tướng lăng xăng, xét đến cùng thì nó chẳng phải tướng, âm thanh
gầm thét xem cho kỹ thì không có tiếng. Mê thì nói là có hình có
tướng, ngộ thì biết vắng lặng. Như vậy thì chân đế chẳng trái với
sự lý, tức thể của sự lý vốn là chân: diệu trí chẳng khác với
liễu trí, tức tánh của liễu trí vốn là trí. Nhưng diệu chỉ bặt lời
nhờ văn ngôn thuyên chỉ. Chân tông chẳng phải tướng, mượn danh tướng
để nêu tông. Ví như voi chẳng phải là núi tuyết, mà mượn núi tuyết
để chỉ loại cho voi [ voi trắng như tuyết ].Đây là lấy năng loại của
nó há cho rằng núi tuyết là voi được chăng? Nay đây pháp chẳng phải
thường mà chấp là hữu, nên nhờ phi hữu để phá thường. Tánh chẳng
phải đoạn mà chấp là vô, nên dùng phi vô để phá đoạn. Cũng như
sạch sẽ chẳng phải là nước tro, nhờ nước tro nên rửa sạch sẽ, đây
là lấy cái công năng hay rửa há lấy nước tro mà làm sạch ư? Do đó
biết trung đạo chẳng thiên, nhờ nhị biên mà biện chính, đoạn thường
chẳng phải, dựa vào vô và hữu để rõ chỗ sai. Nếu hữu nếu vô nói
đã sai, chẳng phải hữu chẳng phải vô cũng đâu là phải. Tín biết
của người diệu đạt nguồn huyền chẳng phải hạng thường tình có thể
lường được. Vì sao? Phàm vọng chẳng phải do ngu sanh, chân chẳng phải
do trí được; há có vọng do ngu biến, chân theo trí trở về, chân vọng
chẳng sai, ngu trí chẳng khác. Hễ muốn thấu tỏ huyền tông, trước
tiên phải xét kỹ về ngu trí. Nếu muốn xét kỹ về ngu trí, phải khéo
rõ biết về chân vọng. Nếu muốn biết chân vọng cần phải nghiên cứu
đến danh thể; danh thể nếu phân thì chân vọng tự biện. Chân vọng đã
biện, thì ngu trí rõ ràng. Vì vậy kẻ ngu không có khả năng liễu trí,
người trí có thật chất đạt ngu. Nên biết chẳng phải trí thì do đâu
để rõ chân vọng, chẳng phải trí thì đâu thể phân biệt danh thể. Vì
sao? Hoặc có danh mà không thể, hoặc nhân thể mà lập danh, danh thể
xen lẫn thật khó nghiên cứu đến cùng được. Thế nên chẳng phải danh
thì thì chẳng biện, danh chẳng phải thể thì chẳng lập. Nói thể thì
phải nhờ đến danh, nói danh thì phải dựa vào thể. Nay đây ngoài thể
lập danh, đó chỉ là danh mà không thể, há có cái thể thích ứng với
danh ư? Ví như thỏ không có sừng mà đặt ra danh từ sừng thỏ, đây có
tên gọi mà không thật có sừng, há có sừng để thích ứng với cái
tên ư? Không có thể mà lập danh, thì danh không tthật danh, danh không
thật danh thì cái được gọi tên [ sở danh ] đã không thì cái hay gọi [
năng sanh ] cũng không? Vì sao? Vì đặt danh để gọi cái thể của nó,
không có thể thì lấy gì để thích ứng với danh. Nói như thế là cốt
để thích ứng với danh, không danh lấy gì để thích ứng với thể, thể
không thích ứng thì không phải thể, danh không danh thì chẳng phải
danh. Vậy đâu riêng gì thể mới nguyên hư mà danh cũng là bổn tịch,
nhưng mà không có thể thích ứng với danh do lại như thế. Danh thể
thích ứng gọi là gì? Luận về thể thì chẳng tự có danh, mượn cái danh
khác để gọi là Ngã thể, danh chẳng phải tự thành lập mà nhờ cái
thể khác để đặt ngã danh. Nếu thể chưa có hình thì danh đâu được
gọi. Nếu danh chưa lập thì thể đâu được rõ. Nhưng rõ được.thể tùy
nhờ danh, chẳng phải vì không có danh không có thể, không thể thì
danh đó vốn không. Như vậy thể chẳng phải do danh sanh, mà danh sanh
nơi thể vậy. Nay đây thể ở trước danh, danh theo sau thể, phân biệt
như thế thì lập danh để gọi tên cái thể. Cho nên biết thể là nguồn
của danh là duyênkhởi từ nơi thể. Vậy đầu mối của thể y cứ vào
đâu? Luận về thể thì chẳng có hình dạng của Ngã, nhờ duyên hội
hiệp mà thành thể. Duyên chẳng phải từ Ngã hội, nhân hội thể mà
thành duyên. Nếu thể chưa có hình thì duyên chỗ nào? Nếu duyên chưa
hội thì thể thành hình nơi đâu? Thể thành hình là duyên hội để thành
hình, duyên hội là thể thành để mà hội. Thể thành hình mà hội thì
rõ hình không riêng hội, hình không riêng hội thì hội vốn không vậy.
Do đó vạn pháp từ duyên sanh không có thể, không tự thể nên gọi
là tánh không. Tánh đã không tùy duyên hội mà chẳng phải có,
duyên tuy tánh không mà chẳng phải không. Vì vậy duyên hội nên có,
có chẳng phải có. Tánh không ấy không, không mà chẳng phải không.
Vì sao? Hội tức tánh không, nên nói chẳng phải có; không tức duyên
hội nên chẳng phải không. Nay nói chẳng phải có, chẳng phải không,
chẳng phải ngoài cái có riêng có một cái không, chẳng phải lìa cái
không riêng có một cái có. Như vậy thì rõ pháp chẳng phải có
không, nên lấy tên chẳng phải có chẳng phải không, đã chẳng phải
có không, lại chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không. Như vậy
không riêng gì đường ngôn ngữ dứt mà cũng là chỗ tâm hành diệt
vậy.
Theo
quy luật phát triển hay luật sanh diệt [xác định, phủ định] thì mọi
vật khởi sanh thì đã có mầm móng của sự hủy diệt rồi. Thường thì
sự hủy diệt của hủy diệt hay nhị bội phủ định thành xác định. Thí dụ
1: Tôi đọc sách [xác định], tôi không đọc sách [phủ định]; tôi chẳng
phải không đọc sách [hai lần phủ định] tức là tôi đọc sách [xác
định]. Thí dụ 2: Biện chứng nụ hoa quả; nụ diệt thì hoa sanh; hoa tàn
thì quả trổ; theo chu trình sanh diệt ấy đó là theo quy luật phát
triển.
Do các dẫn chứng trên cái thực tại
tương đối nầy, đó là vấn đề hai mặt. Trong siêu hình học Tây phương,
một trong những cặp phản lập về hữu thể với cái gì đối lập với
nó. Hữu thể và ảo thể, một bên thật một bên giả, nếu theo luận
lý thì chỉ có thể có 2 đối lập, nhưng theo tư tưởng nguyên sơ thì có
tính thể [thể không] không đối lập với ảo thể, mà phải nói là tính
thể liên hệ mật thiết với ảo thể, nên có thể dịch là "như là
tính thể". Cũng theo Heidegger, Tính thể có xuất hiện nhưng đồng
thời vẫn giữ bí mật, một cách cụ thể nhưng không đúng thực, một
nửa xuất hiện một nửa bí mật; nửa bí mật nầy là bào ảnh [như là
tính thể]. Nhưng mỗi khi nói về tính thể, Heidegger lại cứ nói hư vô
cho tính thể. "Nếu từ căn nguyên không có sự khai mở của hư vô
thì sẽ không có tự do, cũng không có hiện hữu đích thực". Như
thế hư vô là một cái gì thuộc tính thể hay mặt trái của tính thể
trong cùng một thực tại. Ông còn nhấn mạnh hư vô là nền tảng hố
thẳm. Chân tính của siêu hình học căn cứ trên nền tảng hố thẳm ấy.
Trong hư vô nầy siêu hình học mới tìm lại căn tính của nó, vì chính
qua hư vô Tính thể [thể không] của vạn vật mới xuất đầu lộ diện. Ở
đây trở về tính thể hay hư vô là trở về tận nguồn "tận kỳ tính".
Do đó hư vô hay không gian thời gian là ảo giác là bào ảnh của tính
thể. Vậy chúng ta làm sao tiếp giao với thực tại tương đối nầy với
thời không với vũ trụ nầy với một chân ý, hay thành kiến, cái nhìn
thành thật, thì dù cái ảo giác ấy có xuất hiện như là ảo giác mà
thôi. Tâm không phân biệt, khi một hiện tượng, trong sự sống hàng
ngày, trên thực chất nó là vô thường hay thay đổi hay chỉ là ảo ảnh
đi nữa, cũng chỉ là những điều không lý gì, ảnh hưởng gì đến tâm tư,
làm gì gây thêm nghiệp thức. Trong cái vọng có cái chân, không phân
biệt chân vọng thì làm gì có chân hay thấy vọng. Chân vọng là một
thực tại có hai mặt. Tôi mặc cái áo, có thể chỉ dùng bề mặt của
áo được không? Trong thực tế hành động duy nhứt là lấy cái áo để
mặc. Cái áo là sự thống nhứt của 2 mặt đối lập trái phải. Chỉ xem
thực tế coi như là một thực tại kinh nghiệm. Từ đó chúng ta nhận
thấy, theo Phật thì thực tại cùng tột không phải là Thượng Đế,
không phải là tâm một cách riêng biệt, mà là sự kết hợp của tâm
và vật chất gọi là Danh và Sắc.
CHƯƠNG HAI
TRI KIẾN THIÊN CHÚA GIÁO
Phần Tri Kiến Thiên Chúa Giáo được trình
bày vài nhân vật tiêu biểu trích trong Tạp chí Triết 1 & 2, mục
điểm sách Karl Jaspers do LS Nguễn hữu Liêm soạn dịch.
JESUS
Jesus
đi vào con đường tư tưởng và hành động bằng một tiền đề chắc nịch
và quyết định: Thế giới nầy đã đến ngày cùng tận. Một mối họa hãi
hùng sẽ đến và đến rất gần trong cuộc đời của ông. Jesus nằm trong
bối cảnh thần luận của Do Thái với tất cả những kháì niệm về ngày
tận thế. Nhưng thông điệp của ông thì khẩn thiết hơn: "Này ta
nói cho các ngươi nghe, rằng thế hệ nầy sẽ không qua khỏi. Thế hệ
của thời Jesus sẽ chứng cảnh mặt trời sẽ tối đi, mặt trăng sẽ
không có ánh sáng và sao trên trời sẽ rơi xuống". Một số ít
người sẽ được cứu rỗi và sẽ thấy" Con của Cha trên trời.
"Tận thế sẽ là mốc điểm tối hậu cho mọi mục đích và lý tưởng
hiện hữu. Và tận thế không có nghĩa là hết tất cả, là hư vô -mà
là lúc khởi sinh của một hiện hữu vĩnh cửu huy hoàng hơn: Thiên
Đường. Cái chung cuộc không những chỉ là một lời đe dọa mà là sự
hứa hẹn lớn: Vương quốc của Thượng Đế (nước Chúa). Jaspers nhận xét,
"Cảm giác là sự lẫn lộn của sợ hãi và hồ hởi". Con người
tiếp nhận thông điệp nầy của Jesus đối diện với một khả thể chắc
chắn: lịch sử và thế gian nầy sẽ không còn nữa. Và hành trang dự bị
chỉ có thể là niềm tin.
Nhưng
gốc rễ vương quốc nầy đã nằm ngay nơi thế gian và nhân loại nầy,
"vương quốc của Thượng Đế là ở trong chính ngươi". Có nghĩa
rằng những dấu hiệu của vương quốc, Jesus, con người của ông, hành
vi, thông điệp, là ở giữa thế gian. Tất cả là dấu hiệu của sự sắp
xẩy ra. Khi ngày ấy đến thì kẻ mù sẽ sáng, kẻ què sẽ bước đi,
người cùi sẽ hết hủi, kẻ điếc nghe, kẻ chết đội mồ sống dậy".
Thông điệp của Jesus là cho người nghèo, kẻ khó, kẻ tật nguyền, kẻ
yếu đuối tinh thần.
"Những
hành động của Jesus, như là của một người làm được nhiều phép lạ,
hành vi của ông đối với kẻ có tội, kẻ ngoại đồ, kẻ đĩ điếm, ngôn
từ của ông khuấy động tâm hồn cho kẻ lắng nghe: Tất cả đều là của
những báo hiệu và những thí dụ. Chủ đích của ông không là để phát
huy thế giới nầy, không để cải cách con người và cơ chế của họ,
nhưng mà để cho những ai lắng tai nghe ông nhận ra rằng vương quốc của
Thượng Đế là trong tầm tay". Jaspers viết. Đối với Jesus thì cái
gì ở thế gian nầy đều chỉ là tạm bợ. Một nội dung thông điệp cùng
ý nghĩa với của Buđdha (Đức Phật Thích Ca). Jesus nói: "Thế gian
nầy chỉ là một chiếc cầu; bước qua nó, nhưng đừng xây nhà của ngươi
trên nó". Nhưng không vì thế mà thế gian không có một giá trị
cho chính nó: gia đình, thiên nhiên là tác phẩm của Thượng Đế, chúng
ta tôn trọng chúng vì chúng ta tôn thờ Thượng Đế. Thượng Đế là biện
minh tối hậu, thiết yếu và duy nhất cho mọi giá trị. "Hãy đừng
nghĩ ngày mai : vì ngày mai sẽ chính tự nó lo cho nó". Chỉ có một
nỗi lo sợ duy nhất : được vào nước Chúa hay là không. Không có lập
trường trung hòa. Hoặc là địa ngục hay là thiên đàng. Và sự thể
chọn lựa là mệnh lệnh đạo đức tối cao.
Jaspers viết: "Tin phục Thượng Đế là
tín điều của Jesus, một người dân Do Thái, như đã là tín lý của dân
tộc nầy xưa nay. Nhưng sự tuân phục ngoại tại, chấp hành theo phép
tắc quy định là chưa đủ. Cái chính yếu là sự tòng phục bằng tất cả
trái tim và hiện thân của con người. Jêremiah đã nói, Thượng Đế đã
viết nên luật của Ngài trong trái tim con người". Nhưng ý muốn của
Thượng Đế là gì? .... Khi chúng ta những mệnh lệnh từ Jesus nói lên
ý muốn của Thượng Đế, chúng ta kinh ngạc với tính cực đoan của
chúng: những đòi hỏi không thể được trong trần gian nầy, "Jesus
đòi hỏi" một cách thể hiện hữu, không chỉ là hành vi ngoặc thể
..những gì không thể chú ý mà là nguồn gốc của tất cả ý lực.
"Những mệnh lệnh sinh hiện mà Jesus rao giảng đều là của truyền
thống kinh điển Do Thái Giáo, mà theo Jaspers thì" Jesus không đem
ra cái gì mới cả". Jesus không đặt để một hệ thống đạo đức mới
mà chỉ thanh lọc tín điều Thánh kinh và nắm lấy nó một cách nghiêm
trọng như là nó được thỏa mãn trong vương quốc của Thượng Đế. Jaspers
nhận xét, những gì mà Jesus thuyết giảng đều không theo quy pháp của
luận lý, mà chỉ là dấu hiệu hơn là một hệ thống tư tưởng-và khi mà
mọi thứ chỉ là một sự báo hiệu thì không có sự mâu thuẫn trong đó.
Jesus là một nhân thể tạo
nên sử tính cho nhân loại vì thế là một con người ngoại hạng do đó
ngoại lệ. Không có ai ảnh hưởng nhiều đến lịch sử Tây phương và cả
thế giới như Jesus. Ông là hiện thân trong truyền thống niềm tin về
tiên tri vốn đã nuôi sống ông cũng như là cho cả nhân loại cả hàng
thế kỷ. Với niềm tin, trong truyền thống nầy, nhân loại được tự do.
Tự do đồng nghĩa với một trái tim thuần khiết trong niềm tin và thuần
phục đến khái niệm Thượng Đế. Dù Jesus đứng bên lề cuộc đời nhưng
chính ông đã đem niềm tin và hy vọng đến cho những kẻ bị
xã hội khinh mạt và xô đuổi. Ông đem sự sống tinh thần cho kẻ yếu,
kẻ đau, kẻ khó, kẻ tật nguyền. Jesus là một người đánh thức nhân
loại; những gì ông kêu gào phải có tác dụng phản tĩnh; ông chỉ con
đường sống trong khả tính cao đẹp cho con người dù thực tế có thất
bại và đau thương như thế nào. Và tất cả niềm tin và hy vọng nầy
đều nhằm vào một cõi khác, ngoài thế gian nầy. Đó là cái tuyệt
đối trong tín điều về một chủ thể toàn năng, toàn thiện và đời đời
: Thượng Đế.
Sau
khi Jesus qua đời thì ông đã trở nên một biểu tượng thực tại cho
khái niệm về tuyệt đối thể Thượng Đế. Ông trở thành Chúa
(Christ)--" một tác phẩm dựng nên bởi giáo hội và
Và
ảnh hưởng của Jesus thì "vô hạn". Từ
CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ BỊ NÉM ĐÁ
Có
một lần Chúa Jesus đang giảng kinh ở một nơi công cộng, đột nhiên có
nhiều người có địa vị trong xã hội, trí thức và tu sĩ chạy đến. Họ
kéo theo đàng sau một phụ nữ mang tội tà dâm. Trong thời kỳ đó, nếu
phụ nữ bị bắt về tội tà dâm, thì nhất định sẽ bị người ta ném đá
cho đến chết. Thời đó họ có ba cách để xử tội, một là ném đá, hai
là bỏ vào chuồng sư tử, ba là bị đóng đinh chết. Chúa Jesus bị đóng
đinh, còn người đàn nầy sẽ bị ném đá.
Số
người nầy muốn thử thách với Chúa Jesus nên hỏi Ngài : "Theo
luật của Moses thì người phụ nữ nầy bị ném đá chết, Ngài phải xử ra
sao?" Chúa Jesus không nói gì, Ngài dùng tay viết trên mặt cát:
"Một đoàn người nói dối!" Số người đó cứ gạn hỏi Ngài;
Chúa Jesus không thể không trả lời, nên Ngài nói: "Trong số các
người đây, có người nào từ trước tới giờ không phạm tội, và cảm
thấy bản thân mình thánh thiện nhất, trong sạch nhất, thì có thể ném
một viên đá đầu tiên." Khi Ngài nói xong thì mọi người đều im
lặng, và từ từ bỏ đi hết. Cuối cùng chỉ còn lại Chúa Jesus và
người đàn bà phạm tội. Lúc đó Chúa Jesus mới hỏi người đà bà đó:
"Những người tố cáo đã bỏ đi hết rồi, không có ai xử cô sao?
"Người đó mới đáp: "Không có ai tố cáo tôi sao Ngài không
tố cáo tôi?" Chúa Jesus đáp: "Tôi cũng không cáo buộc cô,
tôi đến đây để cho cô một cơ hội, hãy đi về! (Chuyện Thánh kinh, BT
88 SM.C.H)
Theo
Phổ Nghuyệt, cơ hội mà Chúa Jesus đưa ra cho người đàn bà tội lỗi
nầy, nói lên mốc điểm giữa chấm dứt tội lỗi và bắt đầu một cuộc
đời mới. Ngay nơi chấm dứt là sự bắt đầu. Chấm dứt tội lỗi (quá
khứ) là mốc điểm (hiện hữu) của khởi sinh (tương lai) một chuyển thế
mới. Mốc điểm là cơ hội. Cơ hội có hai đường, một là đi đến vương
quốc của Thượng Đế, hai là đi đến địa ngục. Mốc điểm càng kéo dài
thì hạnh phúc càng lâu, vì ở mốc điểm là điểm không có quá khứ
(không có tội lỗi), và không có tương lai (chưa gây tội lỗi).
Tâm
hồn trong sáng là con đường hứa hẹn đi đến nước Chúa. Do đó hiện
hữu ở thế gian nầy là tuân phục, niềm tin nơi Chúa, với một ý lực,
với đạo đức trong sáng trọn vẹn thì khi tận thế (hết đời mình ở thế
gian ) thì chuyển thế (cuộc đời sau ) há không phải thiên đường ư!
Nếu hôm nay ta không lo (sống) có đạo đức thì mai sau là con đường đi
đến địa ngục. Sự cứu rỗi được thể hiện trong cuộc đời nầy là niềm
tin nơi Thiên Chúa, nơi ý lực hiến dâng và tuân thủ mọi nguyên tắc
tín điều của thánh kinh, trong đó đạo đức đối với gia đình, hôn nhân,
xã hội và giáo hội được hoàn thiện. Một khi tội lỗi (quá khứ)
được xưng ra trước đại diện Chúa là mốc điểm khởi sinh một chuyển
thế mới đầy hứa hẹn.
PLATO
Toàn
bộ triết học Plato được Jaspers phân thành những thể loại chủ
thuyết: về Ý niệm, Khái niệm về Thượng Đế và linh hồn, về dự án
chánh trị, về vũ trụ. Phạm vi bài nầy chỉ bàn đến ý niệm và khái
niệm về Thượng Đế mà thôi.
Triết
luận Plato được coi như là một tiến trình đi tìm cái lẽ của hiện hữu
bằng sự xây đắp sự thật bằng đối thoại, trao đổi lý luận. Chân lý
là sự hiện thân từ một quá trình chứ không phải là sự thể khách
quan có thể tìm ra.
Pla to muốn hướng đến cái gì? Đó là cái
Một--cái toàn thể, cái gốc cho tất cả và là nơi để tất cả trở
về. Từ đó điểm phát xuất và chủ đích của Plato có một cái Một bao
trùm kêu gọi chúng ta. Chân lý là "sự trở về" đến căn
nhà của cái Một tối hậu. Tất cả đối luận chỉ là nỗ lực để khai
phá một lối về đến cái Một vĩnh cửu nầy.
Đầu
mối cho mọi suy thức Plato là câu hỏi về arete--là đức, là hảo.
Arete mang ý nghĩa chữ Đạo của Á Đông. Đạo là cái lý bao trùm tất
cả, từ vũ trụ đến con người--và cái Đạo chỉ được hoàn tất trong
hành động của cá nhân đối với cuộc đời. Mỗi khuôn mặt của cuộc
sống từ chánh trị, giáo dục, văn chương, lao động đều có cái arete
của nó. Arete là tinh hoa tiềm ẩn chờ con người khai phá ra để hoàn
tất nhân cách. Arete không thể truyền dạy ngoại trừ chỉ có thể
hướng dẫn qua thể dạng kiến thức hay kỹ thuật. Nhưng khi arete trở
nên tri kiến thì tự nó là cứu cánh cho năng động sinh hiện: đó là
đạt đến trí tuệ. Con người từ đó được đánh giá bằng trình độ trí
tuệ--mà những con người trí tuệ là nhưng nhân thể nhận chân và hiện
thực được nội chất hiền minh của sự sống. Tuy nhiên Plato tiếp tục
nêu lên những tiền đề cho vấn nạn trí thức: cái đẹp, cái chân, cái
trí, cái thiện cho mục đích nào và trên căn bản nào? Cái thiện đặc
thù cho một nhu cầu nhân thế thực tại? Cái chân tuyệt đối trong bản
thể luận? Cái trí tột cùng của một thánh nhân với "tuệ
nhãn"? Đối với Plato thì cái thiện cái đẹp nằm trong trí tuệ, có
khả năng nhận thức ra tinh hoa arete trong từng bước chân sinh hiện.
Hạnh phúc trần gian là biết cái chân, cái mỹ và cái thiện. Và tri
kiến của Plato cũng phải phân biệt với kiến thức kỹ thuật. Cái khả
năng biết đến để phân biệt được cái tốt cái xấu chính là nền tảng
của trí tuệ. Từ đó, triết luận Plato mang nội dung mệnh lệnh đạo
đức. Con người bận tâm đến cái tốt, xấu vì muốn thỏa mãn đến một
thần đế vô hình nào đó. Và động cơ triết học phát xuất từ một mối
sợ hãi mơ hồ và siêu hình.
Tuy
nhiên, mối sợ hãi nầy chính là động cơ vượt thoát hiện tại bằng
cách đi tìm ra cái lẽ chân hữu trong cuộc sống qua sức mạnh của tri
kiến. Cái biết đầu tiên là biết rằng mình không biết--đó chính là
biết vậy. Những tư tưởng nầy mang âm điệu của người Trung Hoa. Bước
kế tiếp là biết về thế gian và vũ trụ. Sau đó là biến đến cái
Tâm trong năng thức hướng về cái Một. Khi đạt đến giai đoạn nầy thì
con người bắt đầu bứớc vào lãnh vực kiến thức khoa học, kỹ thuật
và tri thức học. Chân lý là sự vượt qua chính giới hạn tri kiến đang
là để nhận ra một biên độ mới trong nhận thức đến sự hữu hạn của
con người trước tất cả. Như vậy thì giá trị "cá nhân là cái Tâm
hướng đến--năng lực trở nên thường trực nhằm cải thiện và hoàn
chỉnh chính mình. Mệnh lệnh cho sinh hiện là sống trong hiểu biết--vì
tất cả những gì mà cá nhân có thể đạt đến phải đặt nền tảng trên
cái biết có thực chất.
TƯ
TƯỞNG PLATO, tất cả đều nhắm về cái Một. Và arete là cái Một,
chứ không phải cái nhiều. Cái Một chỉ là cái căn tính để khai sáng
tất cả những ý niệm, là nền tảng cho tất cả mọi cứu cánh của suy
tưởng có thể dựa vào như là điểm tựa cuối cùng. Từ đó, cái Một
là nguyên lý hướng đạo mà cá nhân suy thức đến, hắn sẽ tìm ra ý
nghĩa chân thật cho sự sống. Chúng ta không thể hiểu thấu cái Một
nầy vì nó chỉ là con đường đi tới.
Nguyên
lý của cái Một đồng nhứt với mức độ tự ý thức. Trong năng động
suy tưởng về sự suy tưởng chúng ta có được kiến thức về cái khác
đồng lúc với ý thức tự nó. Do đó, cá nhân nào muốn có sự hòa
thuận với kẻ khác trước hết phải hòa thuận với chính mình. Hãy coi
chính mình như người bạn nhứt trí để có thể đón tiếp tha nhân như là
bằng hữu. Con người có phẩm chất quan yếu nhất khi hắn chính là hắn
trong sự nhất trí nầy. Nhưng sự nhất trí nầy phải được đặt nền tảng
trên cái thiện.
Cái quan trọng của suy tưởng không phải
là sự thâu nhập kiến thức về cái khác--mà là năng động suy thức.
Trong suy thức và phản tưởng, cá nhân được chuyển hóa. Mỗi chúng ta
mang một sứ mạng: chuyển hóa để vượt qua chính mình Đang Là qua kiến
thức và hiểu biết về chính mình. Và đây là tiền đề triết học căn
bản cho triết học Tây phương mà Plato khởi đầu và kéo dài cho đến
Kant.
Đối với Plato thì có hai tiền đề triết
học quan trọng về tri kiến :
Vô minh là tội lỗi: "Nếu vô minh chỉ là
chuyện đùa chơi, nó chỉ là sự yếu đuối và chỉ là tội nhỏ; nhưng khi
vô minh đi kèm với sự giả dối nhân danh kiến thức cộng thêm với
quyền lực để mà phát động nó thì vô minh nầy là tội ác-- Kiến
thức là tri kiến trong vô tri kiến với sự điều hướng của cái thiện.
Kiến thức hữu hạn là phương tiện cần thiết để có thể tìm đến chân
lý nhưng chúng phải được đặt trên nền tảng trí tuệ vững chắc".
Không ai có thể tự ý sai lầm: "Chúng ta cho
rằng con người bị chủ động bởi tham, sân, giận, và rằng chúng ta làm
một điều gì đó dù rằng chúng ta biết rằng điều đó có hại, hay là
chúng ta muốn những gì thực ra chúng ta không muốn. Nhưng đối với
Plato thì tất cả những điều đó là không thể được.
Theo
Plato thì sự bất đồng giữa đau đớn và khoái lạc liên hệ đến sư phán
đoán trên căn bản lý trí là cái vô minh tệ nhất; nhưng điều đó
cũng là lớn lao hơn cả vì nó ảnh đến phần đông linh hồn nhân loại.
Cho đến tác phẩm cuối cùng, Luật pháp, Plato cũng nhắc lại câu nói
tự khởi đầu, "Không có ai có thể tự ý làm điều gì sai
lầm."
Và đó là tiền đề triết
học cho mối liên hệ giữa ý chí và kiến thức. "Ý chí chân thật
là ý chí có hiểu biết". Tham dục khi trở thành động cơ tác
hành, trở nên là năng lực vô minh chứ không phải là ý chí. Cá
nhân có thể ý lực khi hắn tác hành cái tốt, cái thiện. Cái thiện
và cái hiểu biết chính là một--và đó chính là nền tảng căn bản
của ý lực chân chính. Bởi vậy, mà không có ai có thể tự ý làm
điều gì sai lầm vì khi hắn làm như thế, ý chí của hắn bị đánh mất và
bị kiểm soát của vô minh và dục vọng.
Tuy
nhiên, Plato chỉ nói đến sự hiểu biết trên căn bản trí tuệ. Còn tất
cả những tri kiến giới hạn vẫn chỉ nằm trong vũng tối của vô minh.
LÝ
THUYẾT VỀ Ý NIỆM.-Về cái Thiện: Khoa học cao nhất, theo Plato, là
sự khai sáng về cái thiện. Cái thiện nằm trong ý thức cũng như là
mặt trời soi sáng thế giới vật thể. Nó là nguồn cội của sự sáng
cho tất cả. Chúng ta không thể thấy được mặt trời mà chỉ có thể
thấy tất cả qua ánh sáng của nó. Plato, cũng như Buđha, cho rằng viễn
kiến trong trí tuệ thì cũng như ánh sáng mặt trời chứ không phải là
mặt trời. Chúng ta không thể nắm được cái thiện như là một cứu
cánh chắc mãn mà có thể thực hiện được tinh hoa cái thiện trong trí
tuệ.
Về
hai thế giới Ý niệm: Cái cao nhất, cái tinh hoa, cái nguyên lý, dĩ
nhiên không phải là cái thiện. Cái mà Plato nói đến là một cõi
Chân Hữu, cái không biến đổi, cái vĩnh cửu, cái vô thủy vô
chung--cái vượt qua tất cả nhưng nằm trong tất cả để cho tất cả
những gì hữu hạn vô thường được chính là chúng và làm cho chúng có
ý nghĩa. Cái nầy có thể tạm gọi là Ideas. Ideas nầy trở nên hai thế
giới: thế giới của hữu thể va øthế giới của Trở nên. Nhưng có một
cõi thứ ba: không gian. Không gian là như thế, không thể hũy tan,
nhưng nó chứa đựng tất cả hữu thể--tự tính không gian là vô hữu,
nhưng từ mở rộng của vô thể nầy mà không gian dung chứa cho những gì
có thể trở nên sự hữu.
Cõi
Ý niệm là cõi siêu việt, cõi của tột trí vốn có thể nhận thức
được bằng tri kiến. Từ cõi đó mà tinh hoa của sinh hữu phát xuất và
tồn tại. Plato diễn tả cõi Ý niệm:
"Nơi tất cả--của vô
sắc, vô thể, tinh tuý vô cùng, là tinh yếu của tri thức, là chính
đạo của linh hồn. Đó là nguồn cội của công lý, của hài hòa, của
trí tuệ hài hòa, của trí tuệ tuyệt vời, không ở trên phạm trù của
liên hệ hay sinh tác của sinh hiện như những gì mà con người biết
đến, mà là một thứ sinh hữu tuyệt đối".
TỶ DỤ VỀ HANG ĐÁ:
Có
lẽ câu chuyện ẩn dụ về hang đá Plato là nổi tiếng nhất--được trình
bày trong cuốn Nền Cộng Hòa. Đây là sự so sánh về trình độ và hoàn
cảnh tri kiến và tâm thức của con người đối với chân tính của sự
Hữu. Nhân loại sinh hiện như là những cá thể bị xiềng xích trong một
hang đá tối tăm. Chúng ta chỉ nhìn thấy một hướng trong ánh sáng mập
mờ từ ngọn lửa thâp thoáng. Cái gì thấy được chỉ là những chiếc
bóng đổ lên tường đá ẩn hiện--mà con người cứ cho rằng chính là
chân lý. Khi được cởi bỏ xiềng xích, cá nhân đứng dậy, vươn vai, nhìn
quanh, và kinh nghiêm đầu tiên là cổ bị đau vì lần đầu tiên hắn biết
nhìn theo hướng khác. Hắn nhìn tới đốm lửa sáng nhưng mắt bị chói
nhức--và hắn chỉ muốn nhìn theo thói quen và chỉ muốn cho rằng các
chiếc bóng ẩn hiện trên tường là thật theo thói quen. Khi hắn bị kéo
ra khỏi hang đá, đối diện với ánh sáng mặt trời lần đầu, hắn không
nhận ra gì cả. Và hắn nhận ra sự vật một cách chậm rải. Cho đến khi
hắn nhận ra thực chất của vấn đề và hoàn cảnh của hắn và đám
người còn ở trong bóng tối hang đá, hắn muốn trở lại hang để cứu
họ. Nhưng đám người kia phản đối hắn và đe dọa hắn nếu hắn can
thiệp vào "sự thật" được diễn đạt theo bóng đen trên bờ
tường kia.
Đây
có thể là một trong những tỷ dụ triết luận quen thuộc nhất--cũng
như là những câu chuyện "những thằng mù sờ voi" của Buđha.
Tỷ dụ hang đá nầy biểu trưng cho ba tiền đề triết học căn bản của
Plato.: Sự ngoái nhìn hay chuyển hướng tư tưởng, giai trình của tri
kiến, và sự chuyển hướng hai chiều của nhân loại. Cá nhân phải có
quyết định chuyển hướng tri thức như lần đầu tiên được cởi trói phải
nhìn lại đàng sau lưng mình để có thể thấy được đống lửa trong hang
đá dù cho đầu cổ có bị đau, mắt có bị chói lòa. Khi đã có ý chí
vượt thóat trên căn bản tri thức thì hắn sẽ phải đi qua từng giai
trình tiến hóa cho trí tuệ, từ giác quan đến tư tưởng và sau đó là Ý
niệm, như là từ kiến thức tóan học đến khoa học biện chứng, từ Ý
niệm đến cõi siêu việt cao hơn. Hay nói một cách khác, từ dục thức
đến chánh kiến. Những tiền đề căn bản nầy của Plato cũng tương tự
như của Buđha : quy y tức là chuyển hướng tri thức, bát chánh đạo
cũng như là giai trình tiến hóa trí tuệ. Khi cá nhân ra khỏi hang đá,
nhận thức được vấn đề, hắn phải trở lại để giải thóat như là một
mệnh lệnh đạo lý mà Phật giáo đại thừa cũng có đề cập đến qua
khẩu hiệu "Tự giác giác tha"
Tuy
nhiên, triết học Plato nhấn mạnh đến tính quan yếu của sự chuyển
hướng hai chiều cho sinh mệnh cuộc đời: sự vươn lên đến cõi Ý niệm
để tìm đến Chân,Thiện, Mỹ để rồi trở lại với sự sống thường
nghiệm nhằm cải hóa cuộc đời. Plato không chủ trương từ bỏ cuộc
đời, không nhằm đến một sinh hiện cô độc và khổ hạnh. Cuộc đời
chính là cõi thực nhất cho cá nhân khi tất cả những tinh hoa của Ý
niệm đã được nhận thức.
LÝ THUYẾT VỀ EROS (TÂM):
Theo
Jaspers thì Plato khai mở ba phương diện tinh yếu của triết luận: a) Suy
tưởng như là một con đường nghĩ đến cái không thể nghĩ bàn; b) khả
thể truyền đạt chính là điều kiện cho chân lý; và; c) phép biện
chứng trong tư tưởng nhằm kiến tạo và giải hóa khái niệm và định
kiến hữu hạn. Tất cả đều nhắm về mục tiêu vĩnh cửu: cái Một.
Năng
động và tiến trình chuyển hóa về cái Một là bản chất tự do--của
chính ta và tha nhân. Đây là tự do được kiến thành bởi tình yêu.
Kiến thức triết học là kiến thức trong tình yêu. Triết học không
phải là trí tuệ mà là tình yêu về trí tuệ--một sự chuyển động của
tình yêu. Sở dĩ triết học khởi đi từ tình yêu, vì theo Jaspers, Plato
làm triết bởi tình yêu của ông dành cho người thầy Socrates. Đó là
một Eros chân hữu, lớn lao và thực tế. Tình yêu của Plato là một
huyền thoại, một vực sâu thẳm, cái gì nâng con người về cái Một
tuyệt đối.
Trong
tình yêu, tính dục cũng là điểm khởi đi, vừa là biểu tượng vừa là
kẻ thù. Cái đẹp vĩnh cửu trong tình yêu phát xuất từ ấn tượng giác
thức. Nhưng khi tính dục trở nên tự mãn, không còn gì để hướng về
thì tính dục là tội lỗi, là nô lệ, là bóng tối. Không có giác quan
thì tính dục không có khởi động và trí thức chỉ là trống rỗng. Triết
học cũng là đồng tính với tính dục: cả hai phát xuất từ sự chuyển
động của Eros--năng lực sáng tạo và chuyển hóa. Triết học nâng trí
thức về với cái Một bằng ngọn lửa nhiệt tình--và ở trong đó, sinh
nghiệm được kiến tạo--một cõi sống ở giữa của trở-nên trong cái
Đang - Là hữu hạn. Chỉ có những Thần Đế (God) thì không có yêu,
không triết luận-vì chúng hiểu biết. Plato sống một cuộc đời cho tình
yêu triết học--tức là tình yêu dành cho Socrates. Socrates khởi đi và
Socrates là chung điểm của Plato. Ông khai mở tiền đề, vấn nạn, phạm
trù--những lãnh thổ suy tư cho truyền thống Hy Lạp và Tây Âu. Từ
Plato là một trung điểm khởi đi mọi hướng. Không có triết học nào,
phân nhánh tư tưởng nào mà Tây Phương và thế giới hiện đại không
nhắm về Plato với những gì ông ta đã đề cập đến.
AUGUSTINE
Nền
Tảng Và Hướng Đi Của Tư Tưởng Augustine:
1)-
Sự Chuyển Hồi : Theo Jaspers thì nền tảng suy thức của Auggustine phát
xuất từ sự cải đạo--hay là sự chuyển hồi--từ đời sống vật chất,
thế tục về với niềm tin Thượng Đế trong hệ thống tín lý Thiên Chúa
giáo. Ở tuổi 19, ông bắt đầu say mê triết học, một nỗ lực suy thức
về một tri kiến để có thể đưa dẫn chính mình về bề mặt đến tinh hoa
của sự vật. Từ triết luận của Plotinus, Augustine bắt đầu chuyễn
hướng quan trọng cho cả cuộc đời: hành trình khai sáng một thực tính
tinh thần để cởi bỏ gánh nặng của đờI sống nhục thân. Qua những
nhận thức khởi đi nầy, dù là quan trọng, Augustine vẫn không thỏa
mãn với hiện sinh. Cho đến khi ông cải đạo chính thức trở nên một
tín đồ Thiên Chúa giáo, thì lúc đó cuộc đờI ông mới bắt đầu một biến
cố khai ngộ quyết định--khởi lên từ môt quá trình lâu dài và nhiều
do dự với một căn cơ vốn đã được dọn sẵn từ lúc ấu thơ.
Sau
khi chính thức là một tín đồ, Augustine về sống với bạn hữu để thảo
luận học nỏi triết học cổ điển. Ông bắt đầu trước tác những tác
phẩm chứa đựng nhiều tinh túy của triết học cổ đại trong năng lực
tái sinh với một tài năng mới.
Đối
với Augustine thì nguồn năng lực triết học mới phải phát xuất từ
Thiên Chúa giáo--nhưng trên căn bản lý tính: niềm tin từ Thượng Đế.
Nhưng sự chuyển hóa nầy là gì? Nó có phải là sự thức tĩnh về với
triết học, như Augustine đã--qua
2)-Sự
Chuyển Hóa: Đây là năng động triết học quan trọng của Augustine.
KhởI đi từ những ý niệm triết học độc lập để trở thành những yếu
tố tư duy trên căn bản đức tin vào tiết lậu, Jaspers phiên giải. Theo
đó, ngọn lửa nhiệt thành của triết học trở thành nhiệt độ của
niềm tin. Cả hai có vẻ như là một, nhưng chúng được phân biệt bởi
một bước nhảy vọt: sự chuyển hồi. Tinh hoa của suy tưởng đã được
đổi thay. Đức tin mới được ưu thắng bởi một tri kiến bất tận trên
nền tảng niềm tin. Khái niệm Thượng Đế, Chúa, Văn kiện Thánh kinh,
cơ đồ giáo hội v.v... chẳng qua là hiện thân của một tín điều về
những tiền đề cho sự Hữu. Tiền đề triết học trở thành tín điều của
Giáo hội.
Thượng
Đế (God) là chủ đích, là trung tâm của tư tưởng Augustine. Nhưng triết
học của ông muốn nói về một Thượng Đế mới. Vào thời điểm nầy,
thần học bị ngự trị bởi những khái niệm về God và một anti-God trong
một cơ cấu huyền thoại của truyền thống nhị nguyên luận của Manichaen
(Ba Tư)--những thế kỷ đầu của Tây lịch. Cộng vào đó là truyền thống
triết học Hậu-Plato vẫn còn nuôi dưỡng khái niệm của cái Một nhất
nguyên. Cả hai tiền đề về Thượng đế nầy đều không thỏa mãn
Augustine. Thượng Đế của Manichaen thì là của đối nghịch, chiến tranh,
đầy huyền hoặc. Cái Một của Plato thì quá trừu tượng, viễn vông. Từ
đó, Augustine đi tìm Thượng Đế trong Bible qua ngôn ngữ Thánh kinh, và
hiện thực hóa qua cơ chế Giáo hội. Với một Thượng Đế mới, khái
niệm về chủ thể tuyệt đối mơ hồ nầy đã trở nên hiện thực qua niềm
tin. Tư duy vẫn là một con lộ đến Thượng Đế nhưng niềm tin đã đặt để
nền móng vững chắc cho con lộ tri thức nầy. Triết học Augustine được
dìu dắt bởi thẩm quyền từ Bible từ Giáo hội chứ không bằng nguyên
tắc triết học.
Bản
chất nổi bật kế tiếp của triết học Augustine là nội dung triết học
Plotinus. Những gì Plotinus nói về Thượng Đế đều được Augustine tái
phân giải. God là thực tính và là cội nguồn của tất cả sinh hữu :
là logos, ánh sáng tri thức, là tính thiện tự hữu cho tất cả mọi
vật. Tất cả mọi lãnh vực triết học, về vật lý, về đạo đức, về
logic đều phát nguồn từ God.
Tuy nhiên--Jaspers
phân luận tiếp--triết học Plotinus, vớI những khái niệm về Thượng
Đế vẫn còn là những phạm trù trừu tượng, khi qua lý thuyết của
Augustine thì trở nên thực tại bằng phân định. Cái cấu trúc tam thể
của Plotinus về cái Một siêu thoát, cái tinh thần trong sự hữu, cái
hồn của thế giới như là thực tại : The trinity của tam vị nhất thể
với Cha (God), Con (Jesus), và Thánh Linh (Holy Spirit). Đối với Plotinus
thì cái Một là vĩnh cửu--là nơi phát xuất tinh thần, linh hồn thế
gian và vật thể qua những chu kỳ bất tận; khi qua Augustine thì cái
Một Thượng Đế trở nên một Thần Đế có quyền năng, sáng thành ra
thế gian vớI Một đầu tiên và điểm cuối cùng. Cái Một của Plotinus
là trung hòa; còn Thần Đế của Augustinelà cho chủ đích con người. Vì
thế, Plotinus không cầu nguyện; còn Augustine thì cầu nguyện là quan
trọng hàng đầu. Plotinus tìm niềm hứng khởi trong suy niệm siêu bổng;
Augustine thì tự kiểm thảo chính mình nhằm minh định năng động của đức
tin. Plotinus tìm ra bằng hữu với những triết gia rải rác khắp mọI
nơi; Augustine thì tìm ra chính mình qua thẩm quyền của Giáo hội với bản
chất thế quyền bằng một cơ cấu tổ chức thực tế.
3)-Sự
phát triển của Tư Tưởng Augustine: Jaspers nhận xét: Sự chuyển động tư
tưởng của Augustine là một tiến trình tổng thể của ba phương diện:
Christian, Catholic và Giáo hội. Từ đó, Augustine vật vả với tư tưởng
trên ba phương diện đó như là như là lịch sử vật vả của Giáo hội La
Mã đói với thế gian. Những gì rất là thực tế của đời sống tinh
thần trong Giáo hội chính là tâm điểm của tư tưởng ông. Những tiền đề
về thiên sủng, về tội lỗi, về cứu rỗi đều phát khởi và minh giải
trong những luận đề biện minh cho Giáo hội. Bản tính Catholicity của
Giáo hội như là một hiện thân huyền bí từ Chúa Jesus được đề ra và
luận giải từ những bài biện hộ đối các phe phái khác cùng thời.
Từ một triết gia trẻ vớI tất cả những gì trong sáng với tiêu chuẩn
nền tảng của lý trí, Augustine bỏ mất giá trị độc lập của triết học
để tìm về tư tưởng thần luận trên căn bản Thánh kinh--cái mà ông
cho là quan trọng nhất.
Những
Phương Diện Tư Tưởng Và Con Người Của Augustine :
1)
Minh giải về sinh hiện và phiên luận kinh Thánh : Jaspers phân chia tư
tưởng
Augustine
ra thành nhiều phương cách:
Thứ nhất : Về phạm vi siêu hình của kinh
nghiệm nội tại: Augustine viết rằng, con người thế gian sao cứ say mê
tìm hiểu, khai phá, thám hiểm những gì bên ngoài, như sông, núi, ngân
hà, vũ trụ, nhưng lại không chịu thám phá và tìm hiểu chính mình và
Thượng Đế. Khẩu hiệu cho chính mình của Augustine là Hãy cho tôi biết
tôi, Hãy cho tôi biết Người Mệnh lệnh của ông là mệnh lệnh nội
tâm, nhìn vào bên trong. Jaspers viết, Sự khai phá của Augustine đối
với linh hồn là sự khai phá Thượng Đế; ông nghiên cứu Thượng Đế
chính là nghiên cứu tâm hồn. Ông thấy Thượng Đế trong chiều sâu tâm
hồn, và thấy tâm hồn trong liên hệ đến Thượng Đế. Trong chiều hướng
nghiên cứu đời sống tâm hồn nầy mà Augustine được gọi là nhà tâm
lý học hiện đại đầu tiên--không phải trên căn bản thực nghiệm
khách quan mà là trên năng ý giảo cứu nội tại. Ông đối diện với
đáy sâu bất tận của tâm hồn và than lên, Con người là một vực sâu
thăm thẳm, to lớn, và chính Ta trở nên một câu hỏi cho chính ta.
Từ
triết luận của Augustine là một chuỗi dài những nghi vấn, những cách
thế đặt câu hỏi, những phạm trù vấn nạn về trí nhớ, kinh nghiệm,
về sự chắc chắn về chính mình. Augustine đã nói, Cho dù ta đang nghi
ngờ, ta biết là ta đang nghi ngờ và chắc chắn điều đó. Ta biết chắc
khi ta nghi ngờ. Từ đó hạt giống tri nghiệm được nêu lên : Ta hiện
hữu khi ta nghi ngờ. Chúng ta chỉ có thể nghi ngờ nếu chúng ta Đang
Là. Không như Descartes chỉ chắc chắn về cái Ta Đang Là, Augustine chắc
mãn về một bản sắc cho cái Ta nầy: cái Ta nầy biết về chính mình,
biết đến đúng và sai, mang ý lực về hạnh phúc, yêu thương cuộc đời
và khao khát kiến thức. Chúng ta sinh hữu, chúng ta biết về sự hiện
hữu của chúng ta, và chúng ta yêu mến hiện hữu nầy và kiến thức
nầy. Nhưng tình yêu và ý lực nầy để làm gì? Augustine trả lời: tình
yêu cho hiện hữu và kiến thức. Đây là sự chắc chắn, không phải
chắc mãn rỗng không, mà sự chắc mãn đựơc chất đầy bởi tình yêu và
ý nguyện. Đến đây thì Jaspers kiểm thảo, Nhưng sự chắc chắn nầy của
Augustine có thể bị sụp đổ xuống thành một tiền đề trống không, vô
nghĩa về sự hữu, hay là tình yêu chỉ là một khát vọng cho bất cứ
cái gì của sự sống; hay là chân lý chỉ còn là những cái vô nội
dung chỉ nói lên được một điều có vẻ chính xác. Vấn nạn: Nội dung
của tính sung mãn nầy là gì? Là Thượng Đế--Augustine trả lời. Tất cả
cuộc sống tình yêu, ý chí sự hữu đều đặt căn tính vào Thượng Đế.
Nếu chúng ta hỏi tiếp rằng, nếu Thượng Đế chỉ là chỉ là một khái
niệm vô nghĩa và rỗng tuếch thì căn tính có ý nghĩa gì không? Đối
với Augustine thì God là chân đứng tối hậu, một giả định căn bản và
tiên thiên--nếu không chấp nhận gỉả định về God thì tất cả cấu trúc
của Augustine chỉ còn là một bài thơ dài đầy mê tín và dị đoan.
Về
vấn nạn của Thời: Thời đối với Augustine là một huyền bí, một cái
gì có vẻ như biết mà không nắm chắc được. Ông quan tâm đến vấn đề
nầy thường xuyên và người dầu tiên đạt lên những nghi vấn, những
tiền đề sâu sắc về triết học cho Thời. Ông cho rằng Thời là một
sự khai rộng--và đầu óc con người tự chính nó là sự khai dài của
Thời. Và câu than của ông đã trở thành kinh điển, Vậy thì Thời là
chi? Nếu không ai hỏi tôi, tôi biết; nhưng nếu có ai hỏi đến và tôi
phải giải thích cho họ, tôi không biết. Tôi chỉ suy hỏi đến mà thôi
chứ không nói lên điều nào cả. Và Thời bắt đầu chỉ khi Thượng Đế
sáng tạo ra vũ trụ và sự hữu. God không tùy thuộc vào Thời. Trước
khi tạo thế thì không có Thời. Thời chỉ phát xuất từ sáng thế.
Không có cái trước đó. God là một thể trạng ever-present eternity.Vấn
nạn về Thời vẫn là như vậy vì càng hỏi đến, càng suy cứu nó lại
càng trở nên khó hiểu. Chỉ có một điều được khai mở khi vấn nạn về
Thời đựơc mang lên: sự chắc mãn về sự hữu của chính ta và về
Thượng Đế.
Nhưng
Thượng Đế được dựng lên từ đâu? Từ thẩm quyền của Thánh kinh Bible
và sự phiên giải của nó. Nền tảng của Bible là sự tiết lậu--chữ
viết văn ngữ có được là của Thượng Đế khai thị. Lý trí con ngườI
dừng lại ở một sự chấp nhận đối với thẩm quyền nầy--mà Augustine
gọi là đức tin. Đức tin là điểm cuối cho mọI nghi vấn. Nó là câu
trả lờI tối hậu. Lý trí phải được được đặt nền tảng trên đức
tin--và triết học là chỉ để khai sáng cho một biện minh về niềm tin
nầy mà thôi. Và làm sao tìm ra tính thực tại cho thế gian nầy và tất
cả vấn đề bình nhật của con ngườI và của lịch sử? Augustine đã dọn
sẵn một câu trả lời khác: Giáo hội ( La Mã ). Giáo hội là thẩm
quyền, thay mặt Chúa hành xử chuyện thế gian thực tế. Giáo hội và
con chiên đến với Chúa qua đức tin trên căn bản ngữ từ của Bible.
2)- Về Thượng Đế và Chúa: Augustine phát
huy tư tưởng của ông thành hai ngả: Về God thì trở nên một đối thể
huyền hoặc và cao siêu; Về Christ thì trở thành chân thực và lộ
diện qua sử tính và nhân thế. God là sự ra đi; Christ là bước chân
trở về căn nhà nhân loại. God là vượt thoát; Christ là vấn thân
vào khổ đau với con người và tội lỗi.
Cái
sâu sắc, tuyệt vời của lịch sử Thiên Chúa giáo Tây phương là sản
phẩm Chúa (Christ). Từ
Tại
sao các đồ đệ của Jesus biến Jesus một con người hữu hạn, thành môt
Jesus của ý niệm Chúa? Trả lời : Hình ảnh và huyền thoại của Chúa
Jesus giải quyết một đòi hỏi cho con người: chúng ta muốn một hiện
hữu thân xác. Qua thân xác và cuộc đời hữu hạn của Jesus, Thượng
Đế trở nên chân thực va ngôn từ trở thành xác thịt.
3)-
Về Tự Do: Đối với Augustine, Jaspers viết, ý lực là
trung tâm của sinh hữu, là chính cuộc đời. Tuy nhiên, từ trong tự do,
kinh nghiệm căn bản vẫn là sự dằng co giữa thực tính tự do và khả
năng ý chí : tôi năng ý nhưng tôi không thể chú ý cái ý lực của
mình. Tôi muốn đi tìm cái gốc nguồn ý lực--vốn nằm ngoài tôi. Vậy
thì ý lực, vốn là của tôi, mà không đến từ tôi. Tôi không thể
làm cho tôi yêu ai nếu tôi không yêu người đó. Tôi là tôi nhưng
tôi có thể làm cho tôi sai lầm. Chính ta phản
bội ta là điều thường nghiệm. Cái ta nầy được giao cho tôi --tôi tin
nó nhưng không cậy nó được. Khitôi sinh sản ra cái Ta qua tác hành
hay ý chí.
Luận
đề nầy là một vấn nạn quen thuộc trong truyền thống Ấn Độ. Nhưng Ấn
Độ có câu trả lời : cái Ta nầy được trao cho ý thức về ta từ
nghiệp quả vốn cấu thành từ muôn vạn kiếp trước. Từ đó, sinh mệnh
là một mệnh lệnh tu tĩnh để giải thoát cái Ta nầy ra khỏi ý thức
về ta để đạt được một thực tính tự do không là Ta. Cả Thiên Chúa
giáo lẫn Ấn giáo và Phật giáo ký thác căn tính tự do vào một cái
ngoài Ta--tính ngoại thân là nguồn cội của ý chí và tự do. Đó là
Thượng Đế, hay là nghiệp quả, hay là gì đó. Cái Ta chỉ là một hiện
thân từ một cái không phải là Ta.
Theo Jaspers, thì Augustine tìm ra một phân
định cho tự do khác để bỏ mất cái đẹp, cái độc lập, cái bi thảm
vốn phát huy mạnh từ văn minh Hy Lạp.
Chưa
có triết gia nào trước Augustine quan tâm đến vấn nạn bất thường của
tự do, căn tính khả thể tự nó, hay là nghi vấn về ý nghĩa thực hữu
cho tự do. Jaspers nhận xét. Từ Plotinus và
4)-Và
trong năng động tâm thức cá nhân, cái quan trọng nhất là tình yêu.
Yêu là khao khát cái gì chưa phải là. Nó là năng lực ý chí.. Nó là
khao khát khi muốn chiếm hữu; hạnh phúc khi đã có; lo sợ khi chiếm
hữu bị đe dọa; thảm sầu khi bị mất. Tất cả những gì con ngườI tác
hành, ngay cả tộI ác, cũng chỉ vì tình yêu. Nhưng con ngườI không thể
diệt được tình yêu. Chỉ có cách là thanh lọc và điều hướng năng lực
ý chí nầy. Tình yêu chân thực là tình yêu cho Thượng Đế. Nhưng yêu
God là sao, là gì? Là cái miên viễn, thường trụ, cái thiện. Có thực
vậy không? God là một khái niệm trở nên đối thể của ý thức nay
trở thành người yêu chân hữu? Yêu Thượng Đế là tung đôi ý chí và
tự-ngã vào khoảng không? Để đạt được những phạm trù phủ định: bất
tử, không mất mát, không hủy diệt. Có phải đây là một trạng thái
tâm lý gượng gạo của một tín đồ cực đoan sống trong một truyền
thống tín điều?
Augustine,
qua Jaspers, cho rằng tinh hoa của cá nhân là tình yêu. Cái biết về
thiện chưa đủ, hắn phải yêu cái thiện. Nhưng cái thiện ở đâu? Có
phải là ở nơi từng hoàn cảnh thực tại giữa thế gian nầy. Néu chỉ
có caritas (yêu God ) mà không yêu thế gian thì chữ thiện nằm trong
khoảng không? Augustine chủ trương tình yêu cho Thượng Đế như là hướng đi
cho mệnh lệnh--vì yêu thế gian là yêu cái vô thường, nó chỉ là
libido, là tình yêu xác thịt.
Cái to tát, vĩ đại của tư
tưởng Augustine là khả năng đánh thức chúng ta về những vấn đề lớn
cho hiện hữu : của Thượng Đế, của linh hồn, của tuyệt vọng, dằn
vặt, tội lỗi, chiêm nghiệm, cô đơn. Từ tín lý tuyệt đối với Giáo
hội và Bible qua khái niệm Thượng Đế, Augustine làm cho chúng ta phải
giật mình và nghĩ về một phương hướng sinh hữu khác bao gồm những thứ
trên. Từ trong nô lệ của tư duy, chúng ta ý thức được ánh sáng tự
do trước mặt.
Jaspers viết, Augustine là biểu tượng của
Thiên Chúa giáo, qua phái Catholic: Của một phong khí khiêm tốn một
cách tự mãn, của tính khắc kỷ nặng tính giác quan, của sự che chụp
và xoay ngược liên tục (của đời sống tâm lý)--chạy suốt cả dòng
sinh hữu của tôn giáo nầy hơn tất cả các tôn giáo khác.
CHƯƠNG BA
TRI KIẾN PHẬT GIÁO
A- TỔNG QUÁT
Khi
viết về Buđdha (Phật Thích Ca Mâu Ni) Thì Jaspers đối diện với một chủ
đề xa lạ mà sự kiện cũng như tinh thần đều thiếu sót cho một triết
gia người Đức. Tuy nhiên không dễ gì, cho bất cứ ai, ở đâu, thời
điểm nào, để có thể nói về Buđdha mà không bị thiếu sót. Suy luận
với kiến thức nửa vời còn nguy hiểm hơn không có kiến thức; nhưng
một nửa kiến thức có một nửa cơ hội đến sự thật, còn không kiến
thức thì chỉ là u tối và ngu dốt. Với một đề tài như triết học của
Buđdha không ai có thẩm quyền để nói rằng họ có đầy đủ kiến thức.
Mở
đầu, Jaspers công nhận một sự kiện lịch sử :không có một sự chắc
chắn nào về sử kiện đối với những gì mà Buđdha đã thuyết giảng.
Nếu một ai đòi hỏi một tiêu chuẩn chính xác cao độ về sử kiện thì
họ chỉ còn lại số không. Cuộc đời, triết lý của Buđdha là một nửa
huyền thoại, một nửa sử tính. Buđdha được tái dựng lại bởi những
thế hệ đàng sau nhiều hơn là con người lịch sử nguyên thủy. Nhưng đó
chính là thực tế của văn minh và lịch sử nhân loại đối với những vĩ
nhân.
Chủ
thuyết của Buđdha là sự cứu rỗi bằng trí tuệ redemption by insight),
Jaspers viết. ( Đâylà vấn đề của Jaspers khi mở đầu phần thảo luận
về học thuyết của Buđdha. Doctrine và Redemption ( cứu rỗi ) không
phải là thuộc về phạm trù khái niệm trong tư tưởng của Buđdha- mà
là của Thiên Chúa giáo Tây phương ). Chánh Kiến là sự cứu thoát cho
sinh hữu. Chánh kiến của Buđdha không phải kiến thức từ cảm quan hay
vận động của lý luận; nhưng mà nó là khởi lên từ một thể nghiệm
bởi sự chuyển hóa của ý thức từ những giai trình thiền định.
Buđdha
khởi đi và kiến tạo giáo lý trên căn bản của một nhà Yogi trong
truyền thống Ấ n Giáo. Mọi khả thể giải thoát, tri kiến hay giác
ngộ đều đến từ thiền định để khai mở tuệ nhãn. Từ đó, Buđdha mở
đầu triết học bằng một sự đòi hỏi lớn lao, vượt qua sự bình thường
trong khả thể tính nhân loại. Kiến thức và ý thức nhân loại, trên
các lãnh vực khoa học và triết, chỉ vẫn còn nằm ở mức độ thế tục.
Ý thức vẫn chỉ là một biến số. Lý tính vẫn chỉ nằm trong giới hạn
của không và thời gian. Phật Pháp như chúng ta thường nghe và biết
đến, là sâu thẳm, khó mà lãnh hội, khó mà hiểu thấu, đầy an lành,
huy hoàng, không thể đến được bằng suy tưởng, vi tế; chỉ những bậc
đại trí mới có thể học được Pháp.
Và
đó là vấn đề triết học của Buđdha :một hệ thống chứng ngộ cao cấp,
chỉ dành cho một thiểu số nhỏ, một giai tầng trí thức thượng đẳng
của giới quý tộc của giống dân đặc biệt của vùng Hy Mã Lập Sơn,
trở thành cơ đồ tôn giáo, tín ngưỡng và đạo học bình dân, phổ thông
mang đầy màu sắc huyền thoại và sử tính. Duy thức học Phật Giáo,
nhánh sông triết học từ tư tưởng của Buđdha, chẳng hạn, là một môn
epistemology (Bản thể học của kiến thức) thượng đẳng mà muốn lãnh
hội nó phải cần có một khả năng trí thức cao, tương đương với trình
độ tiến sĩ hiện nay của giáo dục bằng cấp Tây Âu, mới có thể hiểu
thấu được. Vì vậy, Phật giáo khi, trở nên phổ thông và bình dân
hóa, đã chỉ còn là một hệ quả từ lịch sử đầy nhầm lẫn, hiểu lầm,
mà tinh hoa của những gì Buđdha rao giảng nay chỉ còn là gánh nặng của
chiều dài lịch sử mà thôi.
Jaspers
cũng trình bày đến những chủ thuyết căn bản của Buđdha: của Tứ Diệu
Đế, của Bát Chánh Đạo. Jaspers phiên giải những gì Buđdha kêu gọi
trên khuôn mẫu hiện sinh luận: Con người đối diện với Existenz (Hiện
thể) như là sự chọn lựa giữa khả thể tính Trở Nên. Trong suy lý,
thiền định, và niềm tin, con người phải đặt cho chính hắn mục đích sinh
tồn tối hậu cho hắn. Hắn vật vã, lao tác, như một kẻ leo núi. Vì thế
mà Buđdha luôn kêu gọi nỗ lực ý chí. Tất cả sinh lực của cá nhân
phải được vận dụng. Cá nhân phải tự đốt đuốc lên mà đi--và hắn
phải đem ánh sáng từ ngọn lửa tri thức do chính hắn đốt lên để mà
đi sâu vào bóng tối tận trong góc cạnh tâm thức u minh, sâu thẳm.
Và chỉ có thể được như thế qua thiền định. Mệnh lệnh toàn thể là
vậy: đừng để bất cứ cái gì nằm yên, lẫn kín trong góc tối của vô
thức để chỉ nó có thể tác hành qua vọng tưởng; hãy hoàn toàn tĩnh
thức, giác ngộ trước tất cả hành động và nghiệm thể cho chính mình.
Về
sinh hiện, triết lý của Buđdha là truyền thống Ấn Độ mà nặng nhất
trong truyền thống nầy là khái niệm karma (nghiệp). Tất cả sinh hiện
chỉ là tiến trình Trở Nên bị điều kiện hóa bởi nghiệp quả vốn phát
xuất từ vô minh. Cái chuỗi dài nhân quả nầy cần phải được chấm
dứt. Tất cả đều đang bị đốt cháy bởi ngọn lửa tham dục bởi năng
lực tự ngã. Chấm dứt chuỗi dài nhân quả nầy, theo Jaspers, là sự
chấm dứt tất cả sinh hiện với những đau khổ của nó.
Jaspers
hỏi: Từ đâu mà cái vô minh nầy đến để từ đó là sự khởi đi cho
tất cả khổ đau? Theo Jaspers thì câu hỏi đó chưa bao giờ được nêu
lên. Jaspers viết: Không có một sự thảo luận về sự sa ngã đầu tiên
từ toàn thiện vĩnh cửu vào trong vô minh, một biến cố mà đã có thể
nhắc nhở đến sự vấp ngã của con người trong truyền thống
Judaeo-Christian. Một loạt những câu hỏi nối tiếp nhau có vẻ như ám
chỉ rằng một biến cố như vậy đã là nguyên khởi cho tất cả những bi
đát của thế gian nầy. Nhưng ở đây Phật Giáo ngừng câu hỏi. Trí tuệ
đã cung cấp sự chắc chắn về cứu rỗi và như thế là đủ rồi. Và thế
là không có tội lỗi gì có dính dáng đến biến cố mà khổ đau khởi
sinh; vì ai có thể can tội? Khi Buđđha từ chối có một ai đó. Không có
tự ngả, không có ta, không có một định thể cá nhân. Tất cả đều là
giả hợp trong năng động cấu thành nghiệp quả.
Những
vấn nạn mà Jaspers nêu lên đều là những vấn đề lớn của triết học
Buđđha. Trong duy thức học. Phât Giáo, qua Mã Minh và các triết gia
lớn của Phật Giáo về sau, cố khai phá một luận đề triết học về sự
khởi đi của vô minh và vai trò của tri thức trong tiến trình Trở Nên
của sinh hữu qua sự tác động của nghiệp quả. Nhưng ở đây, Jaspers chỉ
muốn nói về triết học của Buđđha-- còn triết học Phật Giáo thì là
một chuyện khác vốn bao gồm cả một lịch sử lâu dài.
Buđđha
đã không muốn đưa ra một hệ thống triết học per se (chính nó) vì chỉ
gây thêm tranh luận vô ích. Mục đích của Buđđha là chỉ lối cho nhân
loại giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Đó là sứ mạng tín
ngưỡng. Buđđha tồn tại trong lịch sử nhân loại là nhờ vào một hệ
thống tín điều về khả thể vượt thoát khỏi hiện hữu trong cõi luân
hồi. Jaspers kết luận: Buđdha là hiện thân của một nhân thể vốn
không công nhận một trách nhiệm nào đối với thế gian, nhưng mà trong
một thế gian vươn ra khỏi thế gian nầy. Nhân thể nầy không tranh đấu
hay chống cự. Nhìn vào chính mình như là một sinh hữu đã đi vào hiện
thế qua vô minh, họ chỉ muốn cái hủy diệt, nhưng ngay điều nầy cũng
cực đoan rằng họ không muốn ngay cả cái chết, bởi vì họ tìm ra một
trú quán vào thường hằng qua khỏi sinh và tử. (TC Triết 1, tr.
234-236)
B- TÁNH KHÔNG-DUYÊN KHỞI
Cho đến nay, dù trải qua mấy mươi thế kỷ
được phổ truyền, đạo lý Tánh Không của Bồ Tát Long Thọ vẫn còn
diệu lực vượt thoát lên trên tất cả những hạn cuộc của thế giới
tri thức và luận lý tương đối của con người. Tại sao? Bởi vì, đạo lý
Tánh Không ấy không phải được xây dựng trên nền tảng của tri thức
và luận lý thuộc thế giới tỷ lượng hay biến kế chấp của tâm phan
duyên. Đạo lý Tánh Không mang trong nó nội dung mầu nhiệm của năng
lực chiếu sáng từ trí tuệ thực chứng chân lý hay cội nguồn tối hậu
của vạn hữu. Chính khả tính vi diệu của quang lực trí tuệ nầy mới có
công năng đẩy nhận thức và luận lý mà nó sử dụng xóa sạch vết
tích trầm trệ cố hữu trong tri thức và luận lý để lao vút vào cõi
tịch lặng chân như...
(Lời
giới thiệu cuốn sách Phủ Định Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán của
Viện Triết Lý VN và Triết Học Thế Giới)
Phần
trình bày Tánh Không của Bồ Tát Long Thọ được trích trong sách nêu
trên của B. K Martilal do Thượng Tọa Thích Viên Lý dịch.
Phái
Trung Quán không tin vào thực tại của đa-nguyên-tánh thuộc hiện
tượng. Họ phủ nhận rằng chân lý tối hậu có thể là tương đối hoặc
có thể tùy thuộc vào bất cứ điều gì khác. Triết lý của họ vạch
trần tính cách không xác thực hoặc tính cách bất khả biện minh của trật
tự đa-nguyên mà chúng ta thường hình dung ra trong kinh nghiệm và ý
tưởng. Về phương diện nầy họ rất gần gũi với tinh thần của những
người thuộc phái Bất Nhị Luận (Advatin). Cả phái Trung Quán lẫn phái
Bất Nhị Luận đều hướng về một loại chủ thuyết triết học tuyệt đối
nào đó. Nhưng phái Bất Nhị Luận có vẻ nhiệt tâm hơn đối với một
lập trường siêu hình học khi họ đánh giá những tư tưởng và kinh
nghiệm thông thường. Còn phái Trung Quán thì cố gắng duy trì một thái
độ thờ ơ về tồn hữu học.
Hai phái Trung Quán và Bất Nhị Luận có
vẻ đồng ý về một điểm khác. Chân lý tối hậu, dù đó là Không
Tánh (sùnyatà) hay là Phạm Thiên ( Brahman ), luôn luôn tiềm ẩn đối
với kinh nghiệm thông thường và ý tưởng của chúng ta; người ta có
thể đạt đến chân lý tối hậu bằng kinh nghiệm trực tiếp và hầu như
là thần bí, qua nội quán thâm sâu hoặc qua trực giác của một loại
người đặc biệt nào đó. Vậy, có thể nhận xét rằng, cả hai trường
phái trên đều có khuynh hướng mở khóa cánh cửa đi vào chủ nghĩa
thần bí của triết học hay chủ nghĩa thần bí nhận tri (cognitive
mysticism).
Muốn
hiểu biết chính xác về loại chủ nghĩa tuyệt đối của phái Trung Quán
thì cần phải đi vào trung đạo, giữa sự cả tin thái quá và hoài nghi
thái quá. Thật ra, chủ thuyết về Tánh Không chỉ muốn vạch trần cho
chúng ta thấy: người ta sai lầm về luận lý (hoặc về biện chứng
pháp) nếu coi bất cứ hệ thống siêu hình học nào đó là có giá trị
tuyệt đối. Theo nhận xét của T.R.V Murti để làm sáng tỏ việc nầy:
Biện chứng pháp Trung Quán không phải là sự phản luận... Phản luận
là bác bỏ quan điểm của đối phương bởi một người quan tâm tới việc
thiết lập một quan điểm của chính họ. Còn sự phê bình là dùng lý
trí để phân tích một cách khách quan.
Long
Thọ vận dụng thuyết duyên khởi của Phật Giáo thời sơ khai để cho
thấy sự tương đối (nghĩa là sự tương lập lẫn nhau) của tất cả mọi
quan niệm, và do đó, Ngài nói rằng chúng không thể được coi là thực
khi nhìn từ quan điểm tuyệt đối. Ở đây rõ ràng là Ngài muốn nói
rằng thực tại phải tự hổ trợ, độc lập và tuyệt đối. Trong bộ Trung
Quán Luận, Long Thọ khảo sát một số quan niệm siêu hình học và phổ
biến,như thời gian, không gian, sự chuyển động, nhân duyên, và sanh
và cho thấy rằng mỗi khái niệm đó sẽ dẫn tới những mâu thuẫn và
phi lý, nếu chúng ta coi chúng là thực một cách tuyệt đối. Mô thức
tổng quát của lối biện luận nầy có thể được tóm tắt như sau : Nếu
chúng ta giả thử một vật x nào đó là hiện hữu một cách độc lập,
thì hoặc là chúng ta không thể thuyết minh một cách nhất trí (và hợp
lý ) về vật đó--để tránh sự mâu thuẫn về luận lý --hoặc là giả
thiết của chúng ta về sự hiện hữu độc lập của nó sẽ dẫn tới một
hậu quả phi lý nào đó, trái với kinh nghiệm của chúng ta. Trong câu
kệ thứ 18, phẩm thứ 24 của Trung Luận, B.T Long Thọ thiết lập một
liên hệ đồng nhất giữa những từ ngữ
không tánh, duyên khởi, và trungđạo:
Nhân duyên sở sanh pháp ngả thuyết tức
thị không, Diệc vi thị giả danh
Diệc
thị Trung Đạo nghĩa.
Bất
cứ cái gì do nhân duyên sanh ra ta đều gọi là không,
Cái
đó cũng được gọi là giả danh
Cái
đó cũng có nghĩa là Trung Đạo
Theo giải thích của Nguyệt Xứng
(Candrakirti ) về câu kệ nầy có thể thiết lập như sau :
Duyên Khởi = Không Tánh = Giả Danh =
Trung Đạo.
Trung
Đạo mà Long Thọ nói đó là để tránh hai cực đoan của chủ nghĩa hư vô
và chủ nghĩa thường hằng. Thật ra có thể truy nguyên tư tưởng nầy từ
bài thuyết pháp của đức Phật với Kàtyayàna. Long Thọ viện dẫn bài
thuyết pháp và Nguyệt Xứng ghi chú rằng nó xuất hiện trong những bộ
kinh A Hàm. Nguyệt Xứng cho rằng không tánh--là cái không có nguyên
thủy tự nhiên của nó--được coi là Trung Đạo vì nó dẫn tới xa lìa hai
cực đoan là hiện hữu hoặc sanh khởi và vô hiện hữu hoặc hủy diệt.
Cái gì không có nguyên -thủy của-chính-nó thì không có sự hiện hữu
hoặc sanh khởi hoặc hiển hiện, và khi nó không có sự hiện ra thì nó
cũng không có sự biến mất hoặc hủy diệt hoặc vô hữu. Vì vậy,
không tánh có nghĩa là Trung Đạo.
Chúng
ta cần bàn thêm về sự đồng nhất giữa duyên khởi và giả danh ( hoặc
quan niệm ). Tác giả A. Wayman giải nghĩa là Định danh khi có sự lệ
thuộc. Ông cũng lập một danh sách gồm những thí dụ để dẫn chứng
những định danh lệ thuộc từ những lời chú giải của Tson-kla-pa về
phẩm thứ 6 trong sách nhập môn Trung quán luận của Nguyệt Xứng.
Lệ
thuộc vào duyên
1) ngũ uẩn - Ngã
2) Bộ bánh xe, trục xe,v,v---Xe
3) Hạt giống, v.v---- Mầm
4) Đất, nước, gió, lửa, không khí, không
gian và ý thức-Người
5) Khúc dây thừng---Con rắn
6) Nhân và duyên---Không Tánh
Những
thí dụ trên đây cho thấy ý niệm về giả danh (cái danh giả huyễn vì
lệ thuộc vào những duyên). Có thể nói duyên khởi và giả danh chỉ
là hai cách khác nhau để nói về cùng một ý niệm : Không-Tánh. Như
sao hôm và sao mai đều là tên của một thiên thể duy nhất nhưng có
hai ý nghĩa khác nhau, cho nên duyên khởi và giả danh đều chỉ là một
cái tên giống nhau tuy rằng chúng có thể có những ý nghĩa khác nhau.
Nguyệt
Xứng giải thích duyên khởi là sự xuất hiện hoặc nổi lên của sự
vật nào đó (như cái mầm, nhận thức,v.v-- tùy thuộc vào nhân và
duyên. Sự định danh tùy thuộc (tức là giả danh) là hành động định
danh (chỉ định một cái tên) cho sự vật nào đó--thí dụ như cái xe--tùy
thuộc vào các sự vật khác, như bộ bánh xe, v.v. cả hai chữ duyên
khởi và giả danh đều mô tả cùng một thực thể: cái Tuyệt Đối của
không tánh. Chữ duyên khởi (do nhân duyên mà sanh ra) là đứng trên
lập trường siêu hình học để hình dung sự tuyệt đối của Không; còn
chữ giả danh là đứng trên lập trường nhận thức luận để hình dung
cái đồng nhất bất nhị của Không. Nói khác, Duyên Khởi gạt bỏ siêu
hình học của nhân quả để thay vào đó bằng thuyết nhân duyên tương
tác. Còn Giả danh thì vạch trần tính cách vô hiệu quả của sự định
danh bằng ngôn ngữ, và do đó phủ định khả thể của bất cứ khái niệm
tri thức nào về thực tại, và thay vào đó bằng khái niệm về sự định
danh tùy thuộc. Tất cả sự định danh của chúng ta đều là tổng hợp,
khi chúng ta Tổng Hợp những yếu tố khác nhau thành một sự vật nào
đó để định danh (đặt tên) cho nó. Tóm lại, duyên khởi là một nguyên
tắc thành lập giữa các đối tượng, còn giả danh thì thành lập giữa
các đối tượng và nhận thức/ý thức của chúng ta về chúng. Nhưng,
trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đi đến không-tánh, vì chúng ta
buộc lòng phải nhận thấy sự thiếu vắng của sanh khởi độc lập hay
sanh khởi do chính bản chất của nó.Thứ nhất, sự thiếu vắng sanh khởi
độc lập dẫn tới không tánh; thứ nhì, vô sanh và sự thiếu vắng định
danh tuyệt đối cũng dẫn tới không tánh.
Long
Thọ giải thích thuyết; Không Tánh của Ngài như là bao hàm hai giai
tầng của chân lý, đó là:tục đế (chân lý thế tục) và chân đế
(chân lý tối hậu, đệ nhất nghĩa đế, hay thắng nghĩa đế...). Tục đế
kiến lập trên những giả thiết và tiền đề chưa được khảo nghiệm.
Nếu khảo sát những tiền đề nầy qua những phạm trù luận lý được
chấp nhận ở giai tầng thế tục thì sẽ thấy rằng chúng có những mâu
thuẩn nội tại. Chúng ta không thể lãnh hội chân đế bằng ngôn ngữ.
(Điều nầy chính là một giáo điều căn bản của Phật giáo mà Long Thọ
từng đề cập). Nhưng đồng thời, nếu không dùng ngôn ngữ thì chúng ta
không có cách nào khác để thuyết giảng về chân đế. Vì vậy, ngôn
ngữ thế gian được sử dụng để vạch ra sự thiếu khả năng của ngôn
ngữ trong việc bày tỏ chân đế. Và Long Thọ trông mong rằng phương
cách nầy sẽ dẫn chúng ta, một cách gián tiếp, tới một điểm mà
chúng ta có thể lãnh hội được chân đế (là cái không thể diễn tả).
Long Thọ cũng cảnh giác người ta đừng vội vàng cho rằng mình đã hiểu
được thuyết không tánh của ông: giống như nắm bắt con rắn ở phía
đuôi hoặc áp dụng khoa học sai lầm; sự hiểu lầm không tánh có thể
gây nguy hại cho người kém thông minh. Hơn nữa, ông còn nói: Khi hiểu
được không tánh thì có thể hiểu tất cả chư pháp; nếu không hiểu
được không tánh thì không thể hiểu được chư pháp.
Hai
Giai Tầng của Chân Lý: Phật giáo đặt căn bản trên chủ thuyết về
hai chân lý: chân lý ẩn dấu hay chân lý thế tục và chân lý tối
hậu hay tuyệt đối. Những ai không hiểu được sự phân biệt giữa hai
chân lý thì không hiểu được tinh nghĩa--hay ý nghĩa thâm thúy--của
Phật giáo (theo Long Thọ trong Trung Quán Luận). Vì thế cả những lời
thuyết giảng của đức Phật có thể được phân loại thành tuyệt đối
hay tối hậu, và thực dụng hay thế tục Thuyết giáo về thế tục được
gọi là samvrti hay lloka-sanvrti. Nguyệt Xứng đề nghị ba cách giải thích
từ ngữ samvrti, căn cứ vào nguyên ngữ học: (1) Sự che đậy hoàn toàn
hoặc cái màn của vô minh che đậy chân lý; (2) chỉ hiện hữu nhờ tùy
thuộc các nhân duyên; (3) hành vi thế tục hay ngôn ngữ liên quan tới
giả danh và cái được giả danh (đặt tên), tới cái tri nhận và cái
được tri nhận. Cách giải thích thứ ba có vẻ đưa ra kiến giải hữu
dụng về bản chất của thế tục. Những gì được bày tỏ trong hành vi
ngôn ngữ của chúng ta cùng với chính hành vi ngôn ngữ cấu thành
cảnh giới của thế tục, tức là cảnh giới tùy tục và thực dụng.
Cái gọi là giả danh, hoặc dùng văn tự hay danh tánh, tùy thuộc vào
sự gán ghép của một số điều kiện hoặc phẩm chất. Một cái gì đó
trở thành đối tượng của ý thức qua một hình thức nào đó mà chúng
ta có thể gọi là điều kiện để gán cho nó một cái tên. Vì vậy sự
giả danh đặt cơ sở trên sự áp đặt của một điều kiện hoặc một phẩm
chất, khiến cho vật được giả danh trở thành một huyền thoại cấu tạo
bởi điều kiện hay phẩm chất đó. Nhưng Nguyệt Xứng nhận thấy rằng
lãnh vực của giả danh và cái được giả danh, túc là lãnh vực của
tri thức và những đối tượng của nó, giống như thế giới tùy tục, có
một giá trị thực dựng lớn lao. BT Long Thọ nói: Không thể mô tả
chân lý tối hậu, nếu không dùng ngôn ngữ tùy tục. Và nếu không
thể hiểu được chân lý tối hậu thì không thể chứng quả Niết Bàn.
(Trung Quán Luận).
Tính
Cách Bất Xác Định của Thế Giới Hiện Tượng : Trong phần nầy chúng ta
sẽ thảo luận về ý niệm bất xác định của thế giới hiện tượng. Như
Sriharsa đã nhận xét đúng, một người thuộc phái Bất Nhị Luận tuyệt
đối, sẽ tán đồng với một người thuộc phái Trung Quán về quan điểm
coi thế giới hiện tượng như là có đặc tính bất khả xác định. Hiểu
theo một ý nghĩa nào đó, một hiện tượng là một sự kiện được cảm
nhận và do đó chúng ta không thể nào coi nó Chỉ Là hư cấu, hiểu theo
nghĩa rằng chúng ta không thể coi người con của một phụ nữ tuyệt sản
là một hư cấu. Vì vậy, chúng ta phải chấp nhận rằng thế giới hiện
tượng có sự hiện hữu tạm thời. Nói cho đúng, nếu thế giới hiện
tượng chẵng phải là một thực thể thì tất cả những sinh hoạt thực
tế của chúng ta sẽ không thể thi hành được; và ngay cả những kỷ
luật đạo đức và tinh thần cũng sẽ mất hết ý nghĩa. Vì vậy, thế
giới hiện tượng nầy được coi là không thật mà cũng không giả, nhưng
nó là bất khả xác định và bất khả minh chứng trên phương diện luận
lý. Theo ngôn ngữ của Long Thọ, tính cách bất xác định nầy của thế
giới hiện tượng được gọi là đặc tánh duyên khởi của chư pháp hoặc
là không tánh của chư pháp.
Ở
đây, chúng ta thực sự đối diện với một nghịch lý hiễn nhiên và rất
lý thú. Mỗi hiện tượng đều là bất xác định về luận lý; chúng ta
không thể nói nó hiện hữu và không thể nói nó không hiện hữu,
hoặc vừa hiện hữu vừa không hiện hữu. Khi các trường hợp nầy đều
bị phủ định thì hiện tượng trở thành bất xác định, tức là trống
không, nghĩa là không có bất cứ giá trị tuyệt đối nào. Vật tối hậu
đó cũng là bất xác định và cũng không thể mô tả. Thật ra, cái tối
hậu chính là không-tánh của mọi vật, mọi hiện tượng. Đi theo lối
phân tích nầy, chúng ta sẽ hiểu rõ nghĩa hơn về ý nghĩa thâm sâu
trong câu kệ sau đây của Long Thọ :
Thế
gian không có gì khác Niết Bàn,
Và
Niết Bàn không có gì khác với thế gian.
Giữa
thái cực của Niết Bàn và thái cực của thế gian, không có một chút
khác nhau nào cả.
Tuyệt
đối và hiện tượng không khác nhau. Khi đứng trên điều kiện duyên
khởi và lập trường đa nguyên tánh để xét thế gian nầy, bảo rằng nó
có tính cách hiện tượng hay thế tục. Nhưng khi chúng ta không qui
chiếu vào duyên khởi và đa nguyên tánh để xét thế gian thì nó được
coi là Niết Bàn, là cái tối hậu. Cho nên, chúng ta thấy, thật ra
việc chỉ trích phái Trung Quán về chuyện họ phân chia chân lý thành hai
giai tầng là điều không công bằng. Hiện tượng chính là hình thức che
dấu của tối hậu, nhưng nó không khác gì tối hậu. Vì vậy cần phải
nhấn mạnh rằng thuyết không-tánh không bao hàm sự phủ nhận thế
giới hiện tượng, mà chỉ bao hàm thái độ vô chấp đối với những hiện
tượng, và không chấp nhận bất cứ lý thuyết nào nói rằng thế giới
hiện tượng là thực một cách tối hậu.
Nghịch
Lý của Không Tánh.- Không -tánh dẫn đến lý thuyết về tánh bất khả
xác định của thế giới hiện tượng. Nhưng, bản thân lý thuyết nầy (về
tánh bất khả xác định của thế giới hiện tượng ) không phải là một
lý thuyết. Bạn đừng nên coi câu nói nầy chỉ là một trò chơi chữ
nghĩa, vì nó có thể cho thấy một ý nghĩa hợp lý về câu nói không
tánh dẫn đến lý thuyết về tánh bất khả xác định của thế giới hiện
tượng. Lý thuyết về không tánh bản thân nó không phải là lý
thuyết, vì nó không thể phủ định một cách thành công.
Ý
niệm của tánh bất khả xác định là người ta có thề khẳng định một
định đề có vẻ nghịch lý : Cái bất khả xác định chẳng phải là bất
xác định, đồng thời là bất khả xác định. Vì vậy sự phủ định của cái
bất khả xác định cũng trở thành bất khả xác định. Câu nói nầy rõ
ràng là trái ngược với ý tưởng của chúng ta về luận lý. Nhưng
chúng ta hãy cố gắng liễu tri ý nghĩa của nó.
Chủ
Nghĩa Thần Bí của Phái Trung Quán.- Người ta không ngạc nhiên khi thấy
biện chứng pháp của Long Thọ đã trở thành một cội nguồn phong phú
của chủ nghĩa thần bí của Đông Phương.
Hai
dặc tánh chủ yếu của triết học Trung Quán rất gần gũi với những gì
mà chúng ta có thể gọi là những điểm phổ quát của tất cả các
loại chủ nghĩa thần bí. Thứ nhất, có sự tin tưởng vào khả thể của
loại kiến thức mà chúng ta gọi là khải thị, trực giác, hoặc thậm
chí sự trực diện với thực tại. Có người biện luận rằng những loại
kiến thức khác, tức là kiến thức qua các giác quan, lý trí, và phân
tách chỉ hoạt động ngoài bề mặt, chỉ ở tầng diện thế tục, và nó
che đậy chân lý tối hậu; cho nên, loại kiến thức thứ nhì nầy nằm ở
giai tầng thấp hơn đối với loại kiến thức thứ nhất. Trực giác là vị
trọng tài duy nhất của chân lý tối hậu, vì nó không lệ thuộc vào
bất cứ quan điểm nào, và cũng không nhờ cậy vào bất cứ ký hiệu
nào (thuộc về ngôn ngữ hay những gì khác). Loại trí thức thấp tùy
thuộc vào quan điểm mà chúng ta bị đặt vào, hoặc chỉ là những giả
thiết của chúng ta, và tùy thuộc vào những ký hiệu mà chúng ta
dùng để tự bày tỏ. Đặc điểm thứ nhì của phái Trung Quán là tin
tưởng vào sự nhất thống; sự nhất thống nầy có khuynh hướng bác bỏ
tất cả những phân hóa và dị biệt, vì coi rằng chúng là những hiện
tượng hư ảo. Phái Trung Quán cho rằng tất cả những đa nguyên nầy chỉ
là cái màn che dấu thực tướng của chân lý tối hậu, duy nhất và vô
nhị. Tuy nhiên, quan niệm về Thực tướng bất nhị nầy được đặt cơ sở
những biện luận luận lý để cố gắng cho thấy sự bất khả đắc của
tự tánh (own nature), tự ngả hoặc nhân quả.
Một
ý niệm trọng yếu khác của tất cả các triết gia thần bí là ý niệm
về cái "không thể bày tỏ". Chân lý tối hậu không thể bày
tỏ, nhưng có thể liễu ngộ bằng trực giác. Ý niệm nầy cũng xuất
hiện trong triết học của phái Trung Quán. Vì sự hiểu biết hay tư
tưởng của chúng ta luôn luôn vượt xa ngôn ngữ--là thứ chỉ đại diện
cho những điều chúng ta hiểu biết--do đó sự liễu ngộ bằng trực giác
nầy có một gía trị giáo dục rất lớn trong triết học.
C.-CHƠN KHÔNG DIỆU-HỮU
1). Chơn lý tuyệt đối.- Một thực thể
không lệ thuộc nhơn quả, duyên sanh, thoát ngoài đối đãi là chơn lý
tuyệt đối.Không thuộc nhơn quả nên không sanh diệt vô thường. Không
thuộc duyên sanh nên không hợp tướng giả dối. Thoát ngoài vòng đối
đãi nên không trị liệu so sánh, không bàn luận, không suy nghĩ đến
được. Thực tế nầy không lệ thuộc thời gian, không bị chi phối của
không gian, vượt ngoài mọi đối tượng của vũ trụ. Chính nó là sinh
mạng là mạch sống của chúng sinh, mà chúng sinh không nhận ra nó.
Nó hiển nhiên hằng có mặt nơi chúng ta, mà chúng ta lãng quên nó một
cách đáng thương. Nó là thể chẳng sanh chẵng diệt, vĩnh cửu trường
tồn của chúng ta, chúng ta không biết đến nó, đi nhận cái sanh diệt
tạm bợ làm mình. Bỏ quên thực tế nầy là vô minh, là si mê, nhận
được nó là giác ngộ, là trí tuệ. Bỏ quên nó, đi theo sanh diệt là
luân hồi, nhận sống với nó là vô sinh giải thoát. Bởi thực tế nầy
hệ trọng dường ấy, nên chúng ta phải biết : nó tên gì? Làm sao nhận
ra nó? Nhận được nó có ích gì? Chúng tôi sẽ theo thứ tự giải quyết
những thắc mắc nầy.
Thực
thể nầy nguyên không có tên, trong Phật Pháp tùy công dụng gắng
gượng đặt rất nhiều tên. Kinh Kim Cang gọi là Kim Cang Bát Nhã Ba La
Mật, tức là trí tuệ cứu cánh như kim cang. Bởi vì trí tuệ nầy không
có gì phá hoại được nó, mà nó hay phá hoại tất cả, như chất kim
cang. Kinh Viên Giác gọi là Viên Giác Tánh, là tánh tròn đầy, vì
đối với các chơn lý, chúng ta nhận được từng phần chơn lý nào thì
giác ngộ phần chơn lý ấy, nên gọi là phần giác. Chỉ nhận được chơn
lý tuyệt đối nầy mới gọi là giác ngộ viên mãn. Kinh Pháp Hoa gọi
là Tri Kiến Phật hay Phật Thừa. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Trí Huệ Phật.
Kinh Lăng Nghiêm gọi là Chơn Tâm hay Như Lai Tàng. Nó là tâm thể chơn
thật hay là kho tàng Như Lai của chúng sanh. Kinh Duy Ma Cật gọi là
Pháp Môn Bất Nhị. Vì nó vượt ra vòng đối đãi hai bên. Thiền Tông
gọi là Chơn Tánh. Nó là tánh chơn thật của tất cả chúng sanh. Lại
còn có những tên thông dụng là: Chơn Như, Phật Tánh, Pháp Thân,
Đạo, Bản Lai Diện Mục..., không thể kể xiết.
Tạm
biết tên thể nầy là một cách khái quát rồi, chúng ta cần phải
nhận ra mặt mày của nó mới là điều thiết yếu. Song phàm có nói
năng trình bày đều thuộc tương đối, làm sao diễn đạt khiến người chưa
hiểu nhận được. Đây quả là điều thiên nan vạn nan. Tuy nhiên, chúng
tôi cũng gắng gượng trước tạm đặt những nguyên tắc kế dẫn lời
Phật dạy trong kinh, sau cùng nhắc lại những phương tiện của thiền sư,
họa chăng quý độc giả có nhận được phần nào chăng.
Phàm
cái gì có hình tướng đều do duyên hợp là hư giả, cái gì có tác động
là sanh diệt cái gì đối đãi không thật. Ngược lại cái không hình
tướng, không tác động, không đối đãi là chơn thật thường còn vô
sanh. Cái gì không hình tướng thì không giới hạn chỗ nơi trong ngoài.
Vừa đặt câu hỏi tìm chỗ nơi nó là sai. Cái không tác động thì không
sanh diệt, không bị vô thường theo thời gian. Đặt vấn đề thời gian
với nó là sai. Cái không đối đãi thì không còn so sánh phân biệt.
Đặt vấn đề so sánh phân biệt với nó là sai. Nó là thực thể của
tri giác, không phải đối tượng giác trí. Nếu khởi nghĩ cầu biết nó
là sai. Nó không hình tướng, không tác động, không đối đãi, mà có
mặt ba nơi ấy. Cho nên nghĩ ly khai hình tướng, tác động, đối đãi để
tìm nó là sai. Nếu chỉ nhận ra nó là tự ta trực nhận thầm nhận. Lời
Phật dạy, phương tiện Tổ chỉ đều là đập cỏ rắn sợ, hay vỗ nước cá
đau đầu mà thôi. Chúng ta muốn nhận ra nó phải khéo nhìn theo tinh
thần ngón tay chỉ mặt trăng. Mặt trăng không nằm tại đầu ngón tay,
khéo nương theo ngón tay thấy mặt trăng ở tận trong hư không. Hoặc
nhìn theo tinh thần soi gương. Nhơn thấy bóng trong gương, biết được mặt
thật của nình, đừng chấp bóng là thật, đợi khi xoay gương mất bóng la
hoảng lên mất mình.
Đây
là phương tịện tạm đặt những nguyên tắc nương nó khả dĩ thấy được
thực thể của chính mình.
Thực
thể nầy biểu lộ thường xuyên nơi sáu cơ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý) của chúng ta, mà không lệ thuộc hoàn toàn sáu cơ quan ấy.
Dễ nhận thấy nhất là ở mắt và tai. Vì thế Đức Phật khi muốn chỉ
thực thể chẳng sanh chẳng diệt ấy thường dùng phương tiện chỉ ngay nơi
mắt và tai của chúng ta. Một thí dụ trong kinh Lăng Nghiêm có
đoạn:... Phật bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông, hỏi A Nan: Hiện
giờ ông nghe chăng? A
Phật
lại bảo La Hầu La đánh chuông, hỏi A Nan: Hiện giờ có tiếng chăng? A
Thí
dụ 2: Không nghĩ thiện nghĩ ác, cái gì là Bản Lai Diện Mục của
Thượng Tọa Minh? của Lục Tổ là bài thuyết pháp ngắn gọn phản ảnh
trung thực một sự nghiệp to tác của Tổ vừa lãnh hội nơi Ngũ Tổ và
đang mang nó vào phương nam. Chính đó cũng là bản hoài của chư Phật.
Bản lai diện mục là: Bộ mặt thật xưa
nay của chúng ta, nó là tên khác của Đạo, của Pháp thân, của Phật
tánh, của Chơn tâm... Chúng ta có mặt thật muôn đời không đổi, mà
tự bỏ quên nó, bám vào thân hình tạm bợ cho là thật mình. Cái thân
mình đang chấp giữ là thật mình, nó thay đổi từng phút từng giây,
hợp tan không nhất định. Thế thì lấy gì bảo chứng cho nó là thật?
Quả thật một hình tướng biến thiên, một hợp thể tạm bợ. Nó có mà
không thật có vì luôn luôn đổi thay, còn mà không thật còn vì hợp
tan chẳng định. Nếu chấp chặt nó là ta, thật là cái ta tạm bợ làm
sao! Hoặc có người biết thân nầy giả dối, chính cái tâm biết thiện,
biết ác, biết phải biết quấy, tốt xấu...mới thật là ta. Song cái
tâm phân biệt hai, cũng là thay đổi tạm bợ. Vì vừa dấy nghĩ về
lành, dữ thì nó đã sanh diệt rồi. Nếu buông hết mọi vấn đề đối
đãi, tìm lại nó thì tung tích vắng tanh. Thế là ta ở đâu? Mất rồi
sao? Thật bối rối vô cùng, nếu chấp cái suy nghĩ làm ta, chỉ vì chấp
thân tạm bợ, tâm giả dối làm ta nên muôn kiếp trôi lăn trong sanh
diệt, gọi là luân hồi.
Ngay
nơi thân tạm bợ, tâm giả dối, chúng ta nhận ra Bộ mặt xưa nay của chúng
mình và sống hẳn với nó, dòng sanh diệt ngay đây liền dừng, kiếp
luân hồi đến đây giải thoát. Bộ mặt xưa nay chưa từng bị sanh diệt,
một thực thể không do duyên hợp, làm gì bị đổi thay, tan hợp. Nó vẫn
có và thường còn mà chúng ta quên đi, gọi là Vô Minh. Nhận ra nó
không còn lầm quên nữa gọi là Giác Ngộ.
Muốn
chỉ Bộ Mặt Xưa Nay cho người không có cách kỳ diệu nào bằng câu
Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của
Thượng Tọa Minh? của Lục Tổ. Người ta cứ thắc mắc cái gì là bản lai
diện mục của Thượng Tọa Minh mà chẳng nhớ không nghĩ thiện, không
nghĩ ác là tối quan trọng. Chính khi không nghĩ thiện, nghĩ ác là bản
lai diện mục của Thượng Tọa Minh chứ gì. Bởi khi tâm bình thường, tĩnh
táo, không dấy nghĩ thiện ác, phải quấy... là động, là chạy theo
sanh diệt bộ mặt thật xưa nay bị khuất lấp mất rồi. Cho nên qua câu
nói nầy, Thượng Tọa Minh khéo thấy được bộ mặt thật xưa nay của
mình, gọi là ngộ đạo. (Tự Gia Bảo,tr 17 - 29)
ĐẶC ĐIỂM CỦA CHƠN TÂM
Ngộ Tánh Giác: Thần Tú viết bài kệ để
trình chỗ tâm Ngài thấy được:
Thân là cội Bồ Đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.
Trong khi đó Huệ Năng, qua bài thơ, chỉ
cho tánh giác của mình:
Bồ Đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài,
Xưa nay không một vật.
Chỗ nào dính bụi bặm?
Bồ
Đề chỉ Tánh Giác, Tánh Giác không có hình tướng thì không phải là
cây, đây là bác câu thân thị Bồ Đề thọ. Ngài Thần Tù nói thân
nầy là cây Bồ Đề, Ngài Huệ Năng nói trái lại: Bồ Đề là Tánh
Giác, tánh giác đâu có hình tướng mà nói là cây. Câu thứ nhất bác
hình thức cây Bồ Đề. Đến câu thứ hai Ngài Thần Tú nói: Tâm như đài
gương sáng, như vậy đài gương sáng là gương sáng hay đài sáng? Nếu
nói đài gương sáng thành ra nhấn mạnh chữ đài. Gương là tự nó sáng
không cần có đài mới sáng, nếu nói đài gương sáng là đã lầm cái
hình thức thứ hai. Đến câu thứ ba Bổn lai vô nhất vật, tức là chỗ
chân thật đó xưa nay không một vật huống nữa là dính bụi bặm? Ngài Thần
Tú nói luôn luôn phải lau chùi, nhưng xưa nay không dính một vật thì
chùi cái gì? Đã không có một vật thì có gì dính bụi? Như thế rõ
ràng Ngài Huệ Năng thấy được cái bản tánh xưa nay không có một hình
trạng không có một tướng mạo, chính bản tánh đó tự thanh tịnh, không
cần lau chùi mới thanh tịnh, phải không? Đó là Ngài đã thấy được,
còn Ngài ThầnTú không thấy được, cho nên Ngài Thần Tú suy nghĩ theo
lối tu nặng nề về hình thức : cái gương có bụi dính nay rán chùi cho
hết bụi, đó là chưa thấy được bản tánh thực vì tánh giác đó không
tướng mạo, đã không tướng mạo thì có gì nhiễm, có gì dính được nó,
thấy rõ được như vậy thì không bao giờ lầm, không phải lau chùi gì
cả, phải không? Lau chùi là cái chỉ hình thức bên ngoài, chứ tánh
giác không có tướng mạo nên nó hằng thanh tịnh, hằng thanh tịnh thì
chỗ nào dính bụi mà phải lau chùi? Như vậy qua bài kệ nầy mọi người
thấy rõ là Ngài đã vô cửa : ngộ được tánh giác.
Ngộ Thực Thể Bản Tâm :Ngài Huệ Năng khi
nghe Ngũ Tổ nói kinh Kim Cang, đến câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,
ngay lời đó Ngài đại ngộ, thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh,
mới thưa rằng:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp.
Khi
trước nghe đọc câu Kim Cang Ngài Huệ Năng đã ngộ rồi? Tại sao tới
đây Ngài ngộ nữa? Như thế lần ngộ trước và lần ngộ sau khác nhau ở
điểm naò? Cái ngộ trước là Ngài thấy Bản lai vô nhất vật, nghĩa là
thấy thể tánh đó không có một hình tướng, không có một vật tượng,
chỉ là một thể tánh rỗng lặng, vì thấy được chỗ đó nên được vào
cửa. Đến chỗ nầy Ngài thấy thế nào? Ngài nói : Đâu ngờ tâm mình
thanh tịnh, đâu ngờ tâm mình chẳng sanh diệt, nó tự đầy đủ, nó không
dao động, nó hay sanh muôn pháp. Như thế đến đây Ngài mới thấy thực
thể của bản tâm. Khi trước Ngài chỉ mới thấy chỗ không có vọng đó
là tánh không, bởi thấy được tánh không nên mới được vào cửa. Vào
cửa chưa phải là xong việc, phải thấy được cái đầy đủ, thanh tịnh,
chưa từng sanh diệt, không dao động và hay sanh muôn pháp, thấy tột
cái đó mới gọi là thấy được bản tánh của mình.. Như vậy qua đoạn
nầy, chúng ta mới thấy rõ người học đạo không phải ngộ một lần là
xong. Trong nhà thiền, thường nói rằng đại ngộ ít ra cũng 3, 4 lần,
còn tiểu ngộ thì vô số.
Tiểu
ngộ là sao? Tỉ dụ chúng ta nghe một thời giảng, chúng ta có lóe sáng
một điều gì mình thích, mình thấy điều đó từ trước đến nay mình chưa
từng biết, nay mình biết, đó là tiểu ngộ. Còn đại ngộ là một lần
nhận ra được thì vui cả 5, 7 ngày, nghĩa là điều đó là một việc lớn
mà từ trước đến nay chưa bao giờ mình phát minh được, nay mình phát
minh được, đó là đại ngộ. Nhưng một lần cũng chưa xong, phải đôi ba
lần như thế. Thế nên người học đạo phải có ngộ chứ không ngộ thì
khó vào đạo. Ngài Thần Tú chưa ngộ, Ngài hiểu lý kinh mà chưa ngộ
đạo nên vào cửa không nổi.
( Kinh Pháp Bảo Đàn, tr 45
- 47 ).
TRUNG KHÔNG DIỆU HỮU
Về
nguyên lý Không, kinh sách Phật giáo trình bày rất nhiều khía cạnh
qua nhiều kinh nghiệm khác nhau. Mỗi khía cạnh có một kinh nghiệm độc
đáo nhằm mục đích lột trần được chân giá trị của nguyên lý Không.
Nhờ những kinh nghiệm độc đáo nói trên, Phật giáo trở nên phong phú
về mặt tư tưởng. Tư tưởng về nguyên lý Không, tuy rằng được nhiều
kinh sách trình bày tường tận, nhưng tóm lược không ngoài bốn lãnh
vực sau đây: Hư Không, Huyễn Không, Nhân Không và Chân Không.
1).Hư
Không (Không Đại): Hư Không là không gian, khoảng cách, không khí hay
môi trường sống. Hư Không, theo Phật giáo có nghĩa là môi trường
sống của vạn pháp. Nguyên vì Hư Không là một trong bảy yếu tố quan
trọng
(Thất Đại) để sanh khởi vạn pháp, nên
gọi là Không Đại. Thất Đại gồm có: Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại,
Phong Đại, Không Đại, Kiến Đại và Thức Đại (Kinh Lăng Nghiêm, quyển
3).
Vạn
pháp sở dĩ được hiện hữu, được phát triển, được tồn tại trong vũ
trụ đều nhờ Hư Không bao trùm, che chở, bảo vệ và nuôi dưỡng. Đặc
biệt hơn nữa sự hiện hữu, sự phát triển và sự tồn tại của vạn
pháp, tất cả đều thể hiện ở phía trong nội tâm của Hư Không. Giả
sử Hư Không nếu không được thành lập thì vạn pháp nhất định không
có mặt trong thế gian, cho nên Đức Phât ghép Hư Không vào một yếu
tố quan trọng gọi là Không Đại, một trong Thất Đại. Theo Kinh Lăng
Nghiêm, quyển 3 của dịch giả Thích Chơn Giám, Đức Phật giải thích Hư
Không có hai loại : Tánh Hư
Không và Tướng Hư Không.
a)
Tánh Hư Không: Tánh Hư Không Đức Phật giải thích : A Nan! Ngươi phải
biết trong Tạng Như Lai, Tánh Giác tức là thiệt hư không, Hư Không
tức là thiệt tánh giác thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp pháp giới...
Theo
Đại Thừa Khởi Tín, Ngài Mã Minh nói: Tâm chơn Như là cái tâm tánh
bất sanh bất diệt. Thể và tướng nó to lớn bao trùm tất cả các pháp
(Nhứt pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể). Hai đoạn kinh trên cho
thấy, Tánh Giác của Tạng Như Lai ở bên kinh Thủ Lăng Nghiêm giải
thích chính là Tâm Chơn Như của Đại Thừa Khởi Tín trình bày, nguyên vì
Tạng Như Lai theo Đại Thừa Khởi Tín là hình tướng của Tâm Chơn Như.
Tánh Giác của Tạng Như Lai và Tâm Chơn Như, cả hai đều bao trùm cả
pháp giới. Hơn nữa Tánh Giác tức là tánh Hư Không. Thế nên Tánh Hư
Không không ngoài Tâm Chơn Như, đều thuộc môi trường sống của vạn
pháp, có công năng bao trùm cả thế giới Chơn Như và cả thế giới mê
vọng; bởi lý do đó muôn loài chúng sanh trong mười pháp giới. Bởi
lý do trên, đức Phật mới gọi Tánh Hư Không là Không Đại.
b)
Tướng Hư Không: Tướng Hư Không, cũng theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển
3, đức Phật giải thích: Chẳng qua theo nghiệp của chúng sanh, mà phát
hiện ra đó thôi. Tướng Hư Không nầy như một giống hư không, ứng
lượng của chúng sanh... đầy khắp mười phương. Chỗ nào có phương hướng
xứ sở là chỗ đó có Tướng Hư Không.
Điều
đáng chú ý, Tánh Hư Không của Tâm Chơn Như không phải là Tướng Hư
Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi. Tướng Hư Không của tất cả
chúng sanh trong ba cõi sở dĩ khác nhau là do bởi nghiệp tướng của
mỗi loại không giống nhau tạo nên. Nhưng đặc biệt nhất, Tướng Hư
Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi thảy đều thể hiện ở phía
trong Tánh Hư Không của Tâm Chơn Như và được Tánh Hư Không của Tâm
Chơn Như che chở với hình thức bao trùm. Giá trị trên đưa đến nhận
thức, Tướng Hư Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi không thể tìm
thấy ngoài Tánh Hư Không của Tâm Chơn Như. Ngược lại Tánh Hư Không
của Tâm Chơn Như cũng không thể tìm thấy ngoài Tướng Hư Không của
tất cả chúng sanh trong ba cõi. Nguyên do trong vọng có chơn, và trong
chơn có vọng, cũng như trong lý tánh có sự tướng và trong sự tướng
có lý tánh tàng ẩn, tất cả đều không ngăn ngại với nhau.
Về
Không Đại, đức Phật phân làm hai loại Hư Không: Tánh Hư Không và
Tướng Hư Không. Theo đức Phật, Tánh Hư Không thuộc về Tâm Chơn Như
sanh khởi và Tướng Hư Không thì thuộc về nghiệp chướng sanh khởi.
Nhưng giá trị cả hai đều là môi trường sống của các bậc Thánh Đế
Giác Ngộ và cũng như của các hạng chúng sanh phàm phu trong ba cõi.
2)
Huyễn Không: Huyễn là giả tạo, không thật thể. Huyễn Không nghĩa là
đứng về phương diện nguyên lý không, vạn pháp hoàn toàn không có
thật thể. Huyễn Không còn có tên khác nữa là Ngoang Không. Ngoang
Không nghĩa là đứng về phương diện nguyên lý Không, vạn pháp hoàn
toàn trống rỗng không lưu lại chút dấu vết nào cả. Huyễn Không là
danh từ dùng để chỉ cho những sự vật thuộc về đối tượng của huyễn
hữu.
a)
Huyễn Hữu: nghĩa là vạn pháp hiện có mặt (hiện hữu) trong thế gian
đều là giả tạo, mang tánh chất nhân duyên sanh và không có thật
thể. Vạn pháp sở dĩ được góp mặt trong thế gian là do Ngũ Uẩn tạo
thành. Vạn pháp thật sự không có danh nghĩa. Danh của vạn pháp là do
Ý Tưởng tưởng tượng đặt tên cho dễ phân biệt. Nghĩa của vạn pháp
là do Ngũ Uẩn kết hợp và xây dựng nên. Ý tưởng nếu như không
tưởng tượng để đặt tên thì vạn pháp không có Danh để gọi. Ngũ Uẩn
nếu như không kết hợp với nhau để xây dựng thì vạn pháp nhất định
không bao giờ có mặt trong thế gian. Không có Ngũ Uẩn là không có
con người, không có Ngũ Uẩn thì không có địa cầu, không có hành
tinhv.v... Chúng ta nếu như tách rời Ngũ Uẩn riêng rẽ từng loại một
thì không thấy vạn pháp. Ngũ Uẩn là những yếu tố tạo nên vạn
pháp. Cho nên vạn pháp được gọi là vạn hữu.
b)
Huyễn Không: Vạn pháp đã không thật thể về mặt Huyễn Hữu và cũng
không thật về mặt Huyễn Không. Riêng về phương diện nguyên lý
Không, vạn phápchỉ có hình bóng với tánh cách Nghiệp Tướng được lưu
lại trong Tâm Thức. Nghiệp Tướng gồm có Ngã Tướng và Pháp Tướng,
gọi tắt là Ngã Pháp. Nghiệp Tướng một khi bị xóa đi thì vạn pháp
không còn dấu vết nào cả. Cho nên về mặt nguyên lý Không, vạn
pháp cũng hoàn toàn không có thật thể nên gọi là Huyễn Không.
3).
Nhân Không.- Nhân là nguyên nhân, tức là chỉ cho hạt giống của các
yếu tố và cũng được gọi là nhân tố.Không là ở trạng thái không,
nghĩa là các nhân tố sanh ra vạn pháp đều nằm ở trong trạng thái
Không. Các nhân tố gồm có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, và Thức. Các
nhân tố ở trạng thái Không được thấy trong nội dung của quyển Bát
Nhã Tâm Kinh.
4).
Chân Không.-Trong kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa có câu; Thị chư pháp không
tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm cho
đến câu: Vô trí diệc vô sở đắc được trình bày nguyên lý Chân Không
của thế giới Niết Bàn Tịch Tịnh và thế giới đây hoàn toàn không có
hạt giống Nghiệp Tướng của chư pháp. Nguyên lý Chân Không theo Ngài
Long Thọ gọi là Trung Không Diệu Hữu. Trung Không Diệu Hữu nghĩa là
trong nguyên lý Chân Không, thế giới Niết Bàn hiện hữu một cách
mầu nhiệm.
Các
pháp hoàn toàn không có thật tướng, nên không sanh, không diệt,
không nhơ, không sạch, không tăng,không giảm. Đại ý nói thế giới
Chân Không không có Nghiệp Tướng của các pháp, cho nên không có
vấn đề sanh diệt, nhơ sạch, tăng giảm.
Chữ
Tướng ở đây chỉ cho Nhân Tướng và Quả Tướng của các pháp. Nhân
Tướng và Quả Tướng của các pháp trong Tam Tế của kinh Lăng Già Tâm
Ấn và Luận Đại Thừa Khởi Tín gọi là Nghiệp Tướng. Tam Tế gồm có
Nghiệp Tướng, Chuyễn Tướng và Hiện Tướng. Chuyễn Tướng và Hiện
Tướng vạn pháp đều thưộc về Quả Tướng. Còn Nhân Tướng của vạn
pháp thuộc về Nghiệp Tướng.
Thế
giới Chân Không thì hoàn toàn không có dấu vết Nghiệp Tướng của
vạn pháp. Cho nên trong Bát Nhã Tâm Kinh, Bồ Tát Quán Tự Tại nói:
Thị chư pháp Không Tướng. Vạn pháp vì có Nghiệp Tướng làm nhân nên
có bị sanh, bị diệt, bị nhơ, bị sạch, bị tăng và bị giảm. Ngược lại
thế giới Chân Không nguyên do không có Nghiệp Tướng của vạn pháp
cho nên không bị chi phối bởi vấn đề sanh diệt, nhơ sạch, tăng giảm.
Bởi nguyên lý trên, Bồ Tát Quán Tự Tại trong Bát Nhã Tâm Kinh xác
định tánh chất và giá trị của thế giới Chân Không là Bất sanh, bất
diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.
Thật
tướng Chân Như Pháp Tánh thì không có Nhân Tướng của Ngũ Uẩn và
Nghiệp Tướng của vạn pháp nên gọi là Chân Không. Thật Tướng Chân
Như Pháp Tánh là thế giới chơn thật thường tại của chư Phật an trụ
ở trạng thái Chân Không. Thế giới Chân Như Pháp Tánh nầy không có
vấn đề sanh, diệt, cấu, tịnh, tăng, giảm, cũng không tất cả nghiệp
tướng hư vọng và cũng không tất cả pháp tướng phương tiện. Chân Tâm
nơi Pháp Thân của chư Phật trong thế giới Chân Như Pháp Tánh sinh
hoạt dung thông và hiểu biết không bị ngăn ngại. Các kinh thường gọi
thế giới Chân Như Pháp Tánh là thế giới Vô Dư Niết Bàn. ( Bát Nhã
Tâm Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức, tr 55-74)
D.- TÀNG THỨC
Từ
Thực Tại Luận đến Giải Thoát Luận trongTriết Học DuyThức (Như Hạnh)
Duy
Thức là một trong những tông phái chính yếu của Phật Giáo Đại Thừa
Ấn Độ phát triển mạnh vào những thế kỹ đầu công nguyên cho đến khi
Phật Giáo bị suy thoái ở Ấn Độ ( khoảng thế kỹ 11 ) và cũng là một
trong những hệ thống triết học / tôn giáo, tri thức luận chính yếu
của tư tưởng Ấn Độ. Duy Thức sản sinh ra những tư tưởng gia lớn của
Phật Giáo và của tư tưởng Ấn Độ nói chung như Maitreyanatha (c. 270 -
350 ), Asanga (c. 310-90, Văsubandhu ( c. 320- 400 ), v.v... Một nghiên cứu
của hệ thống về Tàng Thức (Alayavijnana) sẽ đem đến cho chúng ta
những hiểu biết về ý nghĩa của khái niệm nầy trong tư tưởng Duy Thức
(Duy Thức Học: Yogacara). Đọc cẩn thận những bộ luận (sastra) nhắm hệ
thống hóa giáo lý Phật Giáo, như đa số các bộ luận nền tảng của
Duy Thức, chúng ta sẽ nhận ra rằng các nhà tư tưởng Duy Thức không
bao giờ ý thức được một cơ cấu thuyên thích nội tại (unplicit
hermeneutical structure) ở các giáo lý khác nhau được ghi chép trong
nhiều kinh điển dị biệt. Cơ cấu nầy đã được giải thích rõ ràng trong
những trước tác nầy. Do đó, bất chấp là chúng ta còn cách xa một
kiến thức đích xác về sự phát triển niên đại / văn học của thành
ngữ Tàng Thức bao nhiêu đi nữa, nghiên cứu một cách hệ thống về
khái niệm nầy sẽ chiếu rọi thêm ánh sáng vào một số vấn đề chính
của thế giới quan Duy Thức.
1).-
Phân Tích Tàng Thức
1.1.1:
Sự phát triển của Tàng Thức trong thế giới quan Duy Thức: Tàng Thức
thường được xem như là khái niệm then chốt đại biểu cho tông phái Duy
Thức. Nói cách khác,, Tàng Thức thường được xem là khái niệm nền
tảng của triết học Duy Thức cũng như khái niệm Tính Không (sunyata)
là nền tảng của triết học Trung Quán.
1.1.2:
(Madhyamaka). Tàng Thức quả thật là một khái niệm nền tảng trong
triết học Duy Thức (vijnaptimatra) của Asanga và của Vasubandhu. Song
hẳn là quá giản lược và thậm chí sai lầm nếu chúng ta xem Tàng Thức
như là một khái niệm mà các tư tưởng gia Duy Thức dùng để thay thế
cho sunyata, bởi vì Duy Thức cũng chấp nhận giáo lý Tánh Không, nghĩa
là, giáo lý dạy rằng tất cả các sự vật đều không có tự tánh (
svabhava ). Thật ra, toàn thể Thực Tại Luận Duy Thức chỉ được thiết
lập để giải minh ý nghĩa của Tính Không mà thôi.
1.2
: Cơ Cấu Thuyên Thích Nội Tại của thế giới quan Duy Thức: so sánh
giữa các trước tác được xem là của Maitreyanatha và các trước tác
của Asanga chúng ta nhận thấy rõ ràng hai xu hướng khác nhau. Ở đây,
vắn tắt về cơ cấu thuyên thích nội tại trong thế giới quan Duy Thức
mà rõ rệt là những tư tưởng gia của tông phái nầy cùng chia sẻ.
Thực Tại Luận và Giải Thoát Luận của
Duy Thức dựa trên nhận thức về thực tại. Nói cách khác, đối với
các tư tưởng gia Duy Thức, liên hệ của chúng ta với thực tại là một
liên hệ nhận thức (và giải thích). Do đó, trong Thực Tại Luận Duy
Thức bản tính của Phật (tức là một sinh linh giác ngộ) và bản tính
của chúng sanh hay con người bình thường tức là (những sinh linh chưa
giác ngộ) cũng như dị biệt giữa Phật và con người, cốt yếu được qui
định bằng những phạm trù nhận thức. Sự dị biệt giữa Phật và con
người chính yếu là sự dị biệt giữa hai thể cách tri nhận thực tại.
Tri
thức của Phật được định nghĩa là vô phân biệt trí, một thể cách
nhận thức vượt trên dự kiến, nằm ngoài sự qui kỹ (nonegocentric), tri
nhận thực tại như chính nó, nghĩa là trong thực tính của nó. Do đó,
Phật - tính -- hay từ một viễn cảnh tri thức luận, Phật-Tâm (hay
Phật-Trí tức là thể cách nhận thức của sinh linh đã giác ngộ) -
cũng được đề cập đến như là Tâm [nhận thức] thực tại chân thực.
Trong hầu hết các kinh luận Đại Thừa, Tâm (Phật) được mô tả là
thanh tịnh và trong sáng tự bản tánh (cittaprakrtiprabhasvara).
Tri
giác thực tại của con người, trái lại, là một thể cách nhận thức
qui kỹ và do đó bị giới hạn. Thể cách nhận thức nầy có xu hướng tri
nhận thực tại như là gồm có một chủ thể nhận thức tự hữu (pudgala)
và các thành tố cấu tạo thực tại-- tức là các đối tượng-- cũng
hiện hữu một cách độc lập (dharma). Trong ngôn ngữ của Duy Thức, đây
chính là sự áp đặt tự tính (svabhava) lên pudgala
(chủ
thể, tức là phương diện chủ thể) và dharma (các hiện tượng, tức là
phương diện khách thể) mà Duy Thức xem là một tiến trình kiến lập
giả tưởng. Thứ Duy Thực Luận Phác Tố (naĩve realism) này tự căn bản
đã mâu thuẩn với giáo lý nền tảng của Phật Giáo về duyên khởi,
theo đó thì ỏ thực tại thuần túy ỏ tức là cái thực tại trước khi
có sự áp đặt của bất cứ những ý nghĩa giới hạn nào đó, là một
sản phẩm của một màng lưới của những tác động hỗ tương (có tính
cách liên hệ) nhân của những thành tố tâm lý và vật lý. Nói cách
khác, tất cả mọi hiện tượng đều hiện hữu một cách hổ tương hệ
thuộc và do đó không có tự tính hay
không (sunya) trong thuật ngữ của Phật Giáo.
Theo
Duy Thức, chỉ có Phật-Tâm hiện hữu trên mặt cứu cánh (ultimately),
bởi vì đó là thể cách nhận thức thực tại một cách chân thực. Tri
giác của con người thì sai lầm bởi vì được dựa trên sự kiến lập giả
tưởng, và do đó chỉ có một hiện hữu tạm thời. Tri giác sai lầm nầy
có thể nhận ra một cách trung thực, và cái thực tại mà tri giác
nầy kiến lập có thể được giải kiến. Đây là điều có thể thực hiện
được bởi vì theo Duy Thức tất cả con người đều có tiềm năng tri nhận
chân lý. Trong ngôn ngữ Duy Thức, tất cả con người đều có sẵn Phật
Tính hay Phật-Tâm. Lý do mà họ chưa nhận ra được điều nầy là bởi vì
họ bị cản trở bởi một quan điểm qui kỹ (egocentric) dựa trên thái độ
duy thực phác tố cố hữu áp đặt tự tính lên chủ thể nhận
thức(pudgala) và đối tượng (pháp).
Lưu
ý rằng trong khuôn khổ giải thoát luận nầy, Duy Thức và Phật Giáo
Đại Thừa nói chung chia sẻ một chủ đề hầu như phổ quát trong tư
tưởng triết học / tôn giáo Ấn Độ rằng bản tính chân thật của con
người (được gọi tùy theo truyền thống khác nhau như atman, jiva, purusa,
v.v...) vốn đồng nhất với thực tại tuyệt đối (cũng được gọi bằng
những tên khác nhau tùy theo truyền thống khác nhau). Như thế, giải
thoát trong khuôn khổ nầy chỉ có thể là khôi phục lại chân tính của
con ngưởi chớ không phải là đạt được hay trở thành cái gì mới cả.
Diễn dịch ra bình diện hiện sinh thì giải thoát có nghĩa là sống trong
nhận thức đúng về thực tại. Một cách hết sức giản lược, sự dị
biệt chính yếu giữa quan điểm Án Độ và quan điểm Do-Thái-Thiên-Chúa-Islam,
là theo quan điểm Ấn Độ, nguyên nhân gốc rễ của sự ác (evil) là vô
minh (ignorance) chứ không phải là tội lỗi (sin).
Nói tóm, toàn thể con đường của Duy
Thức là để tri nhận Phật Tâm và phân tích sự kiến lập của thái độ
duy thực phác tố kia, tức là phân tích nền tảng và cơ cấu tác động
của nó. Sự thành tựu lưỡng diện nầy gọi là Tattvartha tri nhận thực tại). Mục tiêu tâm linh
chính yếu trong Duy Thức là : tri nhận thực tại đưa chúng ta đến thành
tựu giải thoát. Đây chính là thế giới quan được trình bày một cách
hệ thống trong tư tưởng Duy Thức (yogacara) của Maitreyanatha được chấp
nhận bởi Asanga và Vasubandhu.
1.3.:
Sự Chuyển Hướng Tư Tưởng từ Maitreyanatha đến Asanga: Nghiên cứu sự
phát triển của tư tưởng Duy Thức chúng ta nhận thấy sự dị biệt chính
yếu giữa Maitreyanatha và Asanga là ở thể cách tiếp cận thực tại
của họ. Về mặt phương pháp luận, Maitreyanatha dường như lưu ý nhiều
hơn đến cơ cấu thuyên thích của Phật Giáo, trong khi Asanga (và sau đó
Vasubandhu) lại nghiên về phía thẩm xét chiều kích hiện sinh
(existential), thực tiễn. Trong sự phân tích của ông về thể cách quán
sát thực tại của của Duy Thức, Maitreyanatha đặt sự giải thích của
ông trên thực tại tuyệt đối, trong khi Asanga khởi sự giải thích của
ông bằng sự phân tích nền tảng của thực tại hiện tượng. Sự chuyển
hướng khái niệm nầy đã đưa đến những giải thích mới hay phối hợp
những khái niệm mới vào hệ thống Duy Thức của Asanga. Để minh giải
điểm nầy, tôi xin đưa ra một giải thích vắn tăt về hệ thống Duy Thức
của Maitreyanatha.
1.3.1.:
Cittaprakrtiprabhasvara (Tâm thanh tịnh tự bản tính) và Cittamatra (Duy
Tâm) trong tư tưởng của Maitreyanatha: Thực Tại Luận (Ontology) của
Maitreyanatha khởi sự từ quan điểm chung của Phật Giáo Đại Thừa rằng
từ nguyên thủy, hay từ viễn cảnh của thực tại cứu cánh (ultimate
reality), thì tất cả con người đều sở hữu Phật tính. Chuyển dịch phát
biểu nầy sang ngôn ngữ của tri thức luận, nó có nghĩa là tự nguyên
thủy tâm thức của con người đều có bản tính thanh tịnh, tâm thức của
con người trong thực tính của nó không khác gì với Phật tâm, tức là
trong sáng và thanh tịnh tự bản tính. Bởi vì những tạp nhiễm (phiền
não) tạo nên bởi lối suy nghĩ mê mờ đến che phủ cái tâm thanh tịnh
tự bản tính nầy mà con người không tri nhận được sự thật nầy và bị
lạc trong một thế giới huyễn tưởng.
Trong
tư tưởng của Maitreyanatha hai phạm trù thực tại luận nầy được đề
cập đến hai thành ngữ Cittaprakrtiprabhasvara và Cittamatra. Trước khi
giải thích hai thành ngữ nầy, cần vắn tắt ý nghĩa của chữ citta
(tâm) trong hệ thống Duy Thức của Maitreyanatha. Đối với Maitreyanatha
thì tâm, vốn thanh tịnh và trong sáng tự bản tính (tức là, Phật-tâm
hay Phật-tính bản hữu, bản tính cứu cánh của tất cả con người), đôi
khi được giải thích như là tâm mê mờ, nghĩa là từ viễn cảnh hiện
tượng trong thể cách tri nhận thực tại một cách hiện thực của con
người. Điều nầy có nghĩa là nhận thức (của một tâm thức) không
giác ngộ luôn luôn bị vướng mắt nào đó, với cái thái độ duy thực
phác tố kia, nhìn cả hai phương diện chủ thể và khách thể của thực
tại như thể là những thực thể (entities) hiện hữu sẵn, một cách độc
lập, với tự tính. Như thế, cittamatra có nghĩa là (thể nhận rằng) cái
thế giới của thái độ duy thực phác tố nầy không là gì khác hơn một
sự kiến lập sai lầm của citta hay tâm. Maitreyanatha phát biểu trong
Dại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận:
[VI.7]
Sau khi thể nhận được rằng các đối tượng chỉ là giả danh [kiến lập
bởi ngôn ngữ], [bậc trí giả] trụ trong duy tâm (cittamatra) xuất hiện
như là những đối tượng. Rồi người ấy trực tiếp thể nhận được rằng
Pháp Giới (dharmadhatu) (chân lý) vốn vượt ngoài nhị nguyên tính
[sự
kiến lập giả tưởng rằng thế giới nầy được cấu tạo bởi hai thực
thể chủ thể và đối tượng với tự tính].
[VI.8]
Thể nhận trên bình diện trí thức rằng không có gì bên ngoài tâm
(citta), bậc trí giả từ đó nhận thức được rằng tâm [trên bình diện
hiện tượng] không hiện hữu [một cách tuyệt đối]. Nhận thức được
rằng nhị nguyên tính không hiện hữu, bậc trí giả trụ trong Pháp Giới
vượt trên nhị nguyên tính.
Theo
Maitreyanatha cái thực tại được kiến lập theo nhị nguyên tính nầy bị
xem là các phiền não hay tạp nhiễm ngoại lai (agantukaklesa) đến che
mờ cái tâm vốn thanh tịnh tự bản tính. Cái thực tại được kiến lập
nầy không thật từ quan điểm cứu cánh và có thể bị tiêu trừ bằng tu
luyện tâm một cách thích đáng. Sau khi những tạp nhiễm ngoại lai nầy
được tẫy sạch, bản tính thanh tịnh trong sáng của tâm được phục hồi.
Tmaitreyanatha, thực tại chân thật nầy, được định nghĩa là
cittaprakrtiprabhasva, hiện hữu trước tạp nhiễm (phiền não) và sẽ
tiếp tục hiện hữu mãi mãi khi tạp nhiễm được tẫy sạch. Maitreyanatha
phát biểu trong Đại Thừa Trang Nghiêm Luận (Mahayanasutralamkara):
[XIII.
19] Sự thật là tâm vốn luôn luôn thanh tịnh tự bản tính kia nhuốm
bởi những tạp nhiễm ngoại lai. Sự thật là không có tâm nào khác
ngoài tâm [tri nhận] thực tại chân thực (dharmatacitta) luôn luôn
trong sáng tự bản tính.
Nói
tóm, đối với Maitreyanatha thì tâm vốn trong sáng tự bản tính và luôn
luôn hiện hữu như thế, mặc dầu tạm thời bị che phủ bởi những tạp
nhiễm tạo ra bởi tâm mê mờ, bởi vì đó là thực tại chân thực duy
nhất. Như thế có nghĩa là cái tâm huyễn tưởng áp đặt tự tính lên
pudgala (chủ thể nhận thức) và dharma (các đối tượng của nhận thức)
nơi thực tại tính của nó, chính là tâm thanh tịnh nầy.Như thế, hiển
nhiên rằng Maitreyanatha đặt nền tảng của thực tại luận của ông
trên thực tại cứu cánh. Theo quan điểm nầy, chỉ có thực tại chân
thực hiện hữu một cách tuyệt đối (nghĩa là trên phương diện cứu
cánh).
Thực tại hiện tượng như tâm thức không giác ngộ tri
giác chỉ là một thực tại mong manh, được kiến lập một cách giả
tưởng áp đặt lên trên thực tại chơn thực. Cái thực tại giả lập
nầy, mặc dù có khả năng tạo ra những hậu quả phiền não và những
trở ngại kiến thức, sẽ biến mất ngay khi chúng ta thể nhận thực tại
chơn thực.. Đó bởi vì cái thực tại giả lập nầy vốn giả tưởng tự
bản chất và không thật một cách tuyệt đối. Thực tại sai lầm của
con người không là gì khác hơn thực tại chân thực bị nhận thức một
cách sai lầm. Do đó, theo Duy Thức thì thực tại giả lập đặt nền tảng
trong thực tại chân thực. Cho nên theo Maitreyanatha, không cần phải
thiết lập một nền tảng tách biệt cho thực tại giả lập nữa.
1.3.2: Từ Cittamatra đến Vijnaptimatra:
Asanga trái lại nấn mạnh nhiều hơn vào chiều kích hiện sinh của thế
giới quan Duy Thức. Nếu như Phật - Tâm phải được thể nhận bằng cách
giải kiến (deconstruct) thể cách
nhận thức (của tâm thức) không giác ngộ; nói cách khác, nếu thanh
tịnh (thực tại chân thực) phải được đạt đến bằng cách tẫy trừ tạp
nhiễm (tức là cái thực tại giả lập áp đặt lên thực tại chân
thực), thì điều thiết yếu là phải giải thích nguồn gốc và nền tảng
của cái thực tại nầy. Mặc dù rõ rệt chấp nhận toàn thể thực tại
luận của Maitreyanatha, Asanga dường như cảm thấy cần thiết phải giải
thích nguồn gốc và cơ cấu của cái mà con người (tức là tâm thức
không giác ngộ) tri nhận như là thực tại hiện tượng.
Dù
là từ quan điểm tuyệt đối thì tâm vốn thanh tịnh tự bản tính, song từ
từ quan điểm công ước, sự thể nhận tâm thanh tịnh được giải thích như
là sự giải thoát khỏi nhị nguyên tính huyễn tưởng về chủ thể và
đối tượng, bị xem như là những tạp nhiễm che mờ bản tính thanh tịnh
của tâm. Như thế, mặc dù Phật-tính hay chân lý không phải là một
sản phẩm của những hoạt động tạo tác (hữu vi), thế nhưng từ quan
điểm công ước, sự thành tựu chân lý phải được quan niệm như là một
sự chuyển hóa của thế giới giả lập. Trong khuôn khổ của của Duy
Thức, đây chính là sự thanh tịnh hóa những tạp nhiễm ngoại lai.
Do
đó, đối với Asanga mục tiêu của toàn thể thực tại luận Duy Thức là
để giải thích nguồn gốc và cơ cấu của tạp nhiễm và sự chuyễn di
(transition) từ tạp nhiễm đến thanh tịnh. Theo Asanga phân tích thực tại
luận phải dựa trên sự thể nhận cơ cấu tác động và của nền tảng
trên ấy cả tạp nhiễm và tịnh hóa có thể được thiết lập. Chính trong
khuôn khổ nầy mà Asanga phối hợp các khái niệm Duy Thức
(Vijnaptimatra)
và Tàng Thức (Alayavijnana) vào hệ thống Duy Thức.
Asanga
giới thiệu khái niệm Duy Thức để giải thích những diện hiện tượng
và hiện sinh của nguồn gốc của thái độ duy thực phác tố. Trong khi
Maitreyanatha chỉ giản dị phát biểu rằng thái độ duy thực phác tố nầy
chỉ là sự kiến lập của tâm (tạp nhiễm) (cittamatra), Asanga muốn đưa
ra một giải thích cụ thể cơ cấu tác động của sự kiến lập nầy. Chính
trong khuôn khổ nầy mà Tàng Thức đóng một giai trò quan trọng.
1.3.3: Trisvabhava (Ba tự tính của sự vật)
và Alayavijnana (Tàng Thức) theo Asanga: Một chiều kích khác của Tàng
Thức trong hệ thống Duy Thức của Asanga có tính chất then chốt cho sự
hiểu biết của chúng ta về khái niệm nầy chính là sự liên hệ tàng
thức và ba tự tính theo quan điểm của Asanga. Như chúng ta đã thấy, từ
quan điểm duy thực phác tố (tức là không giác ngộ), chúng ta áp đặt
tự tính (tức là sự hiện hữu độc lập với tính cách riêng biệt) lên
các sự vật. Theo Duy Thức thì tự tính ấy chỉ là một sản phẩm của
ngôn ngữ và các phạm trù công ước, cho nên hoàn toàn không hiện
hữu. Đặc tính nầy được gọi là tự tính giả lập (parikalpita-svabhava,
lối dịch truyền thong gọi là biến kế sở chấp tự tính ). Tự tính nầy
của sự vật thật ra (nếu không bị nhìn một cách sai lầm) được kiến
lập bởi nhân (các nguyên nhân) và duyên (các điều kiện phụ thuộc
đóng góp cho nhân), cho nên tuy có hiện hữu (một cách tùy thuộc vào
nhân duyên), song không hiện hữu theo thể cách (thực hữu với thực
tính) mà tự tính áp đặt lên nó. Bởi vì nó hiện hữu tùy thuộc nhân
duyên nên tự tính nầy được gọi là tự tính tùy thuộc (paratantra
-svabhava, lối dịch truyền thong gọi là ỏ y tha khởi tự tính). Sau
cùng, một khi chúng ta đã nhận thức được thể cách hiện hữu thuần
túy của tự tánh hệ thuộc (thoát khỏi các tự tính áp đặt lên nó
bởi tự tính giả lập), chúng ta tri nhận được thể cách hiện hữu thực
sự của sự vật, được gọi là tự tính tuyệt đối (parinispanna-svabhava,
lối dịch truyền thống gọi là viên thành thực tự tính). Nói tóm, đây
chính là thể cách thể hiện tính không của Duy Thức.
Trong Thực Tại Luận của Asanga, thục tại giả lập chỉ
là thực tại chân thực bị tri nhận một cách sai lầm. Nói cách khác,
thực tại thuần túy (bhavamatra) chính là tiến trình kiến lập mà chúng
ta không thể xem là thật theo cái nhìn của duy thực phác tố chính là
thể cách tri nhận thực tại thông thường của chúng ta. Thực tại
thuần túy nầy chính là cái được gọi là abhutaparikalpa (hay ỏ tiến
trình kiến lập không thể được xem là thực một cách cứu cánhõ) trong
thuật ngữ của Maitreyanatha. Maitreyanatha phát biểu trong câu kệ đàu
tiên của bộ Madhyantavibhaga (Biện Trung Biên Luận):
[I.1
Có sự kiến lập không thật [một cách cứu cánh]. Song trong đó không
có nhị nguyên tính [chủ thể và đối tượng được giả lập là thật].
Trong [sự kiến lập không thật] đó tính không hiện hữu [như là thực
tính của nó], và nó (tức là sự kiến lập không thật) cũng hiện hữu
trong tính không (nghĩa là có tính cách không như là nền tảng thực
tính của nó).
Cũng
trong Madhyantavibhaga, Maitreyanatha lại đề ra cái gọi là ba thực tại
(tattava) căn bản hay ba khái niệm thuyên thích để giải thích tất cả
các phạm trù của sự vật:
[ I.5 ] [Các Tự Tính] giả lập, tùy thuộc
và tuyệt đối được phát biểu từ những viễn cảnh của các đối tượng
[giả lập], sự kiến lập không thật [một cách cứu cánh] và sự phi
hữu của nhị nguyên tính [ của chủ thể và đối tượng giả lập].
Trong
chương ba của bộ luận nầy, Maitreyanatha đưa ra một giải thích về ba tự
tính giản lược như sau: (thực tại của) thái độ duy thực phác tố là
một sản phẩm của tự tính giả lập, do đó, nó không hiện hữu trong ý
nghĩa cứu cánh. Thực tại tùy thuộc (vào nhân duyên) hiện hữu, mặc
dù không một cứu cánh, bởi vì nó là tiến trình kiến lập một thực
tại thuần túy mà trong ý nghĩa cứu cánh vượt ngoài cái nhị nguyên
tính áp đặt lên nó bởi tự tính giả lập. Tự tính tuyệt đối hiện hữu
trong ý nghĩa cứu cánh, bởi vì nó hiện hữu như là chân tính của tự
tính tùy thuộc, tự tính chân thực vượt ngoài nhị nguyên. Trong một
trước tác khác của Maitreyanatha đưa ra một phương thức thực tiễn để
nhận thức ba tự tính. Theo đó thì tự tính giả lập là đối tượng để
tiêu trừ, tự tính tùy thuộc là đối tượng để tri nhận, và tự tính
tuyệt đối là đối tượng để thể hiện. Asanga dường như chấp thuận
phương thức về ba tự tính nầy của Maitreyanatha. Tuy nhiên, đối với
ông ba tự tính chỉ đề ra một khái niệm thuyên thích để tiếp cận tất
cả các phương diện khả tri của thực tại. Như thế có nghĩa là chúng
ta vẫn cần một nền tảng hiện thực/hiện sinh hay nhân quả để giải
thích thực tại. Trong một trước tác chính yếu của Asanga định nghĩa ba tự
tính như là jneyalaksana hay những đặc tính của thực tại khả tri (nghĩa
là đây là ba phương diện căn bản của thực tại, tri thức về chúng
đưa dẫn chúng ta từ vô minh đến giác ngộ), và tàng thức như là
jneyasraya hay nền tảng của thực tại khả tri. Điều nầy chứng tỏ rằng
Asanga cảm thấy cần yếu phải thiết lập một nền tảng cho sự kiến
lập các thế giới duy thực phác tố của chúng ta. Do đó, trong hệ
thống của Asanga thì tàng thức là nền tảng cho cả tạp nhiễm và thanh
tịnh.
1.4 : Asanga và Sự Phối Hợp Tàng Thức vào Thế Giới
Quan Duy Thức: Lambrert Schmithausen trong tác phẩm có thể nói là lần
đầu tiên chuyên nghiên cứu về khái niệm tàng thức vạch ra rằng
tàng thức lần đầu tiên được viện đến trong bộ Yogacara (Du Già Sư Địa
Luận) chính yếu lien quan đến khái niệm nirodhasamapatti (diệt tận
định). Nói cách khác, theo Schmithausen tàng thức chỉ được quan niệm như
là một ý thức kéo dài, như thể một thứ nền tảng duy trì sự liên
tực của đời sống khi thiền giả chìm trong thiền định khi ấy tất cả
các thức (consciousness) khác đều gián đoạn. Theo Schmithausen Duy Thức
sơ thời không hề liên kết tàng thức với triết lý duy tâm
(vijnaptimatra). Tuy nhiên, tàng thức được phát triển đồng thời với
những khái niệm then chốt khác và được hoạt định để phối hợp vào
hệ thống Duy Thức từ rất sớm bởi Asanga.
1.5 : Ý Nghĩa và Tác Năng của Tàng Thức trong Hệ Thống
Duy Thức của Asanga: Sau khi đã qui định khuôn khổ thuyên thích để tri
nhận tàng thức trong toàn thể hệ thống Duy Thức, bây giờ chúng ta
có thể khảo xét các ý nghĩa và tác năng căn bản của khái niệm
nầy như đã được bày tỏ trong các trước tác của Asanga.
1.5.1
Tàng Thức và Duyên Khởi. Theo các nhà Duy Thức và Đại Thừa nói
chung, dị biệt cốt yếu giữa thế giới quan Phật Giáo và những thế
giới quan khác là sự dị biệt giữa duyên khởi luận và duy thực luận
phác tố: Duyên khởi luận nhắm nhìn sự vật (cả tinh thần lẫn vật
chất) như là những sản phẩm của sự tương hệ nhân quả giữa các
thành tố hiện hữu khác nhau. Chính bởi vì các sự vật xuất hiện tùy
thuộc vào một tiến trình duyên khởi bên ngoài chúng, mà chúng được
xem là không có tự tính (do đó gọi là không). Duy thực luận phác tố
trái lại xem thực tại như là gồm các sự vật hiện hữu một cách độc
lập với đặc tính cố định (tự tính).
Tóm
lại, sự dị biệt chính yếu giữa thực tại luận duyên khởi của Phật
Giáo và duy thực luận phác tố được phát biểu như sau : đối với duy
thực luận phác tố thì thực tại mà chúng ta đối diện gồm những thực
thể hiện hữu sẵn. Đó là thực tại mà thực tính của nó có thể được
hiển lộ bằng một hệ thống ngôn ngữ tự túc (autonomous) phản ánh nó
trong mối liên hệ trực tiếp, giản đơn, trong sáng giữa ngôn ngữ và
sự vật. Đó là thực tại mà nguyên nhân tối hậu của nó có thể
được thiết lập, qua một tiến trình thối lui và qui giảm, trên một
nguyên lý được thực hóa (reified). Duyên khởi luận giải thích rằng
cái thực tại mà chúng ta đối diện không ngớt được kiến lập qua cơ
cấu tác động của nguyên lý nhân quả. Asanga định nghĩa tàng thức như
là nền tảng của tiến trình nầy. Tuy nhiên, ông thiết lập tàng thức
như là nền tảng nhân quả của thực tại để giải minh tiến trình hiện
hành của nó và để chứng tỏ rằng tàng thức không thể được thực
hóa, nghĩa là xem như một thực thể tối hậu.
Chương
đầu của bộ Mahayanasamgraha là để giải minh khái niệm tàng thức mà
Asanga gọi là nền tảng thực tại khả tri. Asanga giải thích rằng Bồ
Tát (nghĩa là những người chấp nhận giáo lý Phật Giáo và nỗ lực
thực hiện giáo lý ấy) trước tiên phải hiểu nguyên do của sự vật
(dharmahetu), và để thực hiện điều nầy, họ phải hiểu được giáo lý
duyên khởi. Điều nầy có nghĩa là nhận thức được rằng thực tại mà
các tâm thức không giác ngộ tri nhận như thể là gồm các thực thể
thực hữu, thì không thực trên phương diện tuyệt đối, mà chỉ là sản
phẩm dựa trên tàng thức như là nguyên do sinh khởi (janakahetu). Do
đó, tàng thức tượng trưng cho nền tảng (và cơ cấu tác năng) từ đó
thế giới kinh nghiệm của con người được kiến lập. Tàng thức là trung
tâm của tất cả yếu tố khách thể và chủ thể đóng góp vào sự kiến
lập một thế giới giả tưởng. Như thế, tàng thức bao hàm cơ cấu hiện
hữu cũng như thể cách kinh nghiệm thế giới của một tâm thức không
giác ngộ.
1.5.2:
Tàng Thức và Khuôn Mẫu Thực Tại Luận của Duyên Khởi: Cần phải ghi
nhận ở đây rằng sự phân biệt bởi Asanga giữa Khuôn Mẫu Thực Tại
Luận (ontological) của Duyên Khởi và khuôn mẫu cảm ứng (affective)
của duyên khởi. Trong khuôn khổ giải thích (interpretive framework) nầy,
sự kiến lập các sự vật dựa trên tàng thức tượng trưng cho khuôn
mẫu thực tại luận của duyên khởi. Đó bởi vì tàng thức chính là
nguyên nhân áp đặt các tự tính lên các hiện tượng (được phát sinh
bởi duyên khởi). Còn duyên khởi với mười hai thành tố nền tảng kia
chính là khuôn mẫu cảm ứng, bởi vì nó cung ứng nguyên do quyết định
về hiện hữu tốt hay xấu trong các cõi hữu khác nhau.
Như
thế khuôn mẫu nhân quả (dựa trên) tàng thức là để phân tích cơ cấu
tác động của sự áp đặt các tự tín lên sự vật, tức là, để phân
tích sự kiến lập thế giới duy thực phác tố. Từ viễn cảnh chủ thể,
đó là sự xác nhận một thế giới của của những đối tượng hiện hữu
độc lập với nhau. Trong khuôn khổ thuyên thích nầy, tàng thức phù
hợp với thực tại luận ba tự tính. Thực tại luận nầy có mục đích
giải thích sự thể nhận ý nghĩa đích thực của duyên khởi (tức là
tánh không) bằng cách phân tách ý nghĩa của tự tính từ các viễn
cảnh công ước lẫn tuyệt đối. Trong ý nghĩa nầy tàng thức đồng nhất
với duyên khởi. Một cách đặc thù hơn nữa, tàng thức là nền tảng
cụ thể và cơ cấu tác năng của những phương diện thực tại thuyên
thích của duyên khởi.
Cần
phải lưu ý ở đây là tàng thức không chỉ đề cập đến tâm thức chủ
thể nhận thức, chính nó chỉ là một trong những kiến lập trong thế
giới duy thực phác tố nhị nguyên dựa trên tàng thức. Nói cách khác,
tàng thức chính là trung tâm của, và công cụ cho, sự kiến lập chủ
thể và khách thể được cho là thực hữu.
Trong
thuật ngữ của Asanga, tòan thể cơ cấu tác năng của tàng thức được
đề cập đến như là jneyasraya, nền tảng của đối tượng [của nhận
thức]. Đối tượng [của nhận thức] ở đây chỉ ba tự tính, bởi vì theo
những nhà Duy thức thì ba tự tính bao gồm tất cả cơ cấu thuyên thích
khả hữu của thực tại.
Nghĩa
là tàng thức đem lại thể chất cho toàn thể tiến trình tri nhận thực
tại bao gồm trong ba tự tính. Nói tóm, ba tự tính là những phạm trù
giải thích trừu tượng để nhận thức thực tại như là đối tượng của
tri thức, trong khi tàng thức là nền tảng cung ứng những dữ kiện
chất thể cho thực tại. Như thế là bởi vì tàng thức là nguyên do cho
sự áp đặt các tự tính lên thành tố chủ thể lẫn khách thể của
thực tại. Khi các hoạt động huyễn hóa được nhận thức, người ta đạt
được thực tại chân thực.
1.5.3:
Tàng Thức và Tự Tính Tùy Thuộc (Paratantra): Theo Asanga tri nhận thực
tại được đặt trên kiến thức về tự tính tùy thuộc hay duyên khởi.
Tự tính giả lập (parikalpita) chỉ thể cách tri giác trong ấy tự tính
tùy thuộc được thực hóa, trong khi tự tính tuyệt đối (parinispanna) chỉ
ý thức giác ngộ nhìn tự tính tùy thuộc một cách trung thực như là
hiển lộ phi thực tính của chủ thể và đối tượng. Do đó, trong Duy
Thức tùy thuộc được giải thích là không phải là hiện hữu mà cũng
không phải là không hiện hữu. Theo Asanga, tự tính tùy thuộc là thực
tại thuần túy để chúng ta tri nhận, trong khi tự tính giả lập và tự
tính tuyệt đối tượng trưng cho hai thể cách tri nhận thực tại nầy.
Tóm lại, tự tính tùy thuộc chỉ duyên khởi trong phương diện thực
tại/tri thức của nó, trong khi tàng thức tượng trưng cho nền tảng
hiện thực và cơ cấu tác động của duyên khởi. Sự liên hệ giữa tự
tính tùy thuộc và tàng thức thì hết sức là then chốt trong vai trò
mà tàng thức đóng trong giải thoát luận của Asanga.
1.5.4:
Tàng Thức Như Là Kho Chứa Tất Cả Những Chủng Tử (Sarvabijaka) Hay
Nguyên Nhân Phát Sinh (Janakahetu) của thực tại kiến lập: Thế giới
duy thực phác tố dựa trên một nguyên lý được thực hóa (reified) và
xem đó là nguyên do cứu cánhcủa tất cả các sự vượt được xem là
thực hữu. Mặc dù tàng thức được xem là nguyên nhân phát sinh của
tất cả các hiện tượng giả lập, chúng ta không thể thực hóa nó
thành nguyên nhân cứu cánh. Tàng thức chỉ là một nền tảng năng
động tàng trữ các chũng tử (bija) nhận thức hay ấn tượng (vasana) và
đãi lọc chúng trở lại trạng thái nhận thức hiện hành. Do đó mà
trong hệ thống Duy Thức của Asanga tàng thức được gọi là sarvabijaka
(kho chứa các chủng tử) và vipaka (thành thục), nghĩa là làm các
chủng tử chín mùi (thành thục) thành kinh nghiệm tri giác. Tàng thức
được định nghĩa như là nguyên nhân phát sinh của tất cả các hiện
tượng giả lâp bởi vì nó luôn luôn hiện diện như là nguyên nhân của
các hiện tượng nầy. Tuy nhiên, tàng thức là một tiến trình chứ
không phải là một thực thể; tàng thức chỉ là kho chứa các chủng tử
nhận thức và ấn tượng nầy (chính chúng lại là quả của hiện tượng
tạp nhiễm). Điều nầy giải thích sự kiện rằng Asanga nhấn mạnh rằng
tàng thức đồng nhất với các chủng tử nhận thức. Tàng thức cũng
không phải là một nguyên nhân cứu cánh được thực hóa bởi vì nó sẽ
ngưng hiện hữu khi người ta đạt được một kiến thức đúng về nhân
quả. một cách vắn tắt, trên bình diện hiện tượng tàng thức chỉ hiện
diện như là nền tảng cụ thể cho sự kiến lập của chủ thể được xem
là thực hữu (ngã) và các đối tượng được xem là thực hữu (pháp).
Khi chúng ta đạt đến mức độ nào đó của nhận thức, mà trong khuôn
khổ của con đường tu quán Phật Giáo gọi là giải thoát (nghĩa là một
nhận thức không còn chấp vào thực ngã và thực pháp), tàng thức sẽ
không còn hiện hữu nữa. Ít ra, đây là giải thích của Vasubandhu.
1.5.4.1:
Tàng Thức và Duy Thức (Vijnaptimatra): Duy thực phác tố (naĩve realism)
xem chủ thể và đối tượng như là những sự vật thực hữu sản sinh bởi
một nguyên nhân thực hữu. Tuy nhiên, theo Asanga thì tất cả mọi ự
vật phát sinh tùy thuộc (vào nững sự vật khác nữa như là nhân
duyên ad infinitum) thì không thực hữu một cách tuyệt đối. Những sự
vật nầy chỉ là vijnapti [các hiện tượng được đãi lọc theo nhận thức
dựa trên ngôn ngữ và tinh thần (Geist) tập thể qua hình thức những
phạm trù công ước ] (cognitively processed phenomena) dựa trên các
chủng tử tàng trữ trong tàng thức. Asanga dịnh nghĩa tự tính tùy thuộc
hay duyên khởi như là abhutaparikalpa (sự kiến lập không thực hữu một
cách tuyệt đối) với ý nghĩa là nó là nền tảng cho sự hiển hiện
(abhasraya) của các sự vật phi hữu và giả tưởng. Do đó những sự vật
nầy là vijnapti (sự đãi lọc của tiến trình chuyển biến của nhận
thức). Như thế, những sự phát sinh qua duyên khởi chỉ là vijnaptimatra
(duy thức), bởi vì không có đối tượng thực hữu bên ngoài thức (nghĩa
là không có những đối tượng thực hữu sẵn, bất biến, với tự tính
bên ngoài tiến trình chuyển biến của nhận thức).
Những
sự vật xuất hiện như thể thực hữu môt cách tuyệt đối với các tự
tính thiệt ra chỉ phản ánh thể cách nhận thức (phi giác ngộ) của
chúng ta về chúng; chứ không nhứt thiết là những sự vật nầy được
nhận thức chính xác trong thực tính của chúng. Asanga đồng hóa duy
thức (vijnaptimatra) với tâm thức (vijnanamatra). Asanga cũng dùng ẩn
dụ mộng để giải minh quan điểm của ông: trong một giấc mộng, mặc dù
chỉ có tâm thức, chứ không có đối tượng (artha), song nhiều đối
tượng xuất hiện. Do đó Asanga kết luận, chúng ta biết rằng sự xuất
hiện của các đối tượng (theo một thể cách nào đó) không nhất thiết
có nghĩa là chúng hiện hữu (đúng như thế) ngoài kia.
Như thế, theo Asanga, sự xuất hiện của các đối tượng
trong nhận thức của chúng ta không phản ánh bản tính chân thực của
chúng ta mà chỉ là một sự chuyển hóa hay hiện hành của vijnapti hiện
hữu trong hình thức ấn tượng nhận thức hay chũng tử trong tâm thức
chúng ta. Đây chính là ý nghĩa của lời phát biểu của Asanga rằng sự
xuất hiện của những đối tượng (giả tưởng) trong nhận thức của chúng
ta không phản ánh thể cách hiện hữu chân thực của chúng bên ngoài
nhận thức của chúng ta mà chỉ là kết quả của khoảnh khắc nhận thức
đi trước (được tàng trữ trong tàng thức trong hình thức của những
chủng tử hay ấn tượng).
Một
tiến trình nhận thức (vijnapti) như thế gồm ở chỗ tàng trữ và hiện
hành các chủng tử nhận thức nầy; chính tác năng của tàng thức cùng
với các thể cách nhận thức khác dựa trên tàng thức. Do đó, tàng
thức được định nghĩa là một tâm tức tàng trữ tất cả các chũng tử
và hiện hành hóa chúng (nghĩa là làm cho các chũng tử nầy chính
muồi). Như thế có nghĩa là tàng thức là kho chứa; chứa những chủng
tử nhận thức và duy trì sự liên tực của thực tại hiện tượng (có
nghĩa là thực tại tùy thuộc vào nhân duyên). Trong tác năng thu thập
các ấn tượng nhận thức đi trước nầy, Asanga đồng hóa tàng thức với
tâm (citta) trong thành ngữ ba nhánh tâm, ý, và thức. Tiến trình nhận
thức nầy bao gồm không những sự thu thập và duy trì các chủng tử
nhận thức, mà cả sự hiện hành hóa chúng nữa. Do đó, tiến trình
nhận thức nầy bao gồm các tác năng ở cả bình diện nhân lẫn bình
diện quả: Ở bình diện nhân thì tàng thức (tâm) tàng trữ và cung cấp
các chủng tử nhận thức. Khi điều kiện hội đủ để (những) chủng tử
nhận thức nào đó trở thành một hành động nận thức hiện hành (tức
là ở bình diện quả), thì chính chuyển thức đóng vai trò hiện hành
hóa hành động nhận thức nầy. Chuyển thức ở đây bao gồm (năm hình
thức của) thức cảm quan tri nhận những đối tượng đặc thù, ý thức
duy trì và khái niệm hóa những tri giác rời rạc gián đọan của cảm
thức, và ý hay sự suy tư tạp nhiễm (còn được gọi là mana hay mạt na
thức, theo lối dịch truyền thống) kiến lập một sở hữu chủ thường
hằng sở hữu những hành động nhận thức rời rạc và gián đoạn kia.
(Do đó, theo Duy Thức thì ngã cũng là một kiến lập (construct) chứ
không phải là một thực thể tiên thiên). Trong thuật ngữ của Asanga,vijnaptimatra
có nghĩa là tác năng của cả tàng thức lẫn chuyển thức
(pravrttivijnana) trong hình thức của sự suy tư tạp nhiễm (mana)và các
thức cảm quan.
Tóm
lại, duy thức (vijnaptimatra) không hề có nghĩa là một thứ duy tâm
chủ quan (subjective idealism) xem thế giới ngoại tại chỉ là sản phẩm
của tâm thức chủ thể hay một thứ hư vô chủ nghĩa xem tâm là tạo
hóa tạo ra mọi giá trị. Thật ra, thực tại luận tàng thức dựa trên
nền tảng ba tự tính chỉ nhắm vạch ra rằng nền tảng trên ấy chúng ta
đặt nhận thức về thực tại của mình, phân tích một cách rốt ráo,
chẳng là gì khác hơn một giả lập. Nói cách khác, Duy Thức không hề
chối bỏ một thế giớiõngoài kiaõ, mà chỉ muốn nói rằng khi nào mà
nhận thức của chúng ta về thế giới còn dựa trên một thái độ nhận
thức sai lầm (nghĩa là trên sự giả lập của các phạm trù chủ
thể/khách thể được xem, một cách thiếu phê phán, là thực hữu) thì
khi ấy nhận thức ấy không hề phản ánh chân thực cái thế giới kia
mà chỉ là một sản phẩm của tiến trình chuyển biến của nhận thức
(duy thức), do đó nhận thức ấy không thể được xem là đúng.
1.5.5:
Tàng Thức Như Là Sự Hiện Hành Hóa (Vipaka) Các Chủng Tử Nhận Thức
Hay Là Cơ Cấu Tác Động Của Duyên Khởi: Như thế tàng thức không
những tàng chứa các chủng tử nhận thức mà còn hiện hành hóa hay
làm chín muồi các chủng tử đã được tàng trữ nầy thành các hoạt
động nhận thức hiện tại. Tiến trình này được gọi là hiện hành hóa
(vipaka). Chính vì thế mà tàng thức cũng được gọi là vipakavijnana
(thức có tác năng hiện hành hóa các chủng tử nhận thức) trong tiến
trình chuyển hóa của vi vijnaptimatra. Đây là bởi vì trong tiến trình
nhận thức nầy tàng thức với tư cách là kho chứa các chủng tử nhận
thức tác động như là nhân, trong khi chuyển thức tác động như là quả
trong ý nghĩa biến những chủng tử kia thành kết quả.
Vipaka
ám chỉ tiến trình trong ấy các ấn tượng của những hoạt động nhận
thức đi trước được hiện hành hóa bởi tàng thức. Tàng thức được cấu
tạo bởi các chủng tử hay ấn tượng của các hoạt động nhận thức đi
trước được tàng trữ như là nguyên nhân tiềm tàng cho các hoạt động
nhận thức trong tương lai. Rồi khi có các diều kiện nguyên nhân thích
hợp, một tiến trình kiến lập nhận thức hiện tại được hiện hành bởi
chuyển thức. Như thế theo quan điểm Duy Thức, đời sống con người là
tiến trình những hành động nhận thức tri giác thế giới qua lăng kính
của các phạm trù giả tưởng của chủ thể và đối tượng như là thực hữu,
và bị xung động để đáp ứng lại các hiện tượng giả tưởng được kiến
lập bởi sự chuyển hóa của tàng thức nầy.
Điều
quan trọng là chúng ta cần lưu ý rằng vipaka ám chỉ cả các tác năng
nhận thức lẫn sinh lý của tàng thức. Như thế có nghĩa là tàng thức
không những chỉ tàng trữ các chủng tử của thể cách suy nghĩ nhị
nguyên và phục sinh chúng trong thể cách tri nhận hiện sinh về chủ
thể và đối tượng, mà trên bình diện hiện sinh (existential), tàng
thức cũng duy trì các chủng tử, thiện hay ác, và hiện hành hóa
chúng trong đời sống tương lai.
2.-Từ Thực Tại Luận Đến Giải Thoát Luận: Tàng Thức
Và Chuyển Y
(Asrayaparavrtti):
2.1:
Tàng Thức Như là Nền Tảng Cho Cả Tạp Nhiễm Lẫn Tịnh Hóa: Như thế
tàng thức là căn bản duy trì và cung cấp các chủng tử cho sự kiến
lập (thế giới) duy thực phác tố được hiện hành hóa trong các hoat
động của chuyển thức. Không có sự chống đở duy trì của tàng thức
như thể là nguyên nhân luôn luôn hiện diện thì sẽ không có nền
tảng cho các hiện tượng tạp nhiễm đem lại bởi chuyển thức tự nó
vốn gián đoạn. Do đó tàng thức được xem là nền tảng của tạp nhiễm.
Tàng thức lại cũng được xem là nền tảng của tịnh hóa. Như thế bởi
vì tịnh hóa không là gì khác hơn sự tịnh hóa hết cái tạp nhiễm kia.
Nói
cách khác, sự thành tựu toàn tri, hay trong ngôn ngữ của
Maitreyanatha. Tâm (nhận thức) thực tại chân thực (dharmatacitta), nằm
ở chỗ tri nhận cơ cấu và tác năng của tàng thức. Như thế, nếu
không có tàng thức thì không thể thành lập tạp nhiễm hay tịnh hóa
được. (Lưu ý rằng điều nầy hết sức then chốt là bởi vì mục tiêu
tối hậu của toàn thể thế giới quan và con đường của Phật Giáo,
cũng như tất cả các tôn giáo khác, nằm ở chỗ thành tựu giải
thoát--định nghĩa khác nhau tùy theo từng truyền thống. Nói một cách
hết sức tóm lược, trong thế giới quan Phật Giáo giải thoát có nghĩa
là khôi phục lại thanh tịnh cố hữu của tâm thức bị che mờ bởi tạp
nhiễm tạm thời ngoại lai. Cho nên dù là trên mặt tuyệt đối thì tâm
vốn thanh tịnh tự bản tính, song ít ra trên mặt công ước chúng ta vẫn
phải giải thích nguyên do và cơ cấu của tạp nhiễm bởi vì giải thoát
chính là sự tịnh hóa tạp nhiễm nầy. Nếu không hẳn chúng ta sẽ rơi
vào một thứ hư vô chủ nghĩa). Như thế có nghĩa là tàng thức là nền
tảng cho cả sự thể hiện thực tại lẫn thành tựu giải thoát trong tư
tưởng Duy Thức của Asanga. Chính vì thế mà Asanga phát biểu rằng không
có nền tảng nầy (tức là tàng thức) tàng trữ tất cả chủng tử và
tác động như là một tiến trình hiện hành hóa các chủng tử ấy, thì
không thể nào chúng ta thiết lập tạp nhiễm hay tịnh hóa được. Không
thể có tịnh hóa được bởi vì không có nền tảng (asraya) để chuyển
hóa.
2.2:
Tự Tính Tùy Thuộc (Paratantra) và Chuyển Y
(
Asrayaparavrtti): Asanga định nghĩa thành tựu giải thoát sự thành tựu
giác ngộ (bodhi) là chuyển y. Asanga giải thích chuyển y từ viễn cảnh
của tự tính tùy thuộc lẫn tàng thức. Đó là bởi vì chuyển y có thể
được quan niệm từ thuyên thích lẫn phương diện hiện sinh. Chúng ta đã
biết rằng theo Duy Thức thì giải thoát hay một tri thức đúng về thực
tại chỉ có thể đạt được qua sự quán sát ba tự tính. Song, như đã đề
cập, theo Asanga thì tự tính tùy thuộc là nền tảng của ba tự tính, cho
nên giải thoát--được quan niệm là sự xoay chuyển cái nền tảng (y
chỉ) nhận thức của con người hay chuyển y--phải được thành tựu nơi tự
tính tùy thuộc. Trang bị với kiến thức về sự liên hệ giữa tàng thức
và tự tính tùy thuộc, trước tiên chúng ta thử thẩm xét tự tính tùy
thuộc và chuyển y.
Theo
Asanga chuyển y là một tiến trình nhận thức thực từ tất cả mọi phương
diện liên hệ đến kinh nghiệm của chúng ta. Trong thực tại luận của
Asanga tất cả mọi phương diện của thực tại được thu gọn trong ba tự
tính đã được giải thích vắn tắt ở trên. Ba tự tính nầy giải minh thể
cách mà thực tại sinh khởi (tự tính tùy thuộc), thể cách mà thực
tại được tri giác bởi tâm thức của con người dựa trên thái độ duy
thực phác tố (tự tính giả lập), và thực tính của thực tại sinh khởi
kia (tự tính tuyệt đối).
Theo
Asanga thì tự tính tùy thuộc là thực tại thuần túy. Luân hồi
(samsara) và niết bàn (nirvana) là những phương diện tạp nhiễm và
thanh tịnh của cùng một thực tại. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa
là tự tính tùy thuộc có hai phương diện dị biệt thực sự. Vấn đề chỉ
là tự tính tùy thuộc được tri giác sai hay đúng.Khi tự tính tùy thuộc
được tri giác sai lầm thì chúng ta có --thay vì một thế giới của
những hiện tượng tùy thuộc-- một thực tại giả tưởng của những chủ
thể tự túc và các đối tượng hiện hữu độc lập. Khi tự tính tùy
thuộc được tri nhận đúng trong thực tính của nó, nó hiển lộ thực
tại chân thực (tự tính tuyệt đối) vượt trên nhị nguyên tính giả
tưởng của chủ thể và đối tượng. Trong ngôn ngữ tri thức luận, thể
cách tri nhận thực tại (tattvajnana) này được gọi là nirvikalpajnana
(vô phân biệt trí) hay sarvajnatva (toàn tri) trong Duy Thức. Đây là
thể cách nhận thức siêu việt tất cả những giới hạn của (thế giới)
của duy thực phác tố và trực tiếp nhận thức cơ cấu duyên khởi của
thực tại. Tự tính tùy thuộc do đó được định nghĩa là nền tảng lưỡng
diện bởi vì nó là nền tảng cho tất cả thực tại tạp nhiễm lẫn thực
tại thanh tịnh cũng như hai thể cách nhận thức.
Do
đó, chuyển y là một hành động lưỡng diện nằm ở chỗ gạt bỏ phương
diện tạp nhiễm của tự tính tùy thuộc và phục hồi lại phương diện
thanh tịnh của nó. Ở đây cần lưu ý rằng đối với các nhà Duy Thức
thì chuyển y, nhìn từ cả hai viễn cảnh hiện tượng và tuyệt đối, chỉ
thể cách hiện hữu của Phật (tức tâm thức giác ngộ). Như thế trí
(jnana) của Phật luôn luôn trụ trong tác năng lưỡng diện đồng thời
tri nhận thực tại hiện tượng và thực tại tuyệt đối.
Điều nầy hiển lộ một phương diện lý thú của những
hàm ngụ giải thoát hạnh của Phật -trí.
2.3
: Tàng Thức Và Pháp Thân (Dharmakaya) Trong Chuyển Y Theo Asanga: Nếu
như [phương diện tạp nhiễm] của tự tính tùy thuộc tượng trưng cho cái
nền tảng trên ấy một thực tại giả lập được áp đặt và do đó cần
bị gạt bỏ, thì tàng thức tượng trưng cho nền tảng thể chất cho sự
kiến lập của cái thực tại qui kỷ, giả tưởng nầy. Do đó, chuyển y
cũng liên hệ đến gạt bỏ hay chuyển hóa tàng thức. Theo triết học
Duy Thức, sự chuyển hóa tàng thức đem lại sự thành tựu Pháp Thân
(Dharmakaya) hay yếu tính của Phật.
Trong
ngôn ngữ của giải thoát luận, giác ngộ hay thực tại chân thực với
tất cả những hàm ngụ giải thoát hạnh được bao gồm trong khái niệm
về tam thân của Phật. Tam thân là Pháp Thân (Dharmakaya), Báo Thân
(Sambhoga-kaya), và Hóa Thân (Nirmanakaya). Khái niệm tam thân này bao
gồm tất cả mọi khía cạnh thần luận (theological) của Duy Thức. Pháp
Thân là yếu tính của Phật hay giác ngộ hoàn toàn siệu việt. Song,
tuy rằng trên bình diện tuyệt đối thì Phật (tức Pháp Thân) vượt trên
tất cả phạm trù hiện tượng, nên phương diện công ước Phật--được xem
là kết quả của tiến trình tu tập trí huệ và đức hạnh--vẫn có thể
được xem là hiện thân của những đặc tính giác ngộ như toàn tri, từ
bi,v.v. Đây chính là Báo Thân của Phật. Sau hết, tuy rằng yếu tính
của giải thoát là hoàn toàn siêu việt (Pháp Thân), Phật có khả
năng biểu hiện dưới vô vàn hình thức khác nhau trong những hoàn cảnh
khác nhau để thực hành những hành động giải thoát. Đây chính là Hóa
Thân của Phật. Pháp Thân là yếu tính và nền tảng trên đó hai thân
kia xuất hiện như là những biểu hiện và tác năng.
Trong
thực tại luận của Asanga tàng thức là nền tảng trên ấy nhận thức
của con người kiến lập cái nhìn huyễn tưởng của mình về thực tại
công ước (tức là sự áp đặt tự tính giả lập lên tự tính tùy
thuộc). Tàng thức cung ứng nền tảng cho thể cách nhận thức của con
người bình thường. Đây là toàn thể- thế- giới -sống (life-world) của
con người. Như thế tàng thức được xem là nền tảng của cho tất cả
các thành tố đưa dẫn đến sự kiến lập một cái nhìn qui kỷ dựa trên
thái độ duy thực phác tố. Chính vì thế mà Asanga tuyên bố rằng nếu
không quán sát tàng thức một cách rõ ràng chân thực, người ta
không thể mong đạt đến toàn tri (tức là bản tính của Phật- thể mà
Pháp Thân chính là nền tảng). Như thế có nghĩa là trừ phi người ta
biết rằng chủ thể và đối tượng được giả định là thật mà chúng ta
tri nhận thực tại hiện tượng chỉ phát sinh từ sự chuyển hóa nhân
quả của các hiện tượng nhận thức trong tàng thức, người ta sẽ chấp
trước vào cái thực tại giả tưởng của nó và do đó không thể đạt
được toàn tri.
Do
đó, sự thành tựu giác ngộ phải liên hệ đến sự chuyển hóa
thế-giới-sống nay thành Phật -giới (Dharmadhatu). Đây chính là sự
chuyển hóa tàng thức thành Pháp thân Phật. Pháp Thân nầy là nền
tảng cho một nhận thức giác ngộ vượt trên bất cứ giới hạn nào của
lối suy nghĩ nhị nguyên dựa trên thái độ duy thực phác tố. Pháp thân
là nền tảng của toàn tri hay vô phân biệt trí. Sự chuyển hóa này
đưa đến không những sự gạt bỏ lỗi lầm nhận thức, mà quan trọng
không kém, sự gạt bỏ thể cách qui kỷ đối với thế giới bị qui định
bởi tham lam, gây hấn, sợ hãi, và vô minh--những phiền não chính yếu
đi kèm quan điểm qui kỷ dựa trên tàng thức.
Bởi
vì tang thức là nền tang hiện sinh/hiện thực của hiện hữu trong cả
chiều kích nhận thức lẫn chiều kích sinh lý/tâm lý, sự chuyển hóa
tàng thức không những đem lại sự thành tựu về mặt nhận thức mà
còn chuyển hóa tất cả tiềm năng của con người thành các đặc tính
Phật (hay giác ngộ). Do đó, khi tàng thức được chuyển hóa, người ta
đạt được Pháp Thân hay vô phân biệt trí (toàn tri), phương diện nhận
thức của Pháp Thân.
3. Kết Luận : Hi vọng rằng những nhận định trên mở ra
một vài lối nhìn mới về Duy Thức tông. Trước hết, không thể đồng
hóa toàn thể thế giới quan Duy Thức (Yogacara) với hệ thống
vijnaptimatra của Asanga và Vasubandhu. Thật ra, sự phối hợp của của
tàng thức cùng với vijnaptimatra phản ánh một xu hướng mới trong sự
phát triển của thế giới quan Duy Thức. Đó là một thay đổi về phương
diện thuyên thích : một chuyển di từ thực tại cứu cánh sang thực tại
hiện tượng như là nền tảng (asraya) của cả thực tại luận lẫn giải
thoát luận. Đối với Asanga (và cả Vasubandhu), sự thành tựu giải
thoát đạt cao điểm ở chuyển y bao hàm một kiến thức đúng về cơ cấu
của thực tại giả lập lẫn sự giải kiến của nó. Chúng ta phải thẩm
xét sự kiện rằng việc thay đổi từ sự nhấn mạnh vào thực tại cứu
cánh sang thực tại hiện tượng (hay trong ngôn ngữ của Duy Thức, từ
dharmatacitta hay tâm thực tại chân thực sang alayavijnana (hay tàng
thức) như là nền tảng của tạp nhiễm lẫn tịnh hóa trong thực tại
luận Duy Thức khởi xướng bởi Asanga cũng phản ánh luôn giải thích
của ông về tu tập.
Một
kiến thức chính xác về sự phát triển trên phương diện lịch sử và ý
niệm của thực tại luận alayavijnana/vijnaptimatra cũng chiếu rọi ánh
sáng lên một vấn đề trong lịch sử Phật Giáo. Quả thật rằng sự phát
triển triết lý trong các tông phái khác nhau trong Phật Giáo không
phải là một liên tục đơn thuần mà thông thường hơn là một phát
triển phê phán đối với các tông phái đi trước. Song sự phát triển
phê phán này không nhứt thiết có tính cách bài bác như các truyền
thống sau và nền nghiên cứu hiện đại giải thích.
Cả
các nhà Trung Quán lẫn các nhà Duy Thức đều nỗ lực giải thích duyên
khởi luận, Nagarjuna, người được truyền thống xem là sáng lập Trung
Quán tông, giải thích rằng duyên khởi luận có mục đích vạch ra rằng
các sự vật không có tự tính. Đây cũng là giáo lý trung đạo
(madhyama-pratipad) của Phật. Maitreyanatha dùng khái niệm ba tự tính để
giải minh cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn của duyên khởi và
trung đạo. Asanga dường như lại cho rằng trong khi khái niệm ba tự tính
đủ để giải minh trung đạo, tàng thức cung ứng một nền tảng cụ thể
cho sự tác thành của duyên khởi.
Ở
đây, chúng ta có thể thấy rõ rằng sự phát triển của khái niệm
tàng thức (và vijnaptimatra) là một nỗ lực của Asanga để giải minh
các vấn đề then chốt trong triết lý Duy Thức. Nói một cách khác, đó
là một sự phát triển trong thế giới quan của Duy Thức chứ không có
vẻ như là một phê bình (critique) triết lý Trung Quán, đúng hơn còn
là một phát triển bổ xung cho Trung Quán. Chúng ta nhận thấy trong khi
sunyata (tính không) chỉ có hàm ý giải kiến (deconstructive implication)
về duyên khởi thì tàng thức nhắm giải thích tiến trình sinh khởi từ
quan điểm duyên khởi. Tàng thức ngụ ý rằng các sự vật được giả tưởng
là có tự tính thật ra được tạo thành bởi các tiến trình nhận thức
(vijnapti), và do đó không có cái tự tính giả tưởng kia. Nhìn từ một
viễn cảnh chính xác, khái niệm tàng thức cũng được hoạch định để
giải kiến thái độ duy thực phác tố. Do đó không hề có sự bất nhất
giữa tính không và tàng thức. Xem hai khái niệm tính không và tàng
thức như là tiêu biểu trọn vẹn cho Trung Quán và Duy Thức.
TRUYỆN NÀNG BHAĐDA
(Trích trong tập Truyện Cổ Phật Giáo do
N.H. Lộc chép)
Thuở
xưa, tại Vương Xá Thành có cô con gái, con quan đại thần, nàng mang
sắc đẹp lộng lẫy, thông minh và kiêu hảnh. Đến tuổi gieo cầu, không
có vị vương tôn công tử nào lọt vào cặp mắt xanh của nàng. Vã
chăng, con tạo vốn trớ trêu, nàng lại si tình một chàng trai vũ phu,
có học nhưng lại là tên cướp khét tiếng, can tội tử hình, không có
ai giúp đỡ cho nàng trước mối tình vô vọng ấy. Thế là Bhađda, tên
nàng, nằm lăn trên giường bệnh.
Thương
con, vị quan đại thần lo lắng chạy chữa thuốc thang nhưng thảy đều vô
hiệu.
--Cha ôi! Nàng nói thều thào--Buổi sáng
con tim nó nói gì với cha?
--Nó nói rằng, nó xót xa
lắm con ơi!
--Cha ôi! Buổi tối con tim
nó nói gì với cha?
--Nó nói rằng con ơi! Con
đau thì nó cũng đau.
Yên lặng giây lát, một
hạt lệ rỉ ra từ đôi mắt uyên ương, nàng thì thầm : Cha ôi! Con tim con
cũng đau buổi sáng, buổi tối và cả ban đêm nữa. Thì ích gì những
thuốc thang hở cha?
-- Phải rồi, ích gì những
thuốc thang này khi con tim nó đau! Nhưng mà nó nói gì hả con?
Nàng Bhađda với nhập đề như vậy, với
chuyển đề như vậy, rồi đưa vị cha già nua vào một chiếc thòng lọng :
--Nó có tâm sự riêng của
nó chứ, phải vậy không hả cha?
--Phải lắm, nó có tâm sự
của nó mà!
--Vậy thì cha ôi! Nàng
khóc lớn--khi mà chiếc đao tử thần rơi xuống đầu Satthuka, tên cướp,
thì trái tim con vĩnh viễn bị tử thương không bao giờ lành nữa!
Vị quan già nua thoát hiểu, đứng bật
dậy, những sợi tóc dựng ngược trên đầu.
--Con nói sao? Satthuka ư?
Tên đại tướng cướp ấy? Và tim con...?
--Phải! nàng Bhađda cứng
cỏi đáp: Cha ôi! Sự sống của chàng chính là sự sống của con. Cha
phải cứu chàng. Đôi mắt của vị quan đại thần đại diện như mê sảng
giây lát, nhưng vì thương con, trái tim ông xót xa rung động.
--Nhưng mà con ơi! Sáng mai
y lên máy chém rồi, ta làm sao cứu được?
Cô gái thấy cha mềm lòng, bèn ngồi
dậy, đôi mắt xanh tươi cười, khẻ ôm chiếc đầu bạc phếu của cha.
-- Cha yêu quý! Tiền bạc
bước lọt dễ dàng vào các cửa đóng kín. Nó làm hữu lý những cái gì
phi lý, nó là vị quan tòa vạn năng, tha tội tử hình dẫu đã bị tuyên
án. Thương con, cứu con, cha chỉ quẳng cho quỷ ăn một chút xíu linh hồn
thôi mà! Vị đại thần rưng giọt lệ, tự nghĩ: Dẫu có mất môt nửa linh
hồn để đánh đổi sự sống cho con thì cũng nên lắm, huống hồ là một
chút xíu thôi.
Sau đó, ông lấy tiền bạc đút lót cho
quan ngục, và lính áp giải, tên cướp Satthuka được thả ra môt cách
dễ dàng.
Bhađda trang điểm rực rở chói ngời bằng
bảy loại ngọc nụ cười dịu hiền như đóa hoa nở trong cuộc gặp gỡ lần
đầu với Satthuka. Tên cướp như mê đi, nhưng bảy loại ngọc trang điểm
trên người nàng Bhađda lại càng làm cho y mê hơn. Đôi mắt của
Satthuka không rời đi đâu được nữa. Một mưu kế thâm hiểm đã đến với
hắn. Y nói :
--Bhađda nàng hởi! Vinh
quang thay là những hạnh phúc bất ngờ nầy. Số mệnh của anh từ nay do
em an bày. Em là Thượng Đế chí tôn của anh. Nhưng trước khi chung hưởng
hạnh phúc, em hãy hứa khả cho anh được thỏa một ước nguyện chưa
tròn.
--Hãy nói đi! Satthuka! Con
sư tử lông vàng của em. Bhađda hởi lòng dạ, trái tim nàng như nở ra
trong nụ hoa màu hồng thắm. Satthuka là tên cướp vũ phu nhưng có học,
y hiểu tất cả những điều ấy bèn nói xa xôi:
--Mỗi người có quyền có
một tín ngưỡng, hay có quyền không có một tín ngưỡng nào phải thế
không, nàng Bhađda trí tuệ?
--Phải rồi Satthuka?
--Như vậy mỗi người vốn
có một vùng đất thánh ở bên trong tâm hồn hay ở ngoài tâm hồn.
Cái đó là tự do thiêng liêng chứ, phải không Bhađda--con mèo diễm
lệ của anh!
--Chí lý thay! Satthuka.
--Cho nên dẫu là một tên
cướp, nhưng cũng có một vùng đất thánh thiêng liêng để tôn sùng và
ngưỡng mộ. Vùng đất ấy ở phía tây Vương Xá Thành, mọi người thường
gọi là Hòn núi của kẻ trộm, nhưng đây là nơi tôn thờ vị tổ sư của
các anh, vị tổ sư đạo tặc.
--Và sao nữa Satthuka?
--Trước khi bị bắt, anh có
phát thệ như sau, kính lạy vị tổ sư chí thiêng chí kính! Con đang lâm
nạn, Ngài hãy cứu con, Ngài hãy dùng mọi oai lực làm cho con thoát
khỏi tử hình, con sẽ đến lễ tạ Ngài 100 con cừu, 100 dê, cùng vàng
bạc 10 mâm, Bhađda yêu quý! Nếu thương anh, nếu muốn cùng anh chung
hưởng hạnh phúc, em hãy giúp anh thỏa nguyện lời hứa thiêng liêng
ấy!
--Hãy thực hiện đi,
Satthuka, lời hứa của anh chính là lời hứa của em. Vàng bạc không
phải là hạnh phúc. Cái mà vàng bạc đánh đổi mới là hạnh phúc.
Sau
khi triết lý ba hoa như vậy chàng cùng nàng mang lễ vật lên đường.
Đến chân Hòn núi của kẻ trộm, Satthuka cho tôi tớ trở về, chỉ có
chàng và nàng leo lên đỉnh núi cao. Suốt cuộc hành trình Satthuka
chẳng có một lời thân ái với nàng. Đôi mắt của Satthuka như dán
chặt vào bảy loại ngọc mà nàng trang điểm trên người. Cho dầu nàng
mệt lã hoặc vấp té mà Satthuka vẫn không nhìn thấy huống hồ là một
lời vỗ về an ủi. Một thoáng nghi ngờ khởi lên, Bhađda hỏi:
--Satthuka, tại sao chàng
lại cho chúng về? Vậy ai là người giữ cừu dê và vàng bạc?
Satthuka lầm lì không nói. Nàng đâu có
hiểu rằng thủ hạ của y đã làm việc ấy. Đến đỉnh, sát môt bờ vực
Satthuka quay lại:
--Bhađda hãy cởi áo ra!
Vị tiểu thơ con quan đại thần mặt tái
ngắt, nói không ra lời:
--Satthuka! Anh... Anh định
làm gì?
--Làm gì nữa! Người ngọc
tuy quý, nhưng không quý bằng bảy loại ngọc mà người ngọc đang mang
trên người. Đừng hỏi nữa! Hãy cởi áo ra và gói tất cả đồ trang
điểm ấy lại.
Đến đây thì Bhađda không còn lý do gì mà
không hiểu, nhưng nàng cũng hỏi :
--Satthuka, em có lỗi gì
với chàng? Phải chăng yêu chàng là một cái tội hở Satthuka? Bảy
loại ngọc nầy...
--Nàng tưởng ta mang bảy
loại ngọc đó là để cúng dường vị tổ cướp thiêng liêng ở núi nầy
chăng? Thông minh như nàng mà cũng có lúc ngu si mù quáng vậy thay;
vị tổ sư tướng cướp thiêng liêng ấy chính là ta đây Ha, ha, ha...
Bhađda
với tình yêu chết ngắt trong lòng: Sự thông minh bừng sáng nơi nàng
như mặt trời vừa ra khỏi hang thẳm tối tâm. Trấn tĩnh phi thường,
nàng nói:
--Vậy thì Satthuka chàng
hởi! Bảy loại ngọc nầy phần nào của chàng và phần nào của em?
--Của ta hết.
Bhađda giả vờ nhìn Satthuka một cách đắm
đuối ngây dại, rồi thở dài nói:
--Vậy thì chàng hởi! Dẫu
thế nào em cũng yêu chàng cho đến chết. Trước khi vĩnh biệt anh hãy
cho em thỏa một ước nguyện cuối cùng.
--Hãy nói đi--Tên cướp
bực bội nói lớn: Hãy nói đi cô gái si tình ngu ngốc kia. Nói rồi
chết.
Bhađda cất giọng thản nhiên:
--Chàng hãy cho phép em
hôn chàng với nguyên vẹn bảy loại ngọc trang điểm trên người.
Satthuka cười nhạt:
--Thôi nhanh đi!
Thế
là nàng thực hiện được mưu kế. Nàng ôm hôn Satthuka dẫu như ôm cục
đá cũng phải tỏ ra dịu dàng âu yếm. Nàng hôn mắt, hôn má, rồi lần
lượt hôn đến tai đến gáy, phía sau lưng. Dù là tên tướng cướp đã
mất hết nhân tính, nhưng sự vuốt ve vòng tay thơm hương của người
ngọc, cũng làm cho y ngây ngất. Lợi dụng cơ hội hiếm có ấy, Bhađda
dùng hết sức bình sanh đẩy tên cướp xuống vực thẳm trước mặt.
Satthuka biết ra thì đã muộn rồi. Thân thể to lớn của y băng băng rơi
xuống và đập đầu vào đá, cây vọng lên như tiếng núi và một hồi
chẳng còn tăm hướng rồi đời một tên cướp.
Một
vị thiên trên núi chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, cảm thán
thốt lên bài kệ :
Mưu kế tự mưu kế
Kẻ ác phải đền tội
Nhân quả lạnh lùng thay,
Biết chăng thế gian hỡi!
Nàng
Bhađda thấy lòng mình nguội lạnh như đóng tro tàn. Nàng ngỏ: Vô vọng,
dối trá, và rỗng không thay là lòng người--là tình yêu! Trái đắng
và mật đen đã quyện lên đầu lưỡi ta. Đời người vui ít, khổ nhiều.
Từ rày, ta không còn mặt mũi nào trở lại gia đình nữa.
Từ
núi cao, quên bẳng ngoại giới, nàng chìm trong tư duy suốt mấy ngày
đêm. Từ núi cao, cuộc phản tĩnh kỳ lạ đã chuyển hướng cuộc đời
nàng. Bình minh hôm kia, nàng đứng bật dậy như loài mãnh sư sau giấc
ngủ ngàn năm, nàng quăng bỏ y trang ngọc ngà châu báu, khoác manh
áo vải tầm thường tìm thầy học đạo.
Đầu tiên nàng đến một nhóm khổ hạnh
phái Ni Kiền Tử
--Hãy cho tôi xuất gia!
Chúng tò mò nhìn cô gái
trẻ tuổi dáng dấp tiểu thư khuê các một hồi rồi nói:
--Phép tu khó lắm, nữ
nhân tay yếu chân mềm như nàng làm sao kham nổi cuộc đời gió mưa khổ
ải?
--Tôi kham nhẫn được.
--Đến mức độ nào?
--Vào hạng tối thượng!
Nhóm
khổ hạnh sư thấy vẻ mặt đanh rắn, ẩn tiềm một nghị lực sắt thép
của nàng, bèn chấp thuận. Vì nàng xuất gia vào hàng tối thượng nên
chúng đã nhổ từng sợi tóc của nàng thay vì cạo bằng nứa.
Y
áo rách rưới, mặt mày chân tay đầy máu me và bùn đất; nàng bắt
đầu học hỏi giáo lý và thực hành Con đường thoát khổ với ý chí
tối thượng. Tuy thế, một thời gian sau không còn học hỏi gì ở đây
được nữa, các bậc thầy của chúng bất lực và bối rối trước những
câu hỏi của nàng.
--Chẳng có gì đặc biệt -
nàng nghĩ. Cái mớ giáo lý lẫn thực hành nầy chỉ đưa đến rỗng không
và hạ liệt, nó không rành rẽ cho kẻ trí, nó chỉ rành cho kẻ ngu.
Từ
đây nàng Bhađda lang thang từ xứ nầy đến xứ khác để tìm kiếm, tham
vấn các bậc minh sư. Nàng xuất hiện trước họ như những gì sâu sắc
của trí tuệ, nói thẳng vào những tối tăm và ngu dốt của giới Bà La
Môn truyền thống và kinh viện. Không ai tranh luận nổi với nàng. Có
những đóng cát được nàng vun lên rồi cắm ở đây một nhánh diêm phù
đề (nhành dương liễu) trên lối vào các thành. Đấy là dấu hiệu
thách thức khiêu chiến, luận tranh của nàng đối với thiên hạ đạo
học.
Suốt
một tuần như thế, nhánh diêm phù đề vẫn sừng sững ngạo mạn. Chẳng
có vị giáo chủ minh sư nào dám nhổ lên để chấp nhận cuộc luận
chiến nầy.
--Ở đây không có
người-nàng nghĩ-Ôi! Thiên hạ mênh mông nhưng đâu là bậc thầy tối
thượng, soi sáng con đường thoát khổ cho ta?
Thế
rồi, Bhađda lại nhổ lên...đi phương khác, trên lối đi vào thị trấn,
làng mạc, xứ nầy, xứ kia, nhánh diêm phù đề của nàng vẫn nghiễm
nhiên bất khả xâm phạm.
Đã
ngày tháng tuyết sương mòn mỏi, hôm kia nàng đã du hành Xá Vệ. Đức
Thế Tôn lúc đó đang thuyết giảng tại tịnh xá Kỳ Hoàn, chúng đệ tử
vây quanh. Buổi sáng tôn giả Xá Lợi Phất đắp y mang bát đi vào cổng
thành. Thấy nhánh diêm phù đề trên đóng cát trên cao, Ngài dừng
chân lại.
--Của ai thế? Ngài hỏi
một người.
--Của nàng Bhađda, một khổ
hạnh Ta Bà Ni Sư tối thượng.
-Người ta trả lời.
Tôn
giả đưa mắt tìm kiếm, không bao xa dưới cội cây một Ta Bà nữ đang
ngồi kiết già, với gậy với bát bên chân, dung sắc phi phàm, cao
ngạo lạnh lùng.
Có
xứng đáng cho ta nhổ nhánh cây để tranh luận chăng? Ngài Xá Lợi
Phất thầm nghĩ-Nhưng mà được gì? Ích lợi gì? Giáo lý tối thượng nầy
không phải để luận chiến, đấu khẩu hơn thua tại các ngã ba đường,
nơi chợ búa, nơi đám đông. Giáo lý nầy, giáo lý vô dục, tịch tịnh
chỉ để dành cho nhân duyên, kẻ có tai, mắt và trí tuệ. Nghĩ xong, tôn
giả bước đi. Những kẻ hiếu sự xung quanh la lên :
--Đệ tử ông Thích Ca Đại
Sa Môn thua rồi!
--Ta Bà Ni Sư khổ hạnh
nghiễm nhiên vô địch
Vẫn
không quay lại, Tôn giả Xá Lợi Phất cất giọng điềm đạm với đám
đông: Chưa có ai dám đánh bại ta về tư tưởng, kiến thức, trí
tuệ...lẫn sở chứng... cho dẫu là các bậc minh sư, giáo chủ...cho dẫu
là vua quan, chư thiên, Phạm thiên...huống hồ Ta bà Ni nầy. Trên trời
dưới đất, duy nhất chỉ có Đức Tôn Sư của ta là bực thầy ưu việt và
tối thắng. nhưng thật rỗng không và vô vị là những cuộc tranh luận,
khẩu tranh, được danh và mất danh nầy chỉ tự ta biết là ta thắng hay
bại mà thôi.
Tôn
giả dươn chân bước đi, nhưng Ngài phải dừng lại. Nàng Bhađda đã để ý
đến vị Sa Môn trẻ tuổi từ khi Ngài xuất hiện. Nàng nghĩ: Chẳng có ai
mang vẻ đẹp khác phàm và thanh thoát đến thế! Chàng Sa Môn trẻ tuổi
nầy đã làm cho ta bị nhiếp phục bởi dung mạo, dáng đi, cử chỉ. Lại
càng bị nhiếp phục hơn bởi thái độ và ngôn ngữ. Vậy thì người nầy,
đấng nầy phải có một trí tuệ phi thường?
--Đứng lại, ông Sa Môn!
Nàng nói-Nếu ông không tự ý nhổ nhánh diêm phù đề luận chiến thì
tự ta thách thức một cuộc luận chiến vậy.
--Để làm gì hởi Ta Bà Ni
Sư?
Bhađda cất giọng như tiếng
vua loài chim giữa núi cao:
--Này chàng Sa Môn đáng
kính trọng, ta khao khát tri thức và hiểu biết, lại càng khao khát hơn
là những tri thức và hiểu biết dẫn đến tịch lặng và chân phúc.
Nhưng đã mòn trán, ta bà khắp thế gian, chưa ai cho ta một câu trả
lời đúng đắn, hoàn hảo, chỉ là những tri thức phù phiếm rỗng không
dẫn đến ngu độn và hạ liệt. Ở nơi tôn giả, ta thấy toát ra cái gì
khác thế, biết đâu đó là hào quang trí tuệ thượng đẳng? Ta cần
biết, vậy hãy luận tranh cùng ta, Tôn giả Xá Lợi Phất tự nghĩ: Nghe
nói rằng tri thức cùng lý luận của nàng như lưỡi dao sắc nhọn đi
đến xứ nầy xứ khác như chỗ không người. Đức Thế Tôn đã giáng thế,
khi mặt trời vừa lên, không còn ai mà cầm đèn đi giữa ban ngày. Vậy
hãy nhiếp phục nàng. Đặt nàng vào chánh đạo. Đặt nàng vào quy
giới. Đấy cũng là lợi ích cho nàng, tăng trưởng đức tin cho tứ chúng
và thắp lên ngọn đuốc trí tuệ của giáo pháp thù thắng vô địch.
Thế
là tôn giả Xá Lợi Phất cho nhổ nhánh diêm phù đề, bá cáo một
cuộc tranh luận sẽ khởi vào buổi chiều.
Nàng Bhađda nghĩ rằng cuộc luận chiến sẽ
không mang lại khết quả nếu như không có sự tham dự đông đủ của Sa
Môn, Bà La Môn, các tầng lớp gia chủ, trưởng giả cùng quần chúng
hâm mộ. Vã chăng đại danh đệ tử trưởng của Phật cùng với lời đồn
đãi về Ta Bà Ni Sư khổ hạnh đủ để tạo một cơn lốc hiếu kỳ rầm rộ.
Với
đại y ngang vai, tôn giả Xá Lợi Phất xuất hiện giữa đám đông như
ngôi sao rực rỡ, vàng chói, khuôn mặt bình an, tự tin đến độ làm cho
nàng Bhađda phải rung động.
Lần đầu tiên nàng cảm thấy sợ hãi
trước một đối thủ trẻ tuổi. Tuy thế nàng đã trấn tĩnh kịp thời, lấy
lại bản lảnh để đi vào cuộc tranh luận có mộtkhông hai nầy.
--Thưa tôn giả, nàng
nói--Trước tiên tôi xin được hỏi cuộc tranh luận nầy lập ngôn ở
đâu? Lập ý ở đâu? Lập nghĩa ở đâu? Xin Ngài cho biết?
Chỉ
một câu hỏi mở đầu, đám đông quần chúng đã nín thở, hồi hợp. Chỉ
một câu hỏi người ta đã tiên liệu cuộc đụng độ sẽ hào hứng cho tri
thức và luận lý dường bao. Chàng Sa Môn kia quá trẻ tuổi, quá non
nớt, sợ rằng chỉ một câu nầy thôi chàng sẽ xin rút lui, đầu hàng
vô điều kiện.
Nhưng
kìa. Khuôn mặt vị Sa Môn vẫn bình an tự tại và dường như trên môi có
thoáng nụ cười.
--Này Ni Sư khổ hạnh -Tôn
giả Xá Lợi Phất chậm rãi đáp--Bần đạo xin được trả lời.
--Ngôn lập tại ý, ý lập
tại nghĩa, nghĩa lập tại ngôn. Nó
tương quan, lập, duyên khởi lập. Cái nầy sanh thì cái kia sanh, cái
nầy diệt, thì cái kia diệt, thưa bà.
Ồ! Mọi người chợt reo lên một tiếng thoải
mái, bởi câu hỏi dường như kiêu kỳ, tối tăm, khó hiểu. Câu trả
lời không những chính xác mà làm cho câu hỏi trở nên sáng nghĩa hơn.
Nàng Bhađda giật thót mình, nàng không thấy một khe hở nào, dầu chỉ
bằng sợi tóc để đả phá nó. Tuy thế, sẽ tung ra những câu hỏi hóc
búa, không có đường mà đón đở, nàng nghĩ:
--Tôn giả đã đáp rất tuyệt vời--nàng nói--Vậy giờ xin
được hỏi :
--Tôi đang hân hạnh nói chuyện với ai đây? Đó là câu hỏi
thứ hai.
--Câu hỏi này đáng lý bần đạo không trả lời--Ngài Xá
Lợi Phất nói--vì nó thuộc lý luận, phù phiếm luận, không đưa đến
yếm ly giác ngộ thắng trí, niết bàn. Nhưng Ta Bà Ni Sư đã hỏi, bần
đạo sẽ trả lời cho tuyệt bặt mọi tư duy tương tự, làm cho rỗng không
mọi tri thức xa rời mục đích thực tế của Sa Môn hạnh. Mọi câu hỏi
đi sau cũng thế. Nàng Bhađda! Bây giờ bần đạo xin được vào câu trả
lời. Người ta gọi bần đạo là Xá Lợi Phất! Hãy nghe cho kỹ đây!
Giáo pháp của đức Thế Tôn soi rọi cái rỗng không của các pháp,
dẫu tâm hay vật, làm cho vô tự tính mọi thực tại tính, làm cho vô
ngã tính mọi hữu tồn dẫu là Atman, Brahman hay đại ngã. Hãy nghe cho
kỹ đây!
Giáo
lý ấy không trườn uốn như con lươn, không chẻ sợi tóc làm tư, không
sợ kẹt trên ngôn ngữ rằng đây là thường kia là đoạn, giáo lý ấy
dành cho người tu chứng, kẻ có trí nghe ắt hiểu. Hãy nghe cho kỹ đây!
Không những là Xá Lợi Phất, cái tên gọi giả danh nhằm chỉ vào cái
thực. Nhưng mọi cái thực ấy, dẫu là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức
phải được nhìn cho rõ ràng bằng trí tuệ như thực, như chơn là nó
không phải ta, không phải là ta, không phải của ta, không phải tự
ngã của ta. Này nàng Bhađda! Câu hỏi của nàng thuộc lý luận rỗng
không phù phiếm, câu trả lời của bần đạo đã đặt chúng trên thực
tế, chánh đạo, hãy nghe và hãy thọ trì.
--Chưa ai dám tự tin như thế Nàng Bhađda thầm nghĩ. Người nầy
đã có sẵn những cái kết luận ở đâu đó, như từ một kho tàng, bây
giờ chỉ việc đưa ra, không cần dựa theo một suy luận nào đó của sở
tri. Tuy thế mọi khe hở đều được bịt kín. Y có tu chứng của mình. Vậy
thì ta sẽ hỏi ngay nơi cái thực ấy.
--Này ông Sa Môn! Câu trả lời của ông chẳng phải xa lạ
gì. Ta đã từng nghe những con vẹt cũng đã hót lên như thế, chỉ có
điều ông tự tin và vững chãi hơn, do ông có cái thực ở nơi sự tu
chứng của mình. Hãy nghe đây! Bây giờ ta sẽ hỏi ngay chính nơi cái
thực ấy. Hy vọng rằng ông không trườn uốn như kiểu là không phải
ta, không phải của ta. Hy vọng rằng ông trả lời khác, giản dị và
uyên áo hơn. Hãy nghe đây! Đây là câu hỏi thứ ba. Cái thực ấy còn
bị định luật nhân quả chi phối hay không, còn bị định luật nhân quả
chi phối? Hãy trả lời ngay đi. Hãy trả lời mà đừng hủy hoại ngôn
ngữ, như dao chém nước.
--Này nàng Bhađda!--Tôn giả Xá lợi Phất vẫn kiên định như
phong thái của con mảnh sư-- chẳng cần phải lớn lối như thế. Hãy nghe
đây, nếu cái thực ấy mà còn định luật nhân quả chi phối thì cái
thực ấy chỉ là khổ đau, nhiệt não, tử sanh. Nếu cái thực ấy không
còn bị định luật nhân quả chi phối thì đồng nghĩa với hư vô, cái
không thực hữu, cái vô tự tính, cái ngoang không niết bàn.
Này nàng Bhađda, hãy nghe đây! Đây là cái dao chém nước
như nàng muốn. Cái thực ấy là cái sáng suốt, mặt trời đại huệ.
Cái thấy từ tâm, trí, tư tưởng trí mà có, từ tuệ, tuệ minh, cái tuệ
minh ấy nó có trong tâm của bậc giác ngộ, bậc A La Hán, kẻ đã đoạn
tận lậu, hoặc giải thoát khổ đau và phiền não; này nàng Bhađda cứ
như thế mà thọ trì!
--Chưa thể thọ trì được--Ta Bà Ni chợt hét lên như con thú
bị tử thương--Ta chưa chấp nhận điều ấy, hởi ông Sa Môn đại ngôn kia.
Hãy nghe đây! Đây không phải là câu hỏi thứ tư mà đây chỉ là phản
vấn. Ông nói rằng có một cái tuệ minh, xin lỗi tôi có lầm chăng,
một cái tuệ minh? Vậy thì giáo lý vô ngã, vô tự tính của Đức Tôn
Sư của ông sẽ không còn chỗ đứng, bất khả lập, bất khả thuyết, và
nó đã mâu thuẫn tự tiền căn? Vậy phải trả lời làm sao cho kẻ học
nữ Ta Bà khổ hạnh nầy: một giáo thuyết thường kiến vậy kia?
--Hãy bình tĩnh! Hãy bình tĩnh! Này nàng Bhađda đừng tự buộc
vào mình những thằng thúc! Đừng tự bịt mắt trước ngọn đèn sáng suốt
tự tâm. Hãy nghe đây! Cho bần đạo hỏi một câu, với một câu thôi
nàng sẽ tự giải quyết cho chính mình. Câu hỏi như thế nầy: Cáng của
ngọn đèn trước mắt nó thường hay nó đoạn.
--Chẳng phải thường--Nàng nghĩ--Thường sao được khi nó sinh
diệt từng giây từng khắc! Chẳng phải đoạn, đoạn sao được khi nó đang
hiện hữu!
Thấy nàng Bhađda im lặng, tôn giả Xá Lợi Phất tung câu
hỏi thứ hai :
--Này nàng Bhađda! đây là câu hỏi thứ hai nhằm gợi ý cho
nàng để nàng bước ra khỏi cái lẩn quẩn, loanh quanh của các luận lý
Thường, đoạn, có, không. Đây là câu hỏi: Thuở nàng 5 tuổi, nàng
thấy một bông hoa. Thuở 30 tuổi nàng thấy một bông hoa. Nàng có thay
đổi cái hoa dẫu có khác, quan niệm đẹp xấu dẫu có khác, nhưng cái
thấy của nàng có thay đổi không?
--Không thể thay đổi, thưa tôn giả.
-Nó chẳng phải là thường không?
--Bất khả thuyết--Nàng Bhađda buộc miệng trả lời như vậy
rối tự nghĩ: Ta đã tự trói mình, vậy thì hãy vùng vẫy khi còn vùng
vẫy được. Gã Sa Môn nầy đã bủa vây ta bằng một chiếc lưới quá
kiên cố và quá chặt chẻ. Nhưng dễ gì ta chịu hạ phong.
--Khá lắm, này ông Sa Môn hãy nghe đây! Ta sẽ chịu dừng
với ông chung một vùng đất. Mặt đối mặt để trổ tài sở tri Ta tạm
thời chấp nhận cái thuyết tuệ minh ấy, nhưng ta muốn hiểu cái sở tri
về bậc A La Hán ở nhiều phươngdiện khác nhau. Vị ấy làm thế nào
bước ra khỏi giòng bộc lưu sanh tử.
--Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là chìm đắm. Bậc A La
Hán không bước tới, không dừng lại, vị ấy ra khỏi giòng bộc lưu sanh
tử! Này nàng Bhađda cái đáp số ấy thậm thâm vi diệu, vi tế, vượt
ngữ ngôn, vượt suy luận, dành cho kẻ trí, kẻ thâm đại pháp, dành cho
kẻ tu chứng. Có lên đường ai ăn mới biết no, chứ không phải để cho
nàng-kẻ ngoại giáo, kẻ đứng ngoài cuộc, kẻ với tri thức thuần
túy-muốn dùng cái hiểu biết nông cạn, cái tự ngã kiêu căng và đa
dục của mình, để nắm bắt cái siêu việt không thời gian, cái bất
tử, cái chân phúc, cái niết bàn vô dục và tịch tịnh. Này nàng
Bhađda!
Này nàng Bhađda! Nàng có kham nhẫn tịch
lặng để lắng nghe những lời như vậy không?
Ta Bà Ni Sư tức giận đến tím mặt, run lẩy bẩy, những
lời những chữ kia như lưỡi kiếm tàn bạo đục khoét vào tim cật nàng.
Tuy thế, với trấn tĩnh phi thường, nàng mĩm cười:
--Chớ có nương tay, thưa tôn giả--Nàng nói--Tạm thời ta
chấp thuận rằng điều đó là có thực, nhưng điều đó thuộc vùng đất
khác, tư duy khác, quan niệm khác, ta không biết lấy gì kiểm chứng.
Bây giờ tôn giả có dám bước qua vùng đất của tôi, thuộc giáo lý
khác, để đi cho cùng tận chân trời sở tri?
--Dám lắm--Ngài Xá Lợi Phất bình tĩnh trả lời--Là đệ tử
của Đức Tôn Sư vô năng thắng, ta sẵn sàng luận tranh, không khoan
nhượng bất cứ một giáo pháp nào trong thiên hạ. Im lặng thì im lặng
như chánh pháp, nói năng thì nói năng như chánh pháp. Đây là chân
ngôn của các đệ tử Đức Tôn Sư.
Thế là nàng Bhađda bắt đầu hỏi, Ngài Xá Lợi Phất tuần
tự trả lời. Đầu tiên nàng mang ra ba tập Phệ Đà, đặt những câu hỏi
thuộc lãnh vực tri thức thuần túy. Từ chương kinh viện, truyền thống,
ngay cả danh nghĩa lễ nghi, giữ nguyên chú giải ngữ pháp, văn phạm,
lịch sử. Người hỏi đã chứng tỏ một tri thức quãng bác thâm sâu.
Người trả lời lại càng chứng tỏ thông hội vấn đề một cách minh
bạch. Những điều thuận thế luận, đại nhân tướng, chiêm tinh, thiên
văn, địa lý, bùa chú. Ngài Xá Lợi Phất lại càng chứng tỏ cho nàng
Bhađda Thấy rõ sự nghèo nàn, hời hợt nông cạn, thô thiển của mình.
Ngài không những hiểu qua danh lý mà còn là nhà bác
học về chúng đến cội nguồn. Hơn nữa điều quan trọng và đáng nói
hơn, Ngài đã quẳng chúng mà đi như quẳng một mớ giẻ rách... Từng
vấn đề, từng vấn đề... từng lúc, từng tế nhị, khó nắm bắt và khó
lãnh hội. Nó đi từ gần đến xa, xa đến vô tận. Từ vô tận nó trở
về và nhỏ lại như vi trần như mảnh lau vi trần, hư không, tư tưởng
tâm niệm, sát na...
Thính chúng bàng hoàng, ngơ ngẩn nàng Bhađda bàng hoàng
ngẩn ngơ. Nàng không biết hỏi gì nữa. Nàng không còn nhìn thấy một
đốm lửa nào nữa khi mặt trời kia đã chói lọi. Nàng đã hoàn toàn bị
nhiếp phục.
Tôn giả Xá Lợi Phất với
thiên nhản, Tha tâm thông, thấy rõ tâm địa nàng, đưa ra một câu hỏi
kết thúc. Một câu hỏi vứt bỏ sở tri để dẫn nàng về với giáo lý
thiết thực hiện tại.
--Bây giờ tới phiên ta hỏi, này nàng Ta Bà Ni Sư khổ hạnh
: Thế nào gọi là Một?
Thời gian lặng lẻ trôi qua khi câu hỏi được đặt xuống.
Quần chúng nín hơi, nghẹt thở. Vừng trán nàng Bhađda từng hạt mồ hôi
to bằng hạt bắp không ngớt tuôn ra. Mái tóc lún phún đã bắt đầu
điểm bạc. Một triệu kiếp tư duy cũng không trả lời được câu hỏi
tầm thường, giản dị kia. Chỉ với một câu hỏi mà nàng Bhađda của
chúng ta đã già đi ngàn năm.
--Này nàng Bhađda! Nàng hỏi ta một câu, mười câu, trăm
câu, ta đã trả lời nàng đầy đủ cả chặng đầu, chăng giữa,chặng
cuối, thế mà ta chỉ hỏi một câu, nàng cũng không trả lời ta Một là
gì? Một là thế nào? Mà nàng cũng không hiểu, không biết. Thế mà
nàng lại đòi biết cho kỳ được cổ kim thiên hạ sự, đòi hiểu cho hết
chuyện trên trời dưới đất. Kinh như núi, chữ như rừng... thế đấy! Là
trí tuệ của người đi cắm nhánh diêm phù đề khắp cả thiên hạ.
Như thân cây bị chặt đứt, nàng Bhađda chợt phủ phục
xuống bên chân bậc trí tuệ bậc nhất.
--Kính lạy tôn giả con chịu thôi, không một câu hỏi nào mà
con dám trả lời nữa. Với một tự ngã kênh kiệu vô tư, con đã đi
đánh trống khắp cửa mọi nhà, để bây giờ biết rằng đất trời vô
lượng. Tôn giả đã kham nhẫn, từ bi soi sáng cho con, chỉ đường cho con,
đem đèn vào trong bóng tối để ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Cũng
vậy, xin Ngài xá tội cống cao ngã mạn của con, cho con trọn đời quy
ngưỡng.
Nàng Bhađda phủ phục năm vóc sát đất. Quần chúng reo
hò. Chư thiên hoan hỷ. Ngài Xá Lợi Phất chợt đứng cao 10 tầm thốt
nốt, thò tay đụng mặt trời, mặt trăng, cất giọng phạm âm với tâm
tuyệt hảo:
--Này hởi Bhađda! mừng thay cho nàng vứt bỏ được sở tri và
tự ngã, mừng thay cho nàng thức tĩnh sau đêm trường mộng, hé mở con
mắt pháp để thấy rõ giáo lý vô dục thực tiển, thậm thâm, có khả
năng làm yên lặng khổ đau, phiền não. Hãy hướng đến Đức Tôn Sư của
ta cùng tăng chúng thánh hạnh.Bậc cao cả đang ở tại tịnh xá Kỳ
Hoàn. Nàng hãy đến nghe pháp rồi quy y với Ngài.
Sau đó nàng Bhađda đến kỳ viên đảnh lễ Đức Phật rồi
ngồi nép một bên phải lẻ. Thấy căn cơ nàng đã thuần thục, Đức Thế
Tôn chỉ nói vắn tắt một kệ:
Dầu nói ngàn câu kệ,
Nhưng không chút lợi ích
Tốt hơn nói một câu
Nghe xong được tịnh lạc.
Và tức khắc, ngay sát na ấy, nàng Bhađda đã chứng quả A
La Hán với pháp Tín Thọ, nghĩa là tín thọ.
Đức Thế Tôn tự thân trao đại giới cho nàng.Nàng Bhađda
được biết là vị tỳ kheo A La Hán im lặng, thiền duyệt và đi ta bà cả
khắp quốc độ.
CHƯƠNG BỐN
CƠ CẤU LÝ THUYẾT VỀ TRI KIẾN
I.-THEO KANT
(TC
Triết 2, Karl Jaspers, N.H.Liêm, 137-193)
Kant
đưa ra một hệ thống lý thuyết về tri kiến rất phức tạp và sâu
rộng.
1.- Tính lưỡng phân (The Dichotomy):
Ý
thức (consciousness) tác động trong tính lưỡng phân giữa chủ thể suy
thức (thinking subject) và đối thể (thought object). Trong tri kiến, tôi
phán đoán (judge) một cách tự phát, nhưng không phải là trong khoảng
không. Rằng trong tác năng suy thức của tôi có một tính khách quan
là nhờ tác năng nầy được chất chứa bởi trực giác của cái gì đó
có sẵn đưa đến cho tôi để tôi cảm nhận đến nó được. Do vậy, có hai
thành phần của tri kiến: tự phát (spontaneity) và tiếp cảm
(receptivity), hay là hiểu biết tri giác (understanding) và cảm quan
(sensibility).
2.- Cảm quan, Không, Thời:
Hễ khi nào tôi biết đến cái gì qua trực
giác, cái gì đó đã đưa sẵn (given) cho tôi-Kant gọi cái gì nầy là
cảm quan (sensibility). Và trực giác không gì hơn mà chỉ là giác quan.
Và nếu không có cảm quan thì không có thực tại. Nó là nhân chứng
cho chúng ta nhận thấy được thực tại. Cảm quan không phải là một hệ
thống của cảm giác (sensation)-mà là, theo Kant, là thực tính vật thể
(physical actuality).Chúng ta hãy khai sáng vấn đề nầy qua tỷ dụ sau:
Đối
thể là cái bàn trước mặt. Chúng ta tiếp nhận nó, qua cảm giác, một
cách tự khởi: màu, ánh sáng, bóng. Nếu ta bỏ hết tất cả những cái
liên hệ đến giác quan, chúng ta vẫn còn có thể tướng (form) và
trương độ (extension), hay là spatiability (thực tại không gian). Khoảng
không gian nầy thuộc về trực giác vì nó không được cảm nhận bởi
một cơ năng cảm giác nào cả. Dĩ nhiên, cái bàn nầy không những chỉ
thuộc về cảm giác và không gian. Nó còn là một thể trạng khách
quan tự hữu-khi cái bàn tồn hữu cho tôi chỉ khi qua tác động đối
chọi mà trong đó giác quan và không gian trở thành một yếu tố của
đối thể nầy. Ngoài ra, cái bàn nầy còn mang một nội chất
(substance), ví dụ lực cản tự hữu từ vật thể. Như thế, cái bàn có
ba yếu tố: cái của cảm giác; không gian như là hình thức của trực
giác; và phạm trù của nội chất. Chúng không điều hợp lẫn nhau, mà
cái nầy nằm trong cái kia, cái kia bao hàm cái nọ.
Với
một thủ tục như thế, chúng ta không phải là đang phân tích cái bàn
mà chỉ là nghiên cứu bản chất khách quan của nó như là một đối thể
cho kiến thức: cảm giác, vị thế không-thời, trực giác và phạm trù.
Tất cả các yếu tố trên có thể tách rời ra khỏi giác quan, ngoại
trừ yếu tố không-thời, vốn là thuần thể tướng (pure forms).
Từ
đó, câu hỏi phải được nêu lên: Có phải không và thời là thực tính
tự hữu-vốn tồn hữu ngay cả khi không có một chủ thể biết đến,
nghĩa là một thực tại tuyệt đối? Hay chúng chỉ là thể trạng của
trực giác phát xuất từ chủ thể, mà từ đó kiến tạo nên đối thể,
hay là, nếu không có chúng (forms) thì đối thể không thể tồn hữu?
Có phải thực tại không và thời tùy thuộc vào chủ quan? Theo Kant thì
ông nghiêng về vế thứ nhì bằng cách chứng minh rằng: (a) Không gian
không thể được rút ra khỏi kinh nghiệm, bởi vì, tự khởi thủy, nó
nằm ngay nền tảng của kinh nghiệm và là điều kiện căn bản cho sự
hữu của đối thể cho tôi. Do đó, (b) không gian là một trực giác
tiên nghiệm, a priori intuition, thiết yếu. Chúng ta không thể hình dung
ra một đối thể mà không có một không gian; nhưng chúng ta có thể
hình dung ra không gian mà không cần đến đối thể. Và (c) sự phân chia
không gian (divisions) không gian không thể là tiên quyết (precede)
không gian như là những cơ phận của nó vốn được hợp nhất vào với
nhau, mà chúng bao gồm lẫn nhau.
Kế
đến,Kant đưa ra một cơ chế lý giải qua bằng chứng (prơof): Trong hình
học, chúng ta biết a priori đến những liên hệ áp dụng được vào thực
tại-không bằng duy khái niệm, mà bằng mô giới trực giác. Những
thông tuệ (insight) về hình học không được từ kinh nghiệm nhưng lại
được kiểm chứng bằng kinh nghiệm. Làm sao có được chuyện nầy? Chủ
thể, bằng thể trạng trực giác, nhận ra một thực tế vốn đã được
kiến tạo bởi nó. Từ đó, Kant kết luận: không gian không phải là
thuộc tính (attribute) của một cái gì tự nó (thinh in itself), nhưng chỉ
là một cái gì khi nó trình diện ra cho đối thể, có nghĩa rằng, nó chỉ
là nó là một hiện tượng (phenomena). Và chúng ta loại bỏ hết tất
cả những điều kiện của trực giác thì không gian sẽ không tồn hữu
(đối với chúng ta). Và chỉ có từ quan điểm con người mà chúng ta mới
có thể nói đến không gian.
Còn
vấn nạn của Thời? Khác với không gian, vốn là thể dạng của trực
giác cho cái bên ngoài, Thời là thể trạng của cái bên trong (inner
sense) và bao gồm tất cả các hiện tượng. Chúng ta không thể biểu
hiện Thời cho chính nó bằng thể dạng bên ngoài-ngoại trừ chúng ta
phải dựa vào không gian, ví dụ như vẽ biểu đồ Thời thể bằng một
gạch ngang từ t1 đến t2.
Quan
điêm như trên của Kant về Không và Thời- như là thể trạng của trực
giác về vật thể, mà không là thực tại tự hữu-được gọi là duy tâm
luận (idealism). Dĩ nhiên, Kant không phải là triết gia khởi đầu cho
trường phái duy tâm. Trước đó, có kẻ cho rằng thế giới nầy chỉ là
ảo giác, không thật. Kant tố cáo quan điểm đó và cho nó là scandal
triết học. Theo Kant, thế giới là thể hiện (appearance), chứ không
phải là ảo tưởng (illusion). Hay nói một cách khác: Không và thời
có hữu tính và giá trị thực chuẩn (validity) khách quan với những đối
thể đến với chúng ta, cũng như có giá trị nội tại đối với năng lực
chủ quan. Chúng có lý tưởng tính (ideality) bởi vì những gì biểu hiện
cho chúng ta không phải là cái gì tự chúng nó (thing in-itself). Kant
nói, Không và thời có thực tại nghiệm thể (empiric reality), nhưng,
(với) lý tưởng tính siêu nghiệm (transcendental ideality). Bởi vì sao?
Theo Kant, và đây là chủ thuyết quan yếu của ông, cái thực tính tự
hữu, the thing in-itself (ding un-sich), không thể nào thể hiện ra cho
chúng ta.
3.- Suy Tưởng (Thinking):
Đối
với Kant thì không, thời và vật thể đưa đến cho giác quan tất cả chỉ
là một yếu tố cho kiến thức, cái yếu tố khác là tư tưởng (thought).
Tất cả những thể thức của tư tưởng chỉ có thể cho chúng ta nhận
thấy sự vật như là nó thể hiện chứ không phải là tự tính của nó.
Lý do là khi chúng ta có được một trật tự cảm quan, qua thể thức
chủ quan của trực giác, không và thời, từ đó chúng ta sản xuất ra
những hình thái vật thể từ kinh nghiệm bằng thể thức chủ quan của
suy tưởng. Thể thức cho suy tưởng nầy là những phạm trù (categories).
Phạm trù là cái khuôn mà chúng ta kiến tạo nhằm cai quản những thể
dạng cho suy thức- bất cứ đối thể nào tồn hữu cho chúng ta. Vì vậy,
cấu trúc phạm trù trong suy thức tạo ra một hiện hữu của đối thể
chỉ thuần trên phương diện hiện tượng. Cái gì mà ta nhận biết, cảm
quan được, phải qua những khuôn thức chủ quan- những phạm trù của suy
tưởng. Và bất cứ cái gì có thể tồn hữu, mà thực ra là nó không
thực sự tồn hữu tự nó, qua khuôn thức trực giác và tư tưởng, đều
là của thực tại nghiệm thực (empirical reality).
Để
khai sáng thêm những tiền đề trên, Kant sử dụng hai khái niệm:
analytic judgement (phán định phân tích) và synthetic judgement (phán định
dung hợp). Đây là hai chìa khóa mới và căn bản cho hệ thống tri thức
luận của Kant.
Jaspers tóm tắt những suy luận của Kant
như sau:
a. Suy
tưởng là tác năng liên hợp (act of relating) của trực giác tới đối
thể. Không có một đối thể nào mà không được nhận thức (cogitated);
và không có suy tưởng vô đối thể ( no thinking without an object). Trực
giác không thôi thì chưa đủ để kiến tạo đối thể, mà cần tác năng
của suy tưởng.
b. Sự
tồn hữu của một đối thể tiên giả định (presupposes) sự phân định
(differentiation). Một đối thể là đối thể nầy (định thể) chỉ khi nào
nó không là một cái khác. Nhưng cùng lúc, mỗi đối thể tự nó là
là một và cái khác; cái suy tưởng về nó tiên giả định một chủ thể
và một thuộc tính. Do đó, suy tưởng liên tục phân chia và kết hợp.
c.
Một đối thể được thống hợp trong tư tưởng là chỉ nhờ vào sự thống
hợp của tác năng suy tưởng. Khi suy tưởng là khi thống hợp tất cả
các biểu hiện về trong một ý thức (consciousness). Phán định là chức
năng của sự thống hợp của sự biểu hiện.
d.
Tất cả suy tưởng đều phải bao gồm cái Tôi suy nghĩ (I think) vốn phải
có khả năngkèm theo tất cả những biểu hiện. Cái Tôi nầy vốn đồng
tính với chính nó (identical with itself), tương ứng (corresponds) tới sự
thống nhất của sự phán định và đối thể của nó. Tất cả suy nghĩ đều
được chuyển động trong sự thống hợp nầy- mà tư tưởng sở dĩ có giá
trị là nhờ vào nó. Sự thống hợp khách quan có căn bản từ một
thống hợp chủ quan cao độ- cái mà Kant gọi là transcendental
apperception (siêu cảm thức). Từ đó, phán định là phương pháp để đưa dữ
kiện tri thức tới cho sự thống hợp khách quan của siêu cảm
thức.
Chức
năng quan yếu nầy được gọi là synthesis (dung hợp). Sự dung hợp nầy
sản xuất ra tư tưởng theo thể thức của nó- và phát sinh ra khái
niệm. Điều nầy trái với quan niệm thông thường cho rằng khái niệm
đến bởi sự trừu tượng hóa những gì phổ quát từ những trường hợp
thực nghiệm. Do đó, theo Kant thì những gì phổ quát (universal) trong
nội dung tư tưởng là tác phẩm của sự dung hợp thực hữu (concrete
synthesis).
e. Chỉ
có trực giác cảm quan liên hệ trực tiếp, tức khắc đến đối thể. Khi
trực giác trở nên đối thể, cái phổ quát, cái phạm trù, đi vào
trong nó. Vì thế không có một đối thể nào của tri kiến được lãnh
hội trực tiếp bởi chủ thể; tất cả phải được luôn luôn trung giải
(mediated). Chúng ta chỉ suy tưởng tới một cái gì qua khái niệm. Kant
đưa lên tiền đề cho lý giải nầy : Sư hiểu biết là discursive (suy
giải), không phải là trực giác. Nó trải qua một chuỗi qua lại giữa
những gì mà nó kết hợp; bằng phương cách hóa giải nó đi đến cái
trực tiếp, nó biết qua khái niệm vốn không là cái đối thể cho chính
nó.
4.Từ Phán Định Đến Phạm Trù:
Phạm
trù là thể thức của suy tưởng (form of thought).Ví dụ như những khái
niệm nội chất (substance) hay là nhân quả (causuality) là những phạm
trù kiến lập (constructive categories). Khi một đối thể được sản xuất
bởi suy tưởng, về cái thể của nó, thì phạm trù và thể thức phán
định của nó quyết định lẫn nhau. Cả hai đều phát xuất từ một nguồn
gốc trong cái Tôi suy nghĩ của siêu cảm. Những thể thức căn bản của
phán định hướng dẫn nền tảng thể thức của phạm trù. Cái kiến lập
thống nhất cho phán định cũng kiến lập sự thống nhất cho cho đối
thể. Và từ đó mà Kant lấy các phạm trù ra từ các thể loại phán
định. Từ cái nguyên lý tổng quan của tư tưởng, vốn nằm trong hệ
thống thể thức của phán định, Kant muốn xác quyết những điều kiện
tối hậu của tri thức, và từ đó để lấy ra những phạm trù vốn kiến
tạo nên tất cả thực tại, cái thể thức cho mọi vật có thể xẩy ra
cho chúng ta trong thế giới nầy.
Theo
đó, Kant đưa ra những thể thức phán định (forms of judgement) sau đây-
được giả định là có sẵn (given):
Lượng:
Phổ quát universal), đặc thể (particular), cá thể (individual);
Phẩm:
Xác định (affirmative), phủ định (negative), vô hạn (infinite);
Liên
hệ (relational): Phạm trù (categoric), hypotheric (giả thuyết), ly tiếp
(disjunctive);
Thể
thức (modal): Vấn đề (problematic), quả quyết (assertoric), hiển nhiên
(apodictic)...
Theo
đó, thì Kant đưa ra cấu trúc phạm trù như sau:
Lượng:
Thống hợp (unity), bội gia (multiplicity), phổ quát (universality).
Phẩm:
Thực tại (reality), phủ định (negation), giới hạn (limitation).
Liên
hệ: Nội tính (substance), nhân quả (causality), hỗ tương (reciprocity).
Thức
thể (Modal): Khả thể (possibility)- vô khả thể, tồn hữu (existence),
vô tồn hữu, thiết yếu (necessity)- ngẫu tính (contingency)...
5. Hai Phân Nhánh:
Cảm
nhận (sensibility) và Hiểu biết Tri Giác (Understanding).
Hệ
thống tri thức học của Kant nhấn mạnh đến ý tưởng căn bản: tri kiến
(knowledge) phát xuất từ hai phân nhánh: cảm nhận và hiểu biết tri
giác. Từ cảm nhận, đối thể thì có sẵn, từ hiểu biết thì đối thể
được nhận thức (cogitated). Cảm nhận là một đống cảm giác được kích
thích, chưa được kiến tạo nên một trật tự. Còn hiểu biết chỉ có suy
tưởng, nếu không có gì đưa cho nó, thì tri kiến chưa thể tạo nên. Hiểu
biết đòi hỏi trực giác; trực giác đòi hỏi hiểu biết. Cả hai đều
dung chứa yếu tố tiên nghiệm tự hữu. Cái nầy phải dựa vào cái kia
để có thể vươn ra khỏi tính chất bất định tự tại nhằm chuyển hóa
đến tri kiến. Có nghĩa rằng: Tư tưởng mà không có nội dung là trống
rỗng; trực giác mà không có khái niệm là mù tối.
Từ
đó, đối thể của tri kiến được kiến tạo từ chất liệu của trực giác
và minh định bởi thể thức của phạm trù. Chất liệu (matter) thì có
sẵn, còn thể thức (form) phải được nhận thức. Một đằng chúng ta có
chủ thể, thể thức, tiên nghiệm thuần (pure); đằng kia có đối thể,
chất liệu, hậu nghiệm thực tế (empirical).
Đây
thường bị hiểu lầm là một luận thuyết nhị nguyên. Nhưng Kant muốn nói
lên một điều: dù là hai nhánh có vẻ phân biệt, nhưng cả hai đều
được phát xuất từ một cội nguồn không thể biết đến. Nó là một bí
mật- cái gốc rễ duy nhất vốn là cội gốc của ý thức và tri kiến.
6. Ý Thức (consciousness),Chứ Không Phải Sự
Hữu (Being) là Khởi Điểm:
a. Sự
Hữu và Ý Thức là cái gì? Jaspers phiên luận Kant: Muốn khai sáng
được nghi vấn nầy, câu trả lời phải được bắt đầu từ sự nhìn vào
sinh hiện của chúng ta- vốn là ý thức. Khai sáng ý thức là khai
sáng tư duy vì cái sinh hiện của tôi là cái biết về cái khác và
chính tôi. Trong sinh hữu, có cái mà tôi không thể suy nghĩ để vất
bỏ (think away) chúng đi mà không phải hủy diệt chính sự tồn hữu: đó
là khái niệm- cái mà đem thể thức cho đối thể. Không có gì là tồn
hữu mà không có một sự giả định về thể thức suy tưởng. Jaspers
viết, Chỉ có cái gì thuộc về phạm trù là bao hàm tất cả.
b. Suy
tưởng bắt đầu bằng suy tưởng: Làm thế nào để bắt đầu trong vòng
tròn không có điểm khởi đầu, không có lối ra? Chúng ta suy nghĩ để
biết về suy nghĩ, suy thức để biết suy thức, nghĩa là chúng ta giả
định suy thức để khai sáng suy thức. Kant bắt đầu từ kiến thức có
sẵn. Khi chúng ta cho rằng cái gì là đúng, cái đúng đến từ sự phán
định- và cái gì đưa đến cái đúng của phán định là tiến trình suy
tưởng.
c. Giá
tri khách quan của suy tưởng được đúc kết từ một phiên tòa án gồm
nhiều phía muốn đưa lên những lý thuyết về tri kiến. Kant muốn vượt
qua tất cả bằng một nhận thức sâu sắc mới: chúng ta biết đến sự
vật bởi vì chúng ta sản xuất ra thể thức của chúng ta để qua ý thức
chúng ta tạo giá trị cho tri kiến nầy. Vấn đề hòa hợp (concordance)
đã được giải quyết.
d.
Khái niệm về chủ thể: Khi sự hữu, qua sinh hiện, là của ý thức- và
ý thức là tri kiến, từ đó cái gì mà ta biết được thì chỉ biết được
trong một hoàn cảnh giới hạn của sinh hữu. Chủ thể tri kiến (cogitive
subject) là của ý thức- của suy tưởng tự phát, sự thống nhất của
tổng hợp trong tác hành suy tưởng, hay là siêu cảm thức
(transcendental apperception). Chủ thể nầy không phải là cá nhân mà
là cái Tôi suy tưởng. Từ đó, giá trị của phán định không đến từ
quan điểm vô căn cứ mà là từ khái niệm đã có sẵn trong chủ thể
Tôi suy tưởng nầy. Chủ thể ý thức không thể là một đối thể cho sự
quan tâm lý thực nghiệm. Năng động suy tưởng nầy, cái ý thức về
cái Ta suy tưởng nầy không thể được điều tra, giảo nghiệm- mà chỉ có
thể được cảm nhận qua tự vững chắc (self certainty). Tôi, cái chính
tôi nầy, trong tri kiến, là ý thức- vốn biết, nhưng cái sự biết nầy
không thể được biết đến như là một đối thể khách quan. Trong cái
biết, tri kiến và sự hữu không hề phân biệt nhau- cả hai chính là
một.
Do
đó, Jaspers. Phiên giải, điều sai lầm là quan điểm cho rằng tất cả
sinh hữu bao gồm hai lãnh vực: khách thể và chủ thể. Điều nầy đúng
với những đối thể tri kiến, nhưng không thể áp dụng đến nguồn cội
của ý thức và tri kiến. Tôi ý thức được là tôi biết nhưng tôi
không thể quan sát cái tôi biết nầy- mà tôi chỉ có thể chắc chắn
rằng tôi đang biết mà thôi.
Nhưng
cái sinh hữu thực nghiệm của cái Tôi suy tưởng trong thời thể (time)
phải được phân biệt ra khỏi cái Tôi suy tưởng bất biến, vượt thời
thể. Cái ý thức về ta nầy không phải là một đối tượng cho trực
giác thời tại (temporal intuition)- khi mọi trực giác đều tùy thuộc
vào thời tính. Không có một thứ trực giác tri thức (intellectual
intuition) để có thông đạt được cái Ta suy tưởng bất diệt nầy. Kant,
khi nói đến bầu trời đầy sao sáng bên trên và quy pháp đạo đức bên
trong chính mình, phát biểu, Tôi liên đới đến với chúng một cách
trực tiếp bằng ý thức về cái tồn hữu của chính tôi.
II.- THEO PHẬT GIÁO
1. CẤU TRÚC TÂM KINH THEO VIÊN TRẮC ( Như
Hạnh )
A. TRÍ HUỆ QUAN SÁT
A.1.
Quán Tự Tại Bồ Tát: Viên Trắc giải thích các dị biệt giữa Quán Tự
Tại và Quán Thế Âm như sau: Quán Thế Âm có nghĩa là vị Bồ Tát lắng
nghe âm thanh của các chúng sanh, song âm thanh chỉ có nghĩa là các
hành vi ngôn ngữ. Do đó cái tên Quán Thế Âm không vạch ra được
quyền năng quán sát các hành vi của thân thể và tâm thức. Quán Tự
Tại có nghĩa là bậc Bồ Tát bên trong đã thể nhận được hai hình thức
của tính không (hay vô ngã) trong khi bên ngoài quán sát ba loại hành
vi (nghiệp) một cách không cần nỗ lực.
A.2. Khi thực hành Trí Huệ
Ba-la-mật thâm sâu, thấy được năm uẩn đều là không và vượt qua
được tất cả khổ não và tai ách.
Đoạn
nầy phân biệt trí huệ quán sát trên hai phương diện thể và dụng (hay
tác năng). Dụng cũng lại có hai mặt: sự thành tựu mục tiêu giải
thoát cho mình và sự thành tựu mục tiêu giải thoát cho người khác.
A.2.1. Về thể của trí huệ: Hành
(thường được dịch là thực hành hay quan sát) có nghĩa là tiến hành,
ở đây chỉ trí huệ quán sát. Thâm sâu có hai nghĩa: (a) Tiến hành một
cách thâm sâu có nghĩa là vô phân biệt trí thể nhận một cách thâm
sâu hai hình thức tính không hay vô ngã (nhân vô ngã và pháp vô
ngã) và hoàn toàn vượt qua tất cả các phân biệt nhị nguyên và khái
niệm hóa. (b) Thâm sâu cũng có thể chỉ tỏ cái đối tượng thâm sâu
của quan sát, tức là sự thật của hai hình thức tính không thoát khỏi
tất cả các đặc tính của hữu hay vô. Do đó, hành thâm có nghĩa là
dùng vô phân biệt để thể nhận đối tượng thâm sâu nầy. Bát-nhã có
nghĩa là trí huệ. Ba-la có nghĩa là bờ bên kia và mật-đa có nghĩa là
tới. Như thế bởi vì trí huệ cắt đứt các chướng ngại và đưa chúng
sinh đến niết-bàn. Thời (khi) chỉ điểm thời gian. Tuy nhiên, đây chỉ
là từ viễn cảnh hiện tượng hay công ước. Bát-nhã có ba phương diện:
văn tự, quán chiếu, và chân thực. Ở đây, với mục đích hiển lộ
quán chiếu mà kinh nói khi [Quán Tự Tại] tiến hành [thâm sâu] trong
Bát-nhã-Ba-la-mật thâm sâu.
A.2.2. Về dụng của trí: Dụng (hay
tác năng) của trí huệ có hai phương diện: (a) sự thành tựu mục tiêu
giải thoát cho mình hay tự lợi (svartha) và (b) sự thành tựu mục tiêu
giải thoát cho người khác hay lợi tha (parartha).
(A) (2.2.1) Ngài thấy rằng năm uẩn
đều không. Câu nầy minh giải sự quán chiếu tính không như là sự
thành tựu mục tiêu giải thoát cho mình. Ở đây Viên Trắc đặt quán
chiếu tính không của Tâm Kinh và khuôn khổ lịch sử. Ông đề cập đến
giáo lý trong Phật Địa Kinh (Buđdhabhumisutra) rằng các giáo lý của
Phật tuy dị dạng song có chung một vị. Nói cách khác, tất cả đều đặt
nền tảng trong Pháp Giới (Dharmadhatu) hay Thực Tại Cứu Cánh. Song khi
các Bồ Tát chưa đạt được Pháp Giới thì họ vẫn còn dị biệt nhau ở
các nền tảng triết lý hay kinh điển cũng như ở các mức độ trí huệ
của họ. Viên Trắc nêu ra hai tông phái của Bhavaviveka và Dharmapala,
phái trước dựa trên các giáo lý của Nagarjuna (và các kinh
Bát-nhã), phái sau dựa trên các giáo lý của Maitreyanatha (và Thâm
Mật) như là điển hình của hai đường lối chính để tiếp cận giáo lý
của Phật.
Năm
uẩn là các thành tố vật lý vá tâm lý cấu thành thế giới. Nói
rằng năm uẩn là không tức là nhìn chúng từ viễn cảnh của hai hình
thức tính không. Viên Trắc bàn rộng về quan điểm của hai tông phái
nầy đối với tính không của năm uẩn.
(A)
(2.2.2) Ngài vượt qua tất cả các khổ não và tai ách. Câu nầy dụng
của trí huệ như là sự thành tựu mục tiêu giải thoát cho người khác.
Do đó mà Phật phát biểu rắng ba cõi vực của hiện hữu đều là khổ.
Thông thường có ba loại khổ: khổ khổ, hành khổ và hoại khổ. Mặc
dù ở đây Viên Trắc không bàn thêm rộng lắm về tác năng lợi tha
(thành tựu mục tiêu giải thoát cho người khác), trong khuôn khổ
thuyên thích nền tảng của Duy Thức, thì một bậc giác ngộ tự nhiên
(và thiết yếu) không những chỉ có trí huệ để tự giải thoát mà còn
có quyền năng để giúp người khác giải thoát nữa.
B. ĐỐI TƯƠNG QUÁN SÁT.
B.1. Phân biệt tính không: Xá
Lợi Tử, sắc không khác với không, không không khác với sắc. Sắc
tức là không, không tức là sắc [Sự liên hệ giữa sắc với không]
cũng tương tự như [sự liên hệ giữa] thụ, tưởng, hành và thức [với
không].
Trước tiên Viên Trắc trích dẫn kinh điển
để cho chúng ta thấy rằng Xá Lợi Tử (Sariputra) là điển hình của trí
huệ Tiểu Thừa. Do đó mục tiêu của đoạn nầy là để qui hóa một nhà
Tiểu Thừa về Đại Thừa.
Mục
tiêu của đoạn nầy gồm bốn phát biểu có hai mặt: hai phát biểu đầu
(sắc không khác với không, không không khác với sắc) là để giải
minh ý chính, hai phát biểu kế tiếp (sắc là một với không, không là
một với sắc) là để diệt trừ những nghi ngờ của các nhà Tiểu Thừa
và những người ngoài Phật Giáo. Ở đây một lần nữa, Viên Trắc lại
đưa ra một giải thích về tính không từ quan điểm Duy Thức. Có hai hình
thức tính không (hay vô ngã): tính không của sinh và tính không của
các hiện tượng (pháp). Lưu ý ở đây Viên Trắc dùng thành ngữ tính
không của sinh thay vì là tính không của ngã (hay chủ thể). Song, theo
Viên Trắc thì tính không của ngã chỉ là một phạm trù của tính không
của sinh. Tính không của ngã lại có thể được nhìn từ viễn cảnh của
ba tự tính.
Sắc
không khác với không có nghĩa là sự thật công ước không khác với
sự thật tuyệt đối. Không không khác vớI sắc có nghĩa là sự thật
tuyệt đối không khác với sự thật công ước. Sắc là một với không
và không là một vớI sắc là để giải trừ quan điểm Tiểu Thừa chấp
trước vào quan điểm duy thực. Nghĩa là, khi họ nói về sắc hay không
họ nói rằng họ xem đó là những thực thể dị biệt, trong khi đối với
các nhà Đại Thừa đó chỉ được xem như là các phép đối trị các quan
điểm cực đoan.
B.2. Minh giải đặc tính không.
Xá Lợi Tử, tất cả các pháp đều có đặc tính của tính không: không
sinh, không diệt, không cấu, không tịnh, không tăng, không giảm.
Ở
đây đặc tính của tính không được giải minh qua sáu đặc tướng. Có hai
phương diện: Trước tiên giải minh đặc tính của tính không từ sáu đặc
tướng, thứ nhì dựa trên đặc tướng của tính không để khiển trừ sự
chấp trước vào sáu hiện tượng.
Sáu
đặc tướng là không sanh, không diệt, không cấu, không tịnh, không
tăng, không giảm. Viên Trắc đề cập đến các giải thích của
Bhavaviveka và Dharmapala. Theo Bhavaviveka, sinh có nghĩa là [một vật]
vốn không hiện hữu song bây giờ hiện hữu, diệt có nghĩa là hiện
hữu một cách tạm thời rồi trở về với không [hiện hữu], cấu có
nghĩa là bản tính nhơ cấu, tịnh có nghĩa là thoát khỏi cấu, tăng có
nghĩa là xem các hiện tượng như có tác năng, giảm có nghĩa là tưởng
tượng rằng các hiện tượng thật sự tiêu diệt. Ba cặp nầy có thể
được nhìn từ ba tự tính: (a) từ viễn cảnh của tự tính giả tưởng thì
các hiện tượng tuyệt đối không hiện hữu, cho nên chúng không sinh
không diệt; (b) từ viễn cảnh của tự tính tùy thuộc, các hiện tượng
phát sinh từ nhân và duyên, cho nên cho nên chúng không cấu không
tịnh; (c) từ viễn cảnh của tự tính tuyệt đối, các hiện tượng không
sinh khởi, cho nên chúng không tăng không giảm.
B.2.1. Giải kiến năm uẩn. Do
đó, trong không không có sắc, thụ, tưởng, hành,thức. Đây là mục
thứ nhất trong việc giải kiến sáu phạn trù dựa trên đặc tính của
tính không.
B.2.2. Giải kiến mười hai xứ.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm; không có sắc, thanh, hương,
vị, xúc, đối tượng [của tâm]. Đoạn nầy và (2.3) Viên Trắc đột nhiên
xoay qua các phạm trù giải thích (a) lý do [Phật] giảng kinh, (b) giải
thích tên, và (c) giải minh yếu tính.
(a). Lý do nói kinh là để
khiến chúng sinh giác ngộ hai hình thức của tính không (i.e tính không
/ vô ngã của nhân và pháp). Giải kiến mười hai xứ chính là để giải
minh hai hình thức tính không này.
(b). giải thích tên: Viên
Trắc chú giải rằng xứ có nghĩa là sản sinh. Tức là, sáu căn sinh ra
tất cả các tâm [thức] và nội dung của tâm[thức]. Chúng sinh ngây
ngô áp đặt một ngã và những gì thuộc về ngã lên các tác năng của
cảm quan.
(c). Giải minh yếu tính: Ở
đây Viên Trắc lại giải thích cặn kẽ các phân loại của mười hai xứ.
B.2.3. Giải kiến mười tám giới.
Không có giới của mắt cho đến giới của tâm. (a) Lý do: Phật dạy
mười tám giới là để giúp cho chúng sinh khỏi chấp trước vào môt
cái ngã giả lập dựa trên tâm và vật. Giới có nghĩa là chủng (hay
giống).
B.2.4. Giải kiến duyên khởi.
[Không có] vô minh, không có sự tận diệt vô minh, cho đến không có
lão và tử cho đến không không có sự tận diệt của lão và tử.
Ở
đây tính không của nhân (chủ thể) lẫn pháp (đối tượng) được giải
thích. Mười hai xứ (căn nguồn) có nghĩa là sản sinh, sáu căn và sáu
đối tượng sản sinh ra tâm và tâm sở (tức là các tác năng của
tâm). Mười tám giới như là một phương pháp phân tích để người ta
khỏi áp đặt khái niệm ngã lên lên sắc và tâm.
Kiến
thức về tính không của các hiện tượng khiến người ta lãnh hội chính
xác được ý nghĩa của duyên khởi. Khuôn mẫu cảm tính (affective) của
duyên khởi dưới hình thức mười hai nhánh (tức thập nhị nhân duyên)
được tháo bỏ bởi kiến thức nầy. Duyên khởi có hai hình thức: (a) lưu
chuyển (tức là sự liên hệ giữa các thành tố nhân-bắt đầu từ vô
minh-tạo ra sinh và tử, và (b) hoàn diệt (tức là dựa trên sự quán
sát về đặc tính của các thành tố trong thập nhị nhân duyên người tu
tập có thể chấm dứt được tiến trình chuyển hóa của nó và đạt được
sự chấm dứt sinh và tử). Thập nhị nhân duyên bắt đầu với vô minh
và chấm dứt với lão tử. Nhờ sức mạnh của trí huệ quán sát người
tu tập chấm dứt được vô minh. Vì vô minh bị chấm dứt, hành cho đến
sinh bị chấm dứt.Vì sinh bị chấm dứt, lão tử bị chấm dứt. Đây chính
là phương diện hoàn diệt của duyên khởi. Viên Trắc đề cập đến một
đoạn trong Kinh Pháp Hoa rằng duyên khởi được giảng dạy cho cho những
người muốn đạt đến quả Duyên Giác. Song Tâm Kinh lại dạy duyên khởi
để giải minh tính không.
Viên
Trắc đề ra ba quan niệm giải thích để hiểu duyên khởi trong Tâm Kinh:
(a) giải thích tên, (b) giải minh thể, giải kiến và thiết lập.
B.2.5. Giải kiến tứ diệu đế.
Không có khổ, tập (căn nguồn của khổ), diệt (sự chấm dứt khổ) và
đạo (con đường đưa đến sự chấm dứt khổ).
Ở
đây Viên Trắc cũng lại đề cập đến một phát biểu trong Kinh Pháp Hoa
rằng tứ diệu đế để được giảng dạy để giúp người, ta đạt đến quả
Thanh Văn. Song Tâm Kinh thì lại giải thích tứ diệu đế để làm sáng
tỏ ý nghĩa của tính không.
B.2.6. Giải kiến trí huệ và
đoạn trừ. Không có trí và không có đắc. Viên Trắc giải thích rằng
sự giải kiến trí và đắc là để giải thích tính không của các hiện
tượng. Ở đây trí có nghĩa là giác ngộ và đắc là niết bàn là (tính)
không.
C. Quả Đạt Được.
C.1.1. Năng lực của quán sát.
Bởi vì [các Bồ Tát không thấy đắc, họ dựa vào Trí Huệ Ba-la-mật và
tâm của họ không còn chướng ngại. Viên Trắc giải thích bởi vì [các
Bồ Tát không thấy đắc là để giải minh rằng chân tính của tính không
vượt trên sáu đặc tính. Bồ Tát có nghĩa là bậc tu tập trí huệ về
tính không và phát sinh từ bi đối với chúng sinh. Chướng ngại có
nghĩa là hai thứ chướng ngại ngăn chận toàn tri và giải thoát. Các
Bồ Tát dựa trên trí huệ quán sát tính không này có tâm đồng đẳng
với tính không. Đó là bởi vì bên trong họ đã thể nhận hai hình thức
của tính không và bên ngoài thì cắt đứt hai chướng ngại.
C.1.2. Giải minh quả đạt được.
Bởi vì họ không có chướng ngại, họ không sợ hãi, họ thoát khỏi
điên đảo và vọng tưởng, và đạt đươc niết bàn cứu cánh.
Quả
đạt được thì có bốn chiều kích: (a) thoát khỏi sợ hãi, (b) thoát
khỏi điên đảo, (c) thoát khỏi vọng tưởng, và (d) đạt được niết bàn
cứu cánh.
(a).Viên
Trắc giải thích rằng có năm loại sợ hãi. (b) Thoát khỏi điên đảo
thì gồm ba, bốn, bảy hay tám loại. Ba loại thì gồm có khái niệm, quan
điểm và tâm (phân biệt). Bốn loại thì gồm có việc xem vô thường là
thường, khổ là lạc, bất tịnh là tịnh, và vô ngã là ngã. Bảy loại
là sự phối hợp của bốn và ba loại vừa nêu ra. Tám loại thì gồm có
bốn loại trên cùng với việc xem Phật tính vốn thiết yếu có các đặc
tính thường, lạc, ngã, tịnh là vô thường, khổ, vô ngã, và bất tịnh.
(c ).
Quả trong hình thức thoát khỏi vọng tưởng gồm có các tư tưởng sai
lâm, phân biệt tạo ra nghiệp và hậu quả của nghiệp. Đây là bởi vì
chúng sinh không hiểu tính không chính là chân như (tathata). Vọng
tưởng gồm những loại như sau: (1) Tự tính (svabhava): sự kiến lập và
áp đặt tự tính lên các hiện tượng [vốn là các sản phẩm của duyên
khởi]. (2) Biệt tính (visesa), vì áp đặt tự tính lên lên các hiện tượng
cho nên tin là các hiện tượng tương tự và luôn có đặc tính độc lập
nhau. (3) Sự kiến lập các đối tượng phối hợp dựa trên các thành tố
cấu tạo như sắc, thanh, vân vân. (4) Phân biệt ngã và (5) những gì
thuộc về ngã. (6) Phân biệt những gì thích hợp với mình. (7) Phân
biệt những gì không thích hợp với mình. (8) Tám loại vọng tưởng này
đóng góp cho cho sự tạo nên ba ác pháp chính: cảm quan và đối tượng;
quan điểm và sự kiêu mạn về ngã; tham, sân và si. Ba pháp ác này
cấu thành lãnh vực của lưu chuyển gồm có các chúng sinh và thế
giới chung quanh. Tâm Kinh nói rằng nhận thức được bằng trí huệ tính
không của các hiện tượng người ta thoát khỏi điên đảo gồm tám hình
thức phân biệt vọng tưởng này.
(d)
Đạt được niết bàn cứu cánh: Ở đây Viên Trắc cũng lại giải thích
cặn kẽ các phân loại về quan niệm niết bàn của các bộ phái khác
nhau.
C.2. Giải minh đắc. Chư Phật ở
quá khứ, hiện tại và tương lai dựa vào Trí Huệ Ba-la-mật để đạt đươc
giác ngộ viên mãn. Đoạn nầy gồm ba thành tố(a) Chư Phật của quá
khứ, hiện tại và tương lai, (b) dựa vào Trí Huệ Ba-la-mật, (c) để đạt
được giác ngộ viên mãn.
(a)
Phân biệt chủ thể đạt được quả. Ở đây Viên Trắc đề cập đến Phật
Địa Kinh (Buđdhabhumi Sutra) để giải thích rằng Phật là bậc sở hữu năm
đặc tính: (1) hai loại trí tuệ, (2) thoát khỏi hai chướng ngại [để đạt
đến giải thoát và toàn tri], (3) đạt được hai pháp, (4) thành tựu
mục tiêu cho mình và cho người khác, (5) thích hợp với hai ẩn dụ
[thức dậy khỏi giấc ngủ và đóa hoa sen nở].
(b)
Phân biệt trí quan sát: điều nầy đã được giải thích ở trên.
(c)
Phân biệt quả đạt được: Giác ngộ nầy được gọi là giác ngộ tối
thượng bởi vì nó siêu việt hơn sự giác ngộ của Thanh Văn hay Duyên
Giác. Ở đây Viên Trắc lưu ý chúng ta đến sự kiện rằng quả được đề
cập đến như là niết bàn và giác ngộ (bodhi). Đây chính là hai phương
diện của giác ngộ: trí huệ và đoạn trừ. (Điều này một lần nữa
chứng tỏ rằng Viên Trắc dựa trên quan điểm điển hình của Duy Thức.
Rằng niết bàn là một với Phật quả hay Phật tính. Đây là điểm then
chốt trong giải thích về Phật của Đại Thừa).
Trong
khi giải thích giác ngộ Viên Trắc chính yếu dựa và Phật Địa Kinh, Đại
Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, các nguồn chính yếu của triết học và
Phật luận Duy Thức. Đôi khi ông cũng đề cập đến Thành Duy Thức Luận
(Vijnaptimatratasiđdhi), Du-già Sư Địa Luận (Yogacarabhumi) và một số văn
điển nền tảng khác của Duy Thức. Viên Trắc nhận định rằng có ba
loại giác ngộ tùy thuộc vào ba thừa khác nhau. Song Tâm Kinh giải
thích rằng giác ngộ tối thượng bao gồm cả hai trí huệ cứu cánh và
thế gian. (a)Từ viễn cảnh của yếu tính giác ngộ có nghĩa là bốn trí
huệ. (b) Từ viễn cảnh đặc tướng giác ngộ có ba phương diện: (b.1)
giác ngộ có hình thức của trí và đoạn, tức là, trí huệ quán sát hai
hình thức của tính không và sự đoạn trừ hai chướng ngại. (b.2) Giác
ngộ được qui định bởI tam thân. (b.3) Giác ngộ được qui định bởi năm
đặc tính, tức là Pháp Giới và bốn trí huệ.
Bốn
trí huệ là Kính Trí, Bình Đẳng Trí, Quán Sát Trí, và Thành Tựu Trí.
Bốn trí huệ này tượng trưng cho thể cách tri nhận thực tại vượt qua
quan điểm phân biệt thông thường của thức (vijnana). Trong ngôn ngữ
của Duy Thức đây gọi là chuyển thức thành trí.
Tam
thân: Thân có nghĩa là thể, nền tảng, hay tích tập. Tam thân là Tự
Tính Thân hay Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân. Tam thân được giải
thích từ các viễn cảnh tự tính, quyền năng, và tác dụng.
C.2.1. Tán: thành tựu mục tiêu
[giải thoát cho mình. Do đó, người ta biết rằng Trí Huệ Ba-la-mật là
thần chú vĩ đại nhất, thần chú kỳ diệu vĩ đại, thần chú tối thượng
chú, thần chú vô song. Đoạn này và đoạn kế tiếp tán thán sự tuyệt
diệu của Trí Huệ Ba-la-mật bằng cách đề cập đến tác năng của nó.
Ở đây tác năng của Trí Huệ Ba-la-mật là sự thành tựu của các mục
tiêu giải thoát cá nhân. Viên Trắc giải thích rằng chú (mantra) có
nghĩa là kỹ thuật. Được gọi là thần (chú) bởi vì tác năng của nó
khôn dò; gọi là minh bởi vì tiêu trừ vô minh và tận diệt vọng
tưởng; gọi là tối thượng bởi vì nó vượt trên trí của hai thừa kia
(Thanh Văn và Duyên Giác); nó là trí huệ Phật siêu việt trí của các
Bồ Tát, do đó, mà nó được gọi là vô đẳng. C.2.2. Nó có thể diệt
trừ tất cả khổ não và tai ách, bởi vì thần chú nầy chân thật,
không hư dối. Đoạn này phân biện tác năng của trí huệ như là sự
thành tựu các mục tiêu giải thoát cho người khác. Trí Huệ Ba-la-mật
có khả năng giúp các chúng sinh vượt qua biển khổ và đạt được chân
phúc niết bàn. Ngôn ngữ có thể hư dối, nhưng mà ngôn ngữ của kinh
này là ngôn ngữ chân thật.
C.2.2. Kết luận. Do đó, Phật
nói chú Bát-nhã Ba-la-mật: gate gate paragate parasamgate bodhi svaha.
Kinh nói một tụng để chấm dứt lời tán. Viên Trắc nhận định rằng
phần lớn các chú thì không thể dịch được bởi vì đó là mật ngữ mà
hẳn sẽ mất đi hiệu quả thần diệu trong bản dịch. Ở đây gate gate có
nghĩa là vượt qua vượt qua. Viên Trắc giải thích rằng
Bát-nhã-ba-la-mật có tác năng lớn giúp được không những chính mình
mà cả người khác vượt qua được biển khổ để đến bên kia bờ niết
bàn. Paragate, parasamgate có nghĩa là đến một cách cứu cánh. Bodhi ở
đây có nghĩa là bờ bên kia và svaha có nghĩa là một cách cứu cánh.
Sớ
giải của Viên Trắc về Tâm Kinh cũng soi sáng cho chúng ta rất nhiều
về bản kinh quan trọng này kể cả trên bình diện lịch sử lẫn tư
tưởng.
(TC Triết 2, tr 53-57)
BÁT NHÃ TÂM KINH
Tên
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh do Ngài Huyền Trang dịch ra Hán văn từ
chữ Phạn Ma- hà- Prajnàpàramità-hrdraya- Sutra.
Nguyên văn:
Ma Ha
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Quán
Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ
Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá
Lợi Tử! Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệc phục như thị.
Xá
Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất
tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô Sắc, vô Thọ, Tưởng,
Hành, Thức; vô Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý; vô Sắc, Thanh, Hương,
Vị, Xúc, Pháp; vô Nhãn Giới, nãi chí vô Ý Thức Giới; vô Vô Minh
diệc vô Vô Minh tận; nãi chí vô Lão Tử diệc vô Lão Tử tận; vô
Khổ, Tập, Diệt, Đạo; vô Trí diệc vô Đắc.
Dĩ
vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đoả y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô
quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo,
mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật
Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật
Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô
đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thế khổ, chân thực bất hư. Cố thuyết
Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết
Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đế Tát Bà Ha.
Bài
Dịch của Hòa Thượng T. Thắng Hoan
TÂM KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Ngài
Bồ Tát Quán Tự Tại, một khi quán chiếu thâm sâu Bát Nhã Ba La Mật
Đa, bỗng soi thấy thể năm Uẩn đều không thật có tự tánh, liền vượt
qua khỏi tất cả bao thứ khổ đau ách nạn.
Này
Xá Lợi Tử nghe đây! Quả Sắc chẳng khác Nhân Không, Nhân Không
chẳng khác Quả Sắc; Quả Sắc biến thành Nhân Không, Nhân Không biến
thành Quả Sắc. Cho đến Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều giống như
vậy cả.
Này
Xá Lợi Tử nghe đây! Thể mọi pháp đều không Tướng, không sanh mà
cũng không diệt, không nhơ mà cũng không sạch, không thêm mà cũng
không bớt. Cho nên nơi thể không, không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
và cũng không có Thức (Tướng); không có Nhãn, Nhĩ, Thiệt, Thân, Ý
(sáu căn); Không có Sắc, Thinh, Hương, Vị, cho đến Xúc, Pháp (sáu
trần); không có mười tám giới riêng (từ Nhãn cho đến Ý Thức); Không
hề có chút Vô Minh, và không có hết Vô Minh, không có vấn đề Lão
Tử, không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không có Trí và cũng không có
Đắc. vì không có chỗ sở đắc.
Nên
Bồ Tát nương theo Bát Nhã Ba La Mật Đa thì tâm không bị chướng ngại,
nên không có chút sợ hãi, xa lìa được mọi điên đảo, xa hẳn được
mọi mộng tưởng, đạt đến Niết Bàn tuyệt đối. Các đức Phật trong ba
đời, cũng nhờ hành trì theo pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa đều chứng quả Vô
Thượng Giác. Thế nên cần phải biết rằng, Bát Nhã Ba La Mật Đa chính
là Linh Chú đại thần, chính là Linh Chú đại minh, chính là Linh Chú
vô thượng, chính là Linh Chú tuyệt đỉnh, chính là chân lý bất vọng
có năng lực rất siêu phàm, tiêu trừ tất cả khổ nạn.
Cho
nên mỗi khi nói đến Bát Nhã Ba La Mật Đa, Bồ Tát liền đọc Thần
Chú:
Yết
Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha.
2. BÁT NHÃ TÂM KINH QUA CÁI NHÌN CỦA DUY
THỨC THEO H.T THÍCH THẮNG HOAN
(Phần kết luận, tr 116-122)
Yếu
chỉ quyển Bát Nhã Tâm Kinh do Ngài Huyền Trang dịch là trình bày phương
pháp Ngũ Uẩn Quán của Bồ Tát Quán Tự Tại. Bồ Tát đứng trên lập
trường Ngũ Uẩn để quán chiếu và sử dụng năng lực Bát Nhã Ba La
Mật Đa để chiếu soi Ngũ Uẩn. Bồ Tát Quán Tự Tại muốn cho năng lực
Bát Nhã Ba La Mật Đa phát sanh từ nơi Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa liền
hành trì một cách liên tục thần chú Yết Đế. Đây là lối tu đặc
biệt của Bồ Tát Quán Tự Tại. Nhờ lối tu nầy, Bồ Tát mới vượt
thoát khỏi những khổ đau ách nạn và đạt đến dễ dàng nơi Cứu Cánh
Niết Bàn của bờ Giác Ngộ bên kia.
A.- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG QUÁN CHIẾU:
Nội
dung quyển Bát Nhã TÂm Kinh ghi lại những chặng đường quán chiếu của
Bồ Tát Quán Tự Tại trên lãnh vực Ngũ Uẩn Quán. Nhờ năng lực Bát
Nhã Ba La Mật Đa, Bồ Tát Quán Tự Tại quán chếu từ nguyên lý Nhân
Không của Ngũ Uẩn cho đến nguyên lý Chân Không của các Pháp Tánh.
Đó là tiến trình đạt đạo của Bồ Tát Quán Tự Tại. Quyển kinh này
không liên quan chút nào đến nguyên lý Hư Không (Không Đại) của bảy
Đại, mà cũng không phải trình bày nguyên lý Huyễn Không của vạn
pháp và cũng không đề cập đến tánh chất duyên sanh và giá trị kết
hợp của vạn pháp. Quyển Bát Nhã Tâm Kinh ở đây chỉ quán chiếu về
Ngũ Uẩn nhằm mục đích tìm ra nguồn gốc từ đâu phát sanh những yếu
tố tạo nên vạn pháp. Và cũng từ đó, Bồ Tát phát giác ra được
thật tướng của vạn pháp.
A.1. Chặng Đường Nguyên Lý Nhân Không:
Trên
chặng đường nguyên lý Nhân Không, Bồ Tát Quán Tự Tại bắt đầu khởi
hành quán chiếu nơi Quả Ngũ Uẩn của các pháp ở trạng thái Hữu
Tướng (trạng thái có hình tướng) và tìm về Nhân Ngũ Uẩn ở trạng
thái Vô Tướng (trạng thái không hiện tượng). Nhân Ngũ Uẩn ở trạng
thái Vô Tướng được gọi là Nhân Không. Nhân Ngũ Uẩn ở trạng thái
Không, theo Bồ Tát Quán Tự Tại chính là yếu tố quan trọng để tạo
nên vạn pháp trên hình thức Quả Ngũ Uẩn.
Trước
hết, Bồ Tát Quán Tự Tại cho biết tánh chất, giá trị và sự quan hệ
chăt chẽ giữa Nhân Ngũ Uẩn và Quả Ngũ Uẩn. Với Bồ Tát, căn cứ
nơi tánh chất và giá trị, Nhân ngũ Uẩn không khác Quả Ngũ Uẩn. Quả
Ngũ Uẩn trong đó hàm chứa tánh chất Nhân Ngũ Uẩn. Quả Ngũ Uẩn trong
vạn pháp chính là sự thể hiện của Nhân Ngũ Uẩn, nghĩa là Quả Ngũ
Uẩn phát sanh từ Nhân Ngũ Uẩn. Nhưng chúng lại khác nhau trên hình
thức hiện tướng. Hình tướng Quả Ngũ Uẩn không phải không phải là
hình tướng Nhân Ngũ Uẩn. Chúng ta muốn biết giá trị của Nhân Ngũ
Uẩn hãy tìm hiểu tánh chất của Quả Ngũ Uẩn.
Tiếp theo, Bồ Tát cũng cho
biết sự liên hệ mật thiết lẫn nhau giữa Nhân Ngũ Uẩn và Quả Ngũ
Uẩn. Nhân Ngũ Uẩn tác dụng hiện tướng thành Quả Ngũ Uẩn và Quả
Ngũ Uẩn biến thể trở về trạng thái Nhân Ngũ Uẩn. Sự tác dụng của
Nhân Ngũ Uẩn và sự biến thể của Quả Ngũ Uẩn với hình thức đột
biến thành, nghĩa là Nhân Ngũ Uản đột biến thành Quả Ngũ Uản và
Quả Ngũ Uẩn đột biến thành Nhân Ngũ Uẩn. Sự đột biến thành của
Nhân Ngũ Uẩn và Quả Ngũ Uẩn được biểu thị bởi danh từ Tức Thị. Danh
từ Tức Thị dùng để diễn tả trạng thái tác dụng hai chiều sanh diệt
của Nhân Ngũ Uẩn và Quả Ngũ Uẩn.
Kế
đó, từ nguyên lý Nhân Không, Bồ Tát giác ngộ thêm rằng, nhân Ngũ
Uẩn không phải là yếu tố chính để thành hình vạn pháp. Nhân Ngũ
Uẩn chỉ đóng vai trò phụ thuộc trong việc xây dựng vạn pháp. Ngoài
Nhân Ngũ Uẩn ra, Nghiệp Tướng mới thật sự là nhân tố quan trọng cho
việc thành hình vạn pháp. Nghiệp Tướng là Nhân tướng và vạn pháp
là Quả Tướng. Quả Tướng có nhiều hình tướng không giống nhau thì nhất
định Nhân tướng có nhiều có nhiều nghiệp tướng sai biệt nhau. Nghiệp
tướng là danh từ chung gồm chỉ cho Ngã Tướng và Pháp Tướng của vạn
pháp, gọi tắt là Ngã Pháp. Ngã Tướng là Nghiệp Tướng của chúng
sanh hữu tình và Pháp tướng là Nghiệp Tướng của chúng sanh vô tình.
Nghiệp Tướng nếu như không có mặt thì vạn pháp không thể thiết lập
và Ngũ Uẩn không thể thành hình. Chúng ta nhờ Quả Ngũ Uẩn thể hiện
mới ý niệm được Nghiệp Tướng. Nhưng hình tướng của Quả Ngũ Uẩn
không phải là Nghiệp Tướng. Chúng ta đừng lầm lẫn giữa Nghiệp Tướng
và hình tướng của Quả Ngũ Uẩn. Nghiệp Tướng cũng như Nhân Ngũ Uẩn
đều ở trạng thái vô tướng nên gọi là Nhân Không.
A.2. Chặng Đường Nguyên Lý Chân Không:
Trên
chặng đường nguyên lý Chân Không, Bồ Tát Quán Tự Tại không dừng
lại nguyên lý Nhân Không của các pháp, vì chúng đều là Nghiệp
Tướng. Bồ Tát tiếp tục hành trình quán chiếu chiều sâu của Nghiệp
Tướng để nhận thấy chân tướng của vạn pháp. Bồ Tát nhờ năng lực
Bát Nhã Ba La Mật Đa vượt qua khỏi tất cả phiền não khổ đau và nhờ
năng lực Bát Nhã Ba La Mật Đa soi thủng bức màn Vô Minh Nghiệp Tướng.
Cuối cùng Bồ Tát chứng ngộ được nguên lý Chân Không một cách tự
tại. Nguyên lý Chân Không tức là chỉ cho thế giới Chân Như Pháp
tánh. Giá trị thế Giới Chân Như Pháp Tánh ở trạng thái Chân Không
thì hoàn toàn không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không tăng
không giảm. Thế giới Chân Như Pháp Tánh không có vấn đề Nhân Tướng
của các pháp (Thị chư pháp không tướng) và không có vấn đề Nghiệp
Tướng hư vọng sanh diệt của vạn pháp trong ba cõi. Nói rõ hơn, thế
giới nầy không có nhân tướng của Ngữ Uẩn, không có sáu Căn, không
có sáu Trần, không có phạm trù của sáu Thức, không có vấn đề Vô
Minh hay không Vô Minh, cho đến không có các pháp phương tiện độ sanh,
cũng không có Trí Tuệ để tu Phật quả để chứng đắc. Thế giới Chân
Như Pháp Tánh chính là thế giới Niết Bàn Chân Không tịch tịnh của chư
Phật.
B.- PHƯƠNG PHÁP QUÁN CHIẾU :
Bồ
Tát Quán Tự Tại sử dụng năng lực Bát Nhã Ba La Mật Đa quán chiếu
Ngũ Uẩn. Bát Nhã Ba La Mật Đa phát sanh từ nơi Ma Ha Bát Nhã Ba La
Mật Đa. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa là tiếng Phạn, dùng để chỉ cho Tâm
Như Lai Tạng. Tâm Như Lai Tạng thuộc về Thật Tướng Bát Nhã và cũng
thuộc về của Chân Tâm. Hình tướng của Chân tâm được biểu tượng qua
hình tướng Tâm Như Lai Tạng. Cho nên Ngài Huyền Trang dịch quyển Ma Ha
Bát Nhã Ba La Mật Đa với danh nghĩa là Tâm Kinh. Tâm Kinh là quyển
kinh nói về Tâm Như Lai Tạng.
Còn Bát Nhã Ba La Mật Đa thì lại thuộc
về Quán Chiếu Bát Nhã và được phát sanh từ nơi Thật Tướng Bát Nhã
của Tâm Như Lai Tạng. Bát Nhã Ba La Mật Đa không phải Trí Diệu Quan
Sát của Ý Thức thứ sáu. Trí Diệu Quan Sát của Ý Thức thứ sáu
thuộc về Trí Phân Biệt của Tâm Phân Ly và Tâm Phân Ly không phải
Tâm Như Lai Tạng. Cho nên Trí Phân Biệt hoặc Trí Diệu Quan Sát lại
càng không phải của Tâm Như Lai Tạng. Bát Nhã Ba La Mật Đa có những
đặc tánh hy hữu như sau:
Bát
Nhã Ba La Mật Đa có năng lực phi phàm như Chú Đại Thần, có ánh sáng
vô lượng như Chú Đại Minh, có công dụng mầu nhiệm như Chú Vô
Thượng, và có nguồn trí tuệ siêu việt như Chú Vô Đẳng Đẳng. Năng
lực của Bát Nhã Ba La Mật Đa tức là Thần Chú Yết Đế. Bồ Tát Quán
Tự Tại hành trì Thần Chú Yết Đế một cách liên tục để năng lực
Bát Nhã Ba La Mật Đa phát sanh. Đồng thời Bồ Tát nương nơi năng lực
Bát Nhã Ba La Mật Đa vượt qua được tất cả khổ đau ách nạn. Từ đó
Bồ Tát liền đạt đến cứu cánh Niết Bàn Chân Không của thế giới
Chân Như Pháp Tánh.
Tóm
lại, quyển Bát Nhã Tâm Kinh là quyển kinh của Mật Tông và Bồ Tát
Quán Tự Tại là Bồ Tát của Tông phái này. Quyển Bát Nhã Tâm Kinh
ghi lại quá trình tu tập Ngũ Uẩn Quán của Bồ Tát Quán Tự Tại qua
phương pháp hành trì Thần Chú Yết Đế. Bồ Tát đứng trên lập trường Ngũ
Uẩn để quán chiếu và áp dụng năng lực Bát Nhã Ba La Mật Đa để
chiếu soi Ngũ Uẩn. Nhờ đó Bồ Tát vượt qua tất cả khổ đau ách nạn
và chứng quả Niết Bàn Chân Không. Bồ Tát muốn cho hậu thế tu tập
theo phương pháp của mình nên truyền thừa quyển Bát Nhã Tâm Kinh này.
Đây là yếu chỉ của Bồ Tát Quán Tự Tại được thấy trong quyển Bát
Nhã Tâm King nói trên.
3.- TÂM PHẬT TRONG KINH HOA NGHIÊM
(L.H Tịnh Huệ, tr 232-234)
Trí
huệ Phật là chỗ nương tựa của tất cả trí thế gian và trí xuất thế
gian nhưng trí này vô sở y.
Đây là tướng thứ nhứt
của tâm Phật.
Trí
huệ Phật thường sanh ra tất cả trí huệ thế gian và xuất thế gian
nhưng trí huệ này không tăng không giảm.
Đây là tướng thứ 2 của
tâm Phật.
Nước
biển Phật trí chảy vào trong tâm tất cả chúng sanh. Nếu ai biết đúng
Phật pháp, tu tập pháp môn thì sẽ được trí huệ thanh tịnh. Phật trí
vốn bình đẳng, bất nhị, nhưng vì tâm chúng sanh có sai biệt nên có trí
huệ sai biệt.
Đây
là tướng thứ 3 của tâm Phật.
Biển
đại trí huệ của Phật chứa đựng 4 đại báu đại trí đày đủ công đức
vô lượng, nào báu đại trí về phương tiện thiện xảo, về việc khéo phân
biệt các pháp hữu vi và vô vi, về khả năng nói vô lượng pháp, về
đặc tính biết thời biết phi thời, bốn món đại trí này vốn bình đẳng,
diệu hảo có thể làm cho chư Bồ Tát được trí huệ quang minh.
Đây
là tướng thư 4 củ tâm Phật.
Biển
đại trí huệ của Phật có 4 đại báu trí, nào diệt vô minh, trừ ái
dục, chiếu khắp, bình đẳng vô công dụng. Đức Phật dùng báu đại trí
thứ nhứt chiếu đến Bồ Tát khiến trụ nơi chánh định, dùng báu đại
trí thứ 2 chiếu đến Bồ Tát khin từ bỏ tham đắm tam muội, phát đại
thần thông, dùng báu đại trí thứ 3 chiếu đến Bồ Tát khiến bỏ thần
thông trụ nơi công dụng hạnh, lại dùng đại báu thứ 4 chiếu đến Bồ
Tát khiến bỏ công dụng hạnh được Như Lai bình đẳng vô công dụng.
Đây
là tướng thứ 5 của tâm Phật.
Trí
huệ của Phật dung khắp vô lượng như trí huệ Thinh Văn trí, Độc giác
trí, hữu vi hạnh trí, vô vi hạnh trí... nhưng vẫn vô sai biệt.
Đây là
tướng thứ 6 của tâm Phật.
Cây
dược vương đại trí huệ của Phật được gọi là cây có gốc vô tận vì
rốt ráo không dứt. Lúc cây này sanh rễ thì Bồ Tát sanh rễ đại từ
bi, khi cây lớn lên thì Bồ Tát được thâm tâm kiên cố, khi cây đâm
nhánh thì Bồ Tát tăng trưởng nhánh Balamật, khi cây trổ lá thì Bồ
Tát tăng trưởng lá công đức tịnh giới, khi cây trổ bông thì Bồ Tát
có đầy đủ bông thiện căn tướng hảo trang nghiêm, khi cây kết trái thì
Bồ Tát được trái vô sanh nhẫn, quả Phật quán đảnh nhẫn. Nhưng trí
huệ của Phật không đem lợi ích nhiều cho hàng nhị thừa cũng như cho
các chúng sanh tà khiến, tham ái.
Đây
là tướng thứ 7 của tâm Phật.
Trí
huệ của Phật phân biệt rõ tam thế chúng sanh, quốc độ, kiếp số,
các pháp, vì trí huệ này bình đẳng thấu rõ tất cả.
Đây
là tướng thứ 8 của tâm Phật.
Đức
Phật có gió đại trí tên Năng Diệt có khả năng diệt trừ tất cả
tạp khí phiền não của chư đại Bồ Tát, cũng có đại trí tên Xả Trì
có khả năng giữ gìn chư Bồ Tát có căn khí chưa được thành thục làm
cho gió Năng Diệt không thể dứt trừ hết tạp khí phiền não, nếu
không họ sẽ rơi vào nhị thừa chỉ biết chuyên tu thiện pháp (vì còn
biên kiến).
Đây
là tướng thứ 9 của tâm Phật.
Không
có một chúng sanh nào mà chẳng có đầy đủ Trí Huệ Phật nhưng vì vọng
tưởng điên đảo chấp trước nên không chứng được. Trí huệ nầy vốn vô
lượng, vô ngại, có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sanh vì nằm
trọn vẹn trong thân chúng sanh. Thánh đạo, Phật pháp có khả năng
dạy cho họ thấy được Trí Huệ Phật trong thân họ, bằng cách dứt trừ
vọng tưởng rồi họ sẽ chứng được nhứt thiết trí, tự nhiên trí, vô
ngại trí.
Đây là tướng thứ 10 của
tâm Phật.
4.-ĐẠI THỪA TUYỆT ĐỐI LUẬN
(Nguyệt Khuê Thiền Sư, tr 9-15)
Khi
bước vào cảnh giới tuyệt đối thì sở thấy sẽ mênh mông vô biên, vô
thủy vô chung, vô cùng tận, ấy là tồn tại của tuyệt đối. Ngay đó
chẳng thể tưởng tượng thế nào gọi là không gian và thời gian, thế
nào gọi là vật chất và tinh thần, nhưng mà những cái trên mỗi mỗi
tự an nơi ngôi vị nó, hoàn toàn đày đủ, vĩnh viễn tồn tại nơi quốc
độ tuyệt đối.
Ở
quốc độ tuyệt đối, vật chất và tinh thần là bình đẳng và cộng thể
mà cùng nhau tồn tại, chẳng thể phân chia. Ấy là bông hoa đẹp vĩnh
viễn tồn tại không bao giờ héo tàn. Ở đất này vĩnh viễn không có
duy tâm luận và duy vật luận. Họ chẳng thể dẫm chân vào đất này
bởi vì cánh cửa của tuyệt đối không bao giờ tư tưởng và cảm giác
có thể mở ra.
Đường
lối khoa học và triết học hiện nay chỉ là xu hướng đến chỗ sa mạc
hoang vu của tương đối. Con thuyền suy lý và biện chứng hiện đang
phiêu lưu nơi biển cả của vô minh, vĩnh viễn không đến được bờ tuyệt
đối.
Tư tưởng cảm giác là hóa thân của nhất
niệm vô minh.
Vô thủy vô minh là hang ổ của nhất
niệm vô minh. Khi nhất niệm vô minh chưa ra đời thì thời gian và không
gian chẳng thể bị bộ não cảm biết được, chẳng thể bị tính toán được.
Khi nhất niệm vô minh đã sanh khởi thì thời gian đã bị giả lập rồi,
không gian bị tính toán rồi, sinh mạng được thừa nhận rồi, tự ngã bị
tham luyến rồi.
Sự
bắt đầu của thời gian không gian cũng đã bắt đầu của sinh mạng,
cũng là bắt đầu của tự ngã, cũng là bắt đầu của vạn sự vạn vật,
cũng là bắt đầu của tất cả sự mâu thuẫn, nói tóm lại tức là bắt
đầu của cả vũ trụ tương đối.
Khi
nhất niệm vô minh im lặng trở về hang ổ vô thuỷ vô minh thì tự ngã
theo đó tiêu diệt, vạn sự vạn vật cũng theo đó tiêu diệt, cả vũ
trụ thời gian và không gian cũng theo đó tiêu diệt, tất cả mâu
thuẫn cũng theo đó tiêu diệt, chỉ còn lại miếng đất đen tối mênh
mông, hoang vu của vô thủy vô minh, cũng là hang ổ của kẻ tương đối.
Vô
thủy vô minh giống như một bức màn đen che khuất tất cả thể tướng
chân thật, nó là ranh giới giữa tuyệt đối và tương đối, ranh giới
ngăn cách giữa chân với giả.
Khi
nhất niệm vô minh từ trong bóng tối của màn đen xuất hiện thì tất
cả tuồng kịch của thiện ác, thị phi, buồn vui, tan hợp... ngay đó bắt
đầu, tất cả mưa gió giông bão bắt đầu, vận mạng biến đổi không
chừng cũng bắt đầu, tất cả lịch sử mâu thuẫn xung đột đấu tranh đổ
máu đều từ đó bắt đầu cả.
Nhưng
tất cả những điều trên đều là ảo thuật hư vọng, chỉ có Phật Thích
ca nhìn thấu sự thật, dùng bàn tay Bát Nhã của Phật mở ra bức màn
đen tối của vô thủy vô minh thì trong khoảnh khắc tất cả tuồng kịch
vui buồn của tương đối đều tiêu diệt, tất cả mưa gió đều yên bình
trở lại, trời đất hoát nhiên sáng tỏ, ngay đó tuyệt đối bắt đầu,
chân ngã tự hiện, ngay trước mắt đều là vũ trụ tuyệt đối, tất cả
hoàn toàn đày đủ chẳng thiếu chẳng dư, cho đến một hạt bụi cũng tự
hiện ra hình tướng chân thật.
Đời
sống của tuyệt đối là vô cùng phong phú an lạc đẹp đẽ chẳng gì so
bằng. Ở đây không có sanh tử, không có thiện ác, không có giàu
nghèo, không có giai cấp, không có trí ngu, không có thị phi, không
có tốt xấu, không có mâu thuẫn, không có tất cả danh tự và hình
thức của tương đối. Ở đây chỉ có hoàn toàn bình đẳng vô hạn của
tuyệt đối, tự do chân chính, an lạc vô cùng, cuối cùng không sanh
không diệt, cũng là vĩnh sanh của tuyệt đối vậy.
Thế
giới tuyệt đối này tức là miếng đất trong sạch của Niết Bàn do
mười phương chư Phật cùng nhau tán thán. Phật Thích Ca đã dùng bốn
chữ cho Thường-Lạc-Ngã-Tinh để tán thán cảnh đẹp của Niết Bàn này.
Ở
đây chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải do sáng tạo mà là hổn nhiên,
ấy là chữ Thường của tuyệt đối.
Ở
đây vô khổ vô lạc, chẳng có bó buộc và giải thoát, ấy là chữ
Lạc của tuyệt đối.
Ở
đây vô ngã vô nhơn, vô Phật vô chúng sanh, chẳng phảisiêu thăng mà
là bản trụ, ấy là chữ ngã của tuyệt đối.
Ở
đây vô cấu vô tịnh, vô tội vô phúc, chẳng cần tu tập mà bổn lai
trong sạch, ấy là chữ Tịnh của tuyệt đối.
Đem
tất cả cảnh giới tương đối buông bỏ rồi tức là giải thoát, ấy là
phương pháp duy nhất để tiến vào tuyệt đối nên gọi là pháp môn bất
khả tư nghì. Bất khả tư nghì tức là tuyệt đối chân như, nghĩa là
chẳng thể dùng tư duy cảm giác để đạt đến, chẳng thể dùng ngữ ngôn
văn tự để diễn tả, chỉ do phủ định tương đối mới có thể tiến đến
quốc độ tự do bình đẳng của tuyệt đối.
Phương
pháp của Phật Thích Ca đem tất cả tương đối đều hoàn nguyên trở lại
thành tuyệt đối cho nên tất cả đều là nguyên nhân tự kỷ (cội
nguồn do mình), ngoài nguyên nhân tự kỷ ra chẳng có nguyên nhân nào
khác, cho nên gọi là Vô-Dư-Niết-Bàn cũng gọi là
Vô-Lậu-Giải-Thoát. Đã chẳng có nguyên nhân nào khác tức là hoàn
toàn tự chủ, hoàn toàn tự do bình đẳng, chẳng có giai cấp và xung
đột.
Cái
bản thể tuyệt đối là như như bất động, nếu nó có biến động thì
chẳng phải là tuyệt đối, nếu nó có biến động ắt phải có một thứ
nguyên nhân nào khác hoặc sức mạnh lay động nó, ấy tức là tương
đối rồi nên chẳng thể được tôn xưng là Duy-Nhất-Nguyên-Nhân của
tuyệt đối.
Phật
Thích Ca từng nói Biết hết sự vật trong mười phương tam thế, nếu hiểu
rõ đạo lý tuyệt đối thì sẽ nhìn nhận lời của Phật Thích Ca rất chính
xác. Cái sinh mạng vĩnh viễn không chết, cái chân lý vĩnh viễn không
thay đổi, sự chính xác này đâu có gì để so bằng được, đâu có ý
nghĩa gì có thể hơn nữa.
Từ
xưa đến nay, tất cả nhà triết học chưa từng có người nào bước tới
cửa tuyệt đối, lại chú ý những việc tương đối như thị phi, thiện ác,
quá khứ vị lai, sanh trưởng hủy diệt, quyền lực sinh mạng v.v... kết
quả chẳng có món nào chẳng chìm đắm trong biển cả tương đối, theo Phật
nhãn mà xem xét ấy là ngu dại đáng thương xót biết bao! Cái hiệu
quả của tư tưởng cảm giác chẳng qua là một phê phán điên đảo và
trong mở mắt chiêm bao, do họ hôn mê và hiểu lầm làm cho cả loài
ngườI đều lọt vào vận mạng bi thảm.
Bởi
vì khổ với vui là tương đối chẳng thể phân chia, ví trên mặt người
có thể hiện ra hào quang vui vẻ cũng có thể đắp lên đám mây u sầu
bi thảm. Hai cái buồn vui liên kết với nhau cho nên ai muốn được an
vui tối cao ắt phải chuẩn bị thống khổ tối cao, trái lại kẻ đã chịu
đựng thống khổ nhiều nhất thì có thể cảm giác đến sự an vui nhiều
nhất, bởi vì an vui và thống khổ đối đãi lẫn nhau, chẳng có thống
khổ thì an vui cũng chẳng thể thành lập.
Kỳ
thật, khổ vui đều là hóa thân của nhất niệm vô minh, nhất niệm vô
minh ẩn giấu nơi hầm sâu của vô thủy vô minh tức là cái kho tàng bí
mật thâm sâu của A-lại-da-thức. Khi nhất niệm vô minh chạy ra khỏi
cửa bí mật đó liền biến thành những thứ tình cảm mừng giận buồn vui
mỗi mỗi chẳng đồng chen vào tâm trí để chi phối chúng ta, lúc ấy
chúng ta đã thành một người múa rối rồi.
Nếu
chúng ta không chịu làm người múa rối thì phải lợi dụng trí Bát-Nhã
(tham thoại đầu) theo sát dấu chân của nhất niệm vô minh để phá hủy
ngay thì màn đen của vô thủy vô minh được mở ra, sợi dây khống chế
người múa rối được cắt đứt, bổn lai diện mục liền xuất hiện, lúc
ấy tất cả mừng giận buồn vui đều biến thành tuyệt đối của Phật
tánh, tất cả đều do bản năng tuyệt đối tự mình làm chủ.Trước khi
kẻ tương đối bị vô minh chi phối nay liền được giải thoát, tất cả
đều trở về chân thật tuyệt đối.
Khi tất cả đã trở về
tuyệt đối thì khổ và vui bình đẳng, tất cả hình thức và danh dự bình
đẳng, cái bản năng của tuyệt đối đứng trên đài tư lệnh phát huy
lệnh tuyệt đối khiến khắp cả vũ trụ đều biến thành hoàn toàn
tuyệt đối. Chỉ có trên quốc độ tuyệt đối mới có sự giải thoát
chân chính, mới có sự tự do chân chính, mới có bình đẳng chân chính,
chẳng phải do ai kiến tạo mà bổn lai vôn như thế.
Cái bản nguyện tự tánh của chúng sanh
vốn là tuyệt đối tự do và bình đẳng, cái tự do bình đẳng này hễ
đắc được rồi thì vĩnh viễn không thể biến mất vì nó là từ vô thủy
bổn nhiên như thế.
5.- TÂM VÀ TỰ TÍNH CỦA TÂM
(Tạng Thư Sống Chết,tr 74-79)
Cái
thấy thực cách mạng trong Phật giáo là, sự sống và chết ở ngay
trong tâm, không đâu khác. Tâm được xem như nền tảng phổ quát của
kinh nghiệm-kẻ sáng tạo ra hạnh phúc và đau khổ, kẻ sáng tạo ra cái
ta gọi là sự sống và cái ta gọi là sự chết.
Có
nhiều phương diện của tâm, nhưng có hai phương diện nổi bật hơn cả.
Đầu tiên là cái tâm thông thường mà người Tây Tạng gọi là sem.
Một bậc thầy đã định nghĩa nó như sau: Đó là cái tâm có khả năng
phân biệt, có ý thức về nhị nguyên - hoặc lấy hoặc bỏ một đối
tượng ngoài- đó là tâm. Đó là cái có thể giao thiệp với một cái
khác -bất cứ cái gì khác, được xem là sở tri (bị biết) khác với cái
năng tri (người biết). Sem là cái tâm suy nghĩ, tâm nhị nguyên, phân
biệt, chỉ có thể vận hành tương quan với một điểm quy chiếu ở ngoài,
bị nhận lầm và chỉ là một cái bóng được chiếu ra.
Vậy
Sem là cái tâm suy nghĩ, đặt kế hoạch, ham muốn, vận động, cái tâm
bừng lên trong cơn giận dữ, tạo ra và say mê trong những đợt sóng tư
duy và cảm xúc tiêu cực, cái tâm cứ luôn luôn phải tiếp tục quả
quyết, đánh giá, và xác định lại hiện hữu của nó bằng cách cắt
xén, đặt tên, củng cố kinh nghiệm. Tâm thông thường là miếng mồi
thụ động di chuyển không ngừng theo những ảnh hưởng bên ngoài, theo
những khuynh hướng tập quán và điều kiện: Những bậc thầy ví nó với
một ngọn đèn cầy đặt trước gió, phải bị lay động bởi tất cả những
ngọn gió của hoàn cảnh.
Nhìn
từ một góc cạnh, thì sem là lay động, không dừng trụ, chấp thủ,
luôn luôn xía vô việc của người khác; năng lực nó bị tiêu hao do
chiếu ra ngoài quá nhiều. Đôi khi ví nó như một hột đău nhảy của xứ
Mexico hay một con khỉ không ngừng chuyền cành. Tuy vậy nhìn một cách
khác, thì tâm thông thường có một tính cố định cùn nhụt giả tạm,
một tính trơ lì tự vệ và tự mãn, một sự bình thản lạnh lùng của
thói quen ăn sâu. Sem láu cá như một chính trị gia quỷ quyệt, hoài
nghi, nhiều mưu mô lừa dối, và; tinh vi với những trò lừa gạt,
Jamyang Khiente đã viết. Chính trong kinh nghiệm của sem, cái tâm hỗn
mang vô trật tự này mà chúng ta chịu những đổi thay và chết chóc.
Nhưng
còn có bản tính tự nhiên của tâm, tính chất sâu xa của nó, cái
tuyệt đối không dính tới đổi thay và chết chóc. Hiện giờ nó đang ẩn
trong tâm sem thông thường của ta, bị bao phủ và che mờ bởi những
huyên náo rộn ràng trong tâm những ý nghĩ và cảm xúc. Cũng như mây
có thể bị luồng gió mạnh thổi tan, để lộ mặt trời sáng chói và
bầu trời rộng mở, cũng thế, trong vài trường hợp đặc biệt, một cảm
hứng nào đó có thể vén mở cho ta hé thấy bản tính tự nhiên ấy của
tâm. Những sự hé thấy nầy có nhiều mức độ cạn sâu, song đều đem
lại cho ta một ít tuệ giác, ý nghĩa và giải thoát tự do. Bởi vì bản
tính tự nhiên này của tâm chính là gốc rễ của trí tuệ. Tạng ngữ
gọi nó là Rigpa, một sự tĩng giác trong sáng nguyên ủy có tính chất
thông minh, biết nhận thức, sáng chói và luôn luôn tĩnh thức. Có
thể nói nó là cái biết của chính cái biết.
Đừng
tưởng lầm bản chất tự nhiên của tâm chỉ có trong tâm ta nà thôi. Kì
thực nó là bản chất của mọi sự vật. Điều cần nói là, trực nhận
bản tính tự nhiên của tâm chính là trực nhận bản tính tự nhiên của
mọi sự vật.
Những
bậc thánh và hành giả huyền học trong lịch sử thường nói về sự
chứng ngộ của họ bằng những tên khác nhau, khoác cho nó nhiều bộ
mặt khác nhau, lối giải thích khác nhau, nhưng tất cả đều kinh nghiệm
một điều căn bản là bản tính thuần túy của tâm. Người Ki tô và Do
thái giáo gọi nó là Thượng đế; Ấn giáo gọi nó là Đại ngã, Shiva, Brahman
và Vishnu; những nhà thần bí Sufi gọi nó là Tính chất ẩn nấp; còn
Phật tử gọi nó là Phật tính. Trọng tâm của mọi tôn giáo là niềm
xác tín rằng có một chân lý căn để, và đời sống là một cơ hội
thiêng liêng để tiến hóa và thực chứng chân lý ấy.
Tương
truyền khi Phật mới đạt giác ngộ, điều duy nhất Ngài muốn làm là
chỉ cho tất cả chúng ta tự tính của tâm, san sẻ cho ta những gì Ngài
trực ngộ. Nhưng Ngài cũng thấy-với nỗi đau buồn và lòng bi mẫn bao
la-rằng thật khó mà làm cho chúng ta hiểu được.
Vì
mặc dù ta cũng có tự tính của tâm như Phật, chúng ta không nhận ra
nó được vì nó bị gói kín, bao trong trong những cái tâm thông thường
phàm tục của ta. Hãy tưởng tượng một cái bình trống. Khoảng không
trong bình cũng giống hệt khoảng không bên ngoài. Chỉ có những bức
thành mong manh của cái bình đã ngăn cách không gian bên trong với
bên ngoài. Tâm Phật trong ta bị vây kín trong những bức thành của tâm
thông tục. Như khi ta giác ngộ, thì cũng giống như cái bình vỡ tan
thành mảnh vụn. Khoảng không gian bên trong liền tan hòa ngay vào
không gian bên bên ngoài. Cả hai trở thành một: ngay lúc đó và tại
chỗ đó, ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn
cách hay sai khác; chúng vẫn luôn luôn là một.
BẦU TRỜI VÀ NHỮNG ĐÁM MÂY
Bởi
thế, dù đời ta có thế nào đi nữa, Phật tính của ta cũng luôn luôn
ở đây. Và nó luôn luôn toàn hảo. Ngay cả chư Phật với trí tuệ vô
biên cũng không thể làm cho nó tốt hơn được, và chúng sinh với tất
cả vô minh có vẻ bất tận, cũng không thể làm cho nó lấm lem. Tính
bản nhiên của chúng ta có thể ví như bầu trời, và sự mờ mịt của
tâm thông tục giống như mây. Có những ngày bầu trời hoàn toàn bị
mây phủ kín. Khi ấy nằm xuống đất mà nhìn lên, thì ta thực khó mà
tin nổi trên trời còn còn có cái gì khác ngoài mây. Nhưng chỉ cần
bay trên một chiếc phi cơ ta sẽ thấy tít trên cao xa nữa là một vùng
trời xanh trong bao la vô tận. Từ đây mà nhìn xuống thì thấy những
đám mây-mà khi ở dưới đất, ta tưởng là tất cả mọi sự-thật xa xăm
nhỏ bé làm sao.
Ta
phải cố nhớ luôn luôn rằng: những mây không phải là bầu là bầu
trời, và không thuộc về bầu trời. Chúng chỉ lơ lửng giữa từng
không, và đi qua với kiểu hơi lố bịch, không lệ thuộc vào đâu. Nhưng
chúng không bao giờ có thể để dấu vết làm lấm lem bầu trời.
Vậy
Phật tính ấy đích thực nằm ở đâu? Nó nằm ngay nơi tự tính của tâm,
cái tự tính được ví như bầu trời ấy. Hoàn toàn cởi mở, tự do, vô
biên, Phật tính ấy thực đơn giản, tự nhiên như nhiên tới nỗi không
bao giờ có thể trở thành phức tạp, hư hỏng, hay bị nhiễm ô; nó
thuần tịnh tới nỗi vượt ngoài cả ý niệm sạch dơ. Nhưng nói về tự
tính của tâm ví như bầu trời ấy chỉ là một ẩn dụ để giúp ta bắt
đầu tưởng tượng được tính chất vô biên bao trùm tất cả của nó; vì
Phật tính có một tính chất mà bầu trời không có được, đó là tính
sáng chói của tĩnh thức. Như có câu:
Đó
là cái giác tính hiện tiền không lỗi nơi bạn, biết nhận thức mà
vẫn trống rỗng, đơn giản mà sáng suốt.
Dudjom Rinpoche viết:
Không
lời nào có thể mô tả,
Không
có ví dụ nào để chỉ rõ
Sinh
tử không làm cho nó xấu hơn
Niết
bàn không làm cho nó tốt hơn
Nó
chưa từng sinh
Nó
chưa từng diệt
Chưa
từng giải thoát
Chưa
từng mê lầm
Chưa
từng có cũng chưa từng không
Nó
không có một giới hạn nào
Không
thể xếp nó vào một phạm trù nào cả.
Nyoshul Khen Rinpoche nói:
Sâu xa vắng lặng, thoát
mọi rắc rối
Sáng
suốt không do kết hợp mà thành
Vượt
ngoài tâm phân biệt đặt tên;
Đấy
là tâm sâu xa của những Đấng Chiến Thắng
Trong
đó không một vật gì phải vứt ra
Cũng
không một vật gì cần thêm vào
Đấy
thuần là cái vô nhiễm
Đang
nhìn vào chính nó một cách tự nhiên.
CHƯƠNG NĂM
KINH NGHIỆM SỐNG CHẾT
I.- TỬ
THƯ TÂY TẠNG
(Padma Sambhava, tr.30-58)
1).-
Lời Tựa của Latma Anagarika Govinda:
...
Người nào có đức tin vào nền siêu hình học Phật Giáo, thì thấy rằng
Sinh và Tử chẳng phải là những hiện tượng duy nhất của sự Sống và
sự Chết, mà chúng can thiệp vào chúng ta một cách liên tục không
ngừng. Trong từng khoảnh khắc, trong chúng ta có cái gì đó chết đi và
cái gì đó sinh ra. Các Bardos khác nhau chỉ là những Trạng thái tâm
thức khác nhau của đời sống chung ta: Trạng thái thức, Trạng thái
mộng, Trạng thái hấp hối, Trạng thái chết và Trạng thái tái sinh.
Tất
cả những điều trên đây được mô tả rõ ràng trong những câu thơ căn
bản của Sáu Bardos (Bardo-rman druy-rtsatsig), chúng là cốt lõi đầu
tiên của tác phẩm Bardo Thodol. Điều đó chứng tỏ rằng ở đây chúng
ta đang đối diện với chân lý của Sự Sống, chứ không phải một bài
hướng dẫn của về Cái Chết, hay là một khóa lễ dành cho những người
chết, như người ta vẫn tưởng lầm, do sự biến dạng và thoái hóa sau
nầy của tác phẩm.
Đây
không phải là một tài liệu hướng dẫn những Người chết mà hướng
dẫn tất cả những ai muốn vượt qua Cái Chết thành một hành động
giải thoát. Bởi lẽ khi chết chúng ta cũng trải qua những bước tuần
tự của Thiền định. Plutarque đã từng nói:
-Ngay
lúc chết, Tâm thức của con người lọt vào những Trạng thái huyền bí,
giống như Trạng thái của những vị Đạo đồ cao cấp.
Do
sự tự động cắt đứt khỏi lớp vỏ thể xác, cùng với tất cả những
ham muốn và ngăn ngại của Tâm thức nông cạn, Cái Chết rõ ràng đưa
đến cho chúng ta một cơ hội hi hữu để đặc biệt giải phóng chúng ta
ra khỏi sự tàng buộc của những bản năng tối tăm, và hé mở cho
chúng ta nhìn thấy thấp thoáng ánh sáng giải thoát, dù rằng chỉ trong
chốc lát. Người nào có thể gắn bó được với khoảnh khắc ấy và giữ
mình được ngang tầm với sự hiểu biết ấy, thì sẽ tham dự vào cuộc
giải thoát. Ngược lại kẻ nào yếu đuối, bị rơi rớt do không thể giữ
mình ở ngang tầm ấy, sẽ gặp ít nhiều khó khăn khi trở lại vòng Luân
hồi sanh tử.
Chỉ
những ai đã có sự chuẩn bị cả cuộc đời mình mới có thể đối diện
vững vàng với khoảnh khắc mãnh liệt ấy. Chính vì vậy mà chúng ta
hiểu vì sao trong các cuộc Điểm đạo của những Tông Huyền Môn lớn
thời cổ đại, cũng như trong những nền văn hóa xa xưa hơn, đều có nghi
thức về Cái chết tượng trưng cho người được điểm đạo. Padma Sambhava
cũng đã dùng đến những nghi thức nầy, trong câu thơ căn bản cuối
cùng ông lưu ý chúng ta rằng:
-Trong
ý nghĩa về Cái chết sắp đến, thì điều chính yếu không phải là muốn
từ bỏ các quyền lợi vô nghĩa của sự tham sống, mà chủ yếu là sự
hiến dâng mình cho Phật pháp, chừng nào mà sự sống còn cho phép
chúng ta làm điều ấy.
Nhằm
mục đích này chúng ta phải làm sao cho sinh hoạt cuộc sống hàng ngày,
trong đó bao gồm cả Sự chết, không phải như sinh hoạt chán đời, mà
coi đó như là một phần không thể tách rời và rất cần thiết của
đời sống. Muốn thâm nhập vào lĩnh vực kinh nghiệm này, không cần
phải có những quan điểm bệnh hoạn, bi quan (việc này thuộc về một
thế giới khác và phục vụ những mục đích hoàn toàn khác), mà cái
chủ yếu là cần đi sâu vào Cốt tủy của Bản thể, nơi đó chúng ta
gặp Sự sống và Cái chết không tách rời nhau.
2.- Lời Giới Thiệu của Nữ Dịch Giả Eva K.
Dargyay
KINH NGHIỆM VỀ CÁI CHẾT TRONG CÁC TRUYỀN
THỐNG HUYỀN MÔN
Trong
hầu hết các nền văn hóa của nhân loại, Cái Chết luôn luôn là một
kinh nghiệm hãi hùng, dễ sợ, nó gợi lên sự duy tư về ý nghĩa của
cuộc đời, về những nguyên nhân dẫn đến sự thử thách đó và hành
động bức bách khiến Cái chết trở nên không thể tránh được. Ngay từ
những buổi đầu tiên của nhân loại, người ta đã tìm kiếm ý nghĩa của
mối lo sợ hãi hùng đó và gán cho Cái chết nhiều điều khó hiểu
cùng những hình ảnh huyền bí. Chúng ta chưa từng thấy có một nền văn
hóa nào mà đã không tìm cách giải bài toán bí hiểm của Cái chết.
Tất cả các nền văn hóa ấy đều truyền lại cho chúng ta những hình
ảnh giống hệt nhau về căn bản.
Từ
lúc khởi thủy, khi con người hoàn toàn hãy còn là một--không tách
rời đấng thiêng liêng--lúc ấy con ngườI chưa từng biết đến Cái
chết. Con người chỉ chịu đựng Cái chết sau khi tách rời khỏi đẳng cấp
Thần linh và bị rơi rớt xuống đẳng cấp thấp hơn.
Trạng
thái đầu tiên của con người là Trạng thái phúc lạc (ở cõi Thiên
đường). Con người lúc ấy sống trong cõi Địa Đàng (Eden). Không biết
đến lòng ham muốn, sự thù ghét và hòa hợp đồng nhất với tất cả
chúng sinh, sống hạnh phúc trong sự chiêm ngưỡng bản thể chân thật.
Những nền văn hóa cổ xưa hơn nữađã nhìn thấy Trạng thái khởi thủy
của con người một cách cụ thể hơn: Trái cây đủ loại sẵn có dồi
dào, muốn ăn chỉ cần hái.Con người lúc ấy xa lạ vớI các sự đãu
tranh và thù nghịch. Tuy nhiên, dù ở trong Trạng thái phúc lạc, cuộc
sống khởi thủy của con người vẫn mang dấu vết của sự bất động và
trường cửu, không có một sự sáng tạo nào. Vì vậy Cái chết xuất
hiện với ý nghĩa sâu sắc của nó, như là một hệ quả cần thiết trong
sự cứng nhắc, thiếu sinh động của Trạng thái phúc lạc khởi thủy.
Để có thể phát triển và tiến hóa con người cần phải chết đi, cũng
như sau này tất cả các vị thánh, các nhà huyền môn, các Chamanists
và các bậc Thầy tâm linh đều phải chết. Thần chết có cái đầu của
Janus vừa nhìn vào Thế gian, vừa nhìn vào cõi bên kia, nhưng nó cũng
là cái ngưỡng cửa, nơi đây lẫn lộn buồn và vui, bất động và linh
động.
Từ
những thời xa xưa nhất, vấn đề Cái chết đã chiếm một vị trí ưu tiên
trong sự suy nghĩ của con người. Ngày nay thời đại chúng ta cũng không
thể tách rời được vấn đề Cái chết, nó theo bức bách chúng ta hàng
ngày. Mỗi buổi tối nó thường đập vào Tâm thức chúng ta thông qua
cái ăngten tivi. Chưa có thời đại nào mà Cái chết được cảm nhận
với một qui mô đồng đều như thời đại chúng ta. Ngày nay, đối với
nhiều người, Cái chết thường chỉ có ý nghĩa là sự chấm dứt phi lý
của một cuộc sống vô nghĩa. Cái chết chỉ còn là cái lưỡi hái tối
tăm đến cướp sinh mạng của chúng ta đi.
Ở
phương Tây, khi chúng ta bắt đầu phủ nhận tất cả ý nghĩa tôn giáo
và huyền bí của Cái chết, thì chỉ trong vòng vài thế kỷ, đời sống
con người đã hoàn toàn bị lột bỏ tất cả ý nghĩa thiêng liêng của
nó. Ngày nay chúng ta không còn có thể xác định được ý nghĩa của
Cái chết, chúng ta chỉ thấy đó là sự chấm dứt hoạt động của một
số chức năng dinh dưỡng. Cái chết đã trở thành một Trạng thái sinh
lý. Nhưng ý tưởng đó không thỏa mãn được chúng ta và chúng ta cố
gắng không nhìn tận mặt Cái chết. Chúng ta nhốt những người bệnh và
người sắp chết vào những căn phòng trơ trụi, đầy những dụng cụ máy
móc, tách biệt hẳn sự có mặt của con người. Chúng ta không muốn
bận tâm gì nữa với Cái chết. Chúng ta muốn liệm người chết vào cái
áo quan và đem ra nghĩa địa. Chúng ta muốn gạt Cái chết ra khỏi con
đường đi của mình và nói một cách đơn giản hơn là muốn quên nó đi.
Cách
giải thích Cái chết theo ý nghĩa của trạng thái sinh lý học được
người phương Tây chấp nhận như ngày nay, không thể giúp chúng ta hiểu
được sách Barđo Thodol, một quyển đã trở nên nổi tiếng với cái tên
Sách Tây Tạng về người chết. Tuy nhiên ở phương Tây cũng bắt đầu
xuất hiên một vài quan niệm rộng rãi hơn, cho phép người ta tiến tới
tìm hiểu về Cái chết rõ ràng hơn. Tôi muốn nói đến của vị bác sĩ
người Mỹ tên là Mởody, có đề cập đến một số nhân chứng về Cái
chết. Raymond A. Mởody, trong quyển sách Đời sống tiếp theo đời sống
(New York, 1975) đã phỏng vấn nhiều bệnh nhân được xem như là đã trải
qua Cái chết trên giường bệnh, vì tim họ đã ngừng đập trong nhiều
phút và máy đo dòng diện não đã không còn ghi nhận một tín hiệu
nào cả.
Bác
sĩ Mởody đã tập hợp được một trăm năm chục người bệnh làm nhân
chứng, và lạ thay, những kinh nghiệm của họ đều giống hệt nhau:
Người chết nghe giọng nói của bác sĩ tuyên bố rằng mình đã chết.
Kèm theo những tiếng ầm ì khá to, người ấy cảm thấy mình chui qua một
đường hầm tối tăm, chật hẹp và đi ra khỏi thể xác của mình, mặc dù
họ còn cảm nhận có một thể xác nhẹ nhàng, phi vật chất, từ đó họ
có thể quan sát tất cả những gì diễn ra xung quanh cái xác chết của
mình. Rồi có những vật thể phi vật chất cũng giống như người chết,
đến đón rước họ, tràn ngập tình thương và sự hòa hợp, trong một thứ
ánh sáng chói lọi siêu nhiên. Trong nháy mắt, người chết thấy lại
toàn bộ những hành động trong cuộc đời mình; và mặc dù có sự bảo
hộ của Tình thương và sự Yên tĩnh giữ họ lại, người chết vẫn bị
thúc đảy bởi ý muốn trở lại trong thân xác mình. Kết thúc về kinh
nghiệm về Cái chết là một cảm giác còn non nớt, chưa thông suốt rõ
ràng đối với cõi bên kia.
Những
nhân chứng trên đây có nguồn gốc từ những người thuộc đủ tầng lớp
của xã hội Mỹ vào cuối thế kỷ thứ 20 thật hoàn toàn phù hợp một
cách kỳ lạ với những gì đã được nói đến trong quyển Sách Tây Tạng
về người chết. Mỗi một hiện tượng đã được trình bày đều tìm thấy
trong sách này. Để làm rõ nền tảng tôn giáo của quyển Sách Tây
Tạng về người chết, tôi đề nghị độc giả hãy nhìn trở lại những tư
tưởng của tổ tiên chúng ta, để thấy được các vị Tiền bối hiểu biết
về Cái chết như thế nào. Ngành khảo cổ học không thể giúp chúng ta
hiểu biết những gì mà nền văn hóa cổ xưa đã suy nghĩ như thế nào về
Cái chết. Những huyền thoại, những chuyện cổ tích về Cái chết, có
thể cung cấp dữ kiện cho chúng ta, giống như chúng ta truyền lại một
câu chuyện kể đến một thời gian nào đó. Chúng ta tìm thấy lại các
huyền thoại ấy, đầy tính chân thật và trong những giòng chữ của
chúng chứa đựng những giấc mơ muôn thuở của nhân loại. Những giấc
mơ ấy không phải là những bong bóng xà phòng như một câu phương ngôn
đã nói với chúng ta, mà thực ra chúng chứa đựng cái nhìn sâu xa
nhất về bản thể của chúng ta. Thật không phải là một chuyện vô ích
đối với những điều mà các nhà phân tâm học đã làm, khi họ dùng
những giấc mơ để chữa bịnh tâm thần cho con người.
Tất
cả huyền thoại của nhân loại đều xem Cái chết như một sự kiện đặc
biệt không thuộc về thế giới tự nhiên. Cái chết không phải là sự
cần thiết vốn có củ tự nhiên. Nó chỉ có thể được hiểu như là một
sự thoái hóa hay đảo ngược bản chất tự nhiên của con người. Vì vậy
một vài huyền thoại so sánh vệc Cái chết đến như là một hành động
không vâng lời: Con người không vâng theo mệnh lệnh của Thượng Đế.
Phần lớn các trường hợp, chính sự tò mò khác đã đảy con người vi
phạm mệnh lệnh. Mộy vài huyền thoại khác xem Cái chết như hệ quả
của một hành động cực kỳ đáng ghét, hành động của một kẻ điên
rồ. Chúng ta tìm thấy những huyền thoại dạng này ở những dân tộc
cổ xưa tại Châu Úc, trung tâm Châu Á, vùng Siberia và miền Bắc nước
Mỹ. Một số huyền thoại khác xem Cái chết như một sự nhầm lẫn của
tạo hóa: Chiếc hộp (đựng Cái thiện, Cái ác) của nàng Pandore được
mở ra một cách vô ý, Sứ giả thông báo Sự bất tử cho loài người
đã đến quá chậm và Sứ giả thông báo Cái chết đã đến trước tiên
với loài người. Các huyền thoại này thường gặp ở Châu Phi.
Trong
quyển Sách Tây Tạng về người chết tức Bardo Thodol, cái chết xuất
hiện trước hết là do những hành động mà người đang chết phải chịu
trách nhiệm: NgườI ta gọi toàn bộ những hành động ấy là Karma
(Nghiệp). Giờ đây, chúng ta ghi nhận rằng theo trong Bardo Thodol, Cái
chết xuất hiện kiên quan với hành động của chúng ta. Vậy thì Cái
chết đến là không phải do lỗi các vị Thần (Thoái hóa, nhầm lẫn) mà
chính là do sự sai lầm của con người.
Ngoài
lập luận trên đây, chúng ta còn tìm thấy trong cốt lõi của Bardo
Thodol một điều mà các huyền thoại đã từng nhắc đến: Đó là con
người thực sự được che chở bao bọc trong lòng của Thần linh đày ánh
sáng, nơi đó con người đươc dự phần vào Chân lý tự tại, chính nhờ
vào bản chất tâm linh của mình. Bardo Thodol không cho rằng con người
bị rơi rớt từ Thiên dàng nguyên thủy do một hành động huyền thoại
chống đối hay ngu ngốc. Ngược lại, nó phát triển cả một quá trình
siêu hình của tư tưởng, trong đó Bản chất Tâm linh Ánh sáng của Con
người là một cái gì đó không thể cầm nắm được, yên lặng và sáng
rực; nó vang lên trong Tâm của mỗi người khi mà tất cả mối suy
tưởng của chúng ta đều bị cắt đứt, tất cả mọi ham muốn, tất cả mọi
mối quan hệ của chúng ta với mọi vật đều chấm dứt. Đó chính là Tâm
Thanh Tịnh. Trong văn bản chúng tôi gọi nó là trần truị. Bản chất
Tâm Linh Ánh sáng đó không thể cầm nắm hay diễn tả được, nó có thể
được chứng nghiệm đột biến trong cơn Thiền định sâu sắc, sau một quá
trình tu tập và phát triển tâm linh lâu dài. Cái Bản chất Tâm linh
Ánh sáng ấy là bản chất vốn có của con người. Thông qua nó, con
người trong tinh hoa của mình được hợp nhất với tất cả chư Phật, với
tất cả chúng sinh. Cái đó gọi là Phật tính hay mầm của Như Lai
(Tathagata).
Cảnh
thiên đàng mà các huyền thoại xác định vào thời kỳ buổi đầu của
lịch sử nhân loại, trong Bardo Thodol được xem như là phẩm chất đầu
tiên của bản thể con người, như nền tảng siêu hình của con người.
Trong các huyền thoại con người bị mất Thiên Đàng là do sự bướng bỉnh
(không vâng lời Thượng Đế) và sự ngu ngốc của mình. Trong văn bản
của chúng tôi, Bản chất Tâm linh Ánh sáng bị mờ tối và bị rơi rớt
khi con người, do nhu cầu vô hạn về sự gặp gỡ, bắt đầu đi lang thang
trong thế giới hiện tượng và bắt đầu chia rẽ cái bản thể vốn không
phân chia, thành ra Ta và Người. Vì vậy mà mọi vật chỉ tồn tại trong
ảo tưởng của con người, cuối cùng con người thất vọng vì mọi vật chỉ
tạm bợ, không lâu dài, cũng không vĩnh cữu. Đó là nguồn gốc của
mọi sự phiền não, tương đương với việc con người bị đuổi ra khỏi
Thiên Đàng trong các chuyện thần thoại. Sự phiền não (Khổ) không
phải đến từ bên ngoài và xâm chiếm con người. Nó nằm ngay trong sự
tham lam vô độ của con người, không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Trong
Bardo Thodol, cái Tâm của con người là cái Trục (đòn bẩy) để đoạt
lại Thiên Đàng.
Trước hết chúng ta hãy xem việc đoạt
lại Thiên Đàng trong các chuyện huyền thoại diễn ra như thế nào. Nó
diễn tả theo chiều hướng trái ngược hoàn toàn vớI việc Đánh mất
Thiên đàng; nếu như Sự không vâng lời đã gây ra việc đánh mất
Thiên đàng, thì việc vâng lời sẽ cho phép tìm lại được Thiên đàng.
Việc đánh mất Thiên đàng kéo theo sự phân chia giữa trời và đất, vì
vậy vị Chamane (Tinh linh siêu nhiên) dùng sợi dây Tâm linh của Cây
đời, hay một cái thang của Trời để trèo lên Thiên đường, thế giới
của các tổ tiên.
Dĩ
nhiên là không phải ai cũng có thể tìm lại Thiên đàng đã mất. Con
đường này chỉ mở ra cho các bậc thầy tâm linh và các vị anh hùng.
Thiên đường là nơi trú ngụ tối ưu của các tổ tiên và ngày nay họ
vẫn còn ở đó; vì xưa kia, trước khi xảy ra sự rơi rớt, họ đã từng
dạo chơi trên đó. Từ ấy, chỉ những kẻ nào đã di qua bằng kinh
nghiệm, trải qua một quá trình biến đổi hoàn toàn, xuyên qua Cái
chét hay xuyên qua những trạng thái gần như xuất thần và thông qua
Thiền định mớI có thể lọt vào trong đó được.
Vào
lúc chết, người Aryen cổ xưa ở Ấn Độ, nhờ vào những bài thánh ca
Vệ Đà, mà lên được cõi gio của Ánh sáng trăng, nơi đây họ đưc các
tổ tiên đón tiếp vào Sự vĩnh cữu bất biến. Ở đây các chuyện huyền
thoại đã cho thấy giờ chết có một ý nghĩa sâu sắc đến mức độ nào.
Chỉ có Cái chết mới có thể chuyển hóa được con người, chỉ có Cái
chết mới đem được con người trở lại Thiên đường nguyên thủy.
Quyển
Bardo Thodol cũng như các huyền thoại, quan niệm rằng trong toàn bộ
cuộc đờI chỉ có gìờ chết là khoảnh khắc không gì so sánh được. Nhưng
Văn bản của chúng tôi không tin rằng có thể tìm lại được Thiên Đàng
xưa nhờ những bài thánh ca, mà chính nhờ thấy rõ những mối quan hệ
cơ bản của thế giaqn, nhờ sự bộc lộ bản chất thật của Tâm con
người.
Cuối
cùng, chúng ta hãy quan sát một trong những đặc điểm của cái Thiên
đường được tìm thấy lại:
Nó tràn ngập Ánh sáng chói lọi, nó
bừng sáng, lóe lên và làm lóa mắt. Ngay lúc mà bản chất tâm linh
của con người được tràn ngập bởi Ánh sáng này, thì bản thân nó
cũng trở thành thứ Ánh sáng đó. Quan điểm này được phổ biến sâu
rộng trong những người theo giáo phái Ngộ Đạo, những người Nhị
nguyên, ở Ấn độ cổ xưa, ở vùng Đông Nam và ở trung tâm Châu Á.
Chúng ta cũng tìm thấy những tư liệu tương tự ở những người theo Đạo
Lão và thậm chí ở Nam Mỹ, trong những bộ lạc da đỏ. Các chuyện
huyền thoại đều gọi Thiên đường nguyên thủy đó là Mặt Trăng, hay
Mặt Trời. Đôi khi Thiên đường này ở phía bên kia của Trái đất, trong
một vùng Ánh sáng siêu thế gian.
Chúng
ta tìm thấy cõi Thiên đường đặc trưng bởi Ánh sáng không những trong
các chuyện huyền thoại mà cả trong những Văn bản huyền bí của những
nền văn hóa khác nhau. Tất cả đều nói về sự chứng nghiệm một
luồng Ánh sáng xuất hiện bất ngờ. Chúng tôi nghe nhiều nhân chứng
kể rằng gương mặt của vài người lóe sáng lên trong những trường hợp
đặc biệt. Những mặt nạ bằng vàng đặt lên những người chết ở
Mycênes chẳng hạn, có lẻ tượng trưng những gương mặt chiếu sáng
ấy,bởi vì người chết khi bước vào cõi giới của Ánh sáng thì chính
anh ta cũng trở thành vĩnh viễn của Ánh sáng ấy.
Trong
quyển Bardo Thodol, ngay từ những trang đầu, chúng ta đã gặp thứ Ánh
sáng ấy, gọi là Ánh sáng cơ bản (chìi cussel), nó chính là Thực tại
của Bản chất Tâm linh. Bản chất Tâm linh nàyđồng thời là một bộ
phận của Đức Phật và của Ánh sáng. Chính vì vậy mà các Đức Phật
thường xuyên hiện ra trong những vòng có màu sắc quang phổ của cầu
vồng và trộn lẫn với Ánh sáng của Bản chất Tâm linh, như trong văn
bản của chúng tôi nói: Hai thứ đó chỉ là một. Sự th hiện của Ánh
sáng Tâm linh đó đã thấy có trong các Văn bản của Tạng kinh Pali,
thí dụ trong kinh Aguttara-Nikaya (A Hàm) gọi tư tưởng là Ánh sáng.
Trong kinh nhắc đi nhắc lại rằng Tư duy thanh tịnh thoát khỏi vô minh
có thể so sánh với vàng ròng. Trong các kinh Đại Thừa, ý tưởng này
cũng được phát triển: Trong các kinh Lăng Già (Lankavatarasutras) tất
cả các chúng sanh nằm trong bản chất của Phật đều được định nghĩa
bằng Ánh sáng. Trong các kinh Bát Nhã (Pra japaramita) có những đoạn
nói cái Không tư duy là Ánh sáng. Từ đó trực tiếp chỉ ra con đường
dẫn đến các biểu hiện mà chúng ta tìm thấy trong Văn bản của chúng
tôi, cụ thể là khi nào Tâm trí tự tại thì nó thấy được Ánh sáng cơ
bản. Nói về toàn bộ quan điểm Ánh sáng ở đây sẽ dẫn chúng ta đi
quá xa. Chúng tôi chỉ muốn trình bày rằng quan điểm cơ bản của Bardo
Thodol không nhất thiết phải gắn liền với những truyền thống tâm
linh ngoài đạo Phật.
Văn
bản của Sách Tây Tạng về người chết có một bối cảnh được dệt nên
bởi các chuyện huyền thoại Ấn Độ và do đó nó truyền lại cho chúng
ta một loạt những chuyện biểu hiện tôn giáo huyền thoại rất quan
trọng. Các chuyện huyền thoại của Ấn Độ luôn luôn có cái song song
của chúng trong hầu hết cái truyền thống văn hóa, do đó Sách về
người chết dựa trên nền tảng vững chắc của một hình ảnh huyền
thoại được phổ thông lưu truyền trên thế giới. Tuy nhiên cũng cần
phải nhấn mạnh rằng các chuyện huyền thoại này không phải là những
chuyện lịch sử khó hiểu, mà đó là hìng ảnh của con người về chính
mình, như chúng ta đã hiểu được trong suốt lịch sử mấy ngàn năm.
Ẩn
dụ huyền thoại nổi bật nhất trong Bardo Thodol có lẽ là Tòa án của
thần chết:
Yama,
thần của Cái chết (Diêm vương) ngự trên ghế quan tòa xử án những
người chết. Hai vị thần là, hai phần linh hồn người chết đem trình lên
Yama tất cả hành động của người chết dưới hình thức những hòn đá
trắng và đen. Để biết được thực chất của người chết, Diêm vương nhìn
vào một tấm gương. Trong những cảnh của Tòa án Diêm vương điện xuất
hiện những kinh nghiệm của con người đã gây nên sự sợ hãi và lo
lắng. Nhiều nền văn hóa cổ xưa cho thấy thế giới cuả các vị Thần
và các Tinh linh cũng được cấu tạo theo những mối quan hệ giống như
ở thế gian. Ở Ấn Độ, vị Maitrayaniyopanisad trong sách về luật của
Manus nói về Tòa án Diêm vương giống như trong chuyện Odyssée của
phương Tây và cuối cùng là nền văn học Do Thái-Kitô giáo nghiên
cứu số phận con người sau khi chết..
Cảnh
tòa án trên hơi giống cảnh trong quyển Sách về ngườI chết Ai Cập,
tuy nhiên cảnh trong sách này có một mục đích hoàn toàn khác. Nếu ta
so sánh cảnh khác cũng trong sách này, ta thấy nó không được xây
dựng có hệ thống được phát triển đầy đủ, mà nó chỉ được nhắc qua
một cách ngắn gọn để làm thí dụ, chẳng hạn như cảnh những người
đày tớ què, cảnh sương mù, tiếng la hét và những hình ảnh sợ hãi
cuộc sống của ngườI chết. Trong cuốn sách của Poucha cũng nói rằng
nhiều biểu tượng khác nhau được sử dụng để mô tả trạng thái sau khi
chết.
Sách Tây Tạng về người chết cũng sử
dụng những hình ảnh huyền thoại căn bản ấy. Bardo Thodol dùng các
hình ảnh huyền thoại của Thần chết dưới dạng một Quan tòa, hay hình
ảnh về những cảnh địa ngục chẳng hạn, là cách tốt nhất để giúp con
người tiếp cận với bản chất thật của mình:
--Hãy nhận biết tất cả
những cảm giác mà con cho là những vật có thật, hãy coi đó là
những hình ảnh thực tại tâm linh của chính con.
Bardo
Thodol trước hết hướng về những người thường nghĩ và sống theo những
hình ảnh huyền thoại nói trên, áp dụng vào giáo lý mà con người
thường cầu khẩn như cầu khẩn chính chân lý và lúc chết. Chúng ta
vẫn không tránh được ý nghĩ thắc mắc tự hỏi rằng Sách Tây Tạng về
người chết là gì? Trước khi tìm cách giải đáp câu hỏi này, tôi muốn
giới thiệu một Nguồn khác, nó tạo cho cuốn Sách Tây Tạng về người
chết có một giá trị to lớn như những tư tưởng triết học và tôn
giáo.
Quan
Niệm Về Kiếp Sống Trong Phật Giáo Các kinh Pali có nhắc đến những
đoạn đối thoại trong đó đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vị Phật trong thế
giới chúng ta, hỏi các đồ đệ rằng : thế giới sinh vật nơi thử thách
các giác quan của con người, đã được tạo ra như thế nào.
Thế
giới của gíác quan khi ấy được phân ra làm năm thành phần :-Sắc
(hình tướng),-Thọ (cảm giác),-Tưởng (quan niệm),-Hành (xúc cảm),-Thức
(nhận thức).
Lúc ấy Phật hỏi các tu sĩ
:
-Này
các tu sĩ, các ông nghĩ như thế nào, hình tướng là trường tồn hay vô
thường?
-Bạch
Phật, là vô thường.
-Vậy
cái gì là vô thường, cái khổ hay cái vui?
-Bạch
Phật, cái khổ!
-Cái
vô thường, đầy phiền não và bị biến đổi có thể suy là cái đó
thuộc về ta, là chính ta, chính bản thể của ta hay không?
-Bạch
Phật, không!
Những
câu vấn đáp nầy cũng được áp dụng bốn thành phần còn lại, tùy
theo đặc trưng của chúng, như vậy toàn bộ kinh nghiệm cảm giác được
mô tả là vô thường và như vậy nó không thể mảy may đạt đến bản
chất thực tại tự do và bất hoại (bất diệt).
Các
nhà triết học Phật giáo đã nỗ lực tìm hiểu sâu rộng hơn về hiện
tượng của tính vô thường phổ quát. Cuối cùng họ đã đi đến một quan
niệm là không những mọi vật đều rõ ràng có sự kết thúc mà chúng
lúc nào tự mình tồn tại biệt lập. Hình ảnh các đồ vật tồn tại
trong một vài ngày hay trong vài năm, xuất hiện với chúng ta giống y
như một cuốn phim. Trong vài đơn vị thời gian ngũ uẩn đồ vật biến đổi
kiếp sống thoáng qua của nó với một tốc độ chóng mặt, không thể
nghĩ bàn, trong đó nếp sống nầy nối theo kiếp sống khác, thỉnh thoảng
có xảy ra một biến đổi nhẹ nhàng nhìn thấy được. Giáo lý nầy, đặc
biệt được truyền lại bởi tông phái Savastivadius đã phát triển trên
toàn miền Bắc Ấn Độ từ những thế kỷ đầu sau công nguyên.
Nếu
như kiếp sống của mỗi đồ vật biến tan đi trong một chuổi dài nối
tiếp thành những giai đoạn bất tận, chúng ta phải tự hỏi, cái gì
xảy ra đối với người chết khi mà tính vô thường đã rõ ràng áp đặt
đối với tất cả mọi người.
Cũng
giống như tất cả các hệ thống tư tưởng với ảnh hưởng đa số dân
chúng ở Ấn Độ, Phật giáo luôn luôn công nhận rằng cuộc sống không
phải chỉ giới hạn ở một lần sinh, mà kiếp người giống như một chuỗi
dài gồm những giai đoạn đi từ cái chết đến một sự tái sinh mới. Đó
là đề tài của câu chuyện Thế Thân Bồ Tát (Vasubandhu) trong cuốn
Abhi-dharmakosa, ở thế kỷ thứ IV hoặc thứ V sau công nguyên.
Trong
chương ba cuốn sách nầy có viết :
-Nếu
chỉ mô tả đơn giản Ngũ Uẩn với tên gọi của chúng, có nghĩa là
người ta không phủ nhận sự tồn tại của chúng. Nhưng như vậy có phải
là người ta chấp nhận Ngũ Uẩn chuyển từ thế giới nầy sang thế giới
khác không? Các Uẩn biến mất từng giây từng phút. Do vậy chúng
không thể chuyển động được. Tuy nhiên chúng vẫn chui vào bụng mẹ,
xuyên qua dòng chảy của các Trạng Thái Trung Gian (Bardo), chịu ảnh
hưởng nặng nề của các hành động trong quá khứ. Cũng giống như Ánh
sáng, mặc dù nó biến đi trong từng lúc, nhưng sự luân lưu trong lúc
ấy sẽ di chuyển đến một nơi khác. Các Uẩn cũng theo cách đó. Vì vậy
nói Uẩn di chuyển cũng không sai, vì như trên đã chứng minh rằng: Mặc
dù bản ngã không tồn tại nhưng sự luân chuyển của các Uẩn, dưới
ảnh hưởng của hành động vô minh, vẫn đi vào trong bụng mẹ.
Trên
đây chỉ là một đoạn ngắn trích ra từ một đoạn của toàn bộ lập luận
kéo dài nhiều trang. Bồ Tát Thế Thân tìm cách chứng minh sự khẳng
định của kiếp sống ở trạng thái trung gian bằng cách trích dẫn các
kinh. Nhiều lần, các kinh nói về một vị A la Hán sau khi chết, đã đi
từ một Trạng Thái Trung Gian cuối cùng để vào Niết Bàn. Bồ Tát Thế
Thân và những trường phái triết học Phật giáo xuất phát từ lập
luận của Ngài, nhận thấy ở sự khẳng định Trạng Thái Trung Gian mà
mọi chúng sanh đều được thụ hưởng sau khi chết.
Còn
một loạt tông phái phủ nhận kết luận như trên, phát xuất từ những
đoạn đã được đề cập. Đó là những Phật tử Tiểu Thừa (Theravadin),
Phật tử Mahasamghias, Lokottaravadin, đó là những tông phái nổi tiếng
nhứt.
Quan
điểm về Trạng Thái Trung Gian cũng thấy xuất hiện trong những Văn
bản khác của kinh Đại Thừa, thí dụ trong Bođdhisattvabhumi có trước ít
lâu so với kinh Abhidharmakosa trong đó nói rõ :
-Những
người chết đi vào trạng thái Trung Gian.
Trong
tác phẩm Vijptimatralasđdhi, trạng thái Trung gian là một biểu hiện
của thực tại. Tuy ở đó còn tranh luận về việc Ngũ Uẩn chuyển từ
trạng thái sống sang trạng thái Trung Gian, đặc biệt trong trường hợp
tái sanh. Như vậy Phật giáo xem kiếp người là phương tiện để giải
thoát khỏi một chuỗi vô tận gồm những giai đoạn ngắn ngũi thoáng qua
và bị phụ thuộc vào Ngũ Uẩn của kiếp sống. Ngũ Uẩn nầy tạo nên
toàn bộ bản chất thể xác và tâm linh của từng liếp sống cá nhân.
Nhưng dù sao cũng không nên xem Ngũ Uẩn là những vật có thể cầm
nắm được. Đúng hơn, chúng là những phạm trù giúp cho sự suy nghĩ nắm
bắt dễ hơn các giai đoạn của kiếp sống. Và do các phạm trù nầy
được giải phóng khỏi sự phụ thuộc lẫn nhau vào lúc chết, nên người
ta có thể nhằm lẫn vào lúc chết mà cho rằng chúng tồn tại liên
tục.
Nhưng
trên thực tế, chỉ những giai đoạn của Sắc Uẩn là bị gián đoạn, ít
nhất là trong trường hợp của vật chất thô. Ngay lúc xuất hiện ở
những giai đoạn tinh vi hơn, cũng thuộc về Sắc Uẩn, đó là Bardo Thodol
nói về hình dạng của một cái hủ hay một Thân Trí Huệ của người
chết. Còn bốn Uẩn kia --Thọ, Tưởng, Hành, Thức--đều thuộc về giới
tâm linh cho nên sự tiếp tục của chúng sau khi chết, ở trạng thái
Trung gian, là điều không phải bàn cải. Kiếp sống cá nhân dù ở
trạng thái Sống, trạng thái Chết hay trạng thái Trung Gian hay trạng
thái Tái Sinh, chính là do sự hợp thành bởi những giai đoạn của năm
Uẩn. Quan niệm về một bản ngã trường tồn như một hạt nhân không
thay đổi cá tính con người, không có chỗ đứng trong cách nhìn như trên
về kiếp người. Ở đây cũng không cần giải thích Giáo Lý về Chân
Không. Chỉ cần đơn giản xác định rõ ràng điều khẳng định trên đây
của Sách Tây Tạng về Người Chết dựa trên nguyên lý cơ bản của
triết học Phật Giáo.
Giáo Lý Về Nhân Quả
Bardo
Thodol thường nhắc đi nhắc lại rằng những hành động của con người khi
còn sống, bao gòm cả hành động bằng thân, lời nói và ý nghĩa, sẽ
quyết định số phận của anh ta trong trạng thái Trung Gian sau khi chết
và khả năng tái sinh. Tất cả các hệ thống triết học Ấn Độ đều
xác nhận rằng các hành động không những ảnh hưởng ngay tức thời,
mà tiềm năng của chúng còn bộc lộ về sau nầy trong những hoàn cảnh
thích hợp, trong đó mỗi hoàn cảnh là hậu quả của nguyên nhân gây ra
nó. Toàn bộ chuổi nhân quả ấy gọi là Nghiệp (karma). Như đã nói ở
trên, giáo lý về Nghiệp ở Ấn Độ được công nhận và phổ biến trong
tất cả hệ thống Phật giáo.
Người
chết chỉ thoát khỏi trạng thái Trung Gian khi tiềm năng của các nhãn
quan tâm linh cần thiết đề nhận biết tất cả mọi Linh ảnh xuất hiện
như tỏa ra từ chính bản chất tâm linh của anh ta. Ngược lại, nếu các
hành động đã qua của anh ta làm mạnh hơn cái xu hướng vô minh, nghĩa
là Tham, Sân, và Si (Ngu dốt), thì tất cả các hình ảnh xuất hiện chỉ
gây cho anh ta sự sợ hãi và lo âu, và anh ta không thể đạt đến cái
nhìn sâu sắc.
Lkagmthon
vipassiana được bao gồm trong sự hoàn hảo của trí tuệ. Giáo lý của
Bardo Thodol như vậy không có mâu thuẩn với giáo lý về Nghiệp. Văn
bản chỉ đơn giản muốn trình bày rõ ràng, mỗi một nghiệp có thể được
trung hòa trong những hệ quả của nó, bằng sức mạnh của cái nhìn sâu
sắc (Trí tuệ).
Hành
động với tính cách là nguyên nhân của vô số hiện tượng, ở đây
không phải hiểu theo nghĩa một hành động đơn giản trần trụi, mà chính
là cái ý nghĩa nằm trong từng hành động, nó làm cho hành động xuất
phát, đó là cái cần xem xét. Trong mỗi hành động có bao hàm một ý
chí, một ý muốn, một sự muốn bắt tay vào hành động, nó đi trước;
và cái ý đồ ấy, chính nó chứa đựng tiềm năng thúc đẩy hành động
lập lại lần nữa...
Khi
người chết cảm thấy sợ hãi và lo lắng trước tính chất của Linh ảnh
xuất hiện trong trạng thái Trung gian, anh ta sẽ quyết định tiềm năng
của một Nghiệp mới, nó thúc đẩy anh ta tái sinh. Nhưng nếu anh ta
nhận biết rằng tất cả Linh ảnh đó tỏa ra từ chính Bản chất Trí tuệ
của mình, Cái nhìn sâu sắc (Trí tuệ) của anh ta sẽ thoát khỏi mọI ham
muốn, và do đó không có một năng lượng giả nào được phóng ra. Trong
một Hành động, thì chỉ một thời gian ngắn sau khi chết, được ở trong
trạng thái cực kỳ sáng suốt, anh ta có thể đạt đến sự giải thoát
chủ yếu :
-
Giải thoát khỏi cái khổ của kiếp luân hồi (cõi ta bà), nghĩa là
một chuỗi dài sinh tử nối tiếp, giải thoát khỏi các ảo ảnh. Và do
sự kiện đó, anh ta sẽ trở thành một vị Phật.
Vị Lạt Ma chỉ có một nhiệm
vụ duy nhất là nhắc cho người hấp hối, hoặc người chết, những lời
giáo huấn của anh ta đã nghe khi còn sống và những kinh nghiệm mà anh
ta đã trải qua. Vị Lạt Ma làm chức năng của một người thông báo.
Ông ta không phải là người chữa bệnh, không phải là phù thủy, mà
cũng không phải là vị cứu tinh: Người hấp hối hoặc người chết phải
tự mình, đơn độc đi tới Chỗ đạt được Cái nhìn sâu sắc ấy. Tuy nhiên,
vị Lạt Ma có thể nâng cao tư tưởng người chết, giống như người nhắc
tuồng trong rạp hát, ông nhắc thầm cho người chết biết rõ sẽ có
những hình ảnh nào xuất hiện trước mắt anh ta và cần phải hiểu
chúng như thế nào. Dĩ nhiên tất cả những thông báo của vị Lạt Ma
đều vô ích nếu như người chết khi còn sống đã không chuẩn bị cho mình
có lòng tin vào những vấn đề của Bardo Thodol.
Văn
bản luôn nhắc đi nhắc lại rằng ngay lúc còn sống, việc quan trọng
là phải nghiên cứu, phải thấm nhuần và phải thực hành những pháp
thiền định để giúp người chết đạt được nhãn quan sâu sắc, mở được
con mắt bên trong: Đó là Chuyễn Thức (Xuất Hồn).
II.-Tạng Thư Sống Chết : Chết Và Tái Sinh
( Sogyal Rinpoche, tr.355-366 )
1). Nền Tảng: Chúng ta thường nghe
những câu nói như: Chết là lúc nói sự thật hay Chết là thời điểm
ta đối mặt với chính ta. Như ta đã thấy những người qua kinh nghiệm
cận tử, đôi khi kể lại rằng họ chứng kiến cả cuộc đời họ quay lại
trước mắt, và họ được hỏi những câu như, Ngươi đã làm gì với cuộc
đời ngươi? Ngươi đã làm gì cho người khác? Tất những chuyện nầy ám
chỉ một điều duy nhất rằng khi chết, ta không thể tránh thoát đối
diện với sự thật ta là ai, ta là gì. Dù ta muốn hay không, bản chất
thực của ta cũng hiển lộ. Nhưng điều quan trọng cần biết là có hai
khía cạnh con ngườI của ta hiển lộ vào lúc chết : bản chất tuyệt
đối của ta, và bản chất tương đối-- ta hiện tại như thế nào, và đã
như thế nào, trong cuộc đời.
Như
tôi đã giải thích, khi chết tất cả những hợp thể của thân tâm đều
bị tước bỏ, phân tách. Khi thân xác chết, giác quan và đại chủng vi
tế tan rả, tiếp theo đó là cái chết của các khía cạnh tâm thông
thường (nhãn thức v.v..)
Vốn với những cảm xúc
tiêu cực của nó như tham, sân, si, vì mọi thế sự vây phủ cái tâm
giác ngộ đã rơi rụng. Và khi ấy, cái được hiển bày là nền tảng
tối sơ của bản chất tuyệt đối chúng ta, như một bầu trời trong sáng
không mây. Điều nầy gọi là sự xuất hiện Ánh Sáng Căn bản, hay
Điểm Linh Quang, khi chính tâm thức cũng tan vào trong không gian bao la
của chân lý. Tử Thư Tây Tạng nói về giây phút nầy như sau:
Bản
chất vạn pháp là khoáng đạt, trống rỗng, trơ trọi như bầu trời.
Sự
trống rỗng sáng chói, không có tâm điểm hay chu vi :
Tính
giác của Tâm, hay Rigpa, xuất hiện.
Padmasambhava
mô tả ánh sáng ấy như sau :
Điểm Linh Quang tự -sinh ấy, từ khởi
thủy chưa từng sinh
Là con đẻ của Rigpa, tự nó không cha mẹ
- lạ lùng thay!
Trí tuệ tự sinh ấy chưa từng được ai tạo
ra - lạ lùng thay!
Nó chưa từng sinh, và không gì trong nó
để gây ra sự chết - lạ lùng thay!
Nó thấy mà không ai là ngườI thấy nó -
lạ lùng thay!
Nó du hành qua sinh tử mà không hại gì -
lạ lùng thay!
Nó thấy Phật tính, nhưng không lợi gì -
lạ lùng thay!
Nó hiện hữu trong mọI ngườI mọi nơi, mà
không ai nhận ra nó - lạ lùng thay!
Người ta lại mong đạt một kết quả nào
khác bên ngoài
-- lạ lùng thay!
Mặc dù nó là một vật của bạn, bạn
lại đi tìm nó ở chỗ khác - lạ lùng thay!
Vì sao
trạng thái được gọi là Ánh Sáng hay Điểm Linh quang? Các bậc thầy
có nhiều cách giải thích khác nhau. Có vị bảo rằng nó biểu thị sự
sáng chói của tự tánh tâm hoàn toàn thoát khỏi bóng tối mê mờ:
thoát khỏi bóng tối vô tri và có khả năng trí giác. Một bậc thầy
khác tả ánh sánghay linh quang là một trạng thái ít phân tán nhất,
vì tất cả các đại chủng, giác quan, đối tượng giác quan đã tan rả.
Điều quan trọng là xin đừng lẫn lộn nó với ánh sáng vật lý mà ta
biết hay những kinh nghiệm về ánh sáng mà ta thấy trong Bardo. Ánh
sáng khởi lên vào lúc chết là tia tự chiếu của tính giác Rigpa trong
ta, tự tánh vô vi hiện diện suốt trong sinh tử và niết bàn.
Sự
xuất hiện Ánh Sáng hay Điểm Linh Quang vào lúc chết là cơ hội ngàn
năm một thuở để giải thoát. Nhưng điều cốt yếu là phải nhận ra cơ
hộI ấy được cống hiến cho ta trong những điều kiện nào. Một vài nhà
văn và nhà nghiên cứu tân thời về cái chết đã coi thường sự sâu
sắc của giây phút ấy. Vì họ đọc và giải thích Tử Thư Tây Tạng mà
không được chỉ giáo khẩu truyền, không tu tập để hiểu ý nghĩa thiêng
liêng của nó, nên họ đã đơn giản quá mức và nhảy bổ đến những
kết luận vội vàng. Họ cho rằng sự xuất hiện Ánh sáng Căn bản chính
là giác ngộ. Tất cả chúng ta đều ưa đồng hóa cái chết với thiên
đường hay giác ngộ; nhưng điều quan trọng hơn sự mong ước ấy, là phải
biết rằng chỉ khi chúng ta đã thực sự được khai ngộ bản tâm, hay tính
giác Rigpa, chỉ khi chúng ta đã an trú nó nhờ thiền định và thể nhập
nó trong đời sống hàng ngày của ta, thì cái thời điểm chết mới thực
sự đem lại cơ hội để giải thoát.
Mặc
dù Ánh Sáng Căn bản hiện ra cho tất cả chúng ta một cách tự nhiên,
song phần đông chúng ta hoàn toàn không sẵn sàng để đón nhận tính
bao la thuần túy của nó, chiều sâu rộng vi tế, tính giản dị sơ nguyên
của nó. Đa số chúng ta không có cách gì để nhận ra nó, vì trong đời
chúng ta chưa từng quen thuộc với những phương thức nhận ra nó. Khi
ấy, điều xãy đến là, theo bản năng, chúng ta có khuynh hướngphản
ứng lại do những nỗi sợ hãi quá khứ của ta, do tập quán, hoàn
cảnh,tất cả những phản xạ củ của ta. Mặc dù xuất hiện những cảm
xúc tiêu cực có chết đi thì ánh sáng căn bản mới xuất hiện, song
tập quán của nhiều đời vẫn còn, ẩn nấp trong hậu trường của tâm
thường tình chúng ta. Mặc dù mọi rối ren mờ mịt của chúng ta chết đi
lúc thân ta chết, song thay vì quy phục, đón nhận ánh sáng, thì sợ
hãi và vô minh, chúng ta lùi lại, và theo bản năng, bám lấy những
gì ta đã từng bám giữ. Đấy chính là nguyên nhân ngăn cản chúng ta
lợi dụng thời điểm mảnh liệt nầy làm cơ hội giải thoát. Padma-
Sambhava
nói: Tất cả hữu tình đã sống và chết vô số lần. Chúng ta đã nhiều
lần kinh nghiệm Ánh Sáng khôn tả nầy. Nhưng vì bị bóng tối vô minh
làm mờ mịt, chúng vẫn lang thang bất tận trong sinh tử.
2).- Nền Tảng Của Tâm Phàm Tình:
Tất
cả những khuynh hướng tập quán ấy, hậu quả của ác nghiệp chúng ta,
tuôn phát từ vô minh, được chất chứa trong nền tảng của tâm phàm
tình. Tôi vẫn thường không biết lấy gì làm ví dụ thích hợp để mô tả
tâm phàm tình. Bạn có thể ví nó với một cái bọt thủy tinh trong
suốt, một tấm màn rất mỏng manh che mờ toàn thể tâm ta; song có lẻ
hình ảnh hay nhất là một cái cửa kính. Tưởng tượng bạn đang ngồi
trước cửa kính dẫn ra vườn, nhìn ra cửa để ngấm trời. Dường như không
có gì giữa bạn và bầu trời, vì bạn không thấy mặt gương. Nhưng nếu
bạn đứng dậy đi ra vườn, bạn có thể đụng lỗ mũi bạn vào tấm kính,
vì tưởng là không có gì. Khi vừa chạm, bạn mớI thấy có vật gì ở
đãy giữ lại dấu tay bạn, một cái gì đứng chắn giữa bạn và không
gian bên ngoài.
Cũng
thế, nền tảng của tâm phàm tình ngăn cản chúng ta không đi vào bản
chất tuyệt đối như bầu trời của tâm, dù chúng ta vẫn thoáng thấy
nó. Như tôi đã nói, các bậc thầy giải thích rằng có mối nguy là
những thiền giả có thể lầm lẫn nền tảng tâm phàm tình với tính
giác đích thực của tâm.Khi họ an trú trong trạng thái an tĩnh vắng
lặng, thì họ có thể chỉ an trú trong nền tảng tâm phàm tình. Đấy là
sự khác nhau giữa nhìn trời từ một vòm kính, và đứng ra giữa trời
mà nhìn. Chúng ta phá vỡ hoàn toàn nền tảng của tâm phàm, để khám
phá và thở bầu trời và thở bầu không khí tươi mát của tính giác
Rigpa.
Bởi
thế mọi sự tu tập của chúng ta là chuẩn bị thực sự cho lúc chết,
là thanh lọc cái rào ngăn vi tế ấy, dần dần làm cho nó suy yếu và
cuối cùng sụp đỗ. Khi bạn đã phá đỗ nó hoàn toàn, thì không có gì
ngăn cách bạn với trạng thái toàn giác.
Sự
khai thị bản tâm của bậc thầy phá vỡ hoàn toàn nền tảng tâm phàm
tình ấy, vì chính nhờ sự tan rã của tâm phân biệt khái niệm mà tâm
giác ngộ được hiển bày một cách rõ ràng. Rồi khi chúng ta càng an
trú tính giác bản tâm, thì nền tảng tâm phàm tình ấy càng yếu. Nhưng
ta sẽ thấy, sự an trú lâu hay mau trong trạng thái tâm bản nhiên ấy
hoàn toàn tùy thuộc vào việc tu tập hàng ngày của ta. Rủi thay
những tập quán củ rất khó bỏ, và nền tảng tâm phàm tình cứ quay
trở lại; tâm ta như một bợm nhậu chỉ có thể đá đỗ dò rượu trong
chốc lát, nhưng lại rơi vào thói nghiện ngập trở lại mỗi khi bị cám
dỗ hay buồn sầu.
Cũng
như cánh cửa kính dính đày dấu vết bụi dơ từ nơi những bàn tay và
ngón tay ta, nền tảng tâm phàm tình cũng chứa nhóm tất cả nghiệp và
thói quen của ta. Và cũng ta phải tiếp tục lau kính luôn luôn, ta
phải luôn luôn thanh lọc nền tảng tâm phàm tình. Sự thực tập thiền
cũng như thể là làm cho tấm cửa kính bị mòn dần, những lỗ hổng xuất
hiện, và nó bắt đầu tan rã. Nhờ thực tập, chúng ta dần an trú vững
vàng trong tính giác bản nhiên hơn nữa, đến nỗi nó không còn là bản
tính tuyệt đối của chúng ta, mà nó trở thành thực tại hàng ngày
của ta. Khi tình trạng nầy xảy đến, thì những thói cũ của ta càng tan
biến, và càng có ít sự khác biệt giữa thiền định và sự sống hàng
ngày. Dần dần, bạn trở thành như một người có thể đi thẳng ra vườn
xuyên qua cửa kính, không bị chướng ngại. Và cái dấu hiệu tâm phàm
tình suy yếu là khi ta có thể an trú không nỗ lực trong tự tính của
tâm.
Khi
Ánh Sáng Căn bản ló dạng, thì vấn đề then chốt sẽ là mức độ an
trú tự tính nơi ta, mức độ hợp nhất bản chất tuyệt đối và đời sống
hàng ngày nơi ta, để thể nhập trạng thái trong sáng nguyên uỷ.
3).- Mẹ Con Gặp Gở :
Có
một phương pháp theo đó chúng ta có thể sẵn sàng chuẩn nhận ra khi
Ánh Sáng Căn bản xuất hiện vào lúc chết. Đấy là phương pháp thiền
tối thượng, kết quả tối hậu của pháp hành trì Dzogchen. Phương pháp
ấy gọi là hợp mhất giữa hai ánh sáng, hay còn gọi là Sự tan hoà
giữa Ánh sáng Mẹ và Ánh sáng Con.
Ánh
sáng Mẹ là cái tên đặt cho Ánh sáng Căn bản. Đó là bản chất nội
tại của mọi vật, nằm bên dưới toàn thể kinh nghiệm của ta, và thể
hiện trong vẻ sáng ngời nguyên vẹn của nó vào lúc chết.
Ánh
sáng Con, còn gọi là Ánh sáng Đạo lộ, là tự tánh của tâm ta, cái
mà nếu được thầy khai thị và chúng ta trực nhận, thì ta có thể dần
dần an trú nó nhờ thiền định, và càng ngày càng hội nhập nó vào
sự sống hàng ngày của ta. Khi sự hội nhập đã được toàn triệt, thì
trực nhận cũng toàn triệt, và sự chứng ngộ xãy đến.
Mặc
dù Ánh sáng Căn bản là bản chất nội tại của ta và là bản chất
của mọi sự vật, song ta không nhận ra nó, thành thử hầu như nó bị
khuất lấp. Tôi muốn nghĩ đến Ánh sáng Con như là cái chìa khóa mà
bậc thầy trao cho bạn, để cánh cửa nhận thức, để bạn nhận ra được
Ánh sáng Căn bản, mỗi khi gặp cơ hội.
Hãy
tưởng tượng bạn phải đi đón một phụ nữ đến bằng phi cơ. Nếu bạn
không biết bà ấy ra sao, thì bạn có thể đến phi trường nhưng vẫn hụt
đón vì bà ta đã đi qua mà bạn không biết. Nếu bạn có một tấm ảnh
giống bà ta, hoặc có hình ảnh bà ta trong trí bạn, thì bạn có thể
nhận ra bà ấy ngay khi bà ta tiến đến.
Một
khi tự tánh tâm đã được khai thị cho bạn, và bạn đã trực nhận, tức
là bạn có chìa khóa để trực nhận lần khác. Nhưng, cũng như bạn phải
giữ gìn tấm ảnh và nhìn nó luôn luôn, để cho chắc bạn có thể nhận
ra người bạn sắp gặp ở phi trường; cũng vậy bạn phải tiếp tục an
trú sự trực nhận tâm bản nhiên (tự tánh tâm) qua sự thường xuyên
thực tập. Khi ấy sự trực nhận trở thành thâm căn cố đế nơi bạn,
thành một phần của bạn, đến nỗi gặp là nhận ra ngay không cần bức ảnh.
Vậy, sau khi thực hành sự trực nhận bản tâm đã thuần, thì vào lúc
chết, khi Ánh sáng Căn bản xuất hiện, bạn có thể nhận ra nó và
hòa nhập với nó một cách tự nhiên như con thơ sà vào lòng mẹ, các
bậc cổ đức có nói, hay như gặp bạn cố tri, hay như sông chảy vào
biển.
Nhưng
điều nầy thật vô cùng khó khăn. Cách duy nhất để bảo đảm sự trực
nhận ấy là ngay khi ta còn sống, phải kiện toàn sự luyện tập hội
nhập hai ánh sáng. Điều nầy chỉ khả dĩ nhờ cả một đời nỗ lực tu
luyện. Thầy tôi, Dudjom Rinpoche nói rằng nếu chúng ta không thực tập
hòa nhập hai ánh sáng ngay bây giờ, và từ đây về sau, thì đừng nói
đến chuyện sự trực nhận sẽ tự nhiên xảy đến vào lúc chết.
Nhưng
hội nhập hai ánh sáng nghĩa là gì? Đây là một pháp tu luyện rất sâu
xa và cao cấp, và đây không phải chỗ để bàn chi tiết về điều ấy.
Nhưng ta có thể nói điều nầy: Khi bậc thầy khai thị bản tâm ta, thì
cũng như chữa lành mắt ta, vì ta đã bị mù đối với Ánh sáng Căn bản
nằm trong tất cả mọi sự. Sự khai thị của bậc thầy đánh thức con mắt
tuệ trong ta, nhờ vậy ta thấy được rõ ràng bản chất thực của mọi
sự, hay thực chất Ánh sáng--điểm Linh Quang--của mọi cảm xúc, và ý
tưởng trong ta. Hãy tưởng tượng, nhờ thực tập toàn hảo sự an trú
bản tánh, mà sự trực nhận bản tánh ấy giống như một vừng mặt trời
rực rở. Tư tưởng và cảm xúc vẫn tiếp tục sanh khởi, chừng như những
đợt sóng đen tối. Nhưng mỗi khi những đợt sóng ấy cuộn lên và gặp
ánh mặt trời, thì chúng lại tan ngay.
Nếu
nền tảng tâm phàm tình của ta được hoàn toàn thanh lọc, thì cũng
giống như ta đã phá tan cái kho chứa nghiệp của mình và không còn
nguyên liệu nghiệp để cung cấp cho tái sanh tương lai. Nhưng nếu ta có
thể hoàn toàn thanh lọc tâm, thì sẽ còn tàn dư của những khuynh
hướng tập quán cũ đang nằm trong kho chứa nghiệp của chúng ta. Khi
gặp điều kiện thích hợp, chúng sẽ xuất hiện để đẩy chúng ta vào
những tái sinh mới.
4).- Thời Gian Và Ánh Sáng Căn Bản:
Ánh
sáng căn bản xuất hiện, đối với hành giả, nó kéo dài bao lâu vị
ấy an trú không tán loạn vào tự tánh tâm. Nhưng đối với phần đông,
nó kéo dài không lâu hơn một búng tay, và với vài người, nó kéo
dài khoảng một bữa ăn. Phần đông người tuyệt nhiên không nhận ra
Ánh sáng Căn bản, thay vì thế, họ rơi vào một trạng thái ngất xĩu
có thể kéo dài ba ngày rưỡi. Sau đó thần thức mới rời khỏi thể
xác.
Do
vậy ở Tây Tạng có tục lệ không động thi thể trong ba ngày sau khi
chết. Điều nầy rất quan trọng, nhất là nơi một hành giả, vì có thể
họ hòa tan với Ánhsáng Căn bản và ở trong trạng thái tâm bản
nhiên. Tôi còn nhớ ở Tây Tạng người ta thường giữ bầu không khí
tuyệt đối thanh bình im lặng quanh xác chết như thế nào, nhất là khi
đó là xác một bậc thầy hay hành giả tu cao, để tránh sự quấy rầy
dù nhỏ nhất.
Nhưng
dù là thi thể của người thường cũng không nên di chuyển trong vòng
ba ngày sau khi chết, vì ta không thể biết được ai đã chứng ai chưa,
và cũng không chắc thần thức đã rời khỏi xác. Người ta tin rằng
nếu sờ vào một nơi nào trên thi thể--ví dụ chích một mũi thuốc--thì
thần thức có thể bị lôi kéo đến chỗ ấy. Khi đó thần thức người
chết có thể chui ra lỗ hỗng gần nhất để thoát ra ngoài thay vì thoát
lên đỉnh đầu, và vì vậy sẽ có một tái sanh bất hạnh. Một vài bậc
thầy nhấn mạnh đến chuyện để thi thể yên trong ba ngày.
5).- Cái Chết Của Một Thầy:
Một
hành giả đã chứng đắc thường tiếp tục an trú sự trực nhận tính
giác bản tâm vào lúc chết, và tĩnh thức để thể nhập Ánh sáng căn
bản khi nó xuất hiện. Vị ấy trú trong trạng thái ấy một vài ngày.
Một vài hành giả và bậc thầy chết trong tư thế ngồi thiền lưng
thẳng, hoặc nằm như dáng sư tử ngủ. Ngoài sự tuyệt đối tự chủ, còn
những dấu hiệu khác chứng tỏ vị ấy đang an trú trong trạng thái Ánh
sáng Căn bản: Gương mặt họ vẫn còn có sắc sáng, mũi không lún
vào, da vẫn mềm mại, thân thể không cứng đờ, đôi mắt vẫn giữ một
ánh sáng hiền hậu từ bi và tim vẫn còn hơi ấm. Người ta phải rất
thận trọng đừng chạm đến nhục thể của bậc thầy, và giữ im lặng cho
đến khi vị ấy ra khỏi trạng thái thiền định nầy.
PHẦN HAI
GIẢI THOÁT TRI KIẾN
Nhờ
có lý trí (Tàng thức) mà con người hiểu biết được vạn vật và ngay
cả tâm trí của mình. Khai nhộ là giải thoát lý trí ra khỏi kho chứa
ràng buộc nó. Tri kiến là cái giả lập của sự hiểu biết. Cái Biết
mới là thực, cái Bị Biết (Tri kiến) là không thực, là cái giả lập
của cái thực.
Kant
định nghĩa Khai Sáng như là một hành động lột xác: sự thoát ly ra
khỏi điều kiện vị thành niên mà con người đã tự giam mình vào, để
làm người trưởng thành--Ở Kant, vị thành niên là kẻ không có khả
năng tự vận dụng lấy lý trí mà không có sự lãnh đạo của người
khác.
Cứ dám biết! Hãy có can
đảm tự sử dụng trí tuệ của chính mình. Đó là phương châm của khai
sáng.
Ở
đây cái mới của Khai Sáng là : 1) báo hiệu một kỷ nguyên tiến bộ
vừa không thể đảo ngược, vừa có tiềm năng vô hạn; 2) lấy sự tiến
tới của tri thức, và qua đó, của đời sống vật chất, làm cơ sở cho
sự tiến lên của đạo lý và xã hội--nghĩa là sự tiến bộ tinh thần
của nhân loại.
(TC Triết 2, tr.12)
Giải
thoát tri kiến có nghĩa là khôi phục lại cái thực tính của tri kiến,
tức là sự hiểu biết chân thật hay là chân lý tối hậu.
Vượt
thoát khỏi đối tượng tìm đến tự tính của nó là đường về chân
nguyên. Lột xác tri kiến giả lập để thể hiện tri thức thực sự tức
là Tri thức đúng hay Hiểu biết chân thật. Vậy tri kiến như phương
tiện hướng dẫn thực hiện.
Như ngón tay chỉ mặt trăng.
Nhận thấy được mặt trăng phải vượt thoát khỏi ngón tay, cũng như
vậy, vượt thoát khỏi tri kiến mới nắm bắt được thực tại.
Thực
tại là tự tánh của sự vật. Những hình ảnh của sự vật (thức) theo
thời gian kết tựu (Tàng thức). Thời gian đi từ tự tánh của sự vật:
Chơn không, Thực tại, Thực hữu. Thực chất là chân lý thì không biến
đổi. Đã là chân lý thì phải thường hằng, bất biến. Vì lẽ đó, cho
nên ta có thể thấy lại trong thực tại bên ngoài cái ý niệm thời
gian, mà ta biết một cách tuyệt đối. Đó là ý niệm lại cái thực
tại thì không còn là thực tại, dù trải qua một sát na, nó chỉ là
một quá khứ. Tri kiến là tâm quá khứ. Chân thể là sự trở lùi của
Sử tính Thời tính, vì thời tính là sử tính. Ấn tượng tri giác vận
chuyển nối tiếp như một dòng sông chảy xiết. Dòng nước trôi chảy
liên miên, những giọt nước không bao giờ lập lại, nhưng những giọt
nước đều có hình ảnh giống nhau; do đó dù tự thể của chúng luôn
luôn sai biệt, nhưng hình ảnh chúng không sai biệt.
Muốn
dẹp bỏ tâm quá khứ là trở về giọt nước ban đầu của những giọt
nước triền miên lưu chảy mà ta đang thấy, giảm trừ thời gian từ hiện
tại đến đầu nguồn quả thật cũng là một giả vọng trong quá trình tư
duy mà thôi.
Trở
về nguồn của thực hữu, cái hiện đang là, cái hiện đang là đó, tức
là không có tâm quá khứ vốn mang nhiều tri kiến nặng nề, làm cho
tâm hồn vẫn đục, vọng tưởng triền miên không dứt. Đó là ta mới
giảm trừ thời gian. Còn điểm trở ngại nữa cái tâm không thì không
còn trung gian của các căn nữa. Vượt khỏi ngũ giác quan của mình để
nguyên vẹn cái tâm không trực nhận thực hữu. Là ta đã giảm trừ
không gian và thời gian, là hai yếu tố làm chướng ngại cho cái tâm
tự tại vậy. Tâm lúc bấy giờ thể nhập chốn tịch tĩnh y nhiên. Thực
tại, thực hữu chính nó là nó mà tâm thể nhập ngay lúc ấy và tại
ấy hiện tiền. Khi dùng văn ngôn để diễn tả cái ý chỉ thì thực hữu
ấy không còn là hiện hữu nữa. Giải thoát tri kiến là tiến trình tri
thức đúng về nhận thức sai lầm tri kiến giả lập, và giải thoát nó,
để trở về thực thể tức là tự tính tuyệt đối của tri kiến hay là
con đường giác ngộ. Vậy trong sự sống làm thế nào nắm bắt được
chân lý tối hậu ấy? Đó là lối dụng công, là phương pháp thiền, là
cách giải tỏa những khắc khoải của con người trong hàng vạn thế kỷ
trước khi đức Phật ra đời. Ánh sáng đuốc tuệ đã tỏa ra, đạo pháp
tuyệt vời của đức Phật đã phổ biến khắp quần sanh. Chúng ta muốn
nắm bắt chân lý tối hậu ấy, không gì bằng dùng những phương tiện
tối ưu do đức Phật đưa ra; mà trong mọi cách, theo Phổ Nguyệt, chỉ có
Trí rộng lớn vô cùng tận, tức là Trí Bát Nhã Cứu Cánh, mới có thể
kham nhẫn tiến tới giác ngộ. Chúng ta cần triển khai Trí Bát Nhã để
thể hiện đạo sống hàng ngày, bằng cách Thắp Sáng Hiện Hữu trong
cái Tâm Bình Thường là ta đã giải thoát mọi tri kiến giả lập hầu
trở về Chân Tính của vạn hữu.
CHƯƠNG MỘT
CÁI NHÌN BÁT NHÃ TÂM KINH
QUA LĂNG KÍNH THỜI KHÔNG
I. Mục Đích-Khái Niệm Tư Duy về Thời Không
1).-Chủ Đích :
Chủ đích
của bài lý giải Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa qua Lăng Kính Thời Không,
với sự mong mỏi của Phổ Nguyệt là đưa một luồng gió mới đến quý
độc giả, một tri thức cụ thể, có thể trực nhận thực tướng của vạn
pháp. Phổ Nguyệt xin lấy bản Hán văn của Ngài Huyền Trang (đã trích)
mà phân giải quyển kinh Bát Nhã. Yếu chỉ của Bồ Tát Quán Tự Tại
đã thực hành Trí Bát Nhã thâm sâu ghi lại những điều tâm đắc và
chứng đắc là để lưu truyền cho hậu thế nương tựa tu tập. Khi trao
truyền yếu chỉ cho chúng sinh hành trì, dĩ nhiên là chúng sinh từ
trạng thái chưa giác ngộ cố gắng học hỏi cho hiểu rõ yếu chỉ của
kinh và nhiệt thành thực hiện đúng đắn, ắt sẽ đạt cứu cánh. Do đó,
lập trường của Phổ Nguyệt là trình bày Trí Bát Nhã Cứu Cánh nầy
với tinh thần của một chúng sanh bình thường có trình độ một ít trí
tuệ, từ đó trao dồi, học hỏi, tu hành tiến tới trí tuệ cao hơn và
đạt cứu cánh, âu đó cũng là mục đích muốn truyền dạy của đức Phật
qua tiêu đề Quán Tự Tại.
2).- Nhận Định về Thời Không:
+ Theo
ý nghĩa của của danh từ Hư không hay Không gian là cái không Không
Thật Có. Còn phân tách từ ngữ, Hư là không thật, Không là không;
Hư không là Không Thật Không. Vậy Hư không là cái không thật có,
cũng là cái không thật không. Hư không là không gian bao la vô cùng
tận, cái rỗng không. Vậy Hư không cũng là cái Thật Có hay cái Thật
Không. Vậy thì :
-Cái Không Thật Có : Thể
huyển hóa, giả lập
-Cái Không Thật Không:
Không có Thực thể, Tánh Không
-Cái Thật Có: Thể hiện
tiền, thực tại
-Cái Thật Không: Không có
gì ngoài Cái Thật, Chơn Không: chỉ có Chơn, Tánh Không, Bản tánh trong
sáng thanh tịnh.
Theo
Phật giáo, Hư không là Không gian, khoảng cách, không khí hay môi
trường sống. Đó là Không đại, một trong thất đại.
Không
gian là bầu dung chứa vạn hữu và cái rỗng không. Khi sự vật được
dung chứa trong không gian, Tánh Không (khối cố định chiếm khoảng
không) là hư không: Tướng Không của sự vật được giới hạn trong
khoảng không của hình dáng riêng biệt của sự vật.
+Khi
khởi đầu, đứng trước Cái Chưa Là, tức cái dự phóng tương lai, vì
Tương Lai là cái không bao giờ đến. Từ cái Chưa Là, ta vừa bắt đầu
Cái Trở Nên, tức là Cái Đang Là hay Hiện Tại. Từ Cái Đang Là ta
mới biết Cái Đã Là hay Quá Khứ. Ba thì đó tạo thành thời thể.
Thời
gian là thực thể của Trở Nên. Thời thể trở nên Hư không khi sự vật
ở trong trạng thái thụ động tiêu cực. Trong trạng thái thụ động, sự
vật tùy thuộc vào chính nó, đó là thực tại tính của sự Trở Nên
tức là tiềm năng của Thực Hữu.
+Khi
thời gian bị tiêu hủy, không gian thu hẹp ở Hữu Thể
( sự vật chiếm cứ không gian), lúc ấy
kể như không gian triệt tiêu chỉ có Tánh Giác về Hữu Thể. Khi thời gian
vừa khai mở, Hữu Thể biến thành Trở Nên thì Hữu Thể đó Đã Là (Quá
khứ). Hữu Thể (Đã Là) tức là trở nên Hữu Thể mới không còn là
chính hữu thể trước nữa, tức là không thật là hữu thể cũ. Quá khứ
là hư không, không thật.
+ Dung
lượng và thời lượng tăng hay giảm theo tỉ lệ thuận của sự phát
triển của không gian và thời gian. Bánh xe thời gian chuyển động trong
không gian vô tận. Không gian sẽ biến thiên đến cực tiểu hay tiêu
hủy khi thời gian tàn lụi đến triệt tiêu.
+Sự
vật tự thân nó đã có mầm mâu thuẫn nội tại. Sự sanh diệt của sự
vật do lực cản của chính sự vật (nội thân) và lực hút của vũ trụ
(thời không là chủ yếu) và những nhân duyên ngoại tại khác. Cho
nên sự vật không có thực thể, nên gọi là Tánh Không. Tướng Không
của sự vật theo nhân duyên hợp mà sanh diệt bởi mâu thuẫn ngoại
tại của không thời gian và tác động khác. Hai lực nội ngoại nầy chi
phối sinh mệnh của vạn pháp. Luật nhân quả, hay sanh diệt đều nằm
trong phạm trù của Thời-Không. Xét cho cùng, nếu không có Thời
Không thì qui luật nhân quả không thể phát triển được, và Hữu Tự
Tại được hiển bày.
+-
Nhắc lại, theo Thích thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn quyển 1, giải
thích; Không gian vô tận có hai thế giới: thế giới mê vọng và thế
giới giác ngộ;
-Lại
theo Long Thọ Bồ Tát cũng đã nói ở Phần I, Trung Không Diệu Hữu.
Trong
không gian có nhiều điều huyền diệu:
-Thứ
nhất: Chứa thế giới mê vọng là huyễn hóa, không thật, chằng chịt
nhân duyên, ràng buộc luân hồi, sanh tử tức là Cái Không thật có
cũng Không thật không.
-Thứ
hai: Chứa thế giới giác ngộ, chơn thật tức là Cái Thật có tức là
Cái tùy thuộc vào chính nó, Cái chơn không, Cái thiệt Hư không hay
Tánh Giác cũng là Chơn tâm, Niết bàn.
+Chúng
tôi muốn bàn đến thời gian và không gian là yếu tố quan trọng trong
vấn đề sanh diệt nhân quả. Mọi vật trong không gian nầy đều bị nhân
quả của năng lực Thời Không chi phối. Như trong không gian có vũ
trụ, thái dương hệ..., địa cầu. Mọi vật trong địa cầu đều bị sức hút
(trọng lực) làm ảnh hưởng đến chất và lượng của bản thân chúng;
ngay cả trái đất cũng lệ thuộc vào vận hành của thái dương hệ và
chuyển động quanh quỹ đạo v.v.. đều nằm trong không gian. Trọng lực
của trái đất (không gian) và lực cản của sự vật (nội chất), dung
chứa trong không gian là hai lực mâu thuẫn Hút và Cản, tạo ra sự
sanh diệt của sự vật. Lực Kéo của vũ trụ vô cùng to lớn--trong khi
lực Cản của sự vật quá nhỏ, ngay cả núi Thái Sơn, đối với không
gian bao la vô tận cũng không thấm vào đâu. Cho nên theo thời gian,
sự vật sẽ bị lực Kéo (không gian) hủy diệt mà thôi. Chúng tôi
không muốn đề cập đến những nhân duyên phụ khác (không đáng kể
trong trạng thái bình thườngso với trọng lực) như ánh sáng, âm thanh,
không khí v.v...Tất cả sự vật được dung chứa trong không gian đều có
lực cản của chính nó và bị trọng lực thu hút và ảnh hưởng của sáu
đại khác, có thể gây thêm cho sự vật ấy di động với những tốc độ
khác nhau và có thể làm tổn hại đến chính nó và các sự vật khác.
Trung Không Diệu Hữu cũng có nghĩa là trong không gian chứa biết bao
điều huyền diệu. Trong không gian dung chứa tất cả mầm sanh diệt hay
không gian đồng hóa với mầm sanh diệt tức là không gian coi như là
mầm sanh diệt. Cũng tương tự như thế Tàng Thức là kho chứa tất cả
những Chủng Tử hay Nguyên Nhân Phát sinh của Thực Tại Kiến Lập:...
Tàng Thức được định nghĩa là nguyên nhân phát sinh của tất cả hiện
tượng giả lập bởi vì nó luôn luôn hiện diện như là nguyên nhân của
các hiện tượng nầy... (TC Triết 1, tr.47)
Không
gian huyền diệu như vậy, tất nhiên nó không chỉ dung chứa sự vật mà
còn tác động đến sự sinh tồn của sự vật nữa. Với sự tiếp tay của
Thời gian, Không gian biến hoá mọi vật rất nhịp nhàng theo quy luật
nhân quả mà sự sinh diệt hầu như mang sẵn trong nội thân của chúng.
Dù giải thích riêng rẻ về mâu thuẫn nội tại hay ngoại tại, sự vật
rốt cuộc cũng bị Thời Không chi phối. Sinh Mệnh của mọi vật đều do
Thời Không giữ quyền sanh sát. Sự vận hành của vũ trụ (tác động
của Thời Không) là Thực Tính của Hư Không.
3).-Thời Không Và Triết Lý Duy Thức
Trong
Duy Thức, tri thức thực tại là thể nhận tánh không. Trong cái Không
Thật Có và cái Thật Có của Hư không chứa hai thế giới: Vọng và
Chơn. Giữa đúng và sai, Niết bàn và Luân hồi, Bồ đề và Vô minh
v.v... theo quan niệm của Phật giáo là hai con đường Nhận Thức Đúng
và Nhận Thức Sai mà thôi. Trong thế giới chơn vọng lẫn lộn mà tri
thức đúng được thực tại, quả là một vấn đề nhận thức sâu sắc qua
quá trình tư duy của một trí tuệ khai mở. Duy Thức Tính Không và Tính
Vô Ngã của lịch trình thanh lọc huyển thể của chủ tri và đối tượng
(chủ khách) được thể hiện qua ba tự tính sau đây: Tự tính giả lập,
Tự tính tùy thuộc và Tự tính tuyệt đối.
(a). Tự Tính Giả Lập (Báo Thân):
Tự
tính giả lập là tự tính của thực tại kiến lập tự nhiên (sự vật).
Khi sự vật được nhìn thấy qua nhãn căn, thì hình ảnh của sự vật đó
chỉ thực sự được thấy ở võng mạc của nhãn căn mà thôi. Hình ảnh
được hội tụ qua lăng kính của nhãn căn từ sự vật bên ngoài không
gian. Hình ảnh ấy tăng hay giảm tùy theo vị trí khoảng cách không gian
gần hay xa đối với chủ thể. Cơ quan cảm giác của mỗi người đều khác
nhau, cho nên cái thấy đó cũng có chỗ khác nhau. Vì khi ta thấy sự
vật ở ngoài không gian, kỳ thực là ta chỉ thấy hình ảnh của sự vật,
nên sự vật mà ta thấy đó cũng không thật. Thực tại kiến lập tự
nhiên ấy chỉ là một thực tại giả lập mà thôi. Cho nên tự tính của
sự vật kiến lập tự nhiên gọi là tự tính giả lập.
Tự
tánh giả lập cũng là Tánh Không. Tánh Không ở đây có hai nghĩa :
-Hình
ảnh là thể không: không nắm bắt được, hư không;
-Hình
ảnh đó không thật, vì do giác quan và thời gian thay đổi.
Tự
tánh giả lập của thực tại được kiến lập tự nhiên có sở hữu của
Thể tính không (hư không) hay Tánh Không; và có Biệt tính--hình tướng
riêng biệt của từng sự vật--là Tướng Không của nó.
Vậy
Tự tính và Biệt tính giả lập (hình ảnh) của sự vật nhìn từ nhãn căn
chỉ là những bóng dáng của sự vật, vì chúng không thật có (Tánh),
cũng không thật không (Tướng), nên chúng chỉ hiện hữu trên bình diện
công ước hay ngôn ngữ của chủ thể và giả lập của khách thể.
Tự
tánh giả lập còn gọi là Báo Thân; nó thay đổ theo thời không, cho
nên nó có sanh có diệt, có tăng có giảm.
(b). Tự Tánh Tùy Thuộc (Hóa Thân):
Cái Trở Nên--Hữu thể (sự
vật)--được kiến lập do nhân duyên tác động bởi Tàng thức. Từ sự
vật được trông thấy bởi nhãn căn, đó chỉ là hình ảnh của sự vật,
là Tướng Không của hình ảnh đó tùy thuộc vào sự vật duyên hợp
(không hiện hữu tự nhiên). Còn sự vật được kiến lập tùy thuộc vào
nhân duyên của thọ tưởng hành thức hay thay đổi thì tự tánh của
chúng cũng là không. Bóng dáng của sự vật do duyên hợp cũng chuyển
biến theo thời gian và quan niệm kết tụ bởi thọ tưởng hành thức
(lục dục, thất tình).
Cái
trở nên là cái không thật có, cũng không thật không. Tự tánh tùy
thuộc cũng nằm trong phạm trù tánh không. Tự tính tùy thuộc được
thể hiện tướng sanh diệt do tác động thời gian và quan niệm chi phối.
Thời gian ngưng chuyển, tức thì tự tính tùy thuộc cũng tuyệt tích, vì
nhân duyên không thể phát triển. Chủ thể (Ý) nhận thức được tướng
không của sự vật tùy thuộc vào nhân duyên tìm ẩn trong tàng thức.
Chủ thể và sự vật đều tùy thuộc vào nhân duyên mà tri nhận, nên
sự tri nhận đó cũng không thật và chắc chắn. Tự tính tùy thuộc của
sự vật cũng là vô tự tính hay tánh không. Sự vật biến đổi (sanh
diệt) làm cho hình ảnh của chúng mà con người trông thấy màu sắc,
tốt xấu, sạch nhơ v.v.. tùy theo quan niệm của cá nhân.
Tự
tánh tùy thuộc còn gọi là Hóa Thân.
( c ).- Tự Tánh Tuyệt Đối (Pháp Thân):
Tự
tánh tuyệt đối là thực tính hay chân như của sự vật. Sự vật tùy
thuộc vào tự thân chúng nghĩa là không có tự tính giả lập hay tùy
thuộc áp đặt lên chúng. Xét về Tánh, Tự tính Tuyệt đối là cái
Thật Có, là Chân như, Niết bàn, nó chính là nó. Xét về Tướng, Tự
tính Tuyệt đối là cái chỉ Có Thật không gì ngoài nó, là Chơn không:
chỉ có chơn không có vọng, cái bất biến, thường hằng.
+Từ
quan điểm Không gian, sự vật chiếm cứ không gian và Không gian dung
chứa sự vật là Một, nó chính là nó, không gì ngoài nó, không có gì
áp đặt lên nó: Vô Không gian.
+ Từ
quan điểm Thời gian, sự vật tùy thuộc vào chính nó tại đó và lúc
đó hay trong khoảnh khắc hiện tại: Vô Thời gian.
Không
gian dựa trên bánh xe thời gian để bành trướng chính mình vào khoảng
không vô tận, nên khi không gian co rút đến cực tiểu, tức chỉ còn
duy nhất sự vật hiện hữu mà thôi, lúc ấy thời gian sẽ giảm thiểu
đến cực điểm tuyệt đối (số không). Cho nên ta có thể nói rằng tự
tính tuyệt đối của sự vật là hình thức của sự vật vượt khỏi Thời
Không. Nói cách khác, khi chủ thể nhận thức, và sự vật bị nhận
thức được tri nhận một cách tuyệt đối vượt khỏi nhị nguyên tính (chủ
khách). Hình thức tính Không (Không Thời Không = Không Chủ Khách) là
Hư không; mà thiệt Hư không là Tánh Giác vậy. Đây là tiến trình Tri
Thức Đúng Cái Thực tại Giả Lập hay Cái Thực Tại Bị Tri Nhận Sai
Lầm. Tri Thức về Cái Tri Thức Đúng và Tri Thức Sai là Trở Về Chân
Nguyên, thực tính của Tri Thức hay Tánh Biết. Tánh Biết giải thoát
mọi sự hiểu biết thường tình tức là hiểu biết sai lầm về thực tính
của sự vật. Nhắc lại, Tánh Giác theo như Tánh Hư không, đức Phật
giải thích: A Nan! Ngươi phải biết trong Tạng Như Lai, Tánh Giác tức là
thiệt hư không, Hư không tức là Thiệt Tánh Giác thanh tịnh bản nhiên,
đày khắp pháp giới... ( Bát Nhã Tâm Kinh qua Cái Nhìn của Duy Thức,
tr. 56).
Cả
Vật lẫn Tâm đều có Tánh Không.
Tự
Tánh Giả Lập hay Tùy Thuộc của sự vật là không thật.
Tự
Tánh Tương Đối của Tâm (Phàm tâm) cũng không thật.
Chỉ
Tự Tánh Tuyệt Đối của sự vật là chơn thật, là Thiệt Hư không.
Tự
Tánh của ChơnTâm là Thiệt Hư không.
Theo
sách Tử Thư nói về một khía cạnh của Hư không viết như sau:
Chân
ngã ở bình diện tối cao, nói giống như thực tại, nghĩa là y hệt Hư
không, không thể nắm bắt được mỗi hiện tượng... (tr.105)
Tự
tánh của Tâm hay Vật, Chủ thể hay Khách thể đứng trên bình diện vô
Thời Không đều là Thiệt Hư Không; Thiệt Hư không là Chơn Như của Tâm
hay Vật, là Niết bàn,là Thực Tại tính. Chân tính của Tâm hay Chân
Ngã (chân tâm) và chân tính của sự vật đều là thiệt hư không, mà
thiệt hư không là Tánh giác, vì Tánh giác là cái dụng của Chân
Tâm.Chân tâm là Tự tính tuyệt đối, là Thực Tại tính Vô Thời không,
là vượt lên nhân duyên, đối đãi, nhị nguyên chủ khách. Vậy trực
nhận bản tính tự nhiên của Tâm cũng chính là trực nhận bản tính tự
nhiên của sự vật. Tâm và Vật lúc bấy giờ là đồng tánh không.
Chủ
thể nhận thức tự tánh khách thể giả lập, sai lầm, hay là nhận thức
sai lầm về tự tánh khách thể, chỉ là nhận thức của phàm trí mà
thôi. Nhận thức năng sở của phàm trí cũng là nhận thức không thật
đúng; cũng sai lầm, đó là nhận thức bị ràng buộc của nhân duyên,
và sự giả lập của sự vật. Đó cũng là mấu chốt của luân hồi, khổ
đau.
Cho
nên, Tri Thức Đúng là tiến trình nhận thức đúng thực thể và giải
thoát khỏi khổ đau ràng buộc bởi nhân duyên chằng chịt, sanh tử,
luân hồi.
Tóm
lại, tự tánh giả lập là tự tánh không thật có trong thế giới mê
vọng của hư không (Tánh không).
Tự
tính tùy thuộc là tự tính không thật không, cũng ở trong thế giới
mê vọng của hư không (Tánh không).
Tự
tính giả lập và tự tính tùy thuộc là khi sự vật đó tự vượt ra khỏi
chính chúng nó để vạch ra bóng dáng trong không gian. Đã vượt ra khỏi
sự vật, là những bóng dáng chúng không còn thật là chúng nữa, là
giả vọng mà thôi.
Tự
tính tuyệt đối là tự tính thực có trong thế giới chơn thật của hư
không. Tự tính tuyệt đối là tự tính đó vượt ra khỏi thời không,
nghĩa là không vượt khỏi ra chính nó. BA HÌNH THỨC TỰ TÍNH ( Ba Chân
Lý):
Tự
tính Giả Lập: Không Thật có;
Tự
tính Tùy Thuộc: Không Thật không;
Tự
tính Tuyệt Đối: Thật Có, cái tuyệt đối. Cả ba đều là Tánh Không.
Không
đi theo con đường Bên Nầy: không thật có (giả lập), và không thật
không (duyên khởi), Mà theo con đường Bên Kia: thật có, chơn không,
niết bàn, tức là Trung Đạo: con đường của Tánh Không, hay là con
đường giải thoát đến bờ Giác Ngô.
Tóm
lại, tự tính Tuyệt Đối là Hư không tức là thiệt tánh giác. Tánh
giác là cái Biết về chính mình biết. Biết về chính mình biết là tiến
trình của Thực Biết và giải thoát khỏi cái biết sai lầm chằng chịt
nhân duyên, giả lập, khổ đau, luân hồi.
Tánh
Giác vượt khỏi nhị nguyên đối đãi, chủ thể và khách thể, tức là
Tri Thức Đúng về Chủ Thể (Tự Giác, Tự Tính Tuyệt Đối) và Tri Thức
Đúng về Khách Thể (Giác Tha, Tự Tính giả Lập hay Tùy Thuộc) để giải
thoát mọi sai lầm của Chủ Tri và giả lập của Khách Thể. Đó là con
đường về Chân Nguyên; đó cũng là Thể Cách TỰ GIÁC và GIÁC THA.
II. CƠ CẤU CỦA CÁI TRÍ HAY TÁNH GIÁC (Theo
Thời Không)
Tự
tính tuyệt đối của Tâm là Thể Không của Tâm. Trí hay Tánh Giác là
Dụng của Tâm, Như chúng tôi trình bày ở phần đầu, biểu tượng (Dụng)
của Tâm gồm có Trí năng, Tình năng và Hoạt năng, mà Trí năng là
đầu mối phát sinh mọi hoạt động ảnh hưởng đến vật chất và tinh
thần trong đời sống hàng ngày. Trí năng là một yếu tố quan trọng
nhất trong ba cái dụng của tâm.Trí năng được bắt đầu bằng Nhãn căn
trong Lục căn. Do đó, chúng ta nghiên cứu Tánh Thấy hay sự hiểu biết
sự vật qua tánh thấy. Sự hiểu biết ấy cũng đều được thể hiện qua
lục căn.
Mở một cửa trong sáu cửa
để đi vào trong nhà (kho chứa sự hiểu biết) ắt cũng được vào trong
nhà và mở các cửa kia.
A.- Phân Tách Ngũ Uẩn -
a).- Cảm Giác ( Ngủ giác
quan )
Điển hình về Nhãn Căn qua chức năng Thị
Giác:
+ Ban
ngày, khi chúng ta nhìn một vật ngay phía trước chúng, hình ảnh khi nhìn
sự vật qua thấu kính của mắt được hội tụ ở trên hố mắt của võng
mạc. Nón (dây thần kinh liên hệ đến bộ não) đáp ứng một cách khác
nhau đến những làn sóng, hay màu sắc khác nhau của Ánh Sáng. Những
nón (cones) nầy thích ứng với màu sắc thị giác. Mỗi nón đáp ứng đến
chỉ một trong ba làn sóng khác nhau của ánh sáng (đỏ, xanh biển, xanh
dương). Bằng cách kết hợp những phản ứng tới những làn sóng dài,
vừa, ngắn, những tế bào nón có thể chỉ định màu của bất cứ hình
ảnh nào. Những nón rất nhạy cảm tới những đặc trưng ở xung quanh dù
nhỏ đến đâu.
+ Ban
đêm thì khác, những tế bào que (rods: dây thần kinh liên hệ đến não)
rất nhạy cảm với ánh sáng mờ, dù chúng không sắc bén nhiều. Vào
buổi tối, nếu ta liếc nhanh hình ảnh của bóng mờ ngoài góc của con
mắt, chúng ta sử dụng những tế bào que. Nếu hình ảnh mờ ấy biến
mất, khi chúng ta nhìn thẳng vào nó, chúng ta chứng kiến sự mất tế
bào nón vào lúc chúng ta không chú ý làm tụ những bóng mờ đó
trên hố mắt ở võng mạc.
+Khi
năng lực của Ánh Sáng (sáng hay mờ) đến cơ quan tiếp nhận hình ảnh,
những tín hiệu thần kinh được gởi xuyên qua hệ thống thị giác sản
sinh những cảm giác. Con đường đi ấy bao gồm những tầng lớp, qua đó
ánh sáng phải qua trước khi được thu hút bởi cơ quan tiếp nhận hình
ảnh. Một phản ứng hình ảnh hóa học được tạo ra trong cơ quan tiếp
nhận hình ảnh, sản sinh những dấu hiệu thần kinh, đầu tiên được
chuyển đến những tế bào lưỡng cực, rồi đến những tế bào hạch.
Những tín hiệu thần kinh lúc đó đi dọc theo trục võng mạc đến hạt
nhân cong khập bên của chất xám. Những tế bào trong hạt nhân cong
khập nầy sắp đặt lại tín hiệu (khích thích cảm giác) tới xương chẩm
thùy não để được điều hợp và hoàn thành chức năng thị giác.
Tương
tự như thế, con đường để thực hiện tánh Biết qua các căn khác như
nhĩ, tĩ, thiệt, thân cũng vậy, tuy có khác về cơ cấu sinh học, nhưng
tựu trung cũng đều được các dây thần kinh chuyển các hình ảnh, chấn
động lực, không khí hay chất hơi hay ấn tượng kích thích, sau cùng cũng
chuyển đến chất xám ở vỏ não để sản sinh những cảm giác tương ứng
với các căn.
Chẳng hạn như:
--Nghe một âm thanh là nghe
độ rung (chấn động lực) hay ấn tượng của âm thanh do làn sóng âm thanh
va chạm vào màng nhĩ (Tai).
--Ngửi mùi hương là ngửi
ấn tượng mùi hương, là không khí hay hơi (tức là chất hóa học hòa
tan trong không khí) ở màng mũi.
--Nếm một vị là nếm chất
hóa học (ấn tượng do kích thích giữa vị toan và nước miếng tạo nên)
ở lưỡi.
--Xúc giác một vật là
tiếp giáp hình ảnh của những kích thích của da (hay cơ thể).
(b).- Ý Thức (Consciousness):
Có
thể định nghĩa, ý thức là cử chỉ hay tiến trình được Biết, đặc biệt
về vùng xung quanh ta và điều kiện của thân thể. Cũng là Tĩnh táo,
Biết được những gì đang xảy ra.
Thật
ra, Ý thức thường được định nghĩa là sự hiểu biết (awareness) tích cực
của tất cả tư tưởng, hình ảnh,tri giác và cảm xúc chứa trong trí với
thời gian qui định. Ý thức là Cái Quan sát chính chúng ta và xung quanh
ta như là cách chúng ta làm trong thiên hạ. Ý thức cho phép chúng ta
sử dụng sự kiểm soát các điều chúng ta hành động, kinh nghiệm, và chọn
lựa giữa những cách tư duy hay hành động. Nhưng Ý thức thì nhiều hơn
sự hiểu biết đơn giản của chính chúng ta và xung quanh ta. Ý thức có
tính đơn thuần và nó thống nhất kinh nghiệm chúng ta vào Cái Toàn
thể. Khi chúng ta lắng nghe một người nói, chẳng hạn, chúng ta nghe
nhiều hơn là những tần số và cường độ của âm thanh, nhiều hơn một
chút kích thích thính giác. Để thay vào, chúng ta biết được toàn bộ
những lời nói và chúng ta hiểu được ý nghĩa của những lời đó, bởi
vì đó là cách thức mà Trí chúng ta tổ chức và tổng hợp kích thích
thính giác.
Nếu
cái đơn thuần của Ý thức (cục bộ) cho phép chúng ta tri giác và
hiểu được kinh nghiệm như là cái Toàn thể, thì tính chọn lọc của Ý
thức để cho chúng ta tập trung vào bộ mặt đơn độc của cái toàn thể.
Vậy chúng ta có thể tập trung vào hình dáng đối thể, màu sắc, kích
thước,thực thể, công dụng hay bất cứ đặc tính khác. Bằng vào biểu
hiện đó, chúng ta có thể tập trung vào cảm tính, ký ức, hay tư tưởng
riêng biệt. Tính chọn lọc như thế là cốt yếu cho hoạt động chức
năng hàng ngày của chúng ta. Nhiều cảm giác tư tưởng, cảm tính và
ký ức dễ ảnh hưởng đến chúng ta ở một thời điểm có sẵn, đến nỗi
khi chú ý chúng, chúng có thể lấn áp chúng ta. Vậy, tính chọn lọc
của Ý thức cho phép chúng ta điều chỉnh chỉ có dữ kiện cần đến và
loại bỏ cái không cần.
May
mắn, kỷ thuật cận đại giúp các nhà nghiên cứu vượt qua những trở
ngại thầm hội được Ý thức. Trang bị cho mạch điện đồ và hoạt động
dây thần kinh trong não bộ cung cấp được những ý nghĩa mới quan trọng
để nghiên cứu một số việc thuộc sinh lý học xảy ra trong những
trạng thái khác nhau của Ý thức. Chẳng hạn, chúng ta biết được dữ
kiện mô lưới, một phần của não bộ sau giữ vai trò bảo trì Ý
thức.Khi phần não đó bị kích thích, con vật trở nên quá mẫn, những
vùng như vậy bị thương, con người mất cảm giác trên mào lông (coma).
Bởi vì óc con người có thần kinh phát triển cao độ của võ não trong
giới loài vật, và bởi vì con người cũng dường như biểu lộ sự phát
triển cao độ ý nghĩa của Ý thức mà các nghiên cứu gia cho rằng lớp
vỏ não cũng phải liên hệ với sự hiểu biết Ý thức.
Tóm
lại, sự hiểu biết Ý thức có tính lưỡng phân như Kant đã quan niệm.
Thật vậy, Ý thức tác động là do tiền ngũ căn (ngũ giác quan) tiếp
nhận sự vật và Tri giác (Biết).
Còn Ý thức tác năng là sự hiểu biết có sẵn trong tàng thức, không
do tác động của ngũ căn mà chúng ta có thể dùng trực giác để hiểu
biết. Như thế Ý thức cũng là tác năng tự phát.
Kết
luận, Ý thức cũng chỉ là những hình ảnh, dấu vết sự hiểu biết mà
cái Trí ( bộ óc ) nhận thức.
( c ).- Cảm Xúc (hay Cảm thọ: Emotion):
Cảm
xúc là một phần lớn cuộc sống thường nhật mà khó có thể tưởng
tượng được, nếu đời sống không có nó. Cảm xúc làm cho phong thái
của kinh nghiệm chúng ta hoạt động và đem đến cho đời sống một sinh
khí của nó. Nếu không có khả năng cảm nhận sự giận dữ, nỗi đau
buồn, niềm vui, và tình yêu, chúng ta khó mà thừa nhận chính chúng ta
là con người.
Rõ
ràng, cảm xúc bao gồm sự thay đổi cảm tính --thường kích thích bởi
hoàn cảnh ngoại giới mà chúng ta ít kiểm soát. Sau cùng, cảm xúc có
thể tác động đến tư cách. Cảm xúc có thể được định nghĩa như là mô
hình phản ứng bao gồm sự thay đổi sinh lý, biểu lộ tư cách và trạng
thái cảm tính. Cảm tính thường phát sinh trong sự đáp ứng của liên
hệ xã hội hay hoàn cảnh thử thách qua nhiều phương diện. Bản chất
của phản ứng cảm xúc ảnh hưởng đến cách thức một người đánh giá
và khắc phục hoàn cảnh. Tất cả các nhà Tâm lý đều đồng ý rằng
cảm xúc mạnh liên hợp với sự thay đổi trong hệ thống thần kinh tự
động. Một cách giám sát sự thay đổi sinh lý kèm theo cảm xúc bởi
một phương tiện máy móc gọi là Đa mạch đồ (Polygraph).
Mặc
dù hệ thống thống thần kinh tự động gây nên sự thay đổi sinh lý
kết hợp với cảm xúc, hệ thống nầy được sắp xếp bởi bộ óc. Đặc
biệt khối đưới chất xám (hypothalamus) và một vài phần hệ thống
limpic (limpic system) liên quan trong một số phản ứng cảm xúc như:
nóng giận, gây hấn và sợ hãi (Pribram,1981). Stanley Schachter và
Jerome Singer đã đề nghị rằng cảm xúc bao gồm hai thành tố đối tác
lẫn nhau: trạng thái đánh thức sinh lý và sự làm sáng tỏ tri thức
của cái đánh thức ấy. Họ qui cho năng lực chúng ta hiểu được sự
đánh thức gán cho những cảm giác tổng quát là những cảm xúc đặc
biệt.
Vậy
cảm xúc hay cảm thọ là ý thức được đánh thức qua sự thay đổi sinh
lý vì phản ứng thần kinh não bộ do các kích thích hình ảnh của cảm
giác, tư tưởng, hành động hay tình cảm bị va chạm.
(d).- Hành Động (Motivation):
Hành động là động cơ thúc
đẩy hoạt động, được định nghĩa như là điều kiện xã hội, tâm lý
hướng dẩn tư cách cá thể đến vài mục đích nào đó. Mặt khác, xu
hướng (drive) là điều kiện sinh vật thực hiện chức năng hướng đích.
Theo
Sigmund Freud cho rằng động cơ hoạt động là do hai lực (forces) của vô
thức (Tàng thức): Một là lực thúc đẩy đến sự sinh tồn, sự sinh sôi
nẩy nở, và sự tự bảo tồn; thứ hai lực thúc đẩy đến sự tử vong và
tự hủy diệt. Bởi vì cách thức mà con người thỏa mãn xung lực (sức
đẩy tới) có thể mâu thuẫn với tiêu chuẩn đạo đức xã hội, những
xung động nầy thường bị trấn áp và thăng hoa trong nhiều hình thức
của tư cách.
Có
những xu hướng căn bản về sinh vật như đói, khát, sinh lý, và có
những động lực được học hỏi như nhu cầu cho thành quả và sự hội
nhập. Cũng có những động lực cảm thọ như vui, khổ, giận, sợ, và
bại.
Tổng
quát, hành động thúc đẩy tư cách được dẫn đến bảo quản tình trạng
sinh lý cân bằng (homeostasis) hay là môi trường bên trong bất biến
và hướng dẫn đến kiến lập cân bằng cả hai bên trong và bên ngoài.
Tóm
lại, Hành động là động cơ, xu hướng hay bản năng thúc đẩy thiết lập
mọi hoạt động về tư tưởng, tình cảm hay cử động. Tất cả những động
cơ, xu hướng đó dù do năng lực bên trong hay bên ngoài, dù do tâm
lý, xã hội hay sinh vật có ý thức hay vô thức đều phải xuyên qua
cảm quan hoặc các phần của cơ thể và đã thanh lọc thành những dấu
hiệu được dẫn truyền đến thùy trước của lớp vỏ não cạnh chỗ nứt
có liên quan sơ khởi đến sư điều chỉnh cử động tự ý gọi là thần
kinh tự động. Vậy Hành chỉ là sự thể hiện do nhiều xu hướng hay động
cơ thúc đẩy biến thành những dấu hiệu mà não bộ sản xuất những
phản ứng thành những hoạt động; do đó bản thân Hành chỉ là những
hình ảnh dấu vết của các xu hướng, động cơ hay bản năng thúc đẩy
sản sinh ra, nên Hành không có thực thể.
( e ).- Tưởng (Memory, Preconsciousness):
Con
người dùng ba cấu trúc tinh thần khác nhau để thiết lập ký ức: ký
ức cảm giác, ký ức ngắn hạn (short-term memory) và ký ức dài hạn.
Các nhà tâm lý tin rằng ký ức bắt đầu tại sự ghi chú cảm giác,
một dữ kiện cảm giác thu nhận rất ngắn. Cảm giác vẫn còn kéo dài
một giây sau khi ta tri giác và sau đó phai dần. Dữ kiện được tích
trữ khoảng 1/15 giây, để rồi người ta có thể giữ dấu vết của kinh
nghiệm từ lúc nầy đến lúc khác. Nếu cá nhân bị xao lãng trí, và dữ
kiện hoặc là rất khác với biến cố bình thường, hoặc là có ý nghĩa
với cá nhân đó, thì dữ kiện ấy chuyển qua ký ức ngắn hạn, ở đây
nó tích trữ chỉ trong một thời gian giới hạn.
Muốn
giữ dữ kiện trong ký ức ngắn hạn, người ta cần sự nhắc lại. Sự
nhắc lại bằng cách chú ý tích cực đến dữ kiên như là lập đi lập
lại dữ kiện đó. Một thời gian gián đoạn sẽ hủy diệt dữ kiện ở
trong kho ký ức ngắn hạn. Nhiều ký ức ngắn hạn nhạt dần trong
khoảng vài phút. Quá trình chú ý giữ một vai trò rất lớn trong sự
xác định dữ kiện nào được chuyển từ ký ức ngắn hạn đến ký ức dài
hạn. Nếu dữ kiện không quan trọng hay thích thú, rất có thể chúng ta
quên đi.
+ Ghi Lại Dấu Vết--Tích Trữ --Khôi Phục:
Khi
những kinh nghiệm cảm giác thoáng qua được kết hợp, thì dữ kiện được
thừa nhận dễ hơn nhiều. Chúng ta có thể nhớ lại một hình thị giác
kết hợp với âm thanh (như chiếc xe hơi đang chạy: đầu máy nổ) dễ
dàng hơn là hoặc máy nổ không, hoặc một chiếc xe không. Quá trình
dữ kiện hổn hợp gọi là ghi nhận dấu vết, hay là tiêu biểu hình ảnh
(sự thay thế hình ảnh). Những nét đặc biệt thiết yếu của một vật
hay mô hình được rút ra để cho sự vật có thể nhận thức sau nầy.
Ký
ức ngắn hạn là tiến trình của truyền đạt tế bào thần kinh, trong khi
đó ký ức dài hạn thường xuyên thay đổi trong những vùng tế bào
khớp thần kinh, là tính chất vật lý của tế bào. Bộ óc cần thời
gian để củng cố trước khi dữ kiện được tích trữ ở trong ký ức dài
hạn. Có thể là, những tế bào thần kinh cần thờI gian đẻ thay đổi.
Tài liệu ở ký ức dài hạn có thể được đem đén vào kho ký ức ngắn
hạn, và sẽ không bị quên nếu sự suy tưởng bị xao lãng. Tuy nhiên, kho
ký ức ngắn hạn có thể chỉ còn giữ một vài thứ mà thôi. Khả năng
giới hạn nầy có thể góp phần giải quyết khó khăn cho những người
có vấn đề. Con người có thể giữ lại, và quqn sát một số dữ kiện
trong một lúc mà thôi. Ở đâu, ký ức ngắn hạn cũng trực tiếp và
dễ thêm vào, trong khi dữ kiện xác định đúng vị trí của ký ức dài
hạn có thể chậm chạp và khó khăn. Tuy thế, khả năng của ký ức
dài hạn thì hầu như bất tận. Một người có thể tận dụng ký ức.
Không có giới hạn được biết mà con người có thể học hỏi được bao
nhiêu.
+Mặt
khác, ký ức mới đối lập với cái cũ. Có hai loại đối lập: Một
phải làm với món tích trữ và nhớ lại; thứ hai phải làm với sự
kiện mà những điều thu nhận mới mới có thể thực sự làm méo mó,
xuyên tạc hay chuyển đổi những ký ức cũ.
Vậy
thì ký ức, tưởng nhớ, tưởng tượng hay mac na thức là những hình ảnh
được khôi phục lại, có cái trung thực, có cái sai lạc và ngay cả
có cái tương tự lẫn lộn với hình ảnh đối tượng cũ, nhưng không phải
đối tượng cũ. Đã là những hình ảnh cũ khôi phục lại tức là những
ảo ảnh của đối tượng khiếm diện (kể như không có đối tượng).
Do đó Tưởng là ý tưởng so
đo, tưởng tượng. chấp trước, lệch lạc và không có thực thể.
( f ) Thức ( Knowledge, Unconsciousness)
Alai
da tức, Vô thức hay Tàng thức.
Thức
là sự hiểu biết hay nhận thức. Sự hiểu biết là Quả, còn Nhân phát
xuất từ Vô thức hay Tàng thức. Theo ý niệm của Freud về Trí vô thức
rất đặc biệt khó mà giải thích trong những điều kiện đơn giản.
Đại
khái, Vô thức gồm có tất cả ký ức, kinh nghiệm, hình ảnh, cảm tính
và động lực mà chúng ta không thể tự ý đưa ra ý thức hay quan sát
trực tiếp của chú ý. Chúng ta có thể định nghĩa bằng những thí dụ
sau đây:
+Chúng
ta nhắm đến trấn áp những kinh nghiệm không vui; nghĩa là chúng ta
nhắm đến đặt những vật chướng ngại trên ánh đèn để nó không thể
chiếu sáng một vài chỗ trên sân khấu mà chúng ta không thích nhìn.
Những ký ức bị trấn áp lúc đó, bị nhốt lại trong phần vô thức của
trí chúng ta.
+Chúng
ta đã biết phản xạ và bản năng bẩm sinh tác động đến tư cách và tư
tưởng chúng ta dù chúng ta ý thức hay không. Tim đập, phổi thở, hạch
tuyến thượng thận bài tiết chất kích thích (hormones) dù ta biết hay
không nó vẫn hoạt động. Chúng ta cũng không có ý thức của hoạt
động của thần kinh về cảm thọ hay vận động ở trung tâm não bộ. Kế
đó, diễn đạt bộ điệu, những cảm tính xúc động là một phần tiêu
biểu của trí vô thức chúng ta.
+Chúng
ta cũng đã biết tích trữ những thứ trong kho ký ức dài hạn tùy theo
một vài loại mà thôi. Chúng ta không thể nhớ lại nhiều kinh nghiệm
thờI thơ ấu vì chúng ta không xếp đặt chúng trong cùng loại ký ức
mà chúng ta dùng như là người lớn. Những ký ức ban đầu nầy là Vô
thức bởi vì rất đơn giản là chúng ta không biết làm thế nào khôi
phục chúng.
+ Kế
đó, có những giấc mộng, và ánh sáng lóe lên trong tâm thức. Theo
định nghĩa, chúng ta không ý thức trong chiêm bao, và giấc mộng thường
khó đưa đến sự hiểu biết ý thức sau khi xãy ra. Freud nghĩ rằng giấc
mộng hầu hết là thí dụ hoàn toàn của kinh nghiệm vô thức. Đối với
vấn đề nội tâm, nó thường có tri giác một mô hình của vài loại.
Nơi nào trí chúng ta đã có mô hình nầy tạo thành thì không có trong Vô
thức sao?
Bây
giờ đây, chúng ta đã tri giác một mô hình chính chúng ta. Cái mà
Freud quy cho phần vô thức của trí chúng ta dường như bao gồm hai việc:
Quá trình sắp xếp bởi phần dưới trung tâm não bộ, và quá trình sắp
xếp bởi bán cầu não phải.
--Dục Tình :
Trong lúc Freud hoạch định
những vùng của Trí, ông cố xác định những phương pháp năng lực hóa,
tập trung, di chuyển và ngay cả chận lại ánh sáng lóe lên của ý
thức.
Freud lựa chọn thân thể
liên tục tạo ra năng lực tinh thần, cũng như máy phát điện liên tục
sản xuất ra điện năng. Freud gọi năng lực tinh thần nầy là dục tình
và ông tin rằng nó là lực thúc đẩy các khả năng của tất cả tư
tưởng, tình cảm và tư cách của chúng ta. Sự xây dựng năng lực dục
tình tạo nên trạng thái xu hướng đau khổ, nó ép buộc chúng ta trở
thành hiểu biết một vài nhu cầu không được thỏa mãn. Lúc đó chúng
ta nhắm tới tập trung vào những hoạt động sẽ cho chúng ta giải thoát
năng lực đè nén đó và do đó mà giảm trừ được xu hướng. Như vậy
năng lực dục tình tiêu thụ được kết hợp với nềm vui cảm giác, trong
khi đó sự trấn áp năng lực dục tình hầu như luôn luôn dẫn đến áp
lực đau khổ và lo âu.
--Bản Năng Sinh Tồn (Id) hay Bản Năng Xung
Động:
Theo
Freud, đứa trẻ sanh ra với tập hợp những xu hướng sinh vật và bản
năng cơ sở là nguồn gốc của năng lực dục tình. Tập hợp các xu
hướng bản năng, freud gọi là Bản năng sinh tồn hay bản năng xung
động (id). Những xu hướng nầy được sắp xếp ở trung tâm dưới não bộ,
như hệ thống limpic và khối dưới chất xám. Như thế bản năng sinh tồn
được chôn ở mực sâu nhất của trí vô thức, xa cách thực tại ý
thức. Freud tả bản năng sinh tồn như là một nồi lớn của sự kích
động sôi nổi, nó không có cấu trúc nội tại hay tổ chức, nó hoạt
động trong nhiều cách phi lý, và nó chỉ tìm niềm vui đến từ những
năng lực đè nén bị tuôn ra.
--Bản Ngã hay Cái Tôi (Ego):
Theo
R.M. Goldenson, bản ngã là một nhóm của những chức năng tinh thần hay
quá trình cho phép chúng ta tri giác, lý luận, phán đoán, chứa đựng những
ký ức và giải quyết nhiều vấn đề khác nhau. Bản năng sinh tồn hiện
diện ngay lúc sanh ra. Bản ngã phát triển chậm khi chúng ta học hỏi
để được tinh thông những xung động những xung động, làm chậm lại
niềm vui trực tiếp của những nhu cầu và sống với những người khác.
Bản
ngã là một phần của nhân cách trong sự giao tiếp với thế giới bên
ngoài. Phần lớn, bản ngã hoạt động trong phạm vi ý thức hay tiềm
thức (ký ức: preconscious), nhưng nó bao gồm cả một vài quá trình vô
thức. Giống như bản năng sinh tồn, bản ngã là chủ thể đòi hỏi của
nguyên tắc ý muốn. Nhưng khi chúng ta trưởng thành, tự ý thức ảnh
hưởng nhiều bởi nguyên tắc thực tại là đòi hỏi thực tế của sự
sống hàng ngày. Tuy nhiên, vào dịp đó, bản ngã xé ra bởi những lực
đối nghịch của ý muốn và thực tại. Nó thường giải quyết mâu thuẫn
nầy bằng cố gắng thỏa mãn ước muốn bản năng (bản năng sinh tồn)
trong những cách xã hội chấp nhận.
--Bản Năng Đạo Đức ( Superego ):
Tuy
nhiên, đối với nhân cách thì có nhiều hơn là bản năng sinh tồn, bản
ngã, hơn nguyên tắc ý muốn và nguyên tắc thực tại. Bởi vì khi chúng
ta lớn lên, những người xung quanh ta đòi hỏi chúng ta thực hiện luật
lệ xã hội và những quy định. Muốn thế, chúng ta phải xây dựng một
ý thức để giữ chúng ta khỏi vi phạm luật lệ và bản ngã lý tưởng
mà chúng ta cố gắng đạt tới. Một phần cấu trúc của nhân cách nầy
gọi là Bản Năng Đạo Đức và nhìn nó như là Bản ngã được được tách
khỏi và bắt đầu hành động theo riêng nó.
Bản
năng đạo đức phát triển chạm chạp và một cách vô thức trong năm
đầu của đời sống, cũng như càng gia tăng bắt chước tư tưởng và hành
động của những người khác--trước tiên là cha mẹ chúng ta. Trong thờI
thanh niên và gần trưởng thành, bản năng đạo đức của chúng ta hoàn
thiện nhiều như chúng ta tiếp xúc với người lớn (khác hơn là cha mẹ)
mà chúng ta hâm mộ họ và giá trị của họ chúng ta nhận vào một
phần hay toàn thể. Phần lớn, tiến trình xã hội hóa nầy xảy ra ở
mực độ vô thức, như bản năng đạo đức thu được, khả năng phê phán,
và giám sát cả hai bản năng sinh tồn và bản ngã. Bản năng đạo
đức, do đó là tiếng nói vô thức, nó giúp chúng ta phân biệt được
giữa điều tốt xã hội với điều xấu mà chúng ta không hiểu biết
được tại sao làm như thế.
Chúng
ta thử xem qua tiến trình phát triển của tư tưởng đứng trên phương
diện tâm lý.
Lý
thuyết phân tâm học về sự phát triển tư tưởng tập trung vào sự thay
đổi từ tiến trình sơ khởi của tư tưởng tới tiến trình thứ hai của tư
tưởng. Tiến trình sơ khởi là ngôn ngữ của vô thức, trong đó thực
tại và hình ảnh tưởng tượng đều vô phân biệt. Bộ mặt tiến trình sơ
khởi của tư tưởng thường thấy trong những giấc mộng. Ở đây những
biến cố có thể xảy ra cùng một thời gian trong nhiều chỗ, những đặc
tính khác nhau của con người và sự vật có thể kết hợp, những biến
cố di chuyển tới lui trong một thời gian rất nhanh, và cái trong sự tĩnh
thức không thể xảy ra dễ dàng. Tiến trình thứ hai của tư tưởng là
ngôn ngữ của ý thức, tư tưởng và thực tại khảo nghiệm. Song song
với sự phát triển tư tưởng là phát triển bản ngã, và sau nầy là
phát triển của bản năng đạo đức. Với sự phát triển bản ngã, cá
thể trở nên khác biệt nhiều, như là Cái Tôi ( Self) từ nơi tạm trú
của thế giới. Có sự giảm bớt thiên kiến chính mình, một sự gia tăng
khả năng, gia tăng sử dụng ngôn ngữ, và có khả năng lớn hơn để
tham gia sự kiện quan trọng và làm cản trở sự hài lòng. Sự phát
triển của bản năng đạo đức lành mạnh được phản ánh trong một tập
hợp thống nhất, mâu thuẫn, thông suốt của những giá trị, một khả
năng chấp nhận ngọn gió của lòng tự trọng (chấp nhận bắt chước mà
không hủy bỏ khả năng tưởng tượng), và ý nghĩa của niềm kiêu hảnh
trong ý định đã thực hiện đưọc.
Về
mặt duy thức, Bồ Tát Vô Trước (Asanga) đã xem Tàng Thức như là kho
chứa tất cả những chủng tử hay nguyên nhân phát sinh của Thực Tại
Kiến Lập. Thế giới duy thực phác tố dựa trên một nguyên lý được
thực hóa và xem đó là nguyên do cứu cánh của tất cả sự vượt được
xem là thực hữu. Mặc dù Tàng thức được xem là nguyên nhân phát sinh
của các hiện tượng giả lập, chúng ta không thể thực hóa nó thành
nguyên nhân cứu cánh. Tàng thức chỉ là một nền tảng năng động tàng
trữ các chủng tửnhận thức hay ấn tượng và đã lọc chúng trở lại
trạng thái nhận thức hiện hành. Do đó mà trong hệ thống Duy thức
của Bồ Tát Vô Trước, Tàng thức được gọi là kho chứa các chủng tử
và thành thục, nghĩa là làm các chủng tử chín muồi (thành thục)
thành kinh nghiệm tri giác. Tàng thức được định nghĩa như là nguyên
nhân phát sinh của tất cả các hiện tượng giả lập bởi vì nó luôn
luôn hiện diện như là nguyên nhân của các hiện tượng nầy. Tuy
nhiên, Tàng thức là một tiến trình chứ không phải là một thực thể;
Tàng thức chỉ là kho chứa các chủng tử nhận thức và ấn tượng nầy
(chính chúng là quả của các hiện tượng tạp nhiễm)...(TC Triết 1,
tr.47)
Tóm
lại Ngũ Uẩn chỉ là thực tại kiến lập, là hiện tượng giả lập, là
quả do các chủng tử sinh ra từ Vô thức, Tàng thức, Tánh không hay
Bản chất tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Do đó, Tự tính của Ngũ Uẩn
vẫn là giả lập và tùy thuộc mà thôi.
B.- Các Loại Trí (theo Thời Không):
1-Trí Phân Tích.- Qua
không gian, nhìn từ trí phân tích, sự vật hay hiện tượng, hay thực tại
kiến lập chỉ là quả của những chủng tử sinh ra, hoặc giả dùng thực
nghiệm (thí nghiệm) bằng kỹ thuật khoa học, hoặc do suy luận mà phân
tích các thành phần kết hợp thành sự vật hay hiện tượng. Như nước,
phân tích thành ra Hydrô và Oxy, cái bàn thì do cây, đinh, sơn... hợp
thành.
Dùng
Trí phân tích phải trải qua nhiều giai đoạn suy luận, qua phân tích, qua
thí nghiệm, hoặc qua tưởng tượng mà nhận diện được sự vật là không
có thực thể mà do các thành phần khác tạo ra nó. Kỳ thực, trên
mặt lý thuyết ta thấy cái bàn, nước ngay trước mặt thì cái gì không
thật là chúng nó?Ta chỉ tưởng tượng rằng cái bàn, nước chỉ là giả
lập vì dựa trên sự phân tích thì đúng như thế. Phân tích sự vật là
tiến trình trở về quá khứ của chủ khách. Thời gian bất khả đắc.
2- Trí Phân Biệt.- Cái
nhìn từ Trí Phân Biệt qua Thời tính, ta thấy ngay và rõ ràng tính chất
của sự vật.
Thí dụ: Ở T1 (thời gian) ta thấy
ông A 1
Ở T2
ta thấy ông A 2 không phải là A 1 nữa.
Nếu
ta nhìn ông A từ thời điểm T 1 đến T 2 thì ông A đã biến đổi theo
thời điểm ( T 2 - T 1 ); ông A đã thêm
( T2-T1 ) tuổi rồi.
Vậy
ông A 2 không thật là A 1, và A 3 không thật là ông A 2, cứ như thế
tiệm tiến thành ra huyển hoá sự vật theo thời gian.
Dùng
Trí Phân Biệt thì nhìn thấy sự vật chỉ là thực tại giả lập, huyển
hóa hay tướng hoa đốm theo thời gian mà thôi. Đó là lịch trình huyển
hóa sự vật qua Trí Phân Biệt. Phân biệt dữ kiện ở tương lai là thấy
tướng giả lập của nó mà thôi, cũng là quá trình tri nhận của chủ
khách. Thời gian bất khả đắc.
3.- Trí Vô Phân Biệt -(Trí
Vô Phân Biệt hay Vô Thời Không): Vượt qua chủ khách, Tánh Giác (Hư
không) hay Tâm trực nhận thể không của sự vật. Tánh không của Tánh
Giác thể nhập hay đồng nhứt với thể không của sự vật, mà không qua
tiền ngũ căn.
Nhìn
một vật trong không gian, thật ra nhìn ảnh của nó ở nhãn căn, tức
là thấy hiện tượng giả lập, vì phân biệt được ý thức (biết) vật
đó qua cảm quan (chủ tri). Cái biết của cảm quan thì còn sai lầm, vì
nhận hình ảnh của sự vật cho là sự vật. Còn như dùng trực giác
(không do cảm quan) mà thể nhận ngay tánh không hay thể không của sự
vật chiếm cứ không gian -- thì tánh không của (Tâm) trực giác và
tánh không của vật là đồng một thể, thì có gì phân biệt nữa. Lúc
đó Tánh không (Hư không) là thiệt tánh giác vì thiệt tánh giác là
Hư không.
Sở dĩ
nói Thiệt Hư không là nói đến đồng thể của Tướng không của sự
vật. Như thể không của chính Trực giác, Tánh giác hay Chơn tâm hay sự
vật mới thật là Hư không.
Còn
thể không của hình ảnh của sự vật trong võng mạc mà ta thấy là
không thật là ảo ảnh. Cho nên Phật đã nói, Tánh Giác là Thiệt Hư
không và Hư không là Thiệt Tánh giác là ý đó. Đó là Tánh Toàn
Giác vì Tánh Giác có nhiều bực như Tánh Giác từng phần... Tánh Giác
toàn diện là Tự Tính Tuyệt Đối của Tâm, là Chơn Trí hay Chơn Tâm
vậy.
III. PHÂN TÍCH BÁT NHÃ TÂM KÍNH QUA LĂNG KÍNH THỜI KHÔNG
A.- Chủ Thể Quan Sát:
Quán
Tự Tại hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhất thế khổ ách.
Quán
Tự Tại Bồ Tát, chủ thể quan sát, hay hành giả, trong quá trình tư duy
sâu sắc (Trí quan sát) mới thấy được ngũ uẩn đều không, nên vượt
qua mọi khổ ách.
Hành
thâm: tức qua một thời gian thực hành nghiền ngẫm với Trí rộng khắp
nhiều phương diện, lúc ấy mới thấy được ngũ uẩn đều không. Không ở
đây là hai giai tầng thực tại của Tánh Không. Tánh Không thứ nhất
là Tướng Không của ngũ uẩn (dung thể Không của ngũ uẩn chiếm trong
không gian) tức là Tự tính Tuyệt đối; còn Tánh Không thứ hai là
không thật là nó nữa, là thực tại giả lập do lịch trình huyễn hóa
ngũ uẩn. Cho nên suy xét kỹ thì thấy rõ mọi khổ ách (là quá khứ)--
khi ở thể không tuyệt đối (hư không)-- không thể chạm vào hư không
được dù hiện tại hay quá khứ. Còn ở thực tại giả lập, khổ ách
quá khứ thì hiện tại không còn nữa. Sự đau khổ đã qua đi, chúng
ta chỉ còn vương vấn trong ký ức và luôn lập lại bằng ảo giác âm
vang trong tâm thức mà thôi. Vậy khi hành thâm Trí Bát Nhã mới
thấy thực tướng của ngũ uẩn là Tánh không, nên hiện tại không có
khổ ách nào còn vì vậy đã vượt khỏi khổ ách rồi vậy.
B.- Đối Tượng Quan Sát:
Xá
Lợi Tử! Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệc phục như thị.
+Sắc
không khác Không, Không không khác Sắc :
Sắc
và dung thể Không của Sắc là Một, cho nên Sắc không khác Tướng
Không của nó và Tướng Không của Sắc cũng không khác Sắc. Vì Sắc
chiếm cứ không gian và không gian dung chứa Sắc khắn khít nhau như
Một, cho nên dung thể Không của Sắc và Sắc là Một. Không nầy là
Tự Tính Tuyệt Đối.
+Sắc
biến thành Không, Không biến thành Sắc:
Thí
dụ: Ta nhìn Sắc ở thời điểm T1 thì qua T2 (1 sát na), ta thấy Sắc ở T1
không còn thật là Sắc ở T2 nữa. Nhưng ở T2 ta
vẫn thấy Sắc ở T2 là thật, dù ở T2 xem Sắc ở T1 không thật. Chẳng
hạn, ông A ở T1,qua T2 thì lập tức ô. A thêm ( T2-T1) tuổi nên ô. A
T2 không phải là ô. A T1. Tuy nhiên, dù ô. A ở T1 không thật là ô.
A ở T2, nhưng ở T2 ta vẫn thấy ô. A ở T2 là thật. Đó là lịch trình
huyễn hóa của Sắc qua Trí Phân Biệt; hay Sắc và Không có Tự Tính
Tùy Thuộc (theo Thời gian). Rồi đến Thọ, tưởng, Hành, Thức đều giống
như vậy.
Theo
triết lý Duy Thức, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, là tiến trình tri
thức đúng thực tướng của ngũ uẩn hay vạn pháp. Tri thức đúng chủ
tri sai lầm vì chủ thể nhận thức bóng dáng của ngũ uẩn cho là ngũ
uẩn thật. Tri thức đúng chủ tri sai lầm đó là tự giác. Ngũ uẩn mà
chủ thể nhận thức sai lầm đó chỉ là ngũ uẩn giả lập. Tri thức đúng
tự tính giả lập của ngũ uẩn là giải thoát khỏi nhân duyên chằng
chịt, luân hồi, sanh diệt của ngũ uẩn, đối tượng, hay tha nhân nói
chung, tức là giác tha. Vậy tri thức đúng thực tướng của vạn pháp
là con đường giải thoát mọi ràng buộc, sai lầm, nhân duyên, luân
hồi, khổ đau để đến bờ giác ngộ Niết Bàn tịch tịnh. Đó cũng là
con đường tự giác và giác tha.
C.- Đặc Tính Các Pháp.-
Xá
LợI Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất
tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô Sắc, vô Thọ, Tưởng,
Hành,Thức; vô Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý; vô Sắc, Thanh, Hương,
Vị, Xúc, Pháp; vô Nhãn GiớI, nãi chí vô Thức Giới; Vô minh diệc Vô
minh tận; nãi chí vô Lão Tữ diệc vô Lão Tử tận; vô Khổ, Tập,
Diệt, Đạo; vô Trí diệt vô Đắc.
a).-Tự tính tuyệt đối.
Các
pháp không tướng là tánh không của các pháp có đặc tính như sau :
Bất sanh bất diệt, là bản tánh cố định vì các pháp thuộc vào tự
thân nó, không có tự tính giả lập hay tùy thuộc áp đặt lên nó,
nên nó chính là nó, không gì ngoài nó. Dung thể không của vạn pháp
và vạn pháp là một. Tánh Không của vạn pháp tức nhiên không sanh
không diệt; Tướng Không (dung thể Không luôn khắn khít với vạn pháp
nên không thay đổi) thì không tăng không giảm. Chất thể Không (Hư
không) thì không tốt không xấu, không thiện không ác, và không sạch
không nhơ.
b.-Tự tính giả lập.
Tự
tính giả lập là tự tính của thực tại kiến lập tự nhiên. Khi sự vật
nhìn thấy qua nhãn căn thì chỉ nhìn thấy hình ảnh của sự vật ở võng
mạc của nhãn căn mà thôi. Hình ảnh nầy được lăng kính hội tụ ở
nhãn căn từ sự vật bên ngoài không gian. Hình ảnh ấy tăng hay giảm
tùy theo khoảng cách không gian gần hay xa đối với chủ thể. Cơ quan
cảm giác của mỗi người đều khác nhau, cho nên cái thấy đó cũng có
chỗ khác nhau. Vì là hình ảnh của sự vật nên nó không thật. tự
tánh giả lập cũng là tánh không. Tánh không ở đây có hai nghĩa :
(1).
Hình ảnh là thể không (không nắm bắt được, là hư không), khi hình
ảnh thay đổi thì thể không có sanh có diệt.
(2).
Hình ảnh đó không thật là của sự vật, vì do giác quan con người nhận
thấy.
Tự
tính gỉả lập còn gọi là Báo Thân, vì tự tánh nầy hay thay đổi theo
thời không, nên nó có sanh có diệt, có tăng có giảm.
c.-Tự Tính Tùy Thuộc.
Thực
tại được hình thành do nhân duyên của thọ
tưởng hành thức nên có tự tính tùy thuộc. Hình ảnh của sự vật nầy
ở trong tâm thức mà tâm (Ý) trực nhận, cũng thay đổi luôn theo nhân
duyên. Thực tại được nhận thức theo quan niệm, làm cho ta thấy chất
thể của hình ảnh sự vật có màu sắc, tốt xấu, thiện ác, sạch nhơ
v.v...Tự tính của sự vật nầy cũng là hình ảnh của sự vật trong tâm
thức tùy thuộc nhân duyên (lục dục, thất tình), nên chất thể thay
đổi theo môi trường sạch nhơ và sanh diệt theo thời gian. Tự tánh tùy
thuộc còn gọi là Hóa Thân.
Tóm
lại, trong không gian (Hư không) có hai thế giới:
+ Thế
giới gác ngộ, thì mọi sự vật đều có sáu đặc tướng không: không
sanh không diệt, không tăng không giảm, không sạch không nhơ. Ở tự
tính tuyệt đối, Tánh Không của sự vật : không sanh không diệt; Tướng
Không sự vật: không tăng không giảm; Chất Không sự vật : không
sạch không nhơ.
+Thế
giới mê vọng thì có sanh có diệt, có tăng có giảm, có sạch có nhơ.
Ở tự tính giả lập, tánh và thể của hình ảnh sự
vật có sanh có diệt, có tăng có giảm theo thời không. Ở tự tính
tùy thuộc, tánh và chất của hình ảnh sự vật có sanh có diệt, có
sạch có nhơ tùy thuộc môi trường nhân duyên và thời gian.
d.-Tính Vô ngã.
Do đó, trong Không hay tánh
Không của ngủ uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là tự tính Không
của nó mà thôi, nên ngũ uẩn không có thực thể.Thường thì Thân ngũ
uẩn được con người tri nhận sai lầm là Cái Ngả của mình, kỳ thực,
thực tướng của ngũ uẩn là tánh không, nên ngũ uẩn vô ngã.
e.- Không gian tính :
+Nhân.
Tánh
không của Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý của thân xác là thể không
của cảm quan. Lục căn là căn để chủ yếu tiếp xúc đối tượng trong
không gian, là nguồn gốc, là những chủng tử, khi có điều kiện, sinh
ra các cảm giác. Tánh không của lục căn tùy thuộc vào duyên mới
phát sinh cảm giác, nên chúng chỉ là tự tính giả lập.
+Duyên.
Tánh
không của Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Lục trần cũng không có
thực thể; thật sự chúng là thực tại giả lập và chúng là những
yếu tố (duyên) tạo ra cảm giác và ý thức khi kết hợp với lục căn.
Lục trần tùy thuộc vào lục căn mới phát sinh ra cảm giác. Lục trần
được xem là duyên, nên chúng có tự tính tùy thuộc.
+
Quả.
Tánh
không của Nhãn giới cho tớiThức giới. Lục Thức chỉ là Ý thức do
Nhân Lục căn, Duyên Lục trần kết hợp thành Quả là Lục thức. Nhân
đã không có thực thể, Duyên cũng không có thực thể, thì Quả làm gì
có thực thể. Do đó Lục thức là hiện tượng vô thường của tánh
không, của tự tính tùy thuộc. Lục thức là sự hiểu biết đối
tượng Lục trần qua Lục căn của chủ thể, nên lục thức được tri nhận
sai lầm là Tâm. Theo đặc Tướng Không của vạn pháp, thì Tâm hay Pháp
tức chủ thể hay đối tượng đều không có thực thể. Tâm vô thường,
Pháp vô Ngả.
f.- Thời Gian Tính.
Tánh
Không của thập nhị nhân duyên. Không có Vô Minh, không tận Vô Minh,
cho đến không có Lão và Tử, cho đến không có tận diệt Lão và Tử.
Đặc Tướng Không của Vô Minh là tánh không, nên Vô Minh tự nó rỗng
không vì nó là Tri kiến mà Tri Kiến là một thực tại giả lập hay
tùy thuộc vào nhân duyên áp đặt lên nó. Có Vô Minh (Sanh) thì Không
có Vô Minh (Diệt) là giai đoạn 1. Không
có Vô Minh (Diệt ), thì Không không có Vô Minh ( Sanh), là giai đoạn 2
và cứ như thế theo thời gian sanh, diệt, sanh v.v...; Có Lão và Tử
(Sanh), không có Lão và Tử (Diệt), là giai đoạn 1.
Không có Lão và Tử (Diệt), Không không có Lão và Tử (Sanh), giai
đoạn 2, và cứ như thế chạy dài theo thời gian vô tận. Đó là Biện
Chứng Nụ Hoa Quả của Hegel. Nụ tàn thì Hoa trổ, Hoa rụi thì Quả sanh.
Đó là nhị bội phủ định. Hai lần phủ là một quyết. Đói thì ăn. Không
đói thì không ăn. Không phải không đói mà không ăn.
Nói
tóm lại, Tánh Không của Thập Nhị Nhân Duyên là Tính Không duyên
khởi là lịch trình (thời gian) huyễn hóa sự vật mà thôi.
g.- Giải Kiến: Tánh
Không của Tứ Diệu Đế.
Tánh không của Khổ, Tập,
Diệt, Đạo được giải kiến bằng Thọ, Tưởng, Hành, Thức.
Cảm
thọ Khổ là quả, do Tập là Tưởng, là ký ức là nhân. Hành là Diệt
là nhân,nên Thức là Đạo là quả. Con đường tri thức đúng của
Khổ,Tập, Diệt, Đạo là Thực Tướng Không của Thọ, Tưởng, Hành,Thức.
Tánh không của Tứ Diệu Đế cũng được giải kiến theo hai hướng của
thực tại. Thực tại tương đối là tính không của Khổ Tập Diệt
Đạo với Tự tính giả lập hay tùy thuộc. Còn Thực tại tuyệt đối là
tánh không của Thọ Tưởng Hành Thức với Tự tính tuyệt đối.
h.- Giải Kiến: Tánh
Không của Trí và Đắc.
Chân Trí hay Chân Đắc là
thực tướng của Tri và Hành. Tri thức đúng (tự tính tuyệt đối) là
Chứng, là giác ngộ, mà giác ngộ mới thực hành đúng là Đắc. Chứng
(Tri) và Đắc (Hành) tự nó đầy đủ, là chân lý tối hậu, không có gì
áp đặt lên nó như dùng ngôn từ hay công ước. Như vậy Không Trí
Không Đắc được giải kiến bằng Tướng Không (tuyệt đối) của Trí và
Đắc. Vì Trí và Đắc là thực tại giả lập, nên tri thức đúng thực thể
của chúng tức là nắm bắt tự tính tuyệt đối của chúng.
D.-Quả Đạt Được.
Dĩ vô
sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, Tâm vô quái
ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo, mộng
tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa
cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa,
thị Đại thần chú,thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng
đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thực bất hư. Cố thuyết Bát
Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết :
Yết Đế, Yết Đế, Ba La Yết
Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha.
(1).- Quả: Khi hành Trí Bát
Nhã Cứu Cánh thì đạt được hai quả sau đây :
a).
Thoát khỏi khổ ách. (Thời gian huyễn hóa sự vật) Như ngay khi chiếu
kiến ngũ uẩn giai không của Bồ Tát Quán Tự Tại thì quả là thoát
mọi khổ ách.
Ngũ
uẩn là thực tại kiến lập, là tánh không. Cho nên, Thọ (Sợ hải),
Hành (điên đảo), Tưởng (mộng tưởng) là tánh không hay là cái không
thật có đó, nên không có gì chướng ngại, liền vượt qua mọi sợ hãi,
điên đảo, mộng tưởng. Tri thức đúng tự tính giả lập là
giải thoát mọi khổ ách, vì khổ ách không thật có. Sắc tức thị
không, và không tức thị sắc
b).-Giác ngộ Niết Bàn. (vô thời
không)
Chiếu
kiến ngũ uẩn giai không trên bình diện tuyệt đối, tức ngũ uẩn và
không không khác, tánh không của ngũ uẩn là thể không của ngũ
uẩn,là tự tính tuyệt đối. Cho nên, thực hành Trí Bát Nhã Cứu Cánh
là Tri thức đúng thực tướng (thể không tuyệt đối) của vạn pháp,
tức là con đường giải thoát đến bờ giác ngộ Niết bàn, đến cứu
cánh.
c).- Chứng Minh:
Các
đức Phật ba đời, cũng hành trì theo pháp Bát Nhã Cứu Cánh đều chứng
quả Vô Thượng Giác.
Phật
ba đời là Phật Tánh hay Tánh Không của Tự Tính Tuyệt Đối. Vì ba đời,
là quá khứ đã qua không thật; vị lai chưa đến cũng không thật; hiện
tại không nắm bắt được: ba thời đều bất khả đắc. Đó là
Pháp Đẳng Không. Trong Kim Cang Tam Muội, phẩm 23, Phật dạy :
--Đúng
như lời Tu Bồ Đề nói: Đại Thừa đồng đẳng với hư không.
Như hư
không không có phương hướng, chẳng phải dài vắn vuông tròn, chẳng
phải vàng đỏ trắng đen. Đại thừa cũng như vậy.
Như hư
không chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, chẳng cấu chẳng tịnh,
chẳng tăng chẳng giảm, chẳng sanh chẳng diệt, không dừng thay đổi,
chẳng phải thiện hay bất thiện, ký hay vô ký, chẳng thấy nghe hay biết
v.v... Đại thừa cũng lại như vậy. Thế nên Đaị Thừa đồng đẳng với hư
không.
--Tu
Bồ Đề! Đúng như lời ông nói, hư không dung thọ vô lượng vô biên vô
số chúng sanh. Đại Thừa cũng lại như vậy. Vì chúng sanh vô sở hữu. Do
vì chúng sanh vô sở hữu, hư không vô sở hữu, đại thừa vô sở hữu
nên đều bất khả đắc.
Vìû
đến tất cả pháp đều bất khả đắc, nên đại thừa dung chứa và thọ
nhận tất cả ( vô lượng vô biên vô số chúng sanh ).
Vì
tất cả các pháp bất khả đắc, nên trong quá khứ hiện tại vị lai,
Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát và Phật đều bất khả đắc. Thế nên
trong ba đời đều bình đẳng, vì tất cả đều bất khả đắc.
--Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát an
trụ Bát Nhã Ba La Mật học tướng ba đời bình đẳng, sẽ được nhứt
thiết chủng trí.
--Bạch Thế Tôn! Lành thay!
Lành thay! Đối với Đại Bồ Tát đại thừa an trụ Bát Nhã Ba La Mật :
Quá khứ chư Đại Bồ Tát
học nơi đây được Nhứt Thiết Chủng Trí.
Vị lai
chư Đại Bồ Tát học nơi đây sẽ được Nhứt Thiết Chủng Trí.
Hiện
tại chư Đại Bồ Tát trong vô lượng vô số quốc độ 10 phương cũng học
được nơi đây mà học được Nhứt Thiết Chủng Trí.
--Bạch
Thế Tôn! Nhứt Thiết Chủng Trí chính là Đại Bồ Tát Đại Thừa vậy.
--Tu
Bồ Đề! Đúng như vậy. (tr. 70-71)
Do đó trongba đời chư Phật
(dùng Phật tánh hay Tánh không), hành trì theo phép Bát Nhã Cứu Cánh
đều chứng quả Vô Thượng giác (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) hay
Vô Thượng Bồ Đề tức là Nhứt Thiết Chủng Trí là Trí giác tuyệt đối.
2.- Tán Tụng
Thế
nên biết rằng Bát Nhã Ba La Mật, chính là thần chú vĩ đại nhứt,
thần chú chiếu minh, thần chú vô thượng, thần chú đẳng không hay
tuyệt đỉnh, chính là chân lý bất vọng, có năng lực siêu phàm tiêu
trừ tất cả khổ nạn.
Đó
là lời tán tụng thành quả của hành trì Trí Bát Nhã Cứu Cánh.Thần
chú là kỷ thuật, phương pháp đi vào thực tính của vạn pháp. Đó là
pháp đại thần diệu vì nó vĩ đại, tuyệt đối tác năng vô tận. Đại
minh chú là pháp Đại chiếu minh, giải trừ sự tối tăm (vô minh), dứt
mọi phiền não kiến chấp. Voâ Thượng
chú là pháp vô thượng Bồ Đề là chỗ giác ngộ của Phật, không còn
ai hơn nữa gọi là Vô Thượng; xa lìa tà vọng gọi là chánh,ngộ được
chân lý gọi là Giác. Phật tâm Vô Thượng Giác là phát tâm mong cầu
trí giác vô thượng, quả Phật cứu cánh. Vô Đẳng Đẳng chú tức là
pháp đẳng không, học tướng ba đời bình đẳng (Phật ba đời) sẽ được
Nhứt Thiết Chủng trí. Hay Tâm Vô Đẳng Đẳng cũng là Tâm Vô Thượng
bồ Đề trên Tâm Thinh Văn, Bích Chi Phật và tất cả mọi thứ tâm. Cho
nên Trí Bát Nhã Cứu Cánh là phương pháp diệt trừ khổ ách, bởi vì
phương pháp trí cứu cánh cũng là phương pháp tri nhận đúng chân lý,
không hư dối, tức là tri nhận tự tính tuyệt đối. Trí Bát Nhã Cứu
Cánh là Tri Thức Đúng, tức là tiến trình nhận thức đúng thực thể,
nên giải thoát mọi sự hiểu biết sai lầm ràng buộc bởi nhân duyên
chằng chịt, khổ đau, luân hồi mà đến bờ giác ngộ Niết bàn. Đó là
kỷ thuật hay phương pháp thiết thực như hành trì các pháp (thần chú)
như pháp tuyệt đối vĩ đại, pháp chiếu minh, pháp vô thượng, pháp
đẳng không, chắc chắn sẽ giác ngộ Niết bàn như hành trì Trí
Bát Nhã Cứu Cánh vậy.
E.- Kết Luận.
Phật
liền đọc (nói): Yết Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế,
Bồ Đề Tát Bà Ha, là chấm dứt ngay mọi vọng tưởng, đạt cứu cánh
niết bàn.
Thật
ra nói đến thần chú--dù có nghĩa là kỷ thuật hay phương pháp--thần
chú là mật ngữ không cần biết tới nghĩa của nó.
Khi
hành giả đọc thần chú, hành giả (chủ thể) nghe (biết) tiếng thần
chú (đối tượng). Nghe là năng tri, thần chú là sở tri. Còn chủ tri
và khách thể là còn nhị nguyên, đối đãi, nhân duyên chằng chịt. Như
đã trình bày ở phần trước theo quan điểm duy thức, là Tri Thức đúng
cái tri thức sai lầm đó (chủ thể cảm giác và đối tượng giả lập )
là quá trình giải thoát mọi vọng tưởng điên đảo, đạt được cứu cánh
niết bàn.
Vậy
khi hành giả đọc câu thần chú xong thì năng sở song vong có nghĩa là
khi đọc thần chú tức là chủ thể đọc (nghe), thần chú (đối tượng),
hành giả ngay đó Biết được mình đang nghe âm thanh đọc. Bởi vì Biết
được là trực giác (do tâm, chứ không do cảm quan của chủ thể tri
thức) được âm thanh đó. Năng tri (đọc: phát ra âm thanh của chữ) là
nghe âm thanh của thần chú là do căn tai. Câu thần chú là tiếng
được nghe (sở tri), nó là thực tại giả lập. Cho nên dùng trực giác
(tâm) nhận thức ngay thể không của chủ tri và sở tri, tức là biến
nhị nguyên (chủ khách) thành nhứt nguyên (chủ khách đều không). Đó
là tri thức đúng thực tướng của tâm và vật.
Nói
rõ hơn là khi hành giả đọc câu chú, ngay đó nhận Biết đang nghe âm
thanh đọc mà thôi. Vì lẻ, khi đọc dùng tánh nghe của căn tai (cảm
giác) chuyển cho trực giác từ tánh nghe đó mà thể nhận nơi thể
không của của tiếng đọc thần chú được nghe thành âm thanh. Do đó
nghe đọc thần chú, nhận Biết ngay đang nghe âm thanh đọc mà thôi.
Dù thần chú có nghĩa
là--Vượt qua, vượt qua, đến bờ bên kia một cách nhanh chóng-- nhưng
hành giả chỉ cần thể nhận nơi thực tướng (âm thanh đọc) mà không
cần biết ý nghĩa của thần chú là ngôn ngữ giả lập.
Vậy
khi đọc câu thần chú xong, ngay đó nhận biết tánh nghe mà thôi, đó
là đạt được Giác Ngộ viên mãn.
Nên
nhớ rằng, Giác Ngộ nầy chỉ trong khoảnh khắc Tĩnh Giác, là Trực Tâm,
nên phải tiếp tục để được Thâm Tâm chí đến Bồ Đề Tâm mới gọi là
Giác Ngộ Niết Bàn.
Vài
thí dụ về thực hành Trí Bát Nhã Cứu Cánh. Đó là,
Tri thức đúng cái Tri Thức
sai lầm của chủ khách:
--Đọc thần chú là Biết
cái đang đọc thành tiếng; hay Biết đang nghe tiếng đọc (chỉ nghe âm
thanh, không cần hiểu nghĩa thần chú).
--Biết (Tâm) Cái mình biết
(Năng Sở).
--Nhìn vào trong (thể không
của sự vật), như Trực tâm là Tâm trực nhận nơi thể không của sự
vật.
--Hoặc giả, thực hiện
Chân Trí ngay nơi đối tượng hiện quán v.v (Giải lý chi tiết ở phần
Thắp Sáng Hiện Hữu)
CHƯƠNG HAI
THẮP SÁNG HIỆN HỮU
Đã
giải thoát tri kiến tức là tháo gở gánh nặng của thực tại giả lập
hay sự vật quá khứ, thì tâm hiện tại trong sáng.
Cuộc
sống không quá khứ, không tương lai đó là đầu đề khá phức tạp đến
những lý luận sao cho hợp lý. Không quá khứ làm sao có hiện tại,
không toan tính tương lai làm sao ổn định được cuộc sống? Quá khứ đầy
đau khổ ta giải thoát nó đi. Huân tập hiện tại là nhân tương lai.
Nhưng hướng đi và chủ đích của hành giả--khi nhận thức được sự đau
khổ--là thực hiện con đường đi đến hạnh phúc vĩnh cữu tức là con
đường tri thức đúng thực tướng của sự vật--tất không màng suy nghĩ
thêm nữa, không toan tính thêm nữa cái đã qua,cũng như cái sẽ tới,
thì cái gì ảnh hưởng đến tâm đạo của mình?
Thắp
sáng hiện hữu là hành trình thực hiện lối sống đơn giản xảy ra hàng
ngày, tâm tâm vật vật không tạo ra dây oan trái nghiệp thức chồng
chất. Tôi thấy đói thì ăn,mệt thì ngủ, ngoài ra không cần suy nghĩ gì
nữa. Tâm không vương tình không động. Đó là tâm trạng ung dung tự
tại. Thấy bằng trí đơn nhất, đừng sanh tình. Tôi thấy cô gái, biết
thấy cô gái. Thôi đủ rồi. tánh thấy của Phật và chúng sanh đều đồng.
Phật cũng thấy, thánh nhân cũng thấy nhưng không sanh lòng. Còn phàm
phu chúng ta thấy cô gái thì động lòng trắc ẩn sắc dục, cái thích
thú tham cầu từ muôn kiếp,nên cảm xúc tương tư, tìm gặp, thoả mãn
ước muốn chiếm hữu cho được cô gái dù trong vọng tưởng. Cái thấy
ấy vương vấn tình cảm sẽ mê loạn thân tâm. Giải thoát tri kiến, định
thức tâm lý là dẹp bỏ mối oan trái, bậc tu hành đem trí tuệ thắp
sáng hiện hữu.
Thấy
cô gái thôi rồi, tôi biết tôi thấy, rồi tôi đọc sách, tôi biết
tôi đọc sách. Cái biết đơn thuần ấy trong hiện hữu của mỗi hoạt
động là ta sống trong tĩnh thức.
Hiện
hữu ta ghi nhận bằng một tâm hồn thanh thản, không dấy động. Cái
hiện sinh, hiện hữu ấy là đưa ta đến một tâm thức nhẹ nhàng, hồn
nhiên như trẻ thơ, cải lão hoàn đồng. Biến những mặc cảm tội lỗi,
kiếp sống từng trải lão luyện, tri thức hổn tạp của kiếp người qua
thời gian năm tháng khổ ải, cải thành những tâm hồn tươi trẻ, tâm
hồn trong trắng không còn vướng thêm một mãi bụi trần, không chút
lo âu, không toan tính điều lợi hại, chỉ sống bằng hiện thực. Cái
thực tại của mỗi bản thể luôn luôn nằm trong trạng thái hiện tại
hay khoảnh khắc hiện tại. Muốn tri giác cái hiện tại, ta phải chụp
lấy cái hiện tại đang sống. Như thế có nghĩa là ta phải làm cho Tâm
ta luôn luôn chăm chú vào hiện tại, hoặc nữa làm cho ta luôn luôn
sống trong hiện tại.
I.- MINH SÁT TUỆ: (
Theo Thiền Minh Sát của Phật Giáo Nguyên Thủy) Thông thường tâm
không trụ vào một nơi mà tách rời thân, chu du đó đây đến tận
những nơi xa xôi, lắm khi cũng đi vào vị lai hay trở lại quá khứ theo
dòng tư tưởng và trong giấc mơ.
Tâm
phóng như vậy vì thiếu niệm và thiếu giác tĩnh và do đó trở thành
chỗ nươngtựa của ba căn bất thiện là Tham Sân Si.
Để
diệt trừ ba ô nhiễm đó, trên thực tế ta dùng đến trí tuệ rất ít.
Thông suốt toàn thể pháp học vẫn chưa phải là đường đưa đến Niết
Bàn kể cả phép suy luận. Đường đến Niết Bàn chỉ có thể thành đạt
được bằng pháp hành.
Pháp hành là gì?
Theo
Minh Sát Tuệ, lối thiền của Phật Giáo Nguyên Thủy cũng là lối Thắp
Sáng Hiện Hữu hữu hiệu nhất. Là thực hành tâm niệm và giác tĩnh.
Chỉ bằng cách không để tâm phóng dật vào quá khứ hay tương lai mà
phải chăm chú vào hiện tại, ta có thể vượt ra ngoài mọi ưa thích hay
ghét bỏ và si mê. Nói cách khác ta phải luôn luôn giác tĩnh và
không mơ mộng.
Trước
tiên ta phải có ít pháp học vừa đủ để biết cử động nào của thân
hay tri giác nào có thể là nguồn phát sinh ra ưa ghét tham hay sân và
ghi nhận tất cả luôn luôn giác tĩnh. Pháp thực hành của Thiền Minh
Sát Tuệ là tập cho tâm an trụ và giác tĩnh. Bỏ lỡ không ghi nhận
là Không Biết là Si và kết quả sẽ là để cho tâm bối rối quấn quít
trong sự ưa thích và ghét bỏ tức là Tham và Sân, nguyên nhân của
mọi đau khổ, sầu muộn, thất vọng và bất toại nguyện mà chúng ta đã
chịu.
Giá Trị Sinh Lý của Minh Sát: trong thực
tế, pháp hành nầy là là một lối luyện tập liên quan đến hơi thở
và tâm, cùng một lúc. Thí dụ, trong khi hành, chú tâm vào sự phồng
lên xọp xuống của cái bụng và ghi nhận các tri giác. Trước tiên,
hơi thở của hànhgiả bị xáo trộn và nhiều hiện tượng tinh thần cũng
như vật chất sẽ phát sanh đến tâm và thân của hành giả; kế đó hơi
thở dần dần đều đặn trở lại. Trong khi thực hành như vậy, máu lên
não rất ít hơn, do đó thân cần dùng khí oxy ít hơn. Hơi thở ngắn hơn.
Trong khi nằm và ngồi, hành giả cũngthở bằng bụng. Pháp hành nầy
làm cho thân cần dùng không khí rất ít và như vậy thân sẽ được nghỉ
ngơi phần nào. khi oxy lên não ít hơn sẽ loại trừ những hình ảnh trong
tâm và như thế tâm cũng được nghỉ ngơi. Vậy cả thân lẫn tâm được
yên nghỉ trong pháp hành Minh Sát và sự yên nghỉ này tốt hơn một
giấc ngủ ngon, vì trong giấc ngủ bộ não vẫn làm việc tích cực như khi
nằm mộng.
Khi
hành giả đạt đến mức cùng tột, chỉ có ít oxy vào não. Đó là điều
kiện sinh lý để hành giả vào trạng thái nhập định có thể trọn 24
giờ. Chỉ có những vị A-Na-Hàm--A La Hán mới có thể nhập định đến bảy
ngày trọn, không cần phải ăn uống gì. Và điều nầy chỉ thực hiện
được vì hành giả không cho những hình ảnh tâm linh hay tư tưởng phát
sanh trong tâm. Nói cách khác, vì hành giả có thể dập tắt tất cả ô
nhiễm. Không có ô nhiễm, không có hình ảnh (thức) tâm linh, Tâm trở
thành rõ ràng và trong sạch, quang minh và thanh tịnh, và chỉ cần rất
ít không khí trong hơi thở cũng đủ. Do đó. không có gì đáng ngạc
nhiên khi các nhà yogi có thể đóng kín, như trong một quan tài chôn
dướI đất trong một thờI gian, điều mà ta nghe kể hoặc qua báo chí.
Cũng do đó, trong khi thực hành qua pháp này, nếu có tâm ô nhiễm
phát sinh, hành giả sẽ thở vô nhiều hơi hơn để lấy oxy nuôi dưỡng
những tế bào của não bộ đang tích cực hoạt động. Pháp hành Minh Sát
tiêu trừ sự mệt mỏi của tâm linh và thể xác, chấm dứt sự lo âu,
thắc mắc sầu muộn và thất vọng, và có thể trị mhiều chứng bịnh tinh
thần.
Lối thiền nầy, xét theo Duy Thức, là tri
thức đúng cái tri thức của cảm giác (chủ khách), ở giai đoạn
đầu,tức là tự tánh giả lập. Cứu cánh của phương pháp hay chí đạo
của pháp môn là đạt đến quả A La Hán.
II.- QUÁN TỨ NIỆM XỨ:
Đó là luôn nhớ tưởng Thân Tâm Thọ
Pháp bằng cách quán sát thường xuyên, theo thiền nguyên thủy:
1.
Quán Thân bất tịnh là thân đầy uế trược;
2. Quán Thọ thị khổ là cảm thọ thì khổ;
3.
Quán Tâm vô thường vì tâm thức giả lập, hay biến đổi, không chơn
thật;
4.
Quán Pháp vô ngã là pháp thế gian cũng chỉ là thực tại giả lập,
nó không có thực thể. Chỉ có các pháp vô lậu xuất thế gian mới
chơn thật vì phát xuất từ Chơn Ngã.
Do cái trí quán sát đối tượng như thế
đó chỉ là Trí Phân Tích mà thôi, nó chỉ là dùng pháp đối trị các
bịnh như Tham Dục hoặc Sân Si.
Đến
lúc Phật sắp viên tịch, trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Ngài di huấn
khuyến cáo các đệ tử tinh tấn hành Tứ Niệm Xứ của Đại Thừa :
1. Quán Thân như
thân là tánh và tướng của thân vốn là không;
2. Quán Thọ như
thọ vì cảm thọ của giác quan không thật nên tánh của thọ là không;
3. Quán Tâm như
tâm vì tâm là một thực tại giả lập nên tánh của tâm là không;
4. Quán Pháp như
pháp vì pháp thiện hay pháp bất thiện đều bất khả đắc, nó vốn có
sẳn nơi chơn tâm, tánh không.
Quán tứ niệm xứ ở giai đoạn trên, theo thiền nguyên thủy,
thì đạt quả thanh văn; quán tứ niệm xứ theo tánh Không thì quả sẽ
cao hơn, như tu theo Đại Thừa.
III. QUÁN ÂM THANH VÀ ÁNH
SÁNG:
Nói
đến thực tại của Bản Chất tâm linh được các nhà Phật học Tây Tạng
định nghĩa như là Ánh Sáng và Âm Thanh cùng tính chất tối sơ của Hư
Không. Vì hư không hòa tan với ánh sáng và âm thanh. Theo quan niệm
của họ, khi người ta chết thì phải trải qua giai đoạn trung gian hay
gọi là trạng thái Trung Ấm, thì người chết phải đối diện với bản
chất thật của mình. Trong sách TỬ THƯ TÂY TẠNGõ, theo Bardo Thodol, cái
chết có liên quan với hành động của chúng ta. Vậy thì cái chết đến
là không phải do lỗi các vị thần (thoái hóa, nhầm lẩn) mà chính do
các sự sai lầm của con người. Ngoài lập luận trên đây, chúng ta còn
tìm thấy trong cốt lõi của Bardo Thodol một điều mà các huyền thoại
đã từng nhắc đến: Đó là con người thật sự được che chở bao bọc
trong lòng của thần linh đầy ánh sáng, nơi đó con người được dự phần
vào Chân Lý Tự Tại, chính nhờ vào bản chất tâm linh của mình. Con
người phát triển cả một quá trình siêu hình của tư tưởng, trong đó
Bản Chất tâm linh của Ánh Sáng của con người là một cái gì đó
không thể cầm nắm được, yên lặng và sáng rực, nó vang lên trong
Tâm của mỗi người khi mà mỗi mối suy tưởng của chúng ta đều bị cắt
đứt, tất cả mọi ham muốn, tất cả mọi mối quan hệ của chúng ta với
mọi vật đều chấm dứt. Đó chính là Tâm Thanh Tịnh. Bản Chất Tâm linh
Ánh Sáng đó không thể cầm nắm hay diễn tả được, nó có thể có
được chứng nghiệm một cách đột biến trong cơn thiền định sâu sắc, sau
một quá trình tu tập và phát triển tâm linh lâu dài. Cái bản chất
tâm linh Ánh Sáng ấy là bản chất vốn có của con người. Thông qua
nó, con người trong tinh hoa của mình được hợp nhất với tất cả chư
Phật, với tất cả chúng sinh. Cái đó gọi là Phật tính hay Mầm của
Như Lai. (tr 40, 41)
Trạng
thái trung gian đầu tiên trực tiếp đến ngay sau khi chết kéo dài lâu
hay chóng tùy thuộc vào trình độ tâm linh của con người trước khi
chết. Con người càng chìm ngập sâu trong những ảo tưởng và phiền não
thì thời gian chuyển sang trạng thái Trung Gian càng ngắn, và Ánh Sáng
cơ bản cũng vẩn đục hơn. Con người nầy sẽ bỏ qua dịp may ngàn năm để
nhận biết Ánh Sáng cơ bản, tức là bản chất thâm sâu của trí tuệ.
Người
nào lúc còn sống luôn luôn tinh tấn thực hành một trong nhiều phương
pháp Thiền Định về Ánh Sáng thì lúc chết sẽ có khả năng nhận biết
(trong trạng thái Trung Gian) cái tinh hoa tối thượng của của trí tuệ
vôsinh, dưới dạng Ánh Sáng bừng lên, là bản chất của Phật, là Hư
Không. Cái nhìn sâu sắc ấy đem lại tự do : Người đó đạt được đến
sự giác ngộ cao nhất và trở thành một vị Phật (tr 115,116)
Tóm
lại thực tại của Ánh Sáng và ÂmTthanh được diễn đạt đầy đủ trong
bài thơ Kính Tặng (tr103) sau đây:
Kính
Tặng
Om!
Lạt Ma tôn kính là Tam Thân.
Thân
Hư Không (Pháp Thân) tôn kính
Là Trí
Tuệ sáng suốt
Bao
dung và thâm nhập tất cả
Là Đức Di Đà, Phật Vô lượng Quang!
Báo
Thân tôn kính
Là
các thần linh Yên Tĩnh và Giận Dữ
Của
hệ Hoa sen.
Hóa
Thân tôn kính
Là
Padma Sambhava
Cứu
tinh của muôn loài chúng sinh!
Đại
giáo huấn về sự Giải Thoát tự nhiên tức thì
Bằng
Tính Nghe và Cái Nhìn sâu sắc
Được
tặng cho hành giả.
Như
một phương tiện giải thoát
Khi
trải qua Trạng Thái Trung Gian (Bardo)
Khi
quán Âm Thanh, hành giả tạo âm thanh từ trong nội thân, quán sát
bằng tâm thức, tức là thực hiện tánh nghe ở phần trên bộ đầu. Có
chủ thể nghe và đối tượng (âm thanh) tức là tạo được tánh biết
(nghe). Tánh năng tri ấy thường hằng, hành giả cố gắng huân tập
(thiền) thói quen theo lối sống thường hằng ấy để một khi thuần thục
rồi, thì xuất thần chứng nghiệm được thể tánh của mình, hoặc giả khi
chết, thần thức tiêm nhiễm thể của âm thanh hay tánh nghe nhiều hay
ít tùy công phu mà hoà nhập với hư không theo mức độ giảm ít nhiều
tính vẩn đục. Thế giới hư không giác ngộ niết bàn là pháp giới của
Chư Phật hoàn toàn trong sáng thanh tịnh.
Quán
Ánh Sáng cũng tương tự như thế, có đằng là quan sát ở mắt trí tuệ
(ám chỉ) cho tâm thức tri nhận tánh thấy.
Dù
quán Âm Thanh hay Ánh Sáng, hành giả dùng ý thức (chủ thể) để quán
đối tượng (âm thanh, ánh sáng), thì vẫn còn đối đãi chủ khách, dù
nếu chỉ chú ý đến chủ khách, không gì ngoài chủ khách, thì cũng
loại bỏ tất cả vọng tưởng khác. Cho nên muốn giải thoát khỏi những
tri thức sai lầm đó (chủ khách), hành giả nên dùng tâm (trực giác)
để thể nhận ngay tánh không của Âm Thanh Ánh Sáng hay đối tượng,
tức là biến nhị nguyên thành nhứt nguyên. Vì tâm Không trực nhận
thể Không của đối tượng; đó là nhứt tướng hay tướng không, thì pháp
tánh sẽ trong sáng thanh tịnh, và đồng pháp tính của chư Phật. Một
cách cụ thể hơn, hành giả chỉ cần khi nghe âm thanh hay ánh sáng hiện
ra trong đầu, thì hành giả biết (nghe, thấy) có tiếng, có ánh
sáng-khi không có âm thanh hay ánh sáng thì biết (nghe,thấy) không có
âm thanh hay ánh sáng. Đó là thể hiện cách sống với tánh Biết, tức
là năng sở song vong.
IV. NIỆM PHẬT:
Muốn
vào nhà Như Lai (thế giới chư Phật), hành giả nên tu theo pháp môn
Niệm Phật. Theo tập Tu niệm Phật Tam Muội, phương tiện Đàm, lý giải
như sau:
Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy: Vào nhà
Như lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai.
Nhà
Như Lai là Nhà Đại Bi. Y Như Lai là y nhu hòa nhẫn nhục. Tòa Như Lai
là tòa tất cả các Pháp Không. Hành giả tu niệm Phật Tam Muội, phải
kiết thất kỳ (mỗi kỳ nhập thất 7 ngày). Nên phải hiểu rõ được lý
giải trước khi nhập thất.
Vào
nhà Như Lai thì thệ nguyện từ đây về sau chẳng bỏ tâm đại từ bi.
Mặc y Như Lai thì thệ nguyện từ đây về sau chẳng rời y nhu hòa nhẫn
nhục. Ngồi tòa Như Lai nguyện từ đây về sau mỗi niệm, mỗi niệm trong
pháp Không rất rõ ràng. Người tu hành được ba môn Giới học, Định
học, Huệ học nầy tinh tấn không thôi, thì chính ngay nhứt niệm của
mình thẳng đến mười phương ba đời chư Phật không hai không khác. Lấy
tâm nầy mà niệm Phật thì gọi tâm nầy là tâm Phật. Lấy tâm đó
quán tưởng Phật thì gọi đó là tâm làm Phật. Chính đây là cơ sở tu
niệm Phật Tam Muội, cứu cánh vào được chánh định niệm Phật (niệm
Phật Tam Muội).
Thế
nên không có gì ngoài tâm đây vậy.
Quán Niệm :
Như
trước đã nói lập được cơ sở niệm nầy rồi thì phải quan sát. Một
niệm từ tâm phát khởi ra hay từ miệng phát ra. Nếu từ miệng phát
khởi ra thì các tượng bằng gổ đất vv... có miệng đều niệm được.
Trái lại, các tượng đó không niệm được. Thế mới biết niệm nầy
không thể từ miệng mà niệm, còn nói từ tâm phát khởi niệm nầy,
vậy nếu miệng và lưỡi không cử động chắc không thể thành tiếng.
Bởi vậy, nên biết là niệm Phật ban sơ từ tâm khởi niệm rồi truyền
nhanh ra miệng, lưỡi phát động thành âm thanh, mới hoàn thành một
niệm. Lại quán sát niệm nầy từ tâm phát khởi thì ban sơ phải từ
tâm khởi niệm và truyền nhanh đến miệng, như sóng biển dù lượng
sóng có ngàn vạn mà thể nước chỉ là một. Cũng vậy, niệm của tâm
dù một hay mười niệm, cho đến ngàn vạn niệm mà niệm nầy cũng chỉ
là một thôi. Huống chi là lúc khởi niệm như vậy là hòa hợp sắc
tâm liên kết phận vị giả lập mà thôi.
Một
niệm phát xuất lúc đó thì niệm ấy tích trữ cho đến ngàn vạn năm
chúng đều không khác gì nhau, cho nên nói rằng nhứt niệm vạn niên.
Lại niệm ấy cứ tiếp tục ngàn vạn năm dù có nhiều cho đến bất khả
tư nghì cũng giống số lượng nước biển bất khả tư nghì vậy. Nghĩa là
lượng sóng biển tuy nhiều mà thể nước không sai khác. Cũng vậy,
niệm số tuy nhiều mà niệm sau không khác gì niệm trước, gọi đó là
vạn niên nhứt niệm. Liễu ngộ đươc nhứt niệm vạn niên thì biết rõ
ràng một tiếng niệm Phật chắc chắn diệt trừ được tám vạn ức kiếp sanh
tử trọng tội. Liễu ngộ vạn niên nhứt niệm thì biết được hàng hà sa
số kiếp, hàng hà sa số vọng niệm ta khởi ra chìm nổi ba cõi sáu
đường, đem so sánh số lượng niệm Phật ngày nay của ta phát khởi từ
sơ niệm cho đến hậu niệm thành Phật đều chẳng lìa một niệm ban sơ.
Hành
giả chỉ triệt ngộ từ niệm nầy, trân trọng một niệm này, biết gìn
giữ một niệm này như gà ấp trứng hơi nóng xông ướp với nhau không
lúc nào gián đoạn. Đem so sánh công phu niệm Phật tối sơ nhứt niệm
cho đến vị lai không ngần mé, niệm niệm không dứt, nối nhau không bao
giờ gián đoạn vậy.
Truy
Đảnh Niệm Phật :
Đời
nhà Minh Ngài Hán Nguyệt Đại Sư phát huy pháp môn Truy Đảnh Niệm Phật.
Cách
thức niệm : Cần phải nỗ lực trì Phật danh bốn chữ A Di Đà Phật,
niệm cho thành khẩn, cứ một chữ vói theo một chữ, mỗi câu vói theo
mỗi câu gấp lại gấp, mạnh lại mạnh, ngăn lại niệm quá khứ, chặn
lại ý niệm vị lai, chẳng duyên cảnh giới hiện tại, ba tâm (tâm quá
khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai) chẳng khuấy động được mình, như thế ba
tâm đều đoạn tuyệt, khoảng cách thời gian chẳng hiện ra, coi như ta
thẳng đến chí điểm: nghiền nát cả hư không đại địa đều bình trầm
(phẳng lặng). Ta với cảnh vật đồng tiêu, không còn pháp nào dựng
lập trong ý tưởng. Trước mặt hiện toàn thân tại viên cảnh trí. Gương
sáng trí tuệ bao trùm khắp cả vũ trụ không còn phân biệt vọng
tưởng dẫy đầy đại thiên xum la, vạn tượng rõ rõ ràng ràng nào có
quái ngại gì đâu, cảnh giới ấy gọi là nhất tâm bất loạn (không có
tâm nào có thể loạn hại được), pháp thức tu này là phải niệm Phật
cho đến cùng cực, niệm một ngày, nếu một ngày không thành tựu, thì
cứ ngưng ngày ấy lại coi như ta chưa niệm, mà phải tái niệm liên tục
ngày thứ hai, ngày thứ ba, thứ tư cho đến bảy ngày, hoặc mỗi tháng
một ngày, hai ngày, hoặc một thất, hai thất. Nếu như chỗ niệm không
thành khẩn thì phải điều dưỡng tinh thần rồi lại tiến tu mãnh liệt
một ngày, hai ngày, một thất, hai thất. Như thế trước sau gì cũng đạt
cảnh giới nhứt tâm bất loạn.
Phản Văn Niệm Phật :
Đây
là phương thức niệm của Ngài Tĩnh Am Đại Sư đời nhà Thanh.
Đem cái nghe để nghe niệm Phật. Phương
thức nầy là niệm Phật ra tiếng, tiếng từ miệng ra, rồi thâu tiếng
niệm ấy vào tai thẳng đến cả thân đều là Phật, không còn năng
niệm sở niệm. Sáu căn đều thâu nhiếp hết trở thành một tấm băng
thanh tịnh. Như thế chẳng đợi lúc lâm chung, mà chính lúc ấy ta đã
tọa vị trên Liên Đài chín phẩm.
Tu
pháp nầy trước phải phát tâm Bồ Đề rồi sau đem cái tâm ấy niệm
Phật tinh tấn không gián đoạn. Bất luận đi đứng nằm ngồi vẫn nắm
lấy câu A Di Đà Phật đương niệm. Mỗi chữ mỗi cho rõ ràng, cho đến
từ câu từ câu phân minh khoáng đạt, cho đến lúc không tác niệm mà
vẫn cứ niệm, không chú tâm nghe mà vẫn cứ nghe. Niệm đến chỗ chí
cực chí thành, thì tình tiêu ý vong, thân tâm không tịch không ngần
mé, ngày ngày niệm như vậy, năm năm niệm như vậy thì quyết định được
cảnh giới Tịch Quang Tịnh Độ hiện tiền.
Phát
Tâm Bồ Đề là phát tâm: Thành Phật độ chúng sanh giải thoát.
Mục
đích chính yếu của pháp môn niệm Phật dầu quán niệm, niệm bốn chữ,
dầu dùng những phương tiện gì đều làm cho chúng sanh tiến tu Thánh
Đạo, không còn phiền não để thoát khỏi bể khổ sanh tử bước lên Bờ
Giác, ngõ hầu họa căn đoạn được, tạo khí thế hòa bình cho thế giới.
(Theo trước tác của Bồ Tát giới học giả: Đường Đại Viên Trích lục
theo Hải Triều Âm ,do Việt dịch: Tỳ kheo Thích Ấn Nghiêm ).
Theo
Duy Thức, thì phương thức Phản Văn Niệm Phật tức là Đem cái nghe để
nghe niệm Phật có vẻ như là năng sở song vong. Tuy nhiên, nếu dùng
cái nghe của chủ thể do giác quan để nghe đối tượng tiếng niệm Phật
thì vẫn còn chủ khách đối đãi nhị nguyên. Nếu dùng Tâm Không tức
là cái Biết (không qua trung gian của căn nhĩ) trực nhận tánh nghe
của tiếng niệm Phật (tức là tánh không của đối tượng) thì lúc đó
cái nghe (năng tri) và niệm Phật (sở tri) mới song vong. Một cách
khác, khi ta niệm Phật niệm ra tiếng, ta biết (do Tâm) nghe (chủ thể,
năng tri hay tánh nghe thường hằng) có tiếng niệm hay không có tiếng
niệm (sở tri, vô thường). Như vậy một cách đơn giản là khi ta niệm
Phật, Biết nghe có tiếng hay khi không niệm Phật, Biết nghe không có
tiếng, thì trong tứ oai nghi mới liên tục hành trì trong tinh thần tĩnh
giác. Tuy rằng niệm Phật là dùng một đối tượng giả lập mà hành
giả vay mượn (nhân quả) để nương tựa nơi tha lực, nhưng pháp niệm
Phật vẫn đạt đến cứu cánh là Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di
Đà vì lẻ khi hành giả niệm danh hiệu Ngài tất nhiên dùng những âm
thanh lưu lại trong ký ức, lâu ngày chầy tháng, các âm thanh ấy
quyện lại thành một khối, là nhân trong tàng thức, thì ắt có quả
sẽ trổ theo tư tưởng của mình.
V.-NIỆM CHÚ:
Chúng
ta cần tìm hiểu hai thần chú nổi tiếng nhất của Tây Tạng là thần
chú Padmasambhava, gọi là thần chú kim cang thượng sư (Vajra Guru
Mantra):
OM AH
HUM VAJRA GURU PADMA SIĐDNI HUM, và thần chú của Quán Thế Âm, vị Phật
của lòng bi mẫn, OM MANI PADME HUM. Hai thần chú nầy cũng như phần
đông thần chú, đều bằng phạn ngữ, cổ ngữ thiêng liêng của Ấn Độ.
(Trích trong Tạng thư Sống Chết, tr 522-528)
Thần
Chú Kim Cang Thượng Sư:
Thần
chú nầy được giải thích căn cứ lời giảng dạy của hai ngài Dudjom
Rinpoche và Dilgo Rinpoche.
OM AH HUM - Những âm Om Ah
Hum có nghĩa ngoài, nghĩa trong và nghĩa mật. Nhưng ở mỗi tầng như vậy,
Om đều tiêu biểu cho thân. Ah lời và Hum là ý. Cả ba âm tiêu biểu
năng lực ân sủng của chư Phật để chuyển hóa thân, lời, ý.
Theo
nghĩa ngoài, Om tịnh hóa mọi ác nghiệp của nhân, Ah của thân, Ah của
lời, và Hum của ý. Nhờ tịnh hóa thân,lời,ý, Om Ah Hum đem lại ân
sủng của thân,lời,ý chư Phật... Khi đọc thần chú này, là ta tịnh
hóa hoàn cảnh cũng như bản thân và những người ở trong đó.
Theo
nghĩa trong, Om tịnh hóa những huyệt đạo vi tế, Ah tịnh hóa nội phong
hay khí lực, và Hum tịnh hóa chất sáng tạo.
Ở
tầng mức sâu hơn, Om Ah Hum biểu trưng ba thân của Liên Hoa Bộ. Om là
Pháp thân, Phật A Di Đà, Đức Phật của ánh sáng vô lượng;Ah là Báo
thân, Quán Thế Âm, vị Phật của Tâm Đại Bi; và Hum là ứng hóa thân,
Liên Hoa Sanh. Điều nầy có nghĩa, trong trường hợp thần chú này, cả
ba thân đều thể hiện trong một vị là Padmasambhava, Liên Hoa Sanh. VAJRA
GURU PADMA Vajra được ví như kim cương, đá quí nhất và cứng nhất. Cũng
như kim cương có thể cắt bất cứ gì, mà chính nó thì không gì phá hủy
được, cũng thế trí tuệ bất nhị bất biến của chư Phật không bao giờ
bị hoại hay bị phá hủy bởi vô minh, và có thể cắt được mọi vọng
tưởng chướng ngại. Những đức tính và hoạt động thân, lời, ý của chư
Phật có thể làm lợi lạc hữu tình với năng lực sắc bén vô ngại như
kim cương. Và cũng như kim cương không tì vết, năng lực sáng chói của
nó tuôn phát từ sự chứng ngộ bản chất pháp thân của thực tại,
bản chất của Phật A Di Đà.
Guru
có nghĩa là sức nặng, chỉ một người tràn đầy đức tin kỳ diệu, thể
hiện trí tuệ, hiểu biết, từ bi và phương tiện thiện xão. Cũng như
vàng ròng là loại kim nặng nhất quí nhất, cũng thế những đức không
lỗi, không thể nghĩ bàn của bậc thầy làm cho vị ấy không ai vượt qua
được, thù thắng hơn tất cả. Guru tương đương với Báo thân và Quán
Thế Âm, vị Phật của Tâm Đại Bi. Lại nữa, về Padmasambhava (Liên Hoa
Sanh) giảng dạy con đường mật tông, biểu tượng là Kim Cương và nhờ
thực hành mật tông mà Ngài đạt giác ngộ tối thượng, cho nên Ngài
được biết dưới danh hiệu là Kim Cương Thượng Sư.
Padma
hoa sen, có nghĩa là Liên Hoa Bộ trong ngũ bộ và nhứt là khía cạnh
ngôn ngữ giác ngộ của chư Phật ấy. Liên hoa bộ là dòng họ Phật mà
con người thuộc vào. Vì Padmasambhava là ứng thân trực tiếp của Phật
A Di Đà, vị Phật nguyên ủy của Liên hoa bộ, nên Ngài được gọi là
Padma, hoa sen. Danh hiệu Liên Hoa Sanh của Ngài kỳ thực ám chỉ câu
chuyện Ngài sinh ra trên một đóa sen nở. Khi những âm thanh Vajra Guru
Padma đi liền nhau, thì cũng có nghĩa là tinh túy và ân sủng của Kiến,
Thiền, Hành. Vajra nghĩa là tinh chất của chân lý bất khả hoại, bất
biến, cũng chắc như kim cương, mà chúng ta cầu mong thực hiện được
trong Kiến của chúng ta. Guru tiêu biểu tính chất ánh sáng và sự cao
quí của giác ngộ, mà ta cầu cho kiện toàn trong thiền định của mình.
Padma tiêu biểu bi mẩn, mà chúng ta cầu thể hiện trong Hành Động của
chúng ta.
Vậy
nhờ tụng đọc thần chú nầy mà ta nhận được ân sủng của tâm giác
ngộ, những đức cao quí và lòng bi mẩn của Padmasambhava và tất cả chư
Phật.
SIĐDHI
HUM Siđdhi là thành tựu, đạt đến,ân sủng và chứng ngộ. Có hai thứ
thành tựu: tương đối và tuyệt đối. Nhờ nhận được ân sủng tương đối,
tất cả chướng ngại trong đời như bịnh tật tiêu trừ, mọi thứ nguyện
tốt được thành tựu, những lợi lạc như sống lâu, tiền của tăng và
mọi hoàn cảnh đều được tốt lành, giúp cho tu tiến và chứng ngộ,
trạng thái thực chứng hoàn toàn của đấng Liên Hoa Sanh, để tự lợi
và lợi tha. Bởi thế nhờ nhớ đến và cầu nguyện với những năng lực
thân, lời, ý của Ngài, mà chúng ta sẽ được những ân sủng tương đối
và tuyệt đối. Siđdhi Hum được xem là thâu tóm vào tất cả ân sủng,
như nam châm hút sắt. Hum tiêu biểu tâm giác ngộ của chư Phật, và
là xúc tác thiêng liêng của thần chú. Giống như tuyên bố lên quyền
năng và chân lý của thần chú: Hãy là như vậy! Ý nghĩa cốt yếu của
bài là chú là: Con triệu thỉnh Ngài, đấng Kim Cang Thượng Sư, với ân
sủng của Ngài, xin hãy ban cho con những thành tựu thế gian và xuất
thế gian.
Dilgo
Khientse Rinpoche giải thích:
Mười
hai âm Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siđdhi Hum mang tất cả ân sủng của
mười hai bộ kinh giáo của Phật, tinh túy của tám mươi bốn ngàn pháp
môn. Bởi thế tụng một lần thần chú Kim Cang Thượng Sư cũng có phước
như là đã đọc mười hai bộ kinh điển và thực hành các pháp môn
khác. Mười hai bộ kinh điển là phương thức giải cứu chúng ta khỏi
mười hai nhân duyên giam giữ chúng ta trong vòng sinh tử. Mười hai móc
xích nầy là guồng máy của luân hồi sanh tử làm cho luân hồi tiếp
nối. Nhờ tụng mười hai âm nầy của thần chú Kim Cang Thượng Sư, mười
hai nhân duyên được tịnh hóa, tẩy sạch cấu uế của nghiệp cảm và
giải thoát sanh tử.
Mặc
dù ta không thể trông thấy đức Liên Hoa Sanh, nhưng tâm giác ngộ của
Ngài đã thể hiện dướI hình thức thần chú này, thần chú này có
được toàn thể ân sủng của Ngài, Bởi thế khi bạn kêu Ngài bằng
cách tụng đọc mười hai âm thần chú này, thì bạn sẽ được ân sủng
và công đức vô lượng.
THẦN CHÚ CỦA ĐẠI BI TÂM :
OM MANI PADME HUM.-
Tạng ngữ đọc là Om Mani
Pémé hung. Thần chú nầy tiêu biểu tâm đại bi và ân sủng của tất
cả chư Phật, Bồ Tát, nhứt là âng sủng của Quán Tự Tại, vị Phật
của lòng bi mẩn. Quán Tự Tại (hay Quán Thế Âm) là hiện thân của
Phật trong hình thức Báo Thân, và thần chú của Ngài được xem là tinh
túy của lòng bi mẩn của chư Phật đối với hữu tình. Nếu Liên Hoa Sanh
là bậc thầy quan trọng nhất của người Tây Tạng, thì Quán Tự Tại là
vị Phật quan trọng nhứt của họ, là vị thần hộ mạng của dân tộc
nầy. Có câu nói nổi tiếng là vị Phật của lòng bi mẩn đã ăn sâu
vào tiềm thức Tây Tạng tới nổi một hài nhi vừa biết nói tiếng mẹ
là đã biết đọc thần chú nầy, om mani padme hum.
Kalu Rinpoche viết: Một
cách khác để giải thíchthần chú nầy là, Om là tính chất của thân
giác ngộ. Man Padme tiêu biểu ngữ giác ngộ; Hum tiêu biểu ý giác
ngộ. Thân ngữ ý của tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh
của thần chú này. Thần chú này tịnh hóa những chướng ngại của thân
lời ý, và đưa tất cả hữu tình đến trạng thái chứng ngộ. Khi tụng
thần chú này, và phối hợp với đức tin và tinh tấn thiền định, thì
năng lực chuyển hóa của thần chú sẽ phát sinh và tăng trưởng.Quả
vậy, chúng ta có thể tịnh hóa bản thân bằng phương pháp ấy.
Đối
với những người đã quen thuộc với thần chú này, suốt đời tụng đọc
với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thi Tây Tạng,ở trong cõi Trung
Ấm:
Khi
âm thanh của Pháp tánh gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện cho
tất cả tiếng này trở thành âm thanh của thần chú sáu âm. Tương tự
Kinh Lăng Nghiêm cũng nói: Mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của
Quán Thế Âm. Đấy là âm thanh tối sơ của vũ trụ...Đó là tiếng thì
thầm ầm ỉ của thủy triều trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại
giải thoát bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ,
và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự
thanh tịnh vô biên của niết
bàn. Pháp niệm chú là cách quán tưởng
chủ khách, dù sự kiên cố và sự bít kín tất cả các vọng tưởng bằng
câu chú qua thân khẩu ý, dù quán tưởng biểu tượng (câu chú) như là
chính biểu tượng. Đó là sự tập trung chuyên nhứt vào một đối
tượnggiả lập hay một biểu tượng huyễn hóa, tức là giải thoát mọi
vọng tưởng, khổ ách và phiền não, để đạt đến cảnh giới cực lạc
của Phật A Di Đà Vô Lượng Quang hay Đại Nhật Như Lai.
VI. THIỀN KHÁN CÔNG ÁN HAY THOẠI ĐẦU
Đây
là lối tu do các Thiền sư Lâm Tế đời Tống lập ra. Khán công án hay
khán thoại đầu lối dụng công cũng như nhau; chỉ công án là một câu
của người xưa để lại; thoại đầu tùy thời biến chế. Phương pháp tu
nầy gọi là lấy độc trị độc.Vì nó có một nghi vấn đặt trong đầu thì
mọi vọng tưởng đều lặng mất. Cho nên người khán công án hay thoại
đầu, phải tin tưởng tuyệt đối thầy mình đến thọ giáo, ông dạy một
câu như trước khi cha mẹ sanh là gì v.v..., liền phải sống chết với
câu ấy, cho đến ngày ngộ đạo mới thôi. Khi khán thoại đầu, nên đề
khởi câu thoại đầu lên, sau chữ gì? Một sức mạnh nghi kéo dài im
lặng, khi sức nghi yếu dần liền đề khởi nữa, cứ thế mãi. Câu nói
đặt thành nghi vấn là thoại, cái nghi kéo dài im lặng gọi là đầu.
Hay nói khác, trước khi chưa đặt nghi vấn dấy lên là đầu, nghi vấn
dấy lên là thoại. Chủ yếu dùng cái nghi đập chết mọi vọng tưởng.
Khi cái nghi đã thành khối, khỏi cần đề khởi mà lúc nào cũng nghi,
gọi là nghi tình. Một khi khối nghi tan vỡ ra là ngộ đạo. Thế nên
nói đa nghi đa ngộ. Song tu khán thoại đầu phải gan dạ, chết sống với
câu mình nhận nơi thầy, cho đến ngộ đạo, không được đọc kinh sách hay
lý luận gì cả. Tu khán thoại đầu, khi tọa thiền khán thoại đầu, lúc
ra ngoài hoặc làm công tác cũng vẫn khán thoại đầu, không đổi thay
pháp nào khác.(Tự Gia Bảo,tr329).
Sau
đây là một bài giảng điển hình của Lão sư Bạch Vân về Thiền Công
Án:
-Học
viên: Tôi đã hỏi đi hỏi lại Tôi là ai? cho đến khi cảm thấy không
còn câu trả lời nào cho câu hỏi.
-Lão
sư: Bà sẽ không thấy thực thể nào gọi là tôi cả.
-Học
viên: (nóng nảy) Thế thì tại sao tôi lại cứ phải hỏi câu hỏi ấy!
-Lão
sư : Bởi vì trong tình trạng hiện tại bà không thể tự giúp mình được.
Người thường thì cứ hỏi tại sao? Cái gì? hoặc Ai? Có nhiều công án
trong đó có một ông tăng hỏi Phật là cái gì? hoặc Tại sao Bồ Đề
Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc? Mục đích lời đáp của ông thầy là
để phá vỡ tâm mê hoặc của ông tăng có thể nhận ra câu hỏi của
mình là một cái trừu tượng.
-Học
viên: Tôi đang đọc bức thơ của Bạt Tụy qua bản dịch tiếng Anh như
thầy đã gợi ý trong lúc giảng bài buổi sáng. Ở chỗ Bạt Tụy nói Ai
là ông chủ vẫy tay?
-Lão
sư: Thực không có câu trả lời cho Ai? Cái gì? hoặc Tại sao? Tại sao
đường ngọt? Đường là đường. Đường!
-Học
viên: Hôm trước thầy bảo tôi: Bà là bà. Đúng tôi là tôi. Tôi
chấp nhận điều ấy. Thế đủ không? Tôi cần gì khác nữa? Tại sao tôi
phải đãu tranh với câu hỏi ấy?
- Lão
sư: Vì đối với bà cái hiểu ấy là bề ngoài bà không thực biết bà
muốn nói gì qua câu Tôi là tôi Bà phải đụng đầu với câu hỏi nầy
bằng sức mạnh của trái bom và phải diệt hết tất cả ý niệm, tư
tưởng của bà. Cách duy nhất để giải quyết câu hỏi bà phải đi đến
nhận thức bùng nổ bên trong rằng mọi sự vật( rốt ráo trở thành )
là không. Nếu cái hiểu chỉ là lý thuyết, bà sẽ còn hỏi mãi Ai?
Cáigì? Tại sao?
-Học
viên: Trong câu hỏi Tôi là ai? Tôi đã đi đến kết luận rằng tôi là
thân xác nầy, nghĩa là mắt này,chân này vv...Đồng thời tôi cũng
nhận ra rằng các cơ quan nầy không hiện hữu độc lập.Nếu tôi lấy
mắt tôi ra đặt trước tôi chẳng hạn, nó không thế làm nhiệm vụ của
mắt được nữa. Và chân cũng không thể làm được chức năng của chân
nếu nó bị tách rời khỏi thân.
Vì
khi đi, chân không những chỉ cần đến thân mà cần đến đất nữa, cũng
thế mắt tôi cũng cần đến đối tượng nhận thức để thực hiện hành
động thấy. Hơn nữa, những gì mắt thấy và những gì chân dẫm lên đều
là một phần của vũ trụ, vì vậy tôi là vũ trụ. Điều ấy có đúng
không?
-Lão
sư: Bà là vũ trụ, đúng rồi, nhưng những gì bà cho chúng tôi biết
vẫn là trừu tượng, ấy chỉ là sự tái lập về thực tại, không phải
chính thực tại. Bà phải trực tiếp nắm lấy vũ trụ.
-Học
viên: Nhưng tôi phải nắm lấy bằng cách nào?
-Lão
sư: Chỉ bằng cách hỏi tôi là ai? cho đến khi nào rụp một cái bà
nhận ra Chân Tánh với sự rõ ràng và chắc chắn. Hãy nhớ, bà chẳng
phải thân, cũng chẳng tâm. Và cũng chẳng phải thân cộng với tâm.
Thế bà là cái gì? Nếu bà muốn nắm được bà chân thực và không chỉ
một mảnh nhỏ, bà phải luôn luôn tự hỏi Tôi là ai? với lòng sùng
mộ tuyệt đối.
-Học
viên: Lần vừa qua thầy bảo tôi chẳng phải thân cũng chẳng phải
tâm. Tôi hiểu. Nếu tôi không phải những cái ấy, cũng không phải
tổng hợp những cái ấy, thế tôi là cái gì?
-Lão
sư : Nếu hỏi một người thường anh ta là cái gì, người ấy sẽ nói,
Tâm tôi hay Thân tôi hoặc Thân và Tâm tôi, nhưng cái nào đúng hết.
Chúng ta còn nhiều hơn là tâm, nhiều hơn thân và cũng nhiều hơn cả
hai.Chân tánh của chúng ta ở bên kia mọi phạm trù. Bất cứ cái gì
bà có thể nghĩ ra hay tưởng tượng chỉ là một mảnh nhỏ của chính bà.
Vì thế cái mà bà chân thực không thể tìm thấy được qua diễn dịch lý
luận hay phân tích lý trí hay tưởng tượng vô tận.
Nếu
tôi bị cắt mất bàn tay cái chân, cái Tôi chân thật cũng không bị
suy giảm chút nào. Nói một cách nghiêm túc, thân và tâm nầy cũng
là bà nhưng chỉ một phần thôi. Thể tính của nhân tánh bà không khác
với thể tánh của cây gậy nầy, điều ấy đáng tin chắc đến nổi bà
sẽ kêu lên, Ôi thực làm sao! Vì không những bằng trí óc mà còn
bằng tất cả con người bà thâm nhập vào tri thức nầy.
-Học
viên: (Bỗng kêu lên) Nhưng tôi sợ! Tôi sợ! Tôi không biết tại sao,
nhưng tôi sợ!
-Lão
sư: Không có gì phải sợ! Chỉ cần thâm nhập, thâm nhập hỏi cho đến
khi nào tất cả những ý niệm dự tưởng về bà là ai là cái gì biến
mất, và tức khắc bà sẽ nhận ra rằng toàn thể vũ trụ không khác
với chính bà. Bà đang ở giai đoạn sanh tử. Đừng thối lui. Hãy tiến
lên!
-Học
viên: Hôm trước thầy bảo tôi không phải thân cũng chẳng phải tâm.
Tôi luôn luôn suy nghĩ về mình như là thân và tâm. Nghĩ khác đi khiến
tôi sợ hãi.
-Lão
sư: Đúng là đa số người ta nghĩ về mình như thân và tâm, nhưng điều
đó không làm cho họ ít sai lầm đi chút nào. Sự thật trong yếu tánh
của tất cả chúng sanh đều siêu việt thân và tâm, thân va tâm không
phải hai mà chỉ là một. Sự thất bại của con ngườI không nhận thức
được chân lý nền tảng nầy là nguyên nhân của đau khổ. Như tôi đã
nói trong bài nói sáng nay, con ngườI cứ mãi tìm kiếm và nắm bắt.
Tại sao vậy? Vì một cách trực giác, con người mãi bắt thế giới là
nó muốn tác hợp với thế giới mà nó đã bất hòa vì mê hoặc. Do hậu
quả của sự bất hòa nầy mà chúng ta thấy ngườI mạnh lấn áp kẻ yếu
và kẻ yếu chấp nhận sự nô lệ như là sự thay thế cho cái chết. Song
khi không mê hoặc con người tự nhiên hướng về nhau. Những người với
bản chất mạnh muốn che chở và bảo vệ người yếu, trong khi ngườI yếu
muốn được ngườI mạnh che chở. Như khi chúng ta có Phật, người hùng
mạnh về tinh thần, ấp ủ cho chúng ta và chúng ta cúi đầu trước Phật
trong sự chấp nhận đầy biết ơn lòng từ bi vô lượng của Ngài. Giống
mẹ ve vuốt đứa con thơ,ở đây không có sự ly cách mà có sự hài hòa
và hợp nhất. Mọi sự vật trong bản chất đều tìm kiếm sự hợp nhất
nầy. Nếu quan sát kỹ một đóa hoa sen bà sẽ thấy rằng khi các giọt
mưa hay giọt sương tràn trên các cánh hoa rồi tan biến vào trong ấy.
Nhưng
chúng ta tự lừa dối mình trong sự chấp nhận thực tế một cái ta vị
kỷ, mà sự bất hòa và xung đột theo sau không thể tránh được. Đức
Phật với sự giác ngộ đã nhận thức cái ta ấy không ở bên ngoài
bản tánh nội tại của con người. Với giác ngộ đầy đủ chúng ta sẽ
nhận ra mình sở hữu vũ trụ, thế thì tại sao phải nắm bắt cái mà mà
nó vốn là của mình? Bà chỉ cần kiên trì hỏi: Tôi là ai? Nếu bà
muốn kinh nghiệm chân lý của những gì tôi nói đây.
-Học
viên: Xin cảm ơn thầy đã giải thích đầy đủ. ***
-Học
viên: Mắt tôi lạ lắm. Dường như chúng không nhìn ra ngoài, mà nhìn
vào trong, hỏi Tôi là Ai?
-Lão
sư: Tuyệt lắm!
(Bỗng nhiên) Bà là ai?
-
(Không đáp)
Bà
là bà! Tôi là tôi!
Trong
Bích Nham Lục có một công án ông tăng gọi là Huệ Siêu hỏi: Phật
là gì? Sư đáp: Ông là Huệ Siêu. Bà hiểu không?
-
(Không đáp)
Bà phải
trực nhận ra điều ấy. Bà đang tiến gần hơn. Hãy tập trung hết sức.
-Học
viên: Tôi có nhiều vấn đề nhưng tôi cảm thấy không muốn hỏi.
-Lão
sư: Tốt lắm, trừ phi bà phiền hoặc lo vì chuyện gì đó, tốt hơn là
không nên hỏi, thì hỏi thì vô cùng. Hỏi chỉ làm cho bà càng lúc
càng xa Mình, trong khi câu hỏi Tôi là ai? đưa bà đến tận điểm sáng
của con người bà.
-Học
viên: Hiện tại tôi không có gì lo cả.
-Lão
sư: Đừng xa rời Tôi là ai? Tất cả mọi câu hỏi sẽ tự trả lời một
khi bà nhận ra tự tánh.
****
Riêng
tham thoại đầu, thoại là lời nói, khi chưa nổi niệm muốn nói là
thoại đầu, nếu đã nổi niệm muốn nói dù chưa nói ra miệng cũng là
thoại vĩ rồi. Như vậy thoại đầu tức là một khi một niệm chưa sanh.
Tham là nghi, nghi là không hiểu không biết. Nếu có việc gì đã hiểu
đã biết thì hết nghi, hết nghi tức là không có tham.
Vậy
tham thoại đầu là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh, không biết đó là
cái gì. Thiền Tông gọi là nghi tình, có nghi tình mới gọi là thoại
đầu. Do nghi tình,đến chỗ giác ngộ gọi là kiến tánh thành Phật.
Tóm
lại, dùng công án hay thoại đầu mà nghi tình là một thực tại giả
lập cho nên vẫn còn dùng pháp nhị nguyên chủ khách --mặc dù chuyên
chú vàomột đối tượng duy nhứt và miên mật hành trì không có kẻ hở
để vọng tưởng do nghiệp lực dẩn -- vì thế có thể vượt qua tất cả
mọi vọng tưởng (chỉ còn có duy nhứt một công án hay thoại đầu tức
là một thực tại giả lập) nên giải thoát mọi khổ ách cũng như các
nhân duyên chằng chịt khác mà đạt đến cảnh giới cực lạc của chư
Phật.
VII.-TĨNH TÂM HAY IM LẶNG THÁNH
Thông
điệp của chúa Jesus là sự đang đến của vương quốc Thượng Đế, những
gì con người phải làm để chuẩn bị cho nó, cứu rỗi qua niềm tin. Chúa
Jesus đã từng nói Thế gian nầy chỉ là chiếc cầu bước qua nó, nhưng
đừng xây nhà của ngươi trên nó. Nhưng không vì thế mà thế gian không
có một giá trị cho chính nó: gia đình, hôn nhân, thiên nhiên là tác
phẩm của Thượng Đế, chúng ta tôn trọng chúng vì chúng ta tôn trọng
Thượng Đế. Thượng Đế là biện minh tối hậu, thiết yếu và duy nhất
cho mọi giá trị. Hãy đừng nghĩ ngày mai: vì ngày mai sẽ chính tự nó lo
cho nó. Chỉ có một nỗi lo sợ duy nhứt : được vào nước chúa hay
không. Không có lập trường trung hòa. Hoặc là địa ngục hay là Thiên
Đàng. Và sự thể lựa chọn là mệnh lệnh đạo đức. Sở dĩ tác giả
muốn nhắc lại ý nghĩa thông điệp đã tham khảo ở phần trước là để
triển khai nội dung sau đây.
Trước
hết chúng ta phải biết Tĩnh Thức là gì? Đó là sự nhận biết một
cách trung thực, là đường lối khai mở sự hiểu biết chân thật về
chính mình. Nếu không biết khai mở để nhận biết Thượng Đế, chúng ta
sẽ đau khổ rất nhiều. Khi ta mới bắt đầu muốn biết Thượng Đế, Ngài
sẽ gửi người nào đó (như vị linh mục chẳng hạn), một người đã có
kinh nghiệm để chỉ dẫn chúng ta cách thức phải làm. Sau khi biết cách
thức phải làm là lúc ta khai mở nhận biết Thượng Đế. Có lẻ chúng ta
chưa khai mở như đức chúa Jesus hay vị linh mục, nhưng cũng có đôi chút
hiểu biết về Thượng Đế và tiếp tục tu hành. Lúc đó chúng ta sẽ
hiểu biết chúa Jesus: Những gì ta làm, các con có thể làm được như
vậy. Và Ta và Cha ta là Một. Chúng ta sẽ hiểu rằng tất cả chúng ta
là con cái của Thượng Đế, hiểu rằng mình là ngôi giáo đường của
Thượng Đế và chỉ có đức Thánh Thần ngự trong ta. Do đó chúng ta tôn
trọng Thượng Đế là chúng ta tôn trọng chúng ta. Thượng Đế thương yêu
tất cả nhân loại trên thế giới đồng đều (công bình và bác ái).
Vậy muốn trở về Vương Quốc của Thượng Đế chúng ta phải có niềm tin
tuyệt đối với Ngài và thể theo tình thương đại đồng mà sống một
cuộc đời có giá trị hay có đạo đức. Có đạo đức là lối sống ngay
thẳng (công bình), không làm hại người lợi mình là đã tránh làm đau
khổ cho kẻ khác tức giữ giá trị quyền sống hạnh phúc của kẻ khác,
cũng là thể hiện lòng bác ái. Đó là Thiên Ý. Nếu làm được như
vậy, thì sự cứu rỗi chác chắn sẽ đến với chúng ta. Ngoài việc làm
tròn bổn phận với gia đình, hôn nhân, chúng ta phải biết thưởng thức
thiên nhiên tức là ngoại vật trong thế gian kể cả tha nhân v.v...vì
tất cả gia đình hôn nhân, cả thiên nhiên là tác phẩm của Thượng
Đế. Chúng ta không những làm tròn bổn phận với gia đình bằng sự
công bình (không tham lam, lợi dụng kẻ khác, làm khổ kẻ khác...) mà
còn phải thương yêu hàng sớm, thương yêu và tha thứ kẻ thù (bác
ái). Tình thương trong chúng ta tự nhiên phát ra ánh sáng, bao trùm
chung quanh chúng ta. Chúng ta trở thành ánh sáng, thành những gì mà
chúng ta cầu nguyện. Chúng ta sẽ trở thành như Thượng Đế vậy. Vì
chúa Jesus, mà chúng ta thờ phụng giống như Thượng Đế. Niềm tin và
sự cứu rỗi sẽ đến với chúng ta.
Trong
kinh Thánh, có một vị Thánh nói rằng ông chết mỗi ngày. ( St Paul, 1
Cor 15:31 ). Và xả bỏ thân xác vì linh hồn thì các con sẽ bắt đầu
được sống.
-
Câu đầu có nghĩa, con người mỗi ngày qua đi là con người biến đổi
không còn là con người thật như ngày hôm qua nữa. Mỗi ngày qua một
tuổi. Tuổi trẻ chết đi từng ngày để dần đến tuổi già. Đời người
là tạm bợ như chúa Jesus đã nói cái gì của thế gian đều tạm bợ. Đó
quy luật phủ định hay sanh diệt hay thời gian huyễn hóa.
-
Câu Xả bỏ thân xác vì linh hồn thì các con sẽ bắt đầu được sống là
muốn nói đừng bám chặt thân xác tạm bợ nầy mà vì muốn có linh hồn
trong sạch trong một thể xác tinh khiết, thì đó mới là thật sống với
lòng thanh thản trong niềm tin yêu Thượng Đế. Với nội dung tĩnh tâm
chúng ta phải làm như thế nào?
Tĩnh Tâm gồm có hai phần:
-Phân
I: là quán xét tất cả hành động, lời nói, tình cảm, tư tưởng của
mình đứng trên tiêu chuẩn đạo đức, tín điều, có gì sai trái hay
không.Trước hết kiểm điểm trong thời gian qua, mình đã thực hiện
những ưu điểm nào và khuyết điểm nào để từ đó mình sẽ biết rõ-với
trí phân biệt--những hành động nào tốt, là những hình ảnh của tư
tưởng hướng thượng, và những hành động xấu do những đòi hỏi mù
quáng của thể xác ngay cả tinh thần. Cho nên cần bỏ xác thân ấy,
là lớp nhơ bẩn xấu xa ẩn tàng trong một xác thân giả tạo. Vì muốn
linh hồn trong sạch thì xác thân bao gồm cả tư tưởng,hành động, tình
cảm và lời nói phải trong sạch. Dầu trong cuộc sống ngay trong bản
thân chúng ta cũng có những bất toại nguyện vì giữa dục vọng và lý
tưởng đạo đức có sự mâu thẩn nhau. Do đó những dục vọng mù quáng,
vô lý, làm thiệt hại kẻ khác thì cần phải loại bỏ để cho thân xác
nầy không bị ô nhiểm. Từ thể hiện tốt đẹp của xác thân là nền
tảng xây dựng linh hồn trong trắng, mới được thắm nhuần ân điển của
Thượng Đế. Đối với chính mình phải dùng lẻ công bình (tự giác), đối
với mọi người phải dùng tình bác ái vì đó là đức tính của Thượng
Đế. Chúng ta phải tuân thủ ngoại tại, chấp hành theo phép tắc quy
định của tín điều cũng chưa đủ; Cái chính yếu là sự tòng phục bằng
trái tim và hiện thân của con người. Jeremiah đã nói, Thượng Đế đã
viết nên luật của Ngài trong trái tim của con người. Chúng ta nghe
những mệnh lệnh từ chúa Jesus nói lên ý muốn của Thượng Đế. Chúa
Jesus đòi hỏi cách thế hiện hữu, không chỉ là hành vi ngoại thể...
những gì không thể chú ý mà là nguồn gốc của tất cả ý lực. Ngay
thân xác nầy kể như xóa bỏ và dâng hiến cho Thượng Đế để thực hiện
theo ý của Thượng Đế bằng tất cả ý lực của mình thì linh hồn thoát
khỏi mọi ràng buộc của thể xác đầy dục vọng mù quáng. Kiểm điểm
những hành động quá khứ là để xóa bỏ mọi sai lầm tội lỗi đã qua.
Từ đó, ngay bây giờ, trong giờ phút tĩnh lặng nầy là sự đánh thức
Thượng Đế ở trong ta. Ngay khi quá khứ đã qua, là mốc điểm thời gian,
là cơ hội tốt để cho chúng ta sữa soạn đường về Thiên quốc.
-Phần
II : Dự phóng tương lai
Rút kinh nghiệm những sai trái lỗi lầm
ở quá khứ, chúng ta phải làm một bản dự trù cho hành động ở tương
lai. Loại bỏ dần những điều đã nhầm lẫn sai trái. Đó là thanh lọc
xác thân là xóa bỏ các lỗi lầm của xác thân tạm bợ nầy. Những ưu
điểm phải được tôn vinh nó bằng những kế hoạch thăng hoa. Niềm tin
tất cả sẽ đươc cứu rỗi. Trong lúc Tĩnh Tâm là lúc chúng ta câu
thông với ân điển của Thượng Đế. Đó là mục đích của Tĩnh Tâm ...
Tìm Thiên Quốc trong con trước, rồi tất cả những thứ khác sẽ đến.
(Matt 6:33)
Mặc
khác, Im Lặng Thánh cũng là lúc là tâm ta tĩnh thức, liền sau buổi
lễ để trong lúc lặng lẽ chúng ta có thể nghiền ngẫm học hỏi những
điều trong Phúc âm hay bài giảng đạo của vị linh mục hay chức sắc.
Cũngtrong Im LặngThánh, chúng ta có thể chiêm ngưỡng những hình ảnh
hy sinh của chúa Jesus, bị đóng đinh trên thập tự giá. Sự hy sinh của
của chúa làm sống dậy lòng bái phục và kính ngưởng gương hy sinh
chuộc tội cho các con chiên.
Trong yên lặng, chúng ta
chỉ mất một vài giây phút để nhớ chúa và hiện thân của Thượng Đế
đã chuộc tội cho
thế gian. Và mỗi ngày
chúng ta sẽ biết Thượng Đế thêm, thêm mãi cho tới khi thật sự nhớ
lại Thượng Đế. Việc nầy không phải nghe, xem đọc mà đạt được, và
nó phải đạt được trong yên lặng, chỉ một mình mình tĩnh thức. Lúc đó
trí huệ của chúng ta khai mở sáng suốt nhận ra chính mình là Thiên
quốc vì Vương quốc Thượng Đế ở trong ta.
Tóm lại, lối Tĩnh Tâm là
phương pháp để cho tâm thức tĩnh táo quán xét tất cả những hành
động sai lầm tạm bợ của thân xác để trở lại con đường tri thức
đúng của linh hồn tức là con đường đưa đến Thiên Đàng.
Phương pháp Tĩnh Tâm cũng
là cách thức quán đề mục. Chủ thể tri thức đối tượng giả lập, một
sự tạm bợ của thân xác, một thực tại huyễn hóa của thế gian, là
sự khai mở tâm thức để dọn mình và gói trọn niềm tin vào sự cứu
rỗi, là cơ hội khởi sinh của một hiện hữu vĩnh cữu huy hoàng; đó là
đang đi đếnThiên Đàng hay Vương Quốc của Thượng Đế vậy.
CHƯƠNG BA
CHÍ ĐẠO
I. THIÊT TÁNH GIÁC
Đứng
trên phương diện chân lý tối hậu, hay theo triết lý Duy Thức, thì tự
tính tuyệt đối của sự vật đều có tánh không. Nhắc lại, tánh Hư
Không, đức Phật giải thích: A Nan! Ngươi phải biết trong Tạng Như Lai,
Tánh giác tức là thiệt hư không, Hư Không tức là Thiệt Tánh giác,
thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp thế giới... Vậy Thiệt Tánh giác hay
Tự Tính Tuyệt Đối được xét theo hai khía cạnh sau đây:
1.-
Không Gian: Cái không gian dung chứa sự vật và sự vật chiếm cứ
không gian là một.Nói gọn là sự vật và dung thể không của nó là
một.Sắc không khác không, và không không khác sắc. Cái chân lý thì
nó chính là nó, không có tự tính nào áp đặt lên nó, không thể dùng
ngôn ngữ,công ước để cưỡng ép lên tánh chất của nó. Nó là nó
không có gì ngoài nó. Nó là dung thể không của sự vật nên nó
không vượt ra khỏi sự vật. Theo Tử Thư Tây Tạng gọi là chân lý tự
nó trống rỗng và trần trụi như Hư Không vô biên và không có tỳ
vết. Đó cũng gọi là Chơn Không. Do đó Tánh giác là Thiệt Hư Không
hay Hư Không là Thiệt Tánh giác. Tánh Giác là Chân Trí hay là cái
dụng của Chơn Tâm. Vậy làm sao nắm bắt được Chơn Tâm? Phương pháp
nào? Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy cách hàng phục vọng tâm :
-Độ
tất cả chúng sanh vào vô dư niết bàn, mà không thấy chúng sanh nào
được độ.
Độ: là làm cho giác ngộ,
giải thoát mọi vọng tưởng giả lập để đạt thực tính.
Chúng
Sanh: Tất cả các loài, sự và vật có tri giác hoặc không có tri
giác; là những thực tại giả lâp hay tùy thuộc.
Vô Dư
Niết Bàn: Niết bàn tuyệt đối hay tự tính tuyệt đối, là chơn không hay
thiệt hư không.
Vậy
câu trên có nghĩa là :Đưa tất cả các các thực tại giả lập vào
thực tại tuyệt đối mà không còn thấy các thực tại giả lập đó
nữa. Vậy muốn hàng phục vọng tâm, hành giả nên trực nhận (tâm)
thể không của sự vật và ngay đó lìa tướng giả lập.(Ly bốn tướng
:Ngả, Nhơn, Chúng Sanh, Thọ giả ).
2.-Thời
Gian: Ngay khi thể nhận thực tướng của sự vật liền lìa ngay tướng
không của sự vật. Cho nên trong kinh Kim Cang, Phật bảo Tu Bồ Đề cách
thức an trụ tâm như sau : Khi chơn tâm được hiển bày (hàng phục được
vọng tâm), thì phải gìn giữ chơn tâm bằng cách: Bồ Tát không có chỗ
trụ mà bố thí, tức là không trụ vào Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp
mà bố thí.
Trụ:
là bám vào, dựa vào
Bố
Thí: là ban bố, cho cái mình có, cái mình biết, xả bỏ. Muốn an trụ
tâm Bồ Tát không bám vào tất cả chỗ mà phải xả bỏ xa lià chúng
đi; nghĩa là không dựa vào các thực tại giả lập (Sắc, thinh,hương,
vị, xúc,pháp) mà phải xả bỏ cái mình biết là giả lập đó.Phật đã
chỉ rõ về thân tướng không. Nếu hành giả không nương tựa vào đâu
mà xa lìa cái mình biết thì phước đức cũng như hư không. Cho nên thân
tướng là thực tại giả lập (hay tự tính giả lập). Nơi nào có thân
tướng là nơi đó còn có lường gạt (không thật). Nếu thấy được tính
cách không tướng của các tướng tức là thấy được Như Lai. Đó tức là
nhận ngay thực tướng hay thể không của thân tướng. Mà muốn an trụ
tâm thì phải vô sở trụ tức là không bám vào sắc, thinh... mà phải
xả bỏ ngay khi mình biết sắc vì nếu trụ vào sắc một sát na thì sắc
ấy không còn là thật nữa.Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Sắc
tức thì biến thành không..., thời gian huyễn hóa sự vật. Chân Trí
(hay Chân Tâm) được hiển lộ ngay nơi đối tượng hiện quán. Bồ Đề Đạt
Ma nói, Hiện tại là bồ đề,vì không có quá khứ đầy đau khổ và
không có tương lai để gây thêm tội lỗi; thì ngay bây giờ há không
phải là bồ đề sao! Trong khoảnh khắc hiện tại, chân lý xuất hiện
tại đó (không gian) và lúc đó (thời gian) mà thôi. Thực tướng được
hiện bày ở trạng thái vô thời không, vì có thời gian chạy dài trong
không gian thì mọi sự vật đều trở nên huyễn hóa. Vậy muốn đạt được
giác ngộ hay chân tâm thì phải theo hai cách : Hàng phục tâm và An
trụ tâm.Đó là để đạt được chân lý tối hậu,là tự tính tuyệt đối,
là chân tâm, là thiệt tánh giác hay là hư không vv... Nhân: Ưng vô
sở trụ thì quả: Vô sở bất tại.
II.-VÀI THÍ DỤ VỀ SỰ GIẢI THÍCH TÁNH GIÁC
1) Trong phẩm Văn Thù Sư Lợi thăm bịnh
Duy Ma Cật;
... Ngài Văn Thù Sư Lợi
vào nhà ông Duy Ma Cật rồi, thấy trong nhà trống rỗng không có vật
chi, chỉ có một mình ông nằm trên giường mà thôi. Khi ấy ông Duy Ma
Cật chào rằng:
_Quí
quá thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến! Tướng không đến mà đến,
tướng không thấy mà thấy.
Văn Thù Sư Lợi nói:
_Phải
đấy, cư sĩ! Nếu đã đến thì không đến, nếu đã đi thì không đi. Vì sao?
Đến không từ đâu đến, đi không đi đến đâu, hể có thấy tức là
không thấy. Thôi việc đó hãy để đó...
--Tướng
không đến: Tướng đến từ A 1 đế A 2 theo thời gian huyễn hóa tướng
rồi. Ngay lúc đến là khoảnh khắc hiện tại ta nhìn thấy cái đến lúc
đó và tại đó (một điểm ở sát na). Nên cái thấy đến thật là ở
điểm đến hiện tại đó mà thôi. Còn tướng đến từ A 1 đến A 2 (quá
khứ), tướng ấy đã huyễn hóa rồi, không thật. Tánh giác (thấy) đó
ở trong trạng thái vô thời không. Cũng như thế, tướng đi, đi đến đâu
(tương lai), cũng không thật, chỉ thấy cái đi ngay ở khoảnh khắc hiện
tại. Do đó Văn Thù Sư Lợi đáp : Đã đến (quá khứ) thì cái đến không
thật, đã đi thì cái đi không thật, đã thấy thì cái thấy không thật. Vì
đến không từ đâu đến (không xác định), đi thì không đi đến đâu
(không xác định), còn có thấy thì không còn thật thấy đối tượng đó
nữa, Sắc tức thị không.
2).
Cũng trong Duy Ma Cật, Phật dạy Bảo Tích:
_Bảo
Tích, ông nên biết, Trực Tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát
thành Phật, chúng sanh không dua vạy, sanh sang nước đó. Thâm Tâm là
Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ công
đức sanh sang nước đó. Bồ Đề Tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi chúng
sanh thành Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh sang nước đó ...
--Trực
Tâm là tâm chơn thật, không dua dối, tâm chánh niệm chơn như. Tâm
trực nhận ngay thực tướng của sự vật,là thiệt tánh giác. Ngay trong
khoảnh khắc hiện tại, tâm không hư dối ấy,là tâm chánh niệm chơn
như là lối thắp sáng hiện hữu. Nếu cái hiện hữu được cao thâm bền
chắc, nhóm góp gieo trồng không dứt mất tất cả công đức tích lũy, thì
kết quả đạt được thâm tâm. Trong thời gian miên mật thắp sáng hiện
hữu ấy, đến một ngày kia, sự gieo trồng của Trực Tâm và bền vững
của Thâm Tâm, thì đạo quả là Bồ Đề Tâm,Chánh Giác.
3).-
Truyện nàng Bhađda ở phần trước:
Ba câu hỏi của nàng Bhađda
luận tranh với Ngài Xá Lợi Phất.
Câu
hỏi 2: Tôi đang nói chuyện với ai đây?
Trả
lời: Người ta gọi bần đạo là Xá Lợi Phất. Hãy nghe cho kỹ đây!
Giáo pháp của đức Thế Tôn Sư rọi cái rỗng không của các pháp, dẫu
Tâm hay Vật, làm cho vô tự tính mọi thực tại tính, làm cho vô ngã
tính mọi hữu tồn, dầu là Atman, Brahman hay Đại Ngã. Hãy nghe đây!
Giáo
lý ấy không trườn uốn như con lươn, không chẻ sợi tóc ra làm tư,
không kẹt trên ngôn từ rằng đây là thường rằng kia là đoạn, giáo
lý ấy dành cho người tu chứng, kẻ có trí nghe ắt hiểu. Hãy nghe cho
kỹ đây! Không những là Xá Lợi Phất, cái tên gọi giả danh nhằm chỉ
vào cái thực, nhưng mọi cái thực ấy, dẫu là sắc thọ tưởng hành
thức phảỉ đươc nhìn cho rõ ràng bằng trí tuệ như thực, như chơn, là nó
không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngả của ta. Này
nàng Bhađda! Câu hỏi của nàng thuộc lý luận rỗng không phù phiếm,
câu trả lời của bần đạo đã đặt chúng trên thực tế,chánh đạo, hãy
nghe và thọ trì.
**--
Câu hỏi về Ngã nầy được Ngà Xá Lợi Phất giải nghĩa rất rõ ràng.
Xá Lợi Phất là một thực tại giả lập, ngay trong nó có cái thực.
Thực tướng của thân ngũ uẩn là không.Sắc không khác không.... Thể
không của thân ngũ uẩn là thực tướng của nó.
- Câu
hỏi 3: Này ông Sa Môn! Câu trả lời của ông chẳng phải xa lạ gì. Ta
đã từng nghe những con vẹt cững đã hót lên như thế, chỉ có điều ông
tự tin và vững chãi hơn, do ông có cái thực ở nơi sự tu chứng của
mình. Hãy nghe đây! Bây giờ ta sẽ hỏi ngay chính nơi cái thực ấy. Hy
vọng rằng ông không trườn uốn như kiểu là không phải ta không phải
của ta! Hy vọng rằng ông trả lời khác, giản dị và uyên áo hơn. Hãy
nghe đây! Cái thực ấy còn định luật nhân quả chi phối hay không? Còn
định luật chi phối? Hãy trả lời ngay đi. Hãy trả lời đừng hủy hoại
ngôn ngữ, như dao chém nước.
Xá Lợi Phất:
-Này
nàng Bhađda! Nếu cái thực ấy mà còn định luật nhân quả chi phối thì
cái thực ấy chỉ là khổ đau, nhiệt não, tử sanh. Nếu cái thực ấy
không còn định luật nhân quả chi phối thì đồng nghĩa với hư vô, cái
không thực hữu, cái vô tự tính, cái ngoang không niết bàn.
Này
nàng Bhadda, hãy nghe đây! Đây là cái dao chém nước như nàng muốn.
Cái thực ấy là cái sáng suốt, mặt trời đại huệ. Cái thấy từ Tâm,
Trí, tư tưởng Trí mà có, từ tuệ, tuệ minh ấy nó có trong tâm của
bậc giác ngộ, bậc A La Hán,kẻ đã đoạn tận lậu, hoặc giải thoát
khổ đau và phiền não, này nàng Bhađda cứ thế mà thọ trì!
**-
Câu nầy Xá Lợi Phất giải minh hai loại thực tại. Thực tại tương đối
là thực tại giả lập hay tùy thuộc như khổ đau, nhiệt não, sanh tử
v.v...đều phải bị định luật nhân quả chi phối. Còn thực tại tuyệt
đối, không sanh không diệt, tự nó đầy đủ,không có gì áp đặt lên
nó như hư không, vô tự tính v.v..., nên nó không bị định luật nhân
quả chi phối. Thực tại tuyệt đối cũng là thiệt tánh giác (tuệ
minh). Cho nên, đối với các bậc giác ngộ, bậc A La Hán, hoặc những
kẻ đã giải thoát khổ đau và phiền não, hoặc kẻ có trí, thì trong
tâm họ có cái sáng suốt, cái tuệ minh, cái thực tại tuyệt đối, mà
cái thực tại tuyệt đối nầy không bị định luật nhân quả chi phối.
--Ta
Bà Ni chợt thét lên như con thú bị tử thương: chưa thể thọ trì được!
Ta chưa chấp nhận điều ấy, ông Sa Môn đại ngôn kia. Hãy nghe đây!
Đây không phải là câu hỏi thứ tư mà đây chỉ là phản vấn. Ông nói
rằng có cái tuệ minh, xin lỗi tôi có lầm chăng, một cái tuệ minh?
Vậy thì giáo lý vô ngã, vô tự tính của đức Thế Tôn Sư của ông sẽ
không còn chỗ đứng, bất khả lập, bất khả thuyết và nó đã mâu thuẫn
từ tiền căn? Vậy phải trả lời làm sao cho kẻ học nữ Ta Bà khổ
hạnh nầy: một giáo lý thường kiến vậy kia?
--Hãy
bình tĩnh! Hãy bình tĩnh! Này nàng Bhađda đừng tự buộc mình vào những
thằng thúc! Đừng bị bịt mắt trước ngọn đèn sáng suốt tự tâm. Hãy
nghe đây! Cho bần đạo hỏi một câu, với một câu thôi nàng sẽ tự
giải quyết cho chính mình. Câu hỏi như thế này: Cáng của ngọn đèn
trước mắt nó thường hay đoạn?
--Chẳng
phải thường--Nàng nghĩ--Thường sao được khi nó sinh diệt từng giây
từng khắc! Chẳng phải đoạn, đoạn sao được khi nó đang hiện hữu!
Thấy nàng Bhađda im lặng, tôn giả Xá
Lợi Phất tung câu hỏi thứ hai:
--Này
nàng Bhađda! Thuở nàng 5 tuổi, nàng thấy một bông hoa. Thuở nàng 30
tuổi nàng thấy một bông hoa. Nàng có thay đổi dẫu cái hoa có khác,
quan niệm đẹp xấu có khác, nhưng cái thấy của nàng có thay đổi
không?
--Không thể thay đổi, thưa
tôn giả.
--Nó
chẳng phải thường không?
***-
Câu nầy tả tánh thấy và cái bị thấy. Tánh thấy thường hằng bất
biến, đó là năng tri. Cái bị thấy hay đối tượng là những thực tại
giả lập, hay thay đổi, vô thường tức là cái sở tri.
--Câu
hỏi 4: Ta muốn hiểu cái sở tri về bậc A La Hán ở nhiều phương diện
khác nhau. Vị ấy làm thế nào bước ra khỏi giòng bộc lưu sanh tử đang
xiết chảy?
--Bước
tới là lăn trôi. Dừng lại là chìm đắm. Bậc A La Hán không bước
tới, không dừng lại, vị ấy ra khỏi giòng bộc lưu sanh tử! Này nàng
Bhađda, cái đáp số ấy thậm thâm vi diệu, vi tế, vượt ngữ ngôn vượt
suy luận, dành cho kẻ trí, kẻ thâm đại pháp, dành cho kẻ tu chứng.
Có lên đường ai ăn mới biết no, chứ không để cho nàng --kẻ ngoại
giáo, kẻ đứng ngoài cuộc, kẻ với tri thức thuần túy --muốn dùng
cái hiểu biết nông cạn, cái tự ngã kiêu căng và đa dục của mình,
để nắm bắt cái siêu việt không thời gian, cái bất tử, cái chân
phúc, cái niết bàn vô dục và tịch tịnh. Này nàng Bhađda! Nàng có đủ
kham nhẫn tịch lặng để lắng nghe những lời như vậy không?...
****-Câu
thứ tư nầy diễn tả rất thâm diệu về thiệt tánh giác trong hai giai
đoạn, hàng phục vọng tâm và an trụ tâm.
Hỏi:
Làm thế nào ra khỏi giòng bộc lưu sanh tử đang xiết chảy?
Trả
lời: Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là chìm đắm; cho nên, không
bước tới, không dừng lại ra khỏi giòng bộc lưu sanh tử đang chảy
xiết.
*-Bước
tới: tiến về phía trước mặt : tương lai, khoảng không gian phía trước.
Bước
tới là lăn trôi theo thời gian huyễn hóa, hay lăn trôi theo trần
cảnh giả lập. Bước tới là lăn trôi theo sự vật huyễn hóa, nhân
duyên chằng chịt, sanh tử luân hồi khổ đau phiền não.
Không
bước tới là giai đoạn đầu của nhận thức đúng đối tượng giả lập và
không chạy theo những ảo tưởng tức là giải thoát được khổ đau và
phiền não (phủ định những sự vật giả lập). Không bước tới là tri
thức đúng được thực tại giả lập, đó là sự hiểu biết suông. Trong
giai đoạn nầy chỉ thấy mọi sự giả vọng là không thật mà tránh nó
đi, thì trạng thái tâm lúc bấy giờ thanh thản, không còn bận bịu,
dính dáng gì đến phiền não khổ đau.Tuy nhiên, tri cũng chưa đủ mà cần
phải hành.Trước tiên,khai mở đường đi đến thế giới chơn thật, thấy
được con đường rồi tức là giai đoạn khai thị của tri thức. Đến giai
đoạn hành, thì phải ngộ nhập như phải đi thì mới đến, ai ăn mới no.
Tri thức đúng thực tạigiả lập và phải thể nhập thực tướng của
thực tại giả lập đó, là hai giai đoạn giác ngộ niết bàn tuyệt đối.
Đó là trực nhận ngay thể không của sự vật. Sắc không khác không,
Đưa tất cả thực tại giả lập vào thực tại tuyệt đối mà không còn
thấy thực tại giả lập đó nữa.
*
Dừng lại: Chận giòng thời gian phía sau lưng, là quá khứ. Dừng lại
là trụ vào cái thực tại giả lập (quá khứ) mà chìm đắm trong vọng
tưởng triền miên, trong sanh tử luân hồi của giòng sống đang xiết
chảy theo thời gian không ngừng. Không dừng lại là không trụ vào
quá khứ cũng như không trụ vào tất cả các chỗ, vào các thực tại
giả lập mà phải xa lìa bốn tướng (Ngả tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh
tướng, Thọ giả tướng). Không bước tới và không dừng lại là vượt ra
khỏi giòng bộc lưu sanh tử.
Tương
lai hay quá khứ không thể nắm bắt, bất khả đắc. Cho nên không nghĩ
đến tương lai mà lăn trôi theo ảo giác, mà cũng không hồi tưởng quá
khứ hay trụ vào vọng tưởng hoặc là thực tại giả lập mà phải xa lìa
bốn tướng. Vô thời không là thể trạng của một sát na hiện tiền,
một khoảnh khắc hiện tại, thắp sáng được cái hiện hữu ấy cũng là
khai mở con đường đi đến chân nguyên. Do đó, khi chúng ta không bước
tới là dứt bặt nhân duyên sanh diệt, và không dừng lại là không
trụ vào cái giả lập, thì ngay đó vượt qua thời không rồi. Ngay lúc
nắm bắt được cái vô thời không là giác ngộ niết bàn tuyệt đối,
cũng là lúc ra khỏi giòng bộc lưu sanh tử đang chảy xiết. Thực vậy,
người có đi ắt có đến, người có ăn ắt có no, chớ tri thức thuần
túy chỉ là hí luận mà thôi.
III.- PHƯƠNG TIỆN BIỆN MINH CHO CỨU CÁNH
A.-Pháp
Phương Tiện
1). Thiền Nguyên Thủy: Có
nhiều cách tu, đại để đều căn cứ trên hình thức hiện có của thân
căn, trần cảnh và tâm thức. Như Pháp Thiền tùy bịnh đối trị, người
nặng bịnh tham dục dùng Quán thân bất tịnh đối trị, người nặng bịnh
sân hận dùng Quán Từ Bi đối trị, người nhiều ngu si dùng Quán nhân
duyên đối trị, người nhiều loạn tưởng dùng Quán sổ tức đối trị,
người nhiều tham sân si đồng nhau dùng pháp Quán Phật Tam Muội đối
trị. Đó là y cứ tâm bịnh dùng pháp Tu Quán để đối trị. Hoặc lối Quán
Tứ Đại,quán Đất, Quán Nước,, Quán Gió, Quán Lửa, từ một đốm nhỏ
cho đến trùm cả hư không. Hoặc lối Quán Màu Sắc, màu xanh, màu
vàng, màu trắng, màu đỏ, cũng từ một đốm nhỏ cho đến trùm cả hư
không. Hoặc trụ tâm vào một điểm trên đầu cây hương hay một vòng
nhỏ trên vách cho đến nó phát quang. Hoặc dùng chánh quán Tứ niệm
xứ, quán Tứ đế, quán mười hai nhân duyên v.v... Đến kết quả được
tứ thiền, bất định và tiến lên tứ gia hạnh, thành tựu trí quả Thanh
Văn. Bởi pháp Thiền nầy cuộc hạn trên hình thức và tu chứng từng
thứ bậc, nên khác Thiền Tông.(Tự Gia Bảo, tr390)
* Các
loại thiền của Nguyên Thủy, dùng trí phân tích, hoặc tưởng tượng,
phần nhiều là những thực tại giả lập. Dầu sao khi chú tâm vào việc
quán các thực tại giả lập ấy, thì các vọng tưởng khác khó len lõi
vào tâm thức. Cho nên hành giả cũng đạt được một số kết quả khả
quan tương ứng với phương tiện thực hiện.
2). Quán Âm Thanh và Ánh Sáng.-
Dùng phương tiện âm thanh và ánh sáng trong nội thân để quán.Trong
kinh Lăng Nghiêm, chủ đích Phật muốn chỉ cho hội chúng biết mọi người
đều có tánh giác trong sáng, gọi là tánh giác diệu minh hay Như lai
Tạng hoặc Chơn tâm... Sáu căn là gốc luân hồi, sáu căn cũng là
gốc giải thoát. Trong cái thấy biết (của sáu căn), chạy theo phân
biệt là gốc vô minh, trong cái thấy vô phân biệt là niết bàn.Đó
là con đường trở về Tánh Giác. Trong sáu căn, ở đây đặt nặng tánh
nghe nhiều hơn. Cho nên trong phần chọn lựa để tu, Ngài Văn Thù có
đoạn nói:
Đại
chúng và A Nan! Bảo các ông xoay cơ quan nghe, trở lại nghe cái tánh
nghe, là thành đạo Vô Thượng Niết bàn của chư Phật nhiều như số vi
trần. Chư Phật đời quá khứ cũng từ cửa này thành tựu. Chư Bồ Tát
hiện tại đều vào viên minh và những người tu học đời vị lai cũng y
pháp như thế!
Phật
và Bồ Tát đều xác nhận Nghe laị tánh nghe của mình là con đường vào
cửa Niết Bàn. Đây là lối tu trở về tánh giác. (Tự Gia Bảo, tr362)
*Thật
sự qua cái nhìn của chân lý tuyệt đối, lúc đầu Phật dùng cái thấy
(năng tri) qua nhãn thức để nói là chơn tâm, nhưng sau Ngài xác nhận
rằng cái thấy không phải là chân tâm vì cái thấy do cảm quan nhận
thức, nên đối tượng mà giác quan nhận thức là thực tại giả lập mà
thôi. Nên Phật và Bồ Tát xác nhận lại trong tánh nghe Nghe lại tánh
nghe của mình hay Thấy lại tánh thấy của mình. Đó là phương pháp trực
nhận thực thể qua tánh thấy hay tánh nghe.Trong sự sống thường nhật
hay trong lúc ngồi thiền, hành giả không trụ vào ánh sáng hay âm
thanh ở nội thân khi mình quán. Ở giai đoạn đầu : Thấy có ánh sáng,
thấy không có ánh sáng. Nghe có âm thanh, nghe không có âm
thanh.Tánh thấy, tánh nghe (năng tri) thì thường hằng; cònánh sáng và
âm thanh (sở tri) thì vô thường biến đổi. Cái năng tri là tướng giác
của của chủ khách đối đãi căn trần thức, nên tướng giác ấy không
phải chơn tâm. Giai đoạn hai: khi có ánh sáng, ta biết (thấy) có ánh
sáng, khi không có ánh sáng thì biết (thấy) không có ánh sáng. Tánh
nghe cũng thực hiện tương tự, Nghe lại tánh nghe của mình,tức là khi
có tiếng,biết (nghe) có tiếng; khi không tiếng, biết (nghe) không có
tiếng.--Biết đó là thiệt tánh giác. Một trong sáu căn cũng là cửa
để vào đường nhận thức chơn tâm. Dù thể hiện được tánh giác, pháp
quán âm và ánh sáng cũng dùng phương tiện cố định ở nội thân, do
đó tánh giác đó không được toàn vẹn, vì còn trụ vào một đối tượng
để quán thì tâm chưa an trụ hoàn toàn.Cho nên pháp nầy có thành tựu
giới hạn và có thể đến những cảnh giới do phương tiện vay mượn, nên
còn chướng ngại của nghiệp thức. đúng ra Nghe lại tánh nghe của mình,
Thấy lại tánh thấy của mình, phải ưng vô sở trụ. Không trụ vào lục
trần mà bố thí (Kim Cang) mới là hoàn toàn hàng phục vọng tâm và an
trụ tâm để đạt thiệt tánh gíác hay chơn tâm mà chứng an lạc giải
thoát, tịch tịnh, diệu thường.
3).-Niệm Phật: Dùng
pháp niệm Phật làm diệu dược để trị lành mọi chứng bịnh loạn tưởng,
khi bịnh lành thuốc cũng bỏ. Tức là niệm Phật đến chỗ vô niệm, chỉ
còn nhứt tâm chơn như. Niệm Phật đến chỗ vô niệm thì thấy tự tánh
Di Đà, bản tâm là Tịnh Độ, hiện bày trước mắt. Tự tánh của mình xưa
nay hằng giác, nên nói: Vô lượng quang. Tự tánh chưa từng sanh diệt,
thoát ngoài vòng thời gian, nên nói vô lượng thọ. Bản tâm mình xưa
nay thanh tịnh, do vọng tưởng dấy động nên bị nhiễm ô, theo nghiệp dẫn
đi trong lục đạo, vọng tưởng lắng sạch chỉ còn một tâm thanh tịnh là
tịnh độ, cho nên nói Tâm tịnh thì độ tịnh. Chuyên trì niệm Phật không
có niệm nào khác chen vào; mượn một niệm dẹp tất cả các niệm. Duy
giữ một niệm niệm Phật, đi đứng nằm ngồi liên tục không gián đoạn,
đến đâu là nhứt niệm. Nương niệm nầy cầu vãng sanh về cõi Phật Di
Đà chắc chắn sẽ mãn nguyện. (Tự Gia Bảo, tr 55)
*-Pháp
niệm Phật nếu được nhất tâm, tất cả sẽ vãng sanh về cõi Di Đà, tuy
nhiên cách niệm Phật chỉ là để tránh mọi vọng tưởng củ nổi dậy và
vọng tưởng mới phát sanh, mà chưa thể nắm bắt được chơn tâm. Nếu
hành giả hằng sống với thế giới không có vọng tưởng, thì sẽ sanh
vào thế giới an lạc như cõi Phật Di Đà, dù chưa đến cõi hoàn toàn
giác ngộ,niết bàn tuyệt đối.
4).- Niệm Chú: Theo
Mật Giáo Thậm Thâm Nội Nghĩa,
--Mật
Tông chủ trương hoàn toàn phù hợp với giáo lý tương tức, tương nhập
của cả thân và tâm. Phương pháp tu tập của Mật Tông sử dụng những
nghi lễ; những nghi lễ đó sử dụng cả thân và tâm một cách đồng
đều; những kỹ thuật thiền quán của Mật tông không bắt buộc hành
giả phải thu thúc hoặc cô lập cái tâm, để nó khỏi dính mắt với
các đối tượng của thân căn như ở Hoa Nghiêm Tôn; và Tông nầy tìm
kiếm sự Giác Ngộ đồng thời nơi cả hai phần tâm linh và thể xác, để
đạt được Tức Thân Thành Phật, bằng vào sự giác ngộ trực tiếp giáo
lý vô nhị nơi thân, khẩu và ý của một chúng sanh với Tam Mật của
đức Như Lai. (tr 109)
--Tam
Mật có thể trình bày cặn kẻ như sau:
Tay kiết ấn, miệng đọc
thần chú, và ý trụ nơi quán tưởng, dùng trong các nghi lễ của Mật
tông gọi chung là Phương tiện của Tam Mật. Phương tiện Tam Mật là ba
hình thức của nghi lễ được đức Đại Nhật Như Lai tuyên thuyết và ghi
chép nơi kinh văn của Mật Tông, để trợ giúp cho chúng sanh, còn trong
phiền não trói buộc, có thể đạt được sự giác ngộ.
Chư
Phật Thế Tôn thấy rõ ràng tất cả những hoạt động của vật chất,
âm thanh và tinh thần đều là Tam Mật của Pháp Thân của đức Đại
Nhựt Như Lai: Tất cả hoạt động của thân đều là Thân Mật của đức
Đại Nhựt Như Lai, tất cả những âm thanh, và lời nói đều là Ngữ mật
của đức Đại Nhựt Như Lai, và tất cả những ý tưởng và những hoạt
động thuộc phần tinh thần của chúng sanh trong vũ trụ đều là phương
diện của Ý Mật.
Tuy
nhiên, chúng sanh không khám phá ra sự đồng nhứt bất nhị nơi Tam Mật
của đức Như Lai và những hoạt động của thân, khẩu, ý hàng ngày của
mình, vì vậy đức Đại Bi Thế Tôn mới lập ra Tam Mật Môn làm phương
tiện để chúng sanh thể nhận chân lý tương ưng vô nhị. Những hoạt nầy
là những phương tiện mà ở trong đó bổn nguyện của chúng sanh và Tam
Mật Du Già của đức Như Lai hiệp với nhau làm một. Những hoạt động
nầy liên kết chúng sanh với đức Phật.
Chúng sanh nhìn mọi sự vật
với sự phân biệt, chấp trước, phân chia phương tiện của Tam Mật (đó
là Tam Mật hữu tướng), và Tam Mật của Pháp Thân (đó là Tam Mật vô
tướng), và cho rằng Tam Mật hữu tướng chính là cái bị sanh và Tam Mật
vô tướng là cái vô sanh. Chư Phật thế Tôn thấy rằng Tam Mật hữu
tướng và Tam Mật vô tướng là vô nhị: chúng nó không sanh mà sanh.
(tr 130,131)
--Mục
đích của các nghi lễ quán tưởng của Mật Tông là môt sự hiệp nhứt
hình tướng có thể nhận được của biểu tượng và thực tướng của chính
nó. Mục đích đó không nhằm vào việc cắt đứt sự huyễn hóa của sự
vật mà chính là để khám phá ra cái thật, nhưng phải thấy hiện tượng
giới đồng thời chính là sự hiện hữu, hay chẳng phải hiện hữu, cũng
chẳng phải vừa hiện hữu vừa chẳng phải hiện hữu. Trong sự ngộ nhập
nầy, hành giả không nắm bắt hiện hữu cũng chẳng nắm bắt vô hiện
hữu. Đây là chỗ mà Tổ sư Thiện Vô Úy gọi là Khảo sát sự huyễn
hóa không thể nghĩ bàn.
Một
lần nữa xin lập lại mục đích chính của việc tu tập không phải đơn
thuần ở chỗ là thấy Pháp Thân là nền tảng cho thân huyễn hóa của
biểu tượng, hoặc thấy cái thật bằng cách cắt đứt mọi giả dối,
nhưng phải thấy được sự huyễn hóa không thể nghĩ bàn, trong đó Pháp
Thân và Thân huyễn hóa thì đồng nhất vô nhị. (tr155,156)
*-Cách
tu Mật Tông như thế là phải thấy được Thân huyễn hóa không thể nghĩ
bàn tức là trong thân huyễn hóa không thể nghĩ bàn gồm có thân huyễn
hóa và pháp thân đồng nhứt. Vậy thì thân huyễn hóa không thể nghĩ
bàn chỉ là sự vật tương dung an lập, nghĩa là trong sự cấu tạo sự
vật, các tế bào trong sự vật đều dung nhiếp nhau mà an lập. Vì thế
thân huyễn hóa không thể nghĩ bàn (thân ngũ uẩn: vật chất và tinh
thần) cũng sẽ huyễn hóa giả vọng, cho dù dùng thân khẩu ý để tập
trung cao độ đến đâu. Thân huyễn hóa vẫn là huyễn hóa, có điều là
là chỉ tập trung vào một biểu tượng (thần chú) đặt ra,thì nó dẹp
hết mọi vọng tưởng khác do nghiệp lực dẫn, cho nên nó có năng lực
công ước hay ngôn ngữ (thần chú, phương tiện) rất cao tạo nên những
thế giới biến hóa không thể nghĩ bàn, tức là thế giới của chư Phật
mà hành giả được gia trì.
*--Tức
thân thành Phật thì không hợp lý bằng Từ thân thành Phật vì Phật
là sự sáng suốt, Tánh Giác không sanh không diệt, còn thân thì có
sanh diệt. Đã biết thân huyễn hóa và Pháp thân là một, tại sao ta
không chọn từ thân huyễn hoá mà nắm bắt cái vô sanh, pháp thân hay
thân hư không để sống đời vĩnh hằng thay vì đeo thêm cái thân giả
hợp nầy để rồi có ngày nó cũng sẽ tử vong. Ta không cắt đứt thân
huyễn hóa mà từ nó mà ta tri thức đúng thực tướng của nó. Đó mới
là giác ngộ, là vượt khỏi luân hồi và sanh diệt. Thí dụ, một ly
nước,nó là hỗn hợp oxy và hydrô, cũng như thân huyễn hóa không thể
nghĩ bàn gồm có thân huyễn hóa và pháp thân. Ta cố gắng hết sức
tập trung để loại bỏ tất cả tạp chất khác, và chỉ còn nó chính là
nó dù phân chia ra thành phân tử đi nữa, cũng chỉ là nước với các
hợp chất trong nó. Cũng thế, thân huyễn hoá không thể nghĩ bàn dù
dùng thân khẩu ý miên mật bít kín các vọng tưởng, thì cũng còn cái
thân huyễn hoá sanh diệt đeo theo mà thôi. Chỉ khi nào, từ nước ta
lấy ra oxy để xài thì mới hữu ích. Cũng thế, từ thân huyễn hóa
không thể nghĩ bàn, ta nắm bắt được thực tướng của nó tức là thân
hư không hay pháp thân, mới thật sự là giác ngộ niết bàn. Chỉ có
chơn tâm, hay chơn trí hay tánh giác mới có khả năng chuyển thức vào
cái siêu việt Thời Không hay Niết Bàn Tuyệt Đối.
*-Tính
cách Vô Nhị (không hai) là Thể Không của Pháp Thân Như Lai và Thể
Không của Tánh Giác (của thân huyễn hóa) là một; cho nên Thể Không
của Thân Ngũ Uẩn mới hợp nhứt được với Thể Không Của Pháp Thân
Phật. Chớ Thân huyễn hóa của chúng sanh làm sao hợp nhứt với Pháp
Thân Phật được. Pháp thân Phật không thấy được, chỉ thấy thân chúng
sanh mà thôi. Cái thấy được và cái không thấy làm sao hòa hợp.
*--
Nói về Lý hợp nhứt, theo lý sự cũng không hợp, có thể tưởng tượng
(vọng tưởng). Nói về Nghĩa lý, chỉ là giải thích một cách sai lầm,
giả tưởng, khi dùng tam nghiệp của thân huyễn hóa hiệp nhứt với Tam
Mật của đức Như Lai.
Tam
mật là ba cái không thể nắm bắt bằng giác quan. Tam Mật của Thân
Khẩu Ý là ba thể Không của chúng. Thể Không của Chúng mới hòa
nhập được thể Không (Tam Mât) của đức Như Lai. Đã mật thì không
tướng, mà nói hữu tướng thì không có mật. Thể không hợp nhứt với
thể không mới logic, còn thể chất hợp với thể không thì rất xa luận
lý.
*--Chư
Pháp Tương Tức Tự Tại (kinh Hoa Nghiêm) là do đồng thể, tức là có
cùng một gốc, nên các pháp nầy tức là pháp kia, không sai khác vì
tự tại.Thể không của tánh giác và thể không của sự vật là một
(không khác).Thể không của thân huyễn hóa đồng nhứt với Pháp thân
Phật, chớ không phải thân huyễn hóa đồng nhứt với pháp thân của
Như Lai.
*--Còn
Năng Sở Viên Minh Cụ Đức, (kinh Hoa Nghiêm) là song vong Năng Sở,
vượt qua ta và người, siêu việt chủ khách, viên minh tức là tròn
sáng đầy đủ công đức.
Dùng thân khẩu ý là căn, thần chú là trần (đối
tượng). Cái biết (do ý thức chủ tri), đó là năng tri và thần chú
là sở tri, thì còn đối đãi chủ khách. Từ cái tương đối của thân
khẩu ý mà hợp nhứt cái tuyệt đối của Pháp Thân Phật e không thể
nghĩ bàn! (không thể tưởng tượng được)
Thực
ra tu Mật Tông, dùng trí Bát Nhã Cứu Cánh để áp dụng thực hành thì
thành quả sẽ cao hơn. Dù vậy, thần chú là một thực tại giả lập do
chủ thể sắp đặt, chứ không phải vọng tưởng do nghiệp lực dẩn. Vì
thế mà thân huyễn hóa không thể nghĩ bàn được tập trung nghị lực và
tinh thần chuyên nhứt vào chính nó, nên nó quét sạch hết mọi vọng
tưởng khác để dành lấy ưu thế cho một thế giới Tịnh Độ của chư Phật
như cứu cánh của pháp tu: Thế giới của đức Đại Nhựt Như Lai,là thế
giới hoàn toàn sáng suốt, an lạc và vô lượng quang.
5).- Khán Công Án Hay Thoại Đầu: Công
Án có nhiều thứ, hoặc chữ Vô, hoặcVạn pháp, hoặc núi Tu Di... hoặc
tham cứu niệm Phật (hay trì niệm Dalani) tùy theo sở thích mà giữ lấy
công án, hẹn cho đến khi ngộ mới thôi. Lời xưa có nói: Mười phần
tin là mười phần nghi, mười phần nghi là mười phần ngộ. Hãy rữa
sạch cái tâm chứa đầy sở kiến, sở văn, biết lầm, hiểu bậy lời
lạ, tiếng hay, đạo Thiền, Pháp Phật, cống cao ngã mạn...(Tất cả đều
là vọng niệm, còn chấp ngã và chấp pháp), chỉ chuyên tâm vào công
án. Đừng phân biệt đêm ngày, giữ tâm chuyên nhứt cho đến chẳng bận
Đông Tây Nam Bắc. Phải giống như người chết mà còn thở. Tâm theo
cảnh mà hóa, đụng đến là biết ngay. Ý niệm thôi khởi phát, tâm
thức bặt đường đi. Rồi hốt nhiên đập vỡ óc não, từ đãy nhận ra
rằng nguyên lai Đạo vốn có trong mình.(Ngộ Phật Tánh)
Hãy
bỏ những gì thấy nghe, hay biết (kiến văn, giác tri) mà thấy những gì
trong chính mình.Do kiến, văn, giác, tri mà chúng ta bước vào Đạo, mà
cũng do kiến, văn, giác, tri mà chúng ta cũng không bước vào Đạo
được, vì chúng là một trở ngại lớn lao làm chúng ta mù mắt, đi lang
thang mãi trong bóng tối.Chúng ta hãy vứt bỏ chúng, bắt chúng đứng yên,
đi đứng nằm ngồi, yên lặng hay nói năng hãy giữ tâm mình như sợi
dây căng thẳng, đừng để chúng vượt ra khỏi vòng câu thúc của mình.
Có
ba yếu tố cần thiết trong việc tu tập Công Án : Tin lớn, Chí lớn,
Nghi lớn. Đừng bao giờ xao lãng tìm hiểu chữ vô của Triệu Châu hay
môt công án nào khác. Khi thấy công án trở thành vô nghĩa, nhạt
nhẽo, vô vị,mình sẽ cảm thấy bất an trong tâm thức. Đến đây là lúc
cùng tắc thông, hãy buông mình xuống vực thẳm để rồi sống lại với
biết bao nỗi vui sướng. Nên nhớ đại nghi cũng gọi là nhứt tâm, tất
cả khả năng tâm thức của chúng ta được tập trung vào công án.
Chúng ta nên áp dụng lời chỉ dẫn sau đây của Thiền Sư Thôi Ẩn tu
tập công án : không tưởng tượng, không xao lãng, không qui định công
án để rút ra ý nghĩa, không bộc bạch bằng lời, không lấy ý nghĩa
công án làm đối tượng suy tư, không xét công án như chỉ điểm của
ngoang không, không nhầm lẫn công án và không mong cầu chứng
ngộ.(Đại Thừa Yếu Lược,tr 274,75)
*-
Tập trung vào một điểm, hay công án chính là công án, không quan
niệm hay tính chất của công án ấy. Nó chính là nó, dường như là một
chân lý tự nó, nhưng kỳ thực là chủ thể chỉ chuyên nhứt vào một
đối tượng (công án) giả lập, thì sau cùng, nó cũng là nó; nghĩa là
tập trung vào thực tại giả lập mà thôi.Đó là nhứt niệm, chứ không
phải nhứt tâm, vì nhứt niệm là một niệm của chủ thể và khách thể
ý thức, còn nhứt tâm thì tâm Không thể nhập tánh Không của sự vật
đồng nhứt thể (thể không), thì không còn đối đãi, không còn chủ
khách (căn trần thức), là tuyệt đối.
*--Do
đó, tập trung cao độ để khán công án hay thoại đầu để cho đại nghi
tình phát triển tối đa thì kết quả như sau:
Thứ
nhứt: Dẹp bỏ tất cả những vọng tưởng sắp phát sanh hoặc ngừng lại
những vọng niệm đã chứa sẵn trong tàng thức, chỉ còn lại một niệm
duy nhứt là công án như là công án, hay thoại đầu như là thoại đầu.
Việc nầy chỉ còn lại nhứt niệm vô minh mà thôi.
Thứ
hai: Khi tập trung cao độ vào một đối tượng như công án hay thoại đầu
hoặc giả cái nghi tình cũng vậy thì sẽ xảy ra hai hệ quả:
a) Chất chứa
hình ảnh của đối tượng thường xuyên nhiều lần như vậy làm cho kho ký
ức đầy ấp nên trí nhớ hay tri thức (chủ khách) cái đối tượng đó
quá rõ ràng đến nỗi xuất thần biến thành những ảo ảnh, tức là
trạng thái ký ức quá mẩn, như các nhà bác học tập trung thí nghiệm
để tìm tòi nghiên cứu của họ;
b) Hoặc giả,
nếu không được các vị thầy đầy đủ kinh nghiệm chỉ dẩn sẽ dẫn đến bị
bịnh ức tâm theo phân tâm học của Freud. Tâm thức bị dồn ép mảnh
liệt mà không được tháo mở, lâu ngày chầy tháng sanh ra những bịnh
tâm thần như bịnh trầm uất, tâm thần v.v...
Như
trên đã nói,nếu dùng được trí Bát Nhã tháo gở cái nhứt niệm vô
minh chấp chứa lâu ngày đó để nắm bắt ngay thực tướng của nó ắt
được giải thoát khỏi thế giới tương đối mà đạt cứu cánh cao hơn.
Tuy
vậy, khán công án hay thoại đầu là pháp môn tu tập táo bạo hơn
hết, nếu hành gỉả thực hành rốt ráo chuyên nhứt miên mật quét
sạch các vọng tưởng điên đảo trong tâm thức đến nỗi chỉ còn một
công án hay một thoại đầu, trong sáng, nó chính là nó, và không có
gì ngoài nó, tất nhiên sẽ đạt đến cảnh giới cực lạc (không còn
vọng tưởng điên đảo) của chư Phật.
6).- Tĩnh Tâm: Tĩnh tâm là một
hình thức quán đề mục. Tri thức lại những tư tưởng, tình cảm, và
hành động của mình trong thời gian qua so với tiêu chuẩn đạo đức, với
tín điều để kiểm điểm cái sai trái cũng như cái đúng đắn. Từ trong
trạng thái tĩnh lặng con người mới thức tĩnh, mới sáng suốt nhận định
rõ ràng và tích cực sắp xếp, dự định những mong ước hay nói khác đi
là kiên định niềm tin và hy vọng.
Tĩnh
tâm là khi tâm tĩnh lặng, mọi hình ảnh của Chúa đã hy sinh,cũng là
đánh thức mọi hành động của ta; từ đó có sự cảm thông giữa ta và
Chúa. Tình yêu của Chúa trong ta phát sinh, đó là lúc tâm thức ta
hòa nhập với tâm tình của Chúa đã hy sinh cho thế gian. Trong tĩnh
lặng,con người mới có những tư tưởng trong sáng vượt qua chính mình
(mình là con người tội lỗi) để quan sát lại chính mình. Tách rời mình
ra khỏi chủ thể (tạm bợ), làm khách thể để soi xét lại mình. Dựa
trên tín điều, dựa trên lời chúa phán, sử sự như là Chúa nhìn lại
mình mà phán xét mình. Ngay đó mình nhận ra con đường đi đến Vương Quốc
Thượng Đế rõ ràng hơn. Mốc điểm thời gian của quá khứ sai lầm và
hiện tại trong sáng, là từ hiện tại ấy ta mới có cơ hội chuyển hóa
đến một thế giới huy hoàng. Đó là lúc ta tĩnh thức và đặt niềm tin
nơi Chúa trong sự dùng ý lực của mình để theo con đường đi đến Thiên
Đàng. Niềm tin được thực hiện nơi đạo đức toàn hảo, thì sự hứa hẹn
được cứu rỗi tất nhiên sẽ đến.Đó là phương pháp câu thông với lực
lượng vũ trụ hay ân điển của Thượng Đế, tức là chuyển hóa được
sống trong cõi vĩnh hằng của Thiên Đàng hay Vương Quốc của Thương Đế.
B.- CHÍ ĐAO - Pháp Bổn Như Vô Pháp
1). Bình Thường Tâm Là Đạo: (Tự Gia Bảo)
Triệu Châu hỏi Ngài Nam Tuyền:
-Thế
nào là đạo?
Nam Tuyền đáp:
-Tâm bình thường là đạo.
Triệu Châu hỏi:
-Lại
có nhằm tiến đến chăng?
Nam Tuyền đáp:
-Nghĩ
nhằm tiến đến là trái.
Triệu Châu hỏi:
-Khi
chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?
Nam
Tuyền đáp :
-Đạo
chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng, không biết là vô
ký, nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng
rang đâu thể gắng nói phải quấy.
Ngay
đó sư ngộ.
Mọi
người tu, ai cũng nghĩ mình phải thấy (ngộ) được đạo, và nghĩ rằng
đạo là cái cao siêu ở ngoài mình. Triệu Châu cũng có tâm niệm như
chúng ta, khi được Ngài Nam Tuyền trả lời Tâm bình thường là đạo, sư
chưa đủ sức tin. Vậy Tâm Bình Thường Là Đạo là tâm nào? Tâm nhớ
chuyện năm xưa nghĩ chuyện năm tới có phải là tâm bình thường không?
Vừa dấy niệm là động, mà động thì sáng suốt thấy biết rõ ràng, như
mặt nước phẳng lặng không gợn sóng. Ngài Nam Tuyền chỉ thẳng mà
Triệu Châu chưa nhận ra nên hỏi : Lại có thể nhằm tiến tới chăng?
Sư nghĩ tiến tới để đạt được đạo, song nghĩ tiến tới là bất bình
thường thì không phải đạo. Vì vậy, Ngài Nam Tuyền nói: Nghĩ nhằm tiến
tới là trái. Vừa nghĩ tiến là động, mà động là bất bình thường nên
trái đạo. Nhưng Triệu Châu cũng chưa nhận, bèn hỏi thêm: Khi chẳng
nghĩ làm sao biết là đạo? Sư cho đạo là cái gì phải do suy nghĩ mà
biết, nay không cho suy nghĩ làm sao biết đó là đạo? Ngài Nam Tuyền
bảo: Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không
biết là vô ký, nếu thật đạt đạo, thì chẳng nghi, ví như hư không
thênh thang, rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy. Nghĩa là tâm lặng
lẻ sáng suốt là đạo, vừa dấy niệm muốn biết nó là vọng giác, còn
ngu ngơ không biết gì là vô ký, cả hai đều sai. Nếu thực đạt đạo,
tức là nhận ra cái lặng lẻ chân thật thì không còn nghi ngờ gì cả,
lúc đó tâm rỗng rang thênh thang, không thể nói là phải hay quấy.
Vừa nói phải quấy là có niệm hai bên thì trái đạo. Ngay đó, Triệu
Châu ngộ được Tâm bình thường là đạo.
-Một
Thiền sư khác, Sùng Tín con nhà bán bánh bao, ở trước cổng chùa. Mỗi
ngày (sư) đem ít bánh cúng dường Thiền sư Đạo Ngộ. Đạo Ngộ ăn xong
thường để lại cái bánh, bảo :
-Ta
cho ngươi để ân huệ cho con cháu.
Môt hôm, Sùng Tín tự nghĩ
: Bánh bao là ta đem đến, cớ sao Hòa Thượng lại nghĩ ngược lại ta?
Biết đâu có ý chỉ. Sư bèn hỏi Đạo Ngộ.
Đạo
Ngộ bảo :
-Bánh
bao của ông đem đến, ta cho lại ông có lỗi gì?
Sư nghe lời nầy, liền hiểu
được thâm ý, liền xin xuất gia. Đạo Ngộ bảo :
-Ngươi
trước sùng phước thiện, nay tin lời ta, có thể gọi là Sùng Tín.
Từ
đây, sư luôn hầu hạ bên thầy. Một hôm sư thưa :
-Từ
ngày con vào đến đây, chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.
Đạo
Ngộ bảo :
-Từ
ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng dạy tâm yếu cho ngươi.
Sùng
Tín thưa :
-Thầy
chỉ dạy chỗ nào?
Đạo
Ngộ bảo :
-Ngươi
dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến ta vì ngươi mà
nhận. Ngươi lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?
Sư
cúi đầu im lặng giây lâu. Đạo Ngộ bảo :
-Thấy
thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai. -
Ngay
đó, sư khai ngộ. Lại hỏi thêm :
-Làm
sao gìn giữ?
Đạo
Ngộ đáp?
-Mặc
tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm chẳng có
thánh giải khác.
Khi
thị giả dâng trà, thầy đưa tay nhận chung trà, lúc đó có suy nghĩ gì
không? Thấy đón nhận chung trà mà không có niệm suy nghĩ, nhưng không
phải là không biết. Như thị giả dọn cơm xá mời, thì bước tới ngồi
và cầm đủa ăn, lúc đó thế nào? Ngồi ăn cơm thầy cũng không suy
nghĩ. Khi thị giả xá chào lui ra thì thầy gật đầu, lúc gật đầu cũng
không suy nghĩ. Như vậy, trong những động tác hàng ngày mà chúng ta
không khởi một niệm nghĩ suy, đó là tâm yếu.Tâm yếu hiện hữu rõ
ràng trong mọi hành động, nếu nhận được chỗ đó thì chỗ nào không
chỉ dạy tâm yếu? Vậy tâm yếu mà Ngộ Đạo chỉ đây có khác với tâm
bình thường mà ngài Nam Tuyền chỉ ở trước không? Tuy nhiên, ở đây
đặc biệt là khi Sùng Tín cúi đầu suy nghĩ về tâm yếu thì Đạo Ngộ chỉ
thẳng: Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai. Trong những
hành động bình thường, ngay đó mà nhận ra cái chân thật sẵn có nơi
mình, vừa khởi nghĩ liền bị che khuất. Ngay khi đó sư khai ngộ. Chúng ta
thấy tâm yếu là gì phải không? Và khi ngộ rồi muốn gìn giữ nó phải
làm sao? Đó là vấn đề then chốt. Đựợc Ngài Đạo Ngộ dạy: Mặc tánh
tiêu dao tùy duyên phóng khoáng, chỉ biết hết tâm phàm chng có thánh
giải khác. Mặc tánh tiêu dao ở đây không có nghĩa là thân rổi rảnh
dạo chơi chỗ nầy xứ nọ, tùy hứng đờn ca thổi sáo ngâm vịnh... Người
như thế là cuồng tăng phóng túng. Ngài Đạo Ngộ dạy tùy tánh tiêu
dao, chứ không phải tùy thân tiêu dao, phải hiểu rõ chỗ nầy. Vậy
tánh tiêu dao là như thế nào? Tánh thấy, tánh nghe... có sẵn nơi mỗi
người vốn không động, không giới hạn. Bởi không động không giới
hạn nên nó rỗng rang thênh thang. Và vì thênh thang không động, không
phiền cứ mặc nó, không kềm giữ, là mặc tánh tiêu dao. Lâu nay
chúng ta nghĩ là phải kềm giữ cho tâm thanh tịnh, nếu kề giữ là trái
với tự tánh rồi. Tùy duyên phóng khoáng là duyên đến thì tùy duyên
bất biến không vướng không bận, không bị duyên trần làm phiền
nhiểu. Sơ Tổ phái Trúc Lâm nói:
Cư
trần lạc đạo thả tùy duyên.
Cơ dắc
xan hề khốn tắc miên.
Ở
trong đời mà vui với đạo, tức là vui với tâm bình thường rồi tùy
duyên, đói thì ăn, mệt thì ngủ. Tùy duyên phóng khoáng là trong cuộc
sống bình thường, đến giờ thì ăn, mệt thì ngủ, đến giờ làm thì
làm... không có vọng niệm làm bận lòng, tâm an nhiên thênh thang tự
tại. Ví dụ, quét chúa hay nhổ cỏ mà tâm vẫn thênh thang rỗng rang
không có một niệm dấy khởi, đó là tùy duyên phóng khoáng. Chớ
không phải tùy duyên phóng khoáng là đói vào quán ăn, ăn nhậu say
sưa mệt thì nằm ì ngoài đường phố mà ngủ, gặp nữ sắc cũng không kỵ,
gặp ca vũ cũng không chừa... Đó là cuồng tăng cuồng thiền, hiểu
lầm hiểu loạn, không đúng lẻ thật, làm cho người chê cười, làm cho
người mất hết tín tâm. Những trọng điểm nầy quí vị lưu ý để nắm
vững mà tu, tánh giác nơi mỗi người vốn lặng lẻ thênh thang sáng
suốt, hằng ngày sống bình thường, đến giờ làm việc thì làm việc,
đến giờ ăn thì ăn, đến giờ nghỉ thì nghỉ, không khởi niệm, không
kềm, không giữ. Tuy nhiên vẫn ở trong nề nếp đạo đức. Đó là mặc
tánh tiêu diêu tùy duyên pháng khoáng, cũng như Ngài Nam Tuyền,
người dâng trà thì tiếp trà, dâng cơm thì nhận cơm, xá chào thì gật
đầu, buông hết vọng tưởng điên đảo của phàm phu, đó là đạo. Thông
thường người tu chưa hài lòng với nếp sống bình thường như đã nói mà
mong có cái gì phi thường, khác lạ của bậc thánh, chớ không có
thánh ở ngoài đến. Tức là dừng được tình phàm là vọng tưởng chủ
của nghiệp là luân hồi sanh tử thì giải thoát vì không sanh không
diệt nhưng hằng tri giác không phải thánh là gì? Có nhiều người nghĩ
sau khi vọng tưởng lặng hết thì còn cái gì? Chỉ cần hết vọng tưởng
thì tánh giác hiện tiền không cần gì thêm nữa cả. Nhưng chẳng mấy
người có lòng tin. Đa số là đều mong phiền não để có thêm cái gì
khác, không ngờ hết tình phàm (vọng tưởng) thì ngay đó là thánh. Vì
mầm sinh tử luân hồi hết thì đó là đạo giải thoát, là chỗ thiết
yếu mà Ngài Đạo Ngộ chỉ dạy.
Ngài
Triệu Châu ngộ đạo nơi Ngài Nam Tuyền, ngộ ngay chỗ Tâm bình thường
là đạo nên sau nầy Ngài cũng dạy như thế. Có vị tăng hỏi:
-Thế
nào là Phật?
Sư bảo:
- Ở trong
điện.
- Trong điện
đâu phải bùn đất đắp thành tượng.
- Phảì.
- Thế nào là
Phật?
- Ở trong
điện.
- Con mê muội
xin thầy chỉ dạy.
- Ăn cháo xong
chưa?
- Ăn cháo
xong.
- Rửa bát đi.
Tăng
nhơn đây đại ngộ.
Tăng
muốn biết Thế nào là Phật? được Triệu Châu chỉ Ở trong điện, Ngài
chỉ Phật tánh không rời thân năm uẩn (ở trong điện), thế mà tăng không
nhận ra, khởi tâm so lường rằng Phật ở trong hiện được đắp bằng bùn
đất, chỉ là tượng vô tri để thờ, không phải là Phật mà tăng muốn
biết. Ngài Triệu Châu nói Phải là Ngài xác nhận nơi thân năm uẩn
có tánh giác, chớ không phải là tượng Phật trên bàn. Thế mà tăng
không hội ý lập lại câu hỏi Thế nào là Phật. Dò đế đây Ngài vẫn
đáp Ở trong điện.Tăng vẫn không hỏi, bèn thưa : Con mê muội xin thầy
chỉ dạy. Ngài hỏi Ăn cháo chưa?, tăng đáp Ăn cháo xong. Ngài bảo
Rửa bát đi, tăng nhơn đây mới đại ngộ. Vậy tăng ngộ cái gì? Cái
ngộ của vị tăng nầy có khác cái ngộ của Ngài Sùng Tín không? Ở
trước, dâng trà thì tiếp, dâng cơm thì nhận, xá lui ra thì gật đầu, ở
đây ăn cháo xong thì rửa bát. Có phải thân tùy duyên sinh hoạt mà
hành động, tuy nhiên tâm vẫn bình thường? Chư Tổ chỉ dạy nhau là chỉ
dạy cái mà chính mình đã nhận được từ nơi ông thầy là Tâm bình thường,
song mỗi người có mỗi thuật độc đáo riêng, người căn cơ thấp kém
khó mà biết được. Tại sao hỏi Ăn cháo xong chưa, rồi bảo Rửa bát
đi, mà lại ngộ đạo, vậy nộ ở chỗ nào? Sau Thiền sư Hoàng Trí có
làm tụng để ca ngợi chỗ nầy :
Chúc
bãi linh giao tẩy bát bồn
Hoát
nhiên tâm địa tự tương phù
Như kim tham khảo tùng lâm khách
Thả
đạo kỳ gian hữu ngộ vô
Dịch
Cháo
xong liền dạy rửa bát tô
Bỗng
nhiên tâm địa tự tương phù
Hiện
nay là khách tùng lâm củ
Hãy
nói khoảng nầy có ngộ không?
Thật
là xuất cách, người vào đạo với tâm thao thức thiết tha cầu Phật,
nên khi hỏi Ăn cháo xong chưa? Thưa Ăn cháo xong . Lại bảo Rửa bát
đi, liền ngộ đạo. Nếu là người không thao thức thiết tha cầu Phật,
dù cho dùng phương tiện thiện xảo thế mấy để chỉ, cũng vẫn là kẻ
dung thường không thấy được lý đạo.
Ăn
cháo xong, rửa bát có phải là bình thường mặc tánh tiêu dao tùy
duyên phóng khoáng không? Nếu thông đoạn trước đến đây chúng ta
không thấy lạ.
Ngài
Động SơnThủ Sơ, khi còn là một Thiền khách, đến tham vấn nơi Ngài
Vân Môn, Ngài Vân Môn hỏi :
_
Ông vừa rời chỗ nào?
Thủ Sơ thưa :
-Rời
Tra Độ
Vân
Môn hỏi :
- Mùa hạ rồi ở đâu?
Thủ Sơ đáp:
-Ở
chùa Báo Ân ở Hồ Nam.
Vân
Môn hỏi:
-Rời
nơi ấy lúc nào?
Thủ
Sơ đáp:
-Ngày
25 tháng 8
Vân
Môn bảo: Tha ông ba gậy, đến nhà tham thiền đi.
Đươc
hỏi Thủ Sơ đáp một cách thật thà không một chút điêu ngoa, tại sao
Ngài Vân Môn nói Tha ông ba gậy rồi bảo xuống nhà thiền? Thủ Sơ có
lỗi gì?
Thủ Sơ thắc mắc hôm sau đi
thẳng vào nhà thất ngài Vân Môn thưa:
-Hôm
qua nhờ ơn Hòa Thượng tha ba gậy, con không biết lỗi tại chỗ nào?
Vân
Môn bảo:
-Cái
túi cơm: Giang Tây, Hồ Nam liền thế đấy!
Ngay
câu nói nầy sư đại ngộ.
Vân
Môn quở Thủ Sơ là cái túi cơm. Giang Tây là chỗ hoằng hóa của Mã
Tổ, Hồ Nam là chỗ hoằng hóa của Thạch Đầu. Liền thế ấy là sao?
Hỏi
Ở đâu, thưa Ở Tra Độ, hỏi mùa hạ rồi ở đâu, thưa Ở chùa Báo Ân
tại Hồ Nam, hỏi Rời nơi ấy lúc nào, thưa Ngày 25 tháng 8. Sự việc
ấy có phải là bình thường không? Hỏi đâu đáp đó rõ ràng không suy
nghĩ không phải tâm bình thường là gì? Ngài Vân Môn muốn làm dậy
sóng nên nói Tha ông ba gậy.Thuật khai ngộ của Ngài Vân Môn quá kỳ
đặc, Ngài nói Tha ông ba gậy làm cho Thủ Sơ băn khoăn thắc mắc
không biết mình có lỗi chỗ nào? Nên hôm sao đến phương trượng hỏi,
khi hỏi bị quở Cái túi cơm! Ngài Vân Môn chê Thủ Sơ không thông
minh, giống như cái túi cơm vậy; Mã Tổ (Giang Tây), Thạch Đầu (Hồ
Nam) cũng dạy cái bình thường ấy thôi. Ngay đó Thủ Sơ ngộ đạo. Chính
nhờ cái thuật làm dậy sóng đó của Ngài Vân Môn mà Thủ Sơ mới
nhận ra cái Chân thật bình thường sẵn có nơi chính mình. Các Thiền sư
đâu có dạy điều gì khác; các Ngài chỉ thẳng cái chân thật cho chúng
ta trong mọi sinh hoạt, không dấy niệm nghĩ suy là đạo là tâm bình
thường là Phật. Vậy người nào không có cái đó? Ai cũng có mà
không dám nhận.
Sa
di Cao hầu chuyện với Ngài Dược Sơn, qua những câu đáp, Ngài biết đó
là một sa di xuất cách, nên mới khoe với các đệ tử lớn như Vân
Nham, Đạo Ngộ. Hai vị nầy tỏ ra chưa tin nên Ngài mới hỏi lại sa di
Cao:
-Ta
nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?
Sư
thưa:
-Nước
con an ổn.
Dược
Sơn hỏi thêm:
-Ngươi
do xem kinh được hay thưa hỏi được?
Sư
dáp:
-Chẳng
do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được.
Dược
Sơn hỏi:
-Có
lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi sao chẳng được?
Sư đáp:
-Chẳng
nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận
Ngài
Dược Sơn nói: Ta nghe ở Trường An (Thủ đô nhà Đường) rất náo loạn,
ngươi có biết chănh?. Sa di trả lời Nước con an ổn. Nghe tiếng động
bên ngoài ồn ào là náo, thấy kẻ qua người lại lộn xộn là loạn.
Khi hỏi Ta nghe Trường An náo loạn ngươi biết chăng? Ngài Dược Sơn
muốn hỏi sa di Cao có thấy nghe náo loạn bên ngoài không? Đó là cái
bẩy dọ dẫm coi sư đang chạy theo cảnh bên ngoài hay hằng sống với
tánh thấy tánh nghe chân thật của mình. Sa di Cao trả lời Nước con an
ổn. Người qua lại xôn xao mà tánh thấy của sa di Cao không xôn xao,
tiếng động ồn ào mà tánh nghe của sa di Cao không ồn ào. Náo loạn
là chuyện bên ngoài chớ tánh thấy tánh nghe của Sư không động không
loạn. Sư trả lời như thế chứng tỏ Sư hằng nhớ cái chẳng động của
mình mà không để tâm chạy theo ngoại trần. Nếu được hỏi có nghe náo
loạn không. Trả lời có nghe náo loạn là người đã để tâm duyên theo
cảnh vật bên ngoài mà quên cái không động hằng hữu nơi chính mình.
Như vậy, để thấy người xưa muốn trắc nghiệm người tham học còn vọng
ra ngoại trần hay hằng sống với cái chân thật của chính mình. Chỉ nêu
câu hỏi, qua câu trả lời thì biết người ấy thế nào? Qua câu trả
lời của sa di Cao, Dược Sơn chấp nhận ngay.Tuy thế,Vân Nam và Đạo Ngộ
vẫn chưa tin, Ngài Dược Sơn mới trắc nghiệm thêm : Ngươi do xem kinh
được, cũng chẳng do thưa hỏi được? Nếu trả lời do xem kinh hay do thầy
chỉ bảo thì cái đó từ bên ngoài mà được. Tánh tấy tánh nghe là cái
chân thật có sẵn nơi mọi người, âu đợi xem kinh mới có hay do thầy
dạy mới được. Nên Sư trả lời Chẳng do xem kinh được cũng chẳng do
thưa hỏi được. Mới nghe qua như phủ nhận công ơn chỉ dạy của Thầy Tổ,
nhưng lẻ thật là như vậy, Thầy Tổ chỉ là người khơi dậy, đánh thức
để chúng ta xoay lại nhận ra cái chân thật đã có sẵn nà từ lâu nay
chúng ta bỏ quên. Ngài Dược Sơn hỏi tiếp Có lắm người chẳng xem kinh
chẳng thưa hỏi sao chẳng được? Để xác định lần nữa, Ngài Dược Sơn bẻ
lại Ông nói chẳng do xem kinh chẳng do thưa hỏi được, vậy biết bao
người không xem kinh không thưa hỏi sao chẳng được? Sư đáo Chẳng nói
họ không được, chỉ vì không thừa nhận đó thôi. Ai cũng có sẵn cái
tánh biết chân thật, mà vì không chịu nhận nên coi như không
được.Được hay không được là do biết thừa nhận hay không thừa nhận;
nên biết thừa nhận thì tự tại giải thoát, còn không thừa nhận thì
chạy theo ngoại cảnh phiền não khổ đau mãi trong luân hồi sanh tử.
Trong
pháp hội của Ngài Tử Hồ có trên 500 tăng chúng Một hôm giữa đêm.
bỗng Ngài la to:
-Ăn
trộm, ăn trộm
Chúng
kéo nhau chạy đến, Ngài chụp ôm một vị tăng đến đầu tiên nói:
-Bắt
được rồi.
Vị
tăng bị bắt hoảng hốt thưa:
-Dạ
con, không phải, không phải.
Ngài
nói:
-Phải,
phải, chỉ tại ông không dám nhận thôi.
Trong pháp hội cả 500
người ai cũng có cái chân thật mà không dám nhận, buộc lòng Ngài
phải dùng phương tiện kỳ đặc chụp ôm một vị tăng la to là ăn trộm.
Tăng đính chánh Dạ con, chớ không phải ăn trộm. Ngài nói Phải,
phải, chỉ ông không dám nhận thôi. Tăng nói Không phải là không
phải ăn trộm. Ngài nói Phải, phải là chỉ cho mọi người ai cũng có
sẵn tánh giác chân thật. Trò nói không phải, thầy nói phải, phải,
nghe như cùng đối đáp nhau, nhưng ý hai bên thật là khác xa muôn dặm.
Hình ảnh thầy chụp trò nói là ăn trộm, trò đính chính dạ con, chớ
không phải ăn trộm. thầy khẳng định phải, phải, tại ngươi không dám
nhận thôi. Thật là thủ thuật quá kỳ đặc nói lên lòng từ bi đáo
để bao giờ chúng ta quên được.(tr.257 - 268)
2). THIỀN Dzogchen (Tạng Thư Sống Chết)
Sự
thực tập tu luyện Dzogchen được mô tả là Kiến, Thiền, Hành. Thấy
được một cách trực tiếp trạng thái tuyệt đối, cảnh hay nền tảng
của bản thể chúng ta - tự tánh, tánh bản nhiên - đó là Kiến; cái
cách để làm cho cái thấy ấy không gián đoạn gọi là Thiền; và hội
nhập cái thấy ấy vào trong toàn thể thực tại và cuộc đời chúng
ta, gọi là Hành.
a).
KIẾN: Vậy Kiến là gì? Đấy là thấy được thực trạng của vạn pháp như
nó là, đây là biết được rằng bản tánh thực của tự tâm cũng là
bản tánh thực sự của sự vật, và đãy là chân lý tuyệt đối. Dudjom
Rinpoche nói: Kiến là sự bao gồm của trạng thái tĩnh thức sơ nguyên,
trong đó mọi sự được chứa đựng: nhận thức giác quan và hiện tượng
bên ngoài, sinh tử và niết bàn.Sự tĩnh thức ấy có hai khía cạnh:
Không là cái tuyệt đối, và Tướng hay nhận thức là cái tương đối.
Điều nầy muốn nói lên rằng toàn thể lãnh vực tướng có thể hiện ra,
và tất cả hiện tượng trong mọi thực tại khác nhau, dù sinh tử hay
niết bàn, tất cả vẫn luôn luôn và sẽ mãi mãi toàn vẹn, đầy đủ
trong bầu trời bao la của tự tánh tâm. Nhưng mặc dù tinh túy của vạn
pháp là trống rỗng, và ỏõthanh tịnh từ khởi thủy, bản chất của nó
vẫn đầy đủ đức tính cao quý và sung mãn mọi khả năng. Đó là một
môi trường sáng tạo vô biên năng động không ngừng nghỉ và luôn
luôn tự nhiên toàn hảo.
Bạn
có thể hỏi: Nếu trực nhận cái thấy ấy là chứng ngộ bản tâm, thế
thì bản tâm là gì? Hãy tưởng tượng một bầu trời trống rỗng bao la,
trong sáng từ khởi thủy, tinh túy (Thể) của nó là như thế. Hãy
tưởng tượng một mặt trời sáng, trong, không bị mây che, hiện diện
một cách tự nhiên:
Bản
chất (Tướng) của nó như thế. Hãy tưởng tượng mặt trời ấy chiếu ra
một cách vô tư trên tất cả người và vật, đi vào mọi hướng; năng
lực (Dụng) của nó, biểu hiện của tâm đại bi - là như thế -không gì
làm chhướng ngại nó được, và nó thâm nhập tất cả...
b).
THIỀN: Thế thì Thiền định trong Dzogchen nghĩa là gì? Đấy chỉ là an trú
trong Kiến không xao lãng, một khi đã được khai thị. Dudjom Rinpoche mô
tả : Thiền là trú tâm vào trạng thái Tâm bản lai (Rigpa), không hết
thảy mọi tạo tác của Tâm, trong khi hoàn toàn buông xả, không xao
lảng cũng không bám víu. Vì người xưa đã nói rằng Thiền không phải là
nỗ lực, mà tự nhiên thấm vào trong đó.
Toàn
thể mục đích của Thiền trong pháp Dzogchen là tăng cường và an trú
trạng thái tâm bản nhiên (Rigpa), khiến cho nó phát triển toàn vẹn.
Cái tâm bình thường theo tập quán, đầy những dự phóng, thật là mảnh
liệt vô cùng. Nó cứ luôn luôn trở lại, và tóm lấy ta một cách dễ
dàng, khi ta không chú ý hoặc xao lãng. Dudjom Rinpoche thường nói :
Bây giờ tâm bản nhiên (Rigpa) của ta như một hài nhi bé bổng bị mắc
kẹt trên một bãi chiến trường vọng tưởng nổi lên rất mạnh. Tôi
muốn nói rằng chúng ta khởi sự công việc giữ em, giữ cái tâm bản
nhiên ở trong môi trường bảo đảm của Thiền định Tinh yếu của hành
Thiền Dzogchen được đề ra trong bốn điểm như sau:
--Khi
một niệm quá khứ đã chấm dứt mà niệm vị lai chưa sanh, trong khoảng
hở đó giữa hai niệm, có phải là có một ý thức về thực tại, mới
mẻ, nguyên sơ, không bị thay đổi một tơ tóc khái niệm nào, thuần là
một sự tĩnh giác nguyên vẹn hay không? Đấy! Tâm bản nhiên là thế
đấy!
--Tuy
nhiên nó không ở mãi trạng thái như vậy, bởi vì một niệm khác lại
khởi lên, phải không?
Đấy
là ánh sáng chiếu ra của Tâm bản nhiên.
--Nhưng
nếu bạn không nhận ra niệm ấy đúng như bản chất nó (nghĩa là khi có
tâm, thì tự nhiên có ý tưởng nổi lên -DG) ngay khi nó khởi, thì nó
sẽ trở thành một ý tưởng khác, như trước. Đây gọi là dây chuyền
vọng tưởng, và là nguồn gốc của sinh tử.
-- Nếu bạn có thể nhận chân được bản
chất thật sự của ý tưởng (niệm) ngay khi nó khởi lên, và cứ để
yên nó đừng theo đuổi thêm, thì bất cứ ý tưởng nào khởi lên đều
tự động tan trở lại vào trong khoảng bao la của tâm bản nhiên, và
được giải thoát.
Có
lẻ điểm quan trọng nhứt là Dzogchen trở thành một dòng liên tục của
tâm bản nhiên như một con sông chảy liên tục ngày đêm không gián
đoạn. Dĩ nhiên đây là trạng thái lý tưởng, vì sự an trú vào Kiến
một cách không xao lãng ấy, sau khi được khai thị và nhận chân --chính
là phần thưởng của nhiều năm tu tập kiên trì.
Giả
sử bạn thấy mình ở trong trạng thái yên lặng sâu xa, thông thường
trạng thái ấy không kéo dài, một ý niệm,một chuyển động luôn luôn
khởi lên, như sóng trong biển. Đừng chối bỏ sự chuyển động hay đặc
biệt ôm lấy sự yên tĩnh, mà cứ tiếp tục dòng hiện trú thuần túy
ấy của tâm bạn. Trạng thái an bình lan khắp của Thiền định ấy chính
là tâm bản nhiên,mọi sự khởi lên trong tâm không gì khác hơn là
tâm ấy chiếu ra. Đây là trái tim, là nền tảng của pháp hành thiền
Dzogchen. Một cách để tưởng tượng điều nầy là, như thể bạn đang cởi
trên tia mặt trời để trở về mặt trờI. Bởi theo dỏi ngay những niệm
khởi trở về căn nguyên của chúng, nền tảng tâm bản nhiên. Khi bạn
thể hiện sự bền vững của Kiến, thì bạn không còn bị đánh lừa và
chia trí bởi bất cứ gì sanh khởi, và do đó không thể làm mồi cho
vọng tưởng.
Dĩ
nhiên trong biển có sóng to, sóng nhỏ, có những cảm xúc mạnh kéo
đến như giận dữ, dục vọng, ganh tị. Hành giả thực thụ sẽ nhận chân
những thứ nầy không phải quấy rầy hay chướng ngại, mà cơ hội lớn.
Phản ứng lại mhững sinh khởi như thế với khuynh hướng thông thường
là chấp nhận và chối bỏ chính là những dấu hiệu chứng tỏ không
những bạn chia trí, mà còn không nhận ra được, và đã mất dấu Tâm
bản nhiên. Phản ứng lại cảm xúc bằng cách đó thì chỉ làm cho chúng
có thêm năng lực, và trói buộc chúng ta chặt chẻ hơn vào dây xích
vọng tưởng. Bí quyết lớn của Dzogchen là nhìn suốt những cảm xúc khi
chúng khởi lên, để thấy mặt thực của chúng là biểu hiện sống động
như điện chớp của chính năng lực Rigpa, Tâm bản nhiên. Khi bạn tập
dần cách làm nầy, thì ngay cả những cảm xúc rầy rà nhứt cũng không
thể tóm lấy bạn, mà tan biến như sóng lớn dậy lên rồi lùi lại chìm
vào đại dương yên tĩnh.
Hành
giả khám phá - và đây là một cái nhìn đảo lộn, mà sự vi tế và
năng lực của nó không thể suy lường - rằngkhông những cảm xúc mạnh
không thể kéo bạn đi,lôi bạn trở lại vào dòng nước xoáy của sự
thác loạn trong bạn,mà chúng có thể thực sự hữu ích để đào sâu,
làm mạnh thêm tăng cường Rigpa, trạng thái Tâm bản nhiên. Năng lực
vũ bão trở thành nguyên liệu để nuôi dưỡng cái năng lượng đã được
đánh thức của tâm bản nhiên. Cảm xúc càng mạnh, càng bốc lửa, thì
trạng thái tâm bản nhiên càng được tăng cường. Tôi thấy rằng phương
pháp độc đáo nầy của Dzogchen có mảnh lực ghê gớm để giải tỏa ngay
những vấn đề tâm lý và cảm xúc đã ăn sâu, thâm căn cố đế.
* * *
Bây
giờ tôi đưa ra cho bạn một lối giải thích giản dị về tiến trình nầy
hoạt động ra sao. Điều nầy sẽ vô giá về sau, khi ta xét đến những gì
xảy ra vào lúc chết.
Trong
Dzogchen, bản chất nội tại tự nhiên của mọi sự gì là Ánh sáng căn
bản hay Ánh sáng mẹ. Nó lan khắp lãnh vực kinh nghiệm của chúng ta,
và bởi thế cũng là bản chất nội tại của những tư tưởng và cảm
xúc khởi lên trong tâm ta nữa, mặc dù chúng ta không nhận ra điều
đó. Khi bậc thầy khai thị cho chúng ta bản chất chân thật của tâm,
tức là trạng thái Rigpa hay Tâm bản nhiên, thì điều ấy giống như
thầy cho ta một cái chìa khóa. Trong Dzogchen chúng ta gọi chìa khóa
ấy--sẽ mở cho chúng ta đến tri kiến toàn vẹn --là Ánh sáng đạo lộ hay
Ánh sáng con.Ánh sáng căn bản và Ánh sáng đạo lộ thực ra chỉ là
một, nhưng vì mục đích giảng dạy mà phân ra như thế Nhưng một khi có
được chìa khóa Ánh sáng đạo lộ nhờ sự khai thị của bậc thầy, thì ta
có thể sử dụng nó tha hồ để mở vào cánh cửa Bản tánh tự nhiên
của thực tại --sự mở cửa nầy được gọi theo Dzogchen là Gặp gở giữa
Ánh sáng căn bản và Ánh sáng đạo lộ hay Mẹ con gặp gở. Một cách
nói khác là, vừa khi một ý tưởng hay cảm xúc khởi lên, Ánh sáng
đạo lộ-Rigpa- nhận ra ngay bản chất cùa nó, tính nội tại của nó, là
Ánh sáng căn bản. Trong giây phút nhận ra nhau ấy, hai ánh sáng tan
hòa vào nhau, tư tưởng và cảm xúc được giải phóng ngay tại nền tảng
của nó. Điều cốt yếu là kiện toàn sự tập luyện hội nhập hai Ánh
sáng nầy và giải tỏa những móng tâm động niệm ngay khi đang sống,
bởi vì điều nầy xảy ra vào lúc chết, với tất cả mọi người là :
Ánh sáng căn bản xuất hiện trong vẻ huy hoàng rộng lớn, và mang theo
nó một cơ hội để giải thoát hoàn toàn--nếu, và chỉ nếu, làm thế
nào để nhận ra nó.
Danh
từ duy nhứt có thể diễn đạt được cái nầy là Không-Thiền. Trong trạng
thái ấy, theo lời các bậc thầy, dù bạn có đi tìm vọng tưởng cũng
không còn sót lại cái nào. Cho dù bạn muốn kiếm một hòn sỏi bình
thường trên một hòn đảo vàng ngọc, thì bạn cũng không cách nào tìm
được. Khi Kiến đã hiện diện liên tục, dòng tâm bản nhiên không
gián đoạn, sự hòa nhập hai Ánh sáng là tự nhiên, liên tục, thì mọi
vọng tưởngkhả hữu đều được giải tỏa ngay tại gốc của nó, và toàn
thể nhận thức của bạn khởi lên liên tục là tâm bản nhiên.
Những
bậc thầy nhấn mạnh rằng muốn ổn định được Kiến trong thiền định,
điều cốt yếu trước hết là hoàn tất sự luyện tập nầy trong một
khung cảnh đặc biệt của nhập thất, ở đây mọi điều kiện thuận lợi
đều sẵn có. Còn ở giữa sự tán loạn rộn ràng của thế gian, thì dù
bạn có thiền bao nhiêu, kinh nghiệm thực thụ cũng không phát sinh
được trong tâm bạn.
Thứ
hai, mặc dù trong Dzogchen không có sự khác biệt giữa thiền và đời
sống thường nhựt, song khi bạn chưa có được sự an trú vững vàng nhờ
thiền tập vào những thời khóa hẳn hòi, thì bạn không thể nào hội
nhập tuệ giác của thiền định vào kinh nghiệm hàng ngày. Thứ ba, ngay
cả khi bạn thực hành, bạn có thể an trú dòng tương tục Tâm bản
nhiên với niềm tin của Kiến. Nhưng nếu bạn không thể tiếp tục dòng
ấy vào mọi lúc và mọi tình huống, hòa lẫn sự tu tập với đời sống
hàng ngày của bạn,thì nó sẽ không làm phương thuốc cứu bạn được,
mỗi khi hoàn cảnh khó chịu nổi lên, và bạn sẽ bị ý tưởng, cảm xúc
dẫn cho lạc vào mê vọng.
Có
câu chuyện thú vị về một hành giả Dzogchen sống không khoe khoang,
nhưng lại có một đám đông đồ đệ. Có một ông thầy tu rất kiêu hảnh
về học vấn đa văn của mình, đâm ra ganh tị với hành giả mà ông biết
là không đọc sách nhiều. Ông ta nghĩ: Sao một người tầm thường như
thế dám dạy đệ tử? Sao y dám tự xưng thầy? Ta sẽ đến thử tri kiến
của y, cho lộ cái giả dối của y, và làm nhục y trước mặt đệ tử,
để bọn nầy bỏ mà theo ta. Bởi vậy y đến viếng vị hành giả, và hỏi
với vẻ khinh miệt : Này đồng bạn Dzogchen, có phải ông chỉ có thiền
mà thôi không?
--Thế
thì ông không thiền định gì cả sao?
Vị
hành giả trả lời một câu bất ngờ:
--Có
gì để thiền?
--Thế
thì ông không thiền định gì cả sao? vị học giả nói một cách đắc
thắng.
--Nhưng
có bao giờ tôi tán loạn đâu?, vị hành giả đáp.
c).
HÀNH: Khi sự an trú trong Tâm bản nhiên trở nên một thực tại, thì
bắt đầu thấm nhuần sự sống hàng ngày của hành giả, nuôi dưỡng một
sự ổn định, và niềm tin sâu xa. Dudjom Rinpoche nói:
-Hành
có nghĩa là thật sự ngấm nhìn những ý tưởng của chính bạn, xấu hay
tốt, nhìn suốt bản chất thật sự của bất cứ ý tưởng nào có thể
khởi lên, không truy tầm quá khứ cũng không mời mọc tương lai, không
để cho tâm bám víu vào một khinh nghiệm hạnh phúc, cũng không để cho
nó tràn ngập những tình cảm đau buồn. Khi làm như vậy, bạn cố đạt
đến và an trú trong đại xả, trong đó mọi tốt xấu, an nguy đều không
có lai lịch gì chân thực.
Sự
trực ngộ Kiến một cách tinh vi toàn triệt, sẽ thay đổi cái nhìn của
bạn đối với sự vật. Càng ngày tôi càng nhận rõ rằng chính ý tưởng
và khái niệm đã ngăn cản không để cho chúng ta luôn an trú trong
tuyệt đối. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao thầy tôi dạy :Hãy cố gắng
đừng tạo ra quá nhiều hy vọng hay lo sợ vì chúng chỉ tổ gây thêm sự
bám víu trong tâm. Khi Kiến có mặt, thì những ý tưởng được nhìn thấy
đúng như bản chất chúng,đó là phù du, trong suốt, và chỉ có tính
cách tương đối. Bạn thấy suốt mọi sự một cách trực tiếp như thể là
bạn có con mắt X-quang. Bạn không bám víu cũng không xua đuổi những
ý tưởng cảm xúc, mà chào tất cả chúng trong vòng ôm lớn rộng của
Tâm bản nhiên. Những gì mà trước đây bạn coi là rất quan
trọng--những tham vọng, kế hoạch, mong đợi, hoài nghi, đam mê--không
còn khống chế bạn một cách sâu xa nữa, vì chánh kiến đã giúp bạn
thấy được cái tống rỗng, phi lý của tất cả chúng nó, nhờ vậy phát
sinh trong bạn một tinh thần từ bỏ thật sự.
An
trú trong niềm tin và ánh sáng của Tâm bản nhiên làm cho ý tưởng
cảm xúc bạn được giải tỏa một cách tự nhiên không cần nỗ lực,
vào trong không gian rộng lớn của Tự Tính Tâm, giống như là viết chữ
trên mặt nước hay vẽ trên nền trời. Nếu bạn thật sự tu tập như thế
đến chỗ toàn vẹn, thì nghiệp không còn cơ hội để tích lũy, và trong
trạng thái buông xả hoàn toàn ấy, định luật nhân quả trong vòng
nghiệp báo không còn cách nào trói buộc bạn.
Đừng tưởng điều dễ. Thật vô cùng gây
go để an trú không xao lãng trong tự tánh của tâm, dù chỉ trong chốc
lát, chứ đừng nói giải tỏa một ý niệm hay cảm xúc ngay khi nó sinh
khởi. Chúng ta thường cho rằng chỉ vì mình hiểu được một điều gì trên
phương diện tri thức, hoặc tưởng mình đã hiểu, mà việc ấy có nghĩa rằng
mình đã thật sự đạt ngộ. Đấy là một ảo tưởng lớn lao. Cần phải có
sự lắng nghe, tư duy, quán tưởng, thiền định và thực hành kiên trì.
Và nhứt là thực hành Dzogchen luôn luôn cần sự hướng dẫn và khai
đạo của một bậc thầy đủ tư cách.
Nếu
không, thì sẽ có một mối nguy mà truyền thống nầy gọi là Kiến nuốt
mất Hành. Một giáo lý cao siêu mảnh liệt như Dzogchen kéo theo một
nguy cơ trầm trọng. Khi tự lừa dối mình --tưởng mình đã giải thoát
hết tư tưởng cảm xúc, mà kỳ thực tuyệt nhiên bạn chưa có khả năng
làm chuyện ấy; hoặc tưởng mình đang hành động một cách tự nhiên như
thiền sư Dzogchen thực thụ --thì bạn chỉ có đang kết nạp,tích lũy vô
số ác nghiệp. Như Padmasambhava nói, và điều nầy chúng ta đều nên
có, là:
-Mặc
dù Kiến ta bao la như bầu trời, mà hành động và niềm tôn kính đối
với nhân quả nơi ta nhỏ nhiệm, vi tế như hạt bụi.
Ngay
trong một hành giả Dzogchen cao cấp nhất, nỗi buồn niềm vui hy vọng
sợ hải vẫn còn nổi lên như trước. Cái khác nhau giữa một người
thường với một hành giả là cái cách họ nhìn cảm xúc của họ và
phản ứng đối với những cảm xúc đó. Một người thường sẽ theo bản
năng mà chấp nhận hay chối bỏ ngay những cảm xúc, và thế là khơi
dậy ràng buộc hoặc chán ghét, kết quả là tích lũy thêm ác nghiệp.
Nhưng một hành giả Dzogchen thì nhận ra mọi sự khởi lên trong trạng
thái trong sáng tự nhiên của nó, không để cho sự chấp thủ khởi lên
trong nhận thức của mình.
Dilgo
Khientse Rinpoche mô tả một hành giả lang thang qua một khu vườn. Ông
hoàn toàn tĩnh giác trước vẻ đẹp huy hoàng của những đóa hoa, thưởng
thức màu sắc, hình dáng, mùi hương của chúng. Nhưng không có một dấu
vết nào của sự bám víu ở nơi ông, hay bất cứ một hậu ý nào trong
tâm. Như Dudjom Rinpoche nói:
-Bất
cứ nhận thức gì khởi lên, bạn hãy nên làm như một đùa trẻ đi vào
một ngôi chùa trang hoàng lộng lẫy. Nó nhìn mà sự bám víu tuyệt
nhiên không đi vào nhận thức của nó. Cứ thế bạn để mọi sự ở
nguyên trong trong trạng thái mới mẻ, tự nhiên, sống động,, vô nhiễm
của nó. Khi bạn để mọi sự ở nguyên trạng thái nó, thì hình dáng nó
không thay đổi, màu sắc không phai nhạt, vẻ sáng sủa của nó không
biến mất. Bất cứ gì xãy đến không bị ô nhiểm bởi chấp thủ nào,
bởi thế tất cả gì bạn thấy đều khởi lên như là trực giác trần tục
của ( Rigpa ) Tâm bản nhiên, và vốn là sự ất khả phân của ánh
sáng và hư không.
Sự
hài lòng, tin tưởng, sự trong sáng khoáng đạt, sức mạnh và tính hài
hước sâu xa, niềm xác tính khởi lên do sự trực nhận chánh kiến về
Tâm bản nhiên, là kho tàng vĩ đại nhất của cuộc đời, là hạnh phúc
tối thượng, mà một khi đã đạt đến, thì không có gì phá hủy, ngay cả
cái chết.
Dilgo
Rinpoche nói:
-Một
khi bạn đã có chánh kiến, thì dù cho những nhận thức lừa dối của
sinh tử vẫn còn khởi lên trong tâm, bạn vẫn như bầu trời: khi một
cầu vòng xuất hiện trước mặt, nó cũng không lấy làm hãnh diện, mà
khi mây mù xuất hiện, nó cũng không lấy làm buồn bực. Có một cảm
giác sâu xa về sự hài lòng. Bên trong bạn cười thầm khi thấy mặt
tiền của niết bàn và sinh tử. Chánh kiến làm cho bạn luôn luôn vui
vẻ, một nụ cười hàm tiếu luôn nở trong
tâm.
Duljom
Rinpoche nói:
- Khi
đã thanh lọc ảo tưởng lớn, bóng đen của tâm thức, thì tia sáng của
mặt trời không bị ngăn bít cứ liên tục chiếu ra. (tr.218 - 237)
IV. CÁI
CHẾT CỦA SỰ SỐNG TỰ TẠI
1).- Hành Trì Cho Người Sắp Chết :
(Tạng Thư Sống Chết)
Toàn
thể thái độ của đạo Phật đối với lúc chết có thể tóm tắt trong
đoạn thơ sau của Padmasambhava trong Tử Thư Tây Tạng:
Khi
Trung Ấm chết xuất hiện
Tôi
sẽ từ bỏ mọi chấp thủ, khát khao, lưu luyến
Thể
nhập không tán loạn vào minh sát giáo lý
Và
chiếu tâm tôi vào trong không gian của tự tánh vô
sanh
Khi
xả cái thân do máu thịt tập hợp này
Tôi
sẽ biết nó chỉ là phù du mộng huyễn.
Đức
Dalai Lama giải thích:
=Vào
lúc chết, những thái độ ta đã quen thói từ lâu thường thắng lướt
để hướng dẫn tái sanh. Cũng vì lý do nầy, sự chấp thủ mảnh liệt
đối với tự ngã được phát sinh, vì người ta sợ tự ngã mình đang biến
mất, Sự chấp thủ nầy
là dây nối ở khoảng giữa
hai đời sống. Ước muốn có một thân xác mới là cái nhân để tạo ra
thân Trung Ấm.
Có ba
pháp hành trì cho sự chết:
a) Tốt nhất là
an trú trong tự tánh tâm, hay gợi lên tâm yếu của sự tu tập.
b) Kế tiếp pháp
chuyển di tâm thức;
c) Cuối cùng,
dựa vào năng lực của cầu nguyện, sùng kính, nguyện lực và ân sủng
của các bậc giác ngộ;
Những
hành giả thượng tặng về Dzogchen đã hoàn toàn trực nhận tự tính tâm
trong suốt đời họ, nên khi chết, họ chỉ cần tiếp tục an trú trong
trạng thái Rigpa, khi làm cuộc chuyển tiếp qua sự chết.Họ không cần
chuyển di tâm thức vào một vị Phật nào, hay cõi Phật nào, vì họ đã
thực chứng tâm giác ngộ của chư Phật ngay trong chính họ. Cái chết
đối với họ là giải thoát tối hậu--cao điểm của sự chứng đắc, tột
đỉnh của một đời tu tập. Tử Thư Tây Tạng chỉ có vài lời nầy để
nhắc nhở một hành giả như vậy :
-Bạch Ngài, bây giờ Ánh
Sáng căn bản đã lố dạng. Hãy nhận ra, và an trú trong sự tu tập.
Người
ta nói những người đã hoàn tất pháp tu Dzogchen thì chết như một hài
nhi mới sanh, không một chút lo âu quan tâm về sự chết. Họ không
cần quan tâm về chuyện họ chết lúc nào ở đâu, họ cũng không cần
gì đến những lời dạy, chỉ dẫn, hay nhắc nhở.
Những
hành giả trung bình hạng nhất thì chết như hành khất trên đường.
Không ai để ý đến họ, không gì có thể quấy rầy họ. Vì họ đã tu
tập vững vàng, nên tuyệt đối không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh xung
quanh. Họ có thể chết dễ dàng trong một bệnh viện bận rộn, hay ở
nhà giữa một gia đình đang tranh chấp rộn ràng. (tr.309,10,317)
2). Tự Tại Khi Chết (Tự Gia Bảo)
Người
tu thiền cốt yếu được sanh tử tự tại, khi còn sống cũng như khi chết
mình hoàn toàn làm chủ. Muốn làm chủ khi chết, chính lúc còn sống
mình phải làm chủ cả thể xác lẫn tâm hồn. Như Thiền sư Đạo Giai
nói: Muốn biết khi chết được tự tại không tự tại, chỉ xem hiện tại
tự do chẳng tự do.
Tự do
đây có nghĩa là mình làm chủ mình hoàn toàn, không phải tự do đối
với xã hội. Đối với danh vọng tài sắc...không quấy nhiểu được ta,
đối với khổ vui sống chết... không phiền lụy đến ta, ta sống trong
cuộc đời phồn tạp, mà vẫn không vướng bận, như cây bá hiên ngang
đứng sừng sựng giữa trời.Trong khi sống tự tại như vậy đến lúc chết
làm gì chẳng tự do. Tại sao được như vậy? Bởi vì chúng ta đã thấy rõ
cái không sanh tử trong cái sanh tử, cái chơn thật nằm trong cái giả
dối. Các Thiền sư vì sống với cái chơn thật nên không màng đến cái
giả dối, sống với cái không sanh tử nên làm chủ được cái sanh tử.
Chúng ta hãy xem cái chết của vài Thiền sư sau:
--Trước
khi sắp tịch, Thiền sư Đặng Ẩn Phong hỏi chúng Tôi thường thấy các vị
tiền bối khi tịch hoặc ngồi hoặc nằm, có vị nào đứng tịch chăng?
Chúng thưa: Có. Sư hỏi: Có vị nào đứng lộn ngược mà tịch chăng?
Chúng thưa: Chưa từng thấy. Sư bèn lộn ngược mà tịch, nhưng y phục vẫn
nguyên vẹn như đứng... (Đặng Ẩn Phong là đệ tử của Mã Tổ).
--Vua
Đường Mục Tông sai Lưỡng Nhai Tăng Lục là Linh Phụ...đến thỉnh Thiền
sư Vô Nghiệp về triều. Linh Phụ đến làm lễ thưa : Hoàng Thượng ân
chỉ phen nầy chẳng giống lúc thường, xin Hoà Thượng thuận thiên tâm,
không nên nói bịnh. Sư cười chúm chím nói: Bần đạo có đức gì làm
phiền thế chủ. Mời Ngài đi trước tôi sẽ đi đường riêng. Sư bèn tắm
gội, đến giữa đêm bảo đệ tử Huệ Âm v.v...: Các ngươi! Tánhthấy nghe
hiểu biết cùng hư không đồng tuổi, chẳng sanh chẳng diệt, tất cả
cảnh giới vốn tự không lặng, không một pháp có thật, người mê
không hiểu bị cảnh làm lẫn, trôi lăn khôn cùng... Nói xong Sư ngồi
yên thị tịch.(cũng đệ tử Mã Tổ)
--Ông
Bàng Long Uản sắp tịch, bảo con gái là Linh Chiếu ra xem mặt trời
đúng ngọ vô cho ông hay. Linh Chiếu ra xem, vào thưa : Mặt trời đã
đúng ngọ mà có nguyệt thực. Ông ra cửa xem. Linh Chiếu lên tòa của
ông ngồi kiết già chấp tay thị tịch. Ông vào xem thấy cười và nói:
Con gái ta lanh lợi quá. Ông bèn chậm lại bảy ngày sau. Đến ngày
thứ bảy, Châu Mục Vu Công đến thăm, ông bảo: Chỉ mong các cái đều
không, để đặt các cái không đều thật, khéo ở thế gian đều như bóng
vang. Nói xong, ông nằm gối đầu trên gối Vu Công mà tịch (cũng đệ
tử Mã Tổ).
--Thiền
sư Lương giới Động Sơn cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh
chuông, giả từ chúng mà tịch. Đại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư
mở mắt bảo: Người xuất gia tâm chẳng dính mắt nơi vật là tu hành
chân chánh. Sống nhọc thích chết, thương xót có ích lợi gì? Sư bảo
chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn quyến luyến quá,
kéo dài đến ngày thứ bảy. Khi thọ trai, Sư cũng theo chúng thọ. Thọ
trai xong, Sư bảo chúng : Tăng già vô sự, sắp đến giờ ra đi, chớ làm
ồn náo. Sư vào trượng thất ngồi yên tịch (Sư dệ tử Vân Nham).
--Chỉ
Y Đạo Giả đến tham vấn Tào Sơn Bổ Tịch. Tào Sơn hỏi : Đâu chẳng phải
Chỉ Y Đạo Giả ư? Đạo Giả thưa: Chả dám. Tào Sơn hỏi: Thế nào là
việc của Chỉ Y? Đạo Giả thưa: Chiếc áo cừu vừa khoát ngoài thân,
muôn pháp thảy đều như. Tào Sơn hỏi :Thế nào là dụng của Chỉ Y? Đạo
Giả lại gần: Dạ! liền đứng tịch. Tào Sơn bảo: Ngươi chỉ giỏi đi thế
ấy, sao chẳng giỏi đến thế ấy. Đạo Giả mở mắt hỏi: Một chơn tánh
linh khi chẳng nương bào thai thì thế nào? Tào Sơn bảo: Chưa phải diệu.
Đạo Giả hỏi: Thế nào là diệu? Tào Sơn bảo: Chẳng mượn! mượn! Đạo
Giả trân trọng liền tịch (Đệ tử Động Sơn).
--Một
hôm Phổ Hóa ở trong chợ đến một người xin chiếc áo dài, mọi ngườI
đều cho, Phổ Hóa đều chẳng nhận. Lâm Tế dạy Viện Chủ mua chiếc quan
tài. Phổ Hóa về đến, Lâm Tế bảo: Tôi đã vì ông sắm chiếc áo dài
rồi. Phổ Hóa liền tự vác đi. Phổ Hóa đi quanh phố chợ rao: Lâm Tế
cho tôi chiếc áo dài rồi, tôi sang cửa Đông tịch. Người trong chợ đua
nhau đến xem. Phổ Hóa bảo: Tôi ngày nay chưa tịch, ngày mai sang cửa
Nam mới tịch. Như thế đến ba ngày mọi người đều chẳng tin. Đến ngày
thứ tư không ai theo xem, một mình Phổ Hóa tự chung vô quan tài, nhờ
người đi đường đăy nắp lại. Tin truyền đi mọi người trong chợ đua nhau
đến dở quan tài xem,không thấy thi hài Phổ Hóa đâu, chỉ nghe trong hư
không tiếng mỏ xa dần, xa dần rồi mất (Đệ tử Bàn Sơn).
--Thiền
sư Thiện Chiêu bị Y Lý Hầu ba phen thỉnh trụ trì chùa Thừa Thiên mà Sư
không đi. Sứ giả bị phạt. Y Lý Hầu lại sai sứ đi phen nữa. Sứ giả
đến thưa: Quyết thỉnh thầy đồng đi, nếu thầy không đi tôi liền chết
mà thôi. Sư cười bảo : Bởi nghiệp già bịnh không thể xuống núi, giả
sử đi có trước sau, tại sao quyết đồng? Sứ giả thưa: Thầy chịu đi thì
trước sau tùy lựa chọn. Bảo chúng sữa soạn xong, Sư gọi chúng lại
nói : Lão tăng đi có người nào theo được? Có vị tăng thưa : Con theo
được. Sư hỏi: một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm. Tăng thưa: Năm
mươi dặm. Sư bảo: Ngươi theo ta chẳng được. Lại có vị ra thưa : Con theo
được. Sư hỏi: một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm? Tăng thưa: Bảy
mươi dặm. Sư bảo, ngươi theo ta cũng chẳng được. Thị giả ra thưa, con
theo được, Hòa Thượng đến đâu con đến đó. sư bảo, ngươi theo lão tăng
được. Nói xong, Sư bảo thị giả, ta đi trước nghe! Sư dừng lại rồi tịch.
Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. (Sư đệ tử Thiền sư Tĩnh Niệm dòng
Lâm Tế)
Tạm
dẫn bấy nhiêu đó cũng khá rườm rà rồi. Tuy nhiên đối với các
Thiền sư có những cái kỳ đặc. Song đầy chẳng phải quan trọng, vì là
diệu dụng. Cái quan trọng nhất trong nhà thiền là sống được tánh
giác của mình, nó mới là bản thể. Bản thể là cái gốc, diệu dụng
là cái ngọn. chỉ lo không bám được gốc, đừng sợ mất ngọn. Khi sống
được với thể giác rồi thì mỗi hành động nào cũng là thần thông
diệu dụng cả. Ông Bàng Long Uẩn với kệ:
Dịch
Nhật
dụng vô biệt sự: Hàng ngày không việc khác
Duy
ngộ tự ngẫu hài: Chỉ tôi tự biết hay
Đầu
đầu phi thủ xả: Vật vật chẳng lấy bỏ
Xứ
xứ vật trương oai: Chỗ chỗ nào trái bày
Châu
tử thùy vi hiệu: Đỏ tía gì làm hiệu
Khưu
sơn tuyệt điểm ai: Núi gò bặt trần ai
Thần
thông tịnh diệu dụng: Thần thôngcùng diệu dụng
Vận
thủy cập ban sài: Gánh nước bửa củi tài
Thần
thông ở đây là gánh nước bửa củi,vì mọi hành động ấy đều từ thể
giác phát xuất. Chúng ta lại nghe một bà già trình thần thông.
Thiền
sư Nam Tuyền, Quý Tông, Ma Cốc đi hành cước đến một cái quán của bà
lão. Quý vị kêu bà đem trà, bà bảo: Quý thầy trình thần thông rồi
sẽ uống trà.
Quý
vị đưa mắt nhìn nha. Bà bảo: Quý thầy xem già nầy trình thần thông.
Bà liền tay cầm bình trà, tay bưng chung trà, nghiên rót vào chung để
xuống. Quả là thần thông trong hành động, đừng nghĩ thăng thiên độn
thổ mới là thần thông. Bởi bất cứ nột tác động nào lưu xuất từ
bản thể đều là diệu dụng, khổ nỗi người ta hiện giờ chỉ trọng thần
thông diệu dụng mà quên bản thể. Vì thế nên dễ lạc vào đường tà,
chính quỉ thần vẫn được ngũ thông,làm sao giản trạch được đâu tà
đâu chánh. Chỉ một bề trở về tánh giác là muôn đời không lầm.
Tóm
lại diệu dụng của người tu thiền tông là nhận ra tánh giác của
chính mình, tánh giác nầy không sanh không diệt không tướng mạo mà
hằng giác. Bởi hằng giác nên chẳng phải không, không tướng mạo nên
chẳngphải có. Sống được với tánh giác là thoát ly sanh tử, tuổi
thọ tánh giác đồng với hư không. Cho nên trong kinh nói tuổi thọ của
Phật không biết bao nhiêu tính kể. Đạt được tuổi thọ vô lượng vô
biên ấy, còn gì hạnh phúc bằng, còn gì quí bằng. Sống vớicái vĩnh
cữu chẳng sanh chẳngdiệt nầy, mới thực là đến chỗ chân thật tuyệt
đối. Còn có gì ở thế gian có thể so sánh với tánh giác. Tánh giác
nầy mới thực ta (Chơn Ngả), tánh giác không bao giờ mất (Chơn
thường), tánh giác là chơn thực hạnh phúc (Chơn lạc), tánh giác
không có gì ô nhiễm được (Chơn tịnh). Sống đến chỗ chơn ngã, chơn
thường, chơn lạc, chơn tịnh nầy, mới là điểm cứu cánh của thiền
tông.
Trong
khi trở về cái chơn thật thì mọi cái giả dối giảm thiểu khả năng
lôi cuốn chúng ta. Từ từ ta làm chủ lại chúng ta,điều khiển chúng
theo chỗ muốn của chúng ta.
Mọi khổ đau buồn thảm tự
suy thoái, không còn là điều quan trọng đối với chúng ta nữa. Với
cái thân giả tạm, cái vọng tưởng hư ảo sắc trần không hoa nầy, còn
nghị lực gì trói buộc chúng ta được. Bởi thấy được ông chủ thật sự
của mình, mọi khách trần là trò đùa, nên Thiền sư tự tại ra đi
(tr.339-344).
KẾT LUẬN
Khi Thấy
(Chánh Kiến) mọi sự vật đều giả lập, thì tiến trình tri thức đúng
về cái nhận thức sai lầm của chủ khách đưa chúng ta đến giác ngộ.
Nhận thức sai lầm của nhị nguyên đối đãi là nhận thức căn trần mà
căn trần đều là giả lập, như đã giải thích, thì nhận thức ấy làm
sao đúng. Cho nên Tánh Giác là thể nhận nơi thực tướng của sự vật.
Thực tướng của sự vật là Tánh Không. Tánh Giác là Thiệt Hư Không;
sự vật mà Tâm thể nhập nơi dung thể Không của nó cũng là Hư Không.
Vạn vật đồng nhất thể (tâm lẫn vật) là đồng thể Không. Cho nên
Tánh Giác (Biết) là trực nhận nơi thể Không của sự vật.
Chúng
ta có thể thực hiện Tánh Giác bằng cách dùng Tâm ( Biết do trực
nhận không qua ý thức của căn trần) để BIẾT CÁI BIẾT CỦA CĂN
TRẦN.
Cái
biết của căn trần (chủ khách) là năng sở. Tánh biết của năng sở
cũng là Tánh Không nhưng giới hạn ở các căn. Cho nên cái Biết của
Tâm (Tánh Giác) là Hư Không bao la vô giới hạn hòa nhập tánh không
của sự vật (Dung thể không hay tướng không của đối tượng) biến
thành một khối vô phân biệt của Hư Không. Đó là thể nhập chốn tịch
tĩnh y nhiên, hay thực tế mà nói, Biết cái mình biết là Tánh Giác.
Biết do Tâm (Tánh Giác) cái mình biết do căn trần (chủ khách hay
năng sở). Tiến trình nầy làm cho năng sở song vong. Tánh Giác vượt
khỏi năng sở.
Thiền sư Duy Tín đời Tống nói:
Trước ba mươi năm, tôi thấy núi sông là núi sông. Sau gặp thiện hữu
tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải là
núi sông. Nay được chỗ dứt sạch ( thể nhập nơi tịch tĩnh y nhiên )
thấy núi sông là núi sông.
Trước
ba mươi năm chưa tu, dùng trí phân tích (thường trí ) của căn trần, chủ
khách thì thấy núi sông là núi sông. Sau vào tu, gặp thiện tri thức
chỉ dạy thì dùng trí phân biệt (thời gian huyễn hóa sự vật) thì thấy
núi sông không phải là núi sông thật như ta vừa thấy nữa. Vì trong
một sát na khoảnh khắc núi sông ta đang thấy không còn thật là nó
nữa, đã huyễn hóa rồi, đã thêm 1 sát na tuổi. Nhìn trên khía cạnh
thời gian thì nó không còn thật là nó nữa, đã biến thái rồi. Khi
thể nhập vào chốn tịch tĩnh y nhiên, tức là trực nhận nơi thực tướng
của sự vật, ngay khi thấy núi sông thì Biết (nhận thức) cái mình
biết là núi sông. Đó là thực Biết hay Biết cái thực tướng của núi
sông.
***
Các pháp tu dùng phương tiện để hàng phục vọng tâm, triệt tiêu tất
cả các vọng tưởng, nghĩa là giảm trừ các vọng tưởng cho đến đổi
dường như không còn vọng tưởng, nhưng
kỳ thực chỉ còn có một vọng tưởng duy nhất mà thôi đó là nhứt
niệm vô minh. Tiến trình giảm trừ đến cực tiểu e # 0 (gần bằng số
không, nhưng chưa phải là không).
Nhứt
niệm có công năng phi thường, xuyên qua lớp mây mù dày đặc của thế
giới vọng tưởng, mà đến một thế giới sáng lạng sẵn dành cho hành
giả sử dụng những phương tiện tương ứng. Vì khi hành giả tập trung
vào một ý tưởng hay một ý niệm nào thì ý tưởng ý niệm đó sẽ sáng
tỏ vô cùng. Thế giới mà nhứt niệm đạt được như Tây Phương cực lạc,
A Di Đà Vô Lượng Quang, Thiên Đàng v.v...Từ thế giới công ước đó,
hành giả có đủ năng lực thể nhập vào thế giới vô phân biệt,
tuyệt đối.
--
Một thí dụ về công năng của nhứt niệm mà người thế gian dùng để
đạt đến mục đích nào đó của họ, đó là dùng sức mạnh của tư tưởng
để nghiên cứu khoa học chẳng hạn. Còn như các pháp thiền quán
tưởng, công án hay thoại đầu, ngay cả niệm Phật dùng thân khẩu ý
(tay lần chuổi, miệng niệm Phật, ý nhận ngay tánh nghe), hoặc niệm
chú cũng dùng thân khẩu ý (tay bắt ấn, miệng niệm chú,ý quán
tưởng) cũng là đi đến nhứt niệm. Riêng về niệm Phật và niệm chú
dùng tam nghiệp tập trung đến nhứt niệm thì công năng đó mạnh mẻ phi
thường, gấp ba lần với ý tưởng, vì quá kiên cố, không có kẻ hở để
cho một niệm khởi nào xen vào.
--Chẳng
hạn,niệm chú, theo Mật Giáo Thậm Tâm Nội Nghĩa, Những phương pháp tu
tập liên quan đến việc đầu tiên là là hành giả phải chăm chú nhứt
tâm nhìn vào biểu tượng cho đến khi biểu tượng có thể ảnh hiện rõ
ràng và vững chắc trong tâm. Kế đến, hai tay kiết ấn Nhập vào, hành
giả quán tưởng hình ảnh kia trong tâm (tại trái tim). (tr.153)
***Rõ
ràngcách niệm chú chỉ là sự tập trung cao độ của thân nhãn nhĩ ý
thôi. Đã trình bày trước, lục căn không có thực thể, lục trần
(biểu tượng) cũng vậy, thì lục thức (ý thức) làm sao thoát khỏi
đường sanh diệt. Ngay quan niệm tức thân thành Phật thành Phật ngay
xác thân còn sống thì không có trái lẻ vì thành Phật là giác ngộ
Niết Bàn, đạt được Tánh Giác, là sự sáng suốt tuyệt đối.Tánh Giác
hay Phật Tánh không sanh không diệt, chớ thân thành Phật mà còn sanh
diệt vô thường, rồi ngày kia sẽ chết, làm sao gọi Thân là Phật
được! Cái bất sanh bất diệt là chân lý tuyệt đối chỉ hiễn bày trong
tâm giác ngộ mà thôi: Tánh Giác hay Pháp Thân hay gọi là Phật. Còn
các căn hay trần (thân xác) chỉ là phương tiện (chiếc thuyền) chớ
không thể trở thành Phật, (Pháp Thân,Tánh Giác, Cứu Cánh) được.
--
Một thí dụ khác, một đơn vị (a) gồm có thân xác và tinh thần như
chiếc bình không cũng gồm có cái võ bình trong chứa không khí. Trong
đơn vị (a) có thể nói gồm có hai thành phần khác nhau, chớ không thể
nói hai thành phần ở chung cùng một đơn vị là đồng nhứt. Đồng nhứt
là cùng một thể hòa hợp nhau. Nhắc lại cái bình là dụng cụ chứa
không khí; khi cái bình bị vỡ (vô thường), thì không khí trong bình hòa
tan vào hư không. Hư không thì không sanh không diệt bao la vô giới
hạn. Cũng như thế, thân xác thì vô thường (sanh già bịnh tử), còn
tâm thì bất sanh bất diệt. Do đó muốn giải thoát khỏi cảnh vô
thường khổ đau phiền não của thân huyễn hóa để nắm bắt cái pháp
thân bất sanh bất diệt là chỉ có tri thức đúng (giác ngộ) cái nhận
thức sai lầm của căn trần chủ khách đối đãi của thế giới tương đối
mà thể nhập thực tướng Niết Bàn Tuyệt Đối.
Thực
tế, cái huyễn hóa không thể nghĩ bàn (không còn suy nghĩ phân biệt
gì ngoài biểu tương giả lập) được tập trung cao độ đến đâu đi nữa
cũng chỉ là huyễn hóa mà thôi. Tuy vậy cái huyễn hóa của biểu
tượng nầy trở nên quá rõ ràng, vì sự tập trung cao độ như thế tạo
thành các ý thức trùng trùng duyên khởi của chỉ một biểu tượng
trong tâm; đó là ký ức quá mẫn của một tâm trạng phi thường của
một chúng sanh đặc biệt.
Theo Tâm lý học, ảo giác đó quây quần trong tâm trí mãi
biến thành hai hậu quả như kể ra từ trước.
--Trong kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, xem thần chú là một biểu
tượng giả lập, phải dùng chân trí (Quán tự tại) nhận ngay thực
tướng của nó. Tánh Không của thần chú hiển lộ qua quán tự tại
nghĩa là dùng Tánh Giác (Thiệt Hư không) thể nhập thể không của
thần chú, mới vượt khỏi mọi nhân duyên chằng chịt, khổ đau, luân
hồi của thế giới tương đối.
Nói
cách khác, niệm Phật, niệm chú, hay khán công án là nhằm mục đích
đạt đến cứu cánh của một thực tại công ước với công năng to lớn,
là quá sáng suốt, hội nhập vào thế giới vô lượng quang hay thế
giới của đức Đại Nhựt Như Lai.
--Phương
tiện biện minh cho cứu cánh là lịch trình nhân quả được Tâm lý học
giải thích như sau:
-Ý
tưởng mà một người có được về kinh nghiệm tương lai là do kinh nghiệm
hiện tại của hắn dẫn đến đó.
(The idea that a person has
about his future experience guides his present experiences in that direction.
(Trancewwork,
p. 93)
Đó
là vai trò của khả năng dự tri về kinh nghiệm. Loại quá trình nầy
gọi là chu trình định hướng trong địa hạt
của lý thuyết hệ thống phân loại.
***
Còn các pháp bổn Bổn như vô pháp (Tánh Giác) dường như không có
pháp nào, tự nhiên, nhẹ nhàng, thoải mái. Vậy điều kiện cần và đủ
để đạt Tánh Giác là:
-Cần
trực nhận được thực tướng sự vật (vô không gian); và
-Đủ
là không bám víu vào sự vật đó (vô thời gian). Cũng giống như hàng
phục vọng tâm và an trụ tâm tronh kinh Kim Cang, hay trong Bát Nhã Tâm
Kinh là Sắc bất dị không, thực tại giả lập và thể không của nó là
một.
Vậy
muốn đạt chơn tâm, hành giả thể nhập nơi thực tướng của sự vật. Đó
là chân lý tối hậu, hay chân lý tự nó,
là chơn ngã, chân như, căn bản trí, trí vô sư v.v...
***
Thắp sáng hiện hữu là thường thấy rõ ràng từng khoảnh khắc hiện
tại tức là trực nhận sự vật vô thời không. Khi nhận ngay nơi tánh
không của sự vật là ta đã giảm trừ tất cả khoảng không gian bên
ngoài của sự vật, chỉ nắm bắt ngay cái dung thể không mà sự vật
chiếm cứ trong không gian. Bề ngoài mà xét, thì giảm thiểu tối đa và
không còn khoảng không gian nào trống ngoài sự vật cả : vô không
gian. Ngay đó (hiện hữu)ta thường thấy rõ ràngsự vật, không có quá
khứ và tương lai xen vào cái Biết của ta : vô thời gian.
Trong
khoảnh khắc hiện tại là kẻ hở giữa quá khứ và tương lai,
nói theo thiền Dzogchen. Ta kéo dài kẻ hở đó là thiền. Thắp sáng
hiện hữu là hành trình sinh hoạt bình thường với sự kéo dài cái
khoảnh khắc hiện hữu ấy.
Trên
đường dài của thời gian, sự vật được ta trực nhận ngay thực tướng
của nó trong khoảnh khắc hiện hữu từng khoảnh khắc với từng sự vật
liên tục xảy ra và mỗi sự vật được hiện quán chỉ trongmột khoảnh
khắc mà thôi. Vì thời gian huyễn hóa sự vật, nên Tánh giác phải
thể nhập thực tướng của sự đó ở từng giai đoạn khoảnh khắc hiện
quán: vô thời không hay thực tại tuyệt đối.
Tuy
nhiên, chúng ta có thể nắm bắt hiện hữu ở khoảnh khắc vô thời
gian, thì chúng ta chỉ loại trừ các vọng tưởng.
Như ta
thấy cây gậy ngay khoảnh khắc hiện quán, chỉ có cây gậy mà thôi,
không có gì ngoài cây gậy, đó là triệt tiêu tất cả các vọng tưởng
khác. Trong trường hợp nầy ta nắm bắt chỉ có một thực tại giả lập
duy nhứt, kết quả là giải thoát tất cả mọi vọng tưởng khác ra khỏi
tâm ta.
Trong
tiến trình thắp sáng hiện hữu nầy, ta cần giải tỏa cả thực tại giả
lập bằng giác tĩnh nghĩa là, khi ta thấy cây gậy (căn trần), thì ta
Biết ta thấy cây gậy. Thường biết do thấy (năng tri) và nhận Biết
là Giác. Cho nên ta thấy cây gậy Biết là cây gậy. Nói một cách
khác, Thắp sáng hiện hữu, tức dùng cái thấy và nhận Biết, hoặc
giả, ngay cái thấy trực nhận thực tướng(thể không) của sự
vật: vô thời không.
Mặc
dù trực nhận thể không của sự vật trong khoảnh khắc, là vượt khỏi
khỏi thời không, chúng ta cần phải ưng vô sở trụ thì vô sở bất
tại, nghĩa là không trụ vào thời không (sự vật hiện quán) là vượt
khỏi thời không. Bất cứ chỗ nào trong khoảnh khắc đều nắm bắt thực
tại; nên không có chỗ nào mà không có thực tại.Vậy Tánh Giác
làThiệt Hư Không nên bao la rộng khắp và vô giới hạn.
***
Thắp sáng hiện hữu là lối sống của một tâm trạng bình thường của
những người biết nắm bắt thực tướng của sự vật. Nắm bắt thực
tướng sự vật bao gồm cả ngũ uẩn. Những vọng tưởng
hoặc cảm thọ như khổ đau vui buồn v.v... cũng phải thấy rõ ràng
(chánh kiến) nó không có thực thể, từ đó giải quyết chúng theo tinh
thần Trí Bát Nhã:
1).
Một là dùng Trí phân tích, Sắc tức thị không,sắc chỉ là tổng hợp
các chất khác (tứ đại) mà hợp thành nó. Trí phân tích là cái nhìn
sự vật trong không gian với một điều kiện nào đó của thời gian.
Thường sự vật được phân tích, người ta truy nguyên nguồn gốc xuất xứ
của nó trong quá trình hình thành. Cho nên người ta thường trở lại
quá khứ để tìm dấu vết các nhân tố hợp thành. Như cái bàn trước
mắt chẳng hạn, ta phả lùi lại quá khứ xem lại thành phần tạo ra
nó. Nào gỗ, nào đinh, nào sơn v.v...đã dùng kỹ thuật lắp ráp lại
theo hình dáng cái bàn mà ta đang thấy đây.
2).
Hai là Trí phân biệt, Sắc tức thị không Sắc tức thì biến thành không
thật là nó nữa theo thời gian huyễn hóa.
Cái
trí phân biệt là cái nhìn sự vật theo thời gian, người ta có thể
dùng hai trí trên để giải tỏa nỗi buồn niềm vui, vọng tưởng ngay
khi nó khởi lên,thì nhìn xem nó như là huyễn hóa không thật.
Tri vọng hoặc tri huyễn lìa
vọng hay huyễn ngay, là lối xa lìa mọi sự giả vọng rất hữu hiệu.
3). Ba
là Trí vô phân biệt. Sắc không khác không.
Muốn
hiển bày Tánh Giác, thì xem khổ đau hay vọng tưởng là những đối
tượng hiện quán (như các sự vật giả lập), ta nên nắm bắt thực
tướng cuả chúng. Cảm thọ, hay Tưởng, Thức được xem như là
thực tại giả lập. Thể Không của chúng chỉ hiển lộ trong khoảnh khắc
hiện tại, tức là vô thời không. Vậy khi một vọng tưởng khởi lên,
ngay đó ta xem nó là huyễn hóa (Trí phân biệt) hoặc nhìn thẳng thể
trong sáng của nó, tức là thể Không (Trí vô phân biệt). Tức là tri
nhận nơi thực tướng của vọng tưởng (ngũ uẩn giai không), thì vọng
tưởng đó làm gì ảnh hưởng đến tâm trí ta.
--Tâm
trạng bình thường của một một người tu hành và một người thường thế
tục thì có khác nhau.Thiền sư Huệ Hải cũng có cùng một ý trên, khi
được hỏi:
-Sự
tu hành của Ngài như thế nào?
Sư
bảo:
-Đói
thì ăn, mệt thì ngủ.
Người
hỏi bảo:
-Như
vậy thì Ngài giống hệt như người thế gian. Người thế gian cũng đói
thì ăn, mệt thì ngủ, Ngài có gì hơn đâu?
Sư
đáp:
-Người
thế gian đói mà không chịu ăn, đòi trăm thứ, mệt mà không chịu ngủ
nghĩ trăm việc, khác nhau ở chỗ đó.
Khi
đã nhận được bản lai diện mục rồi thì sự sống cũng diễn ra thường
nhật với tinh thần tĩnh giác. Tĩnh giác hòa nhập trong tất cả mọi
họat động hàng ngày trong sự sống. Lúc ăn Biết ăn, lúc làm việc
thì phải sángsuốt, Biết rõ ràng và Làm chu đáo công việc được giao
phó, lúc mệt thì ngủ, khi niệm Phật Biết niệm Phật, khi khán công
án hay thoại đầu thì Biết khán, khi niệm chú cũng vậy, dùng tam mật
của thân khẩu ý của mình hòa đồng vào tam mật của đức Đại Nhựt Như
Lai hay trực nhận tánh không của thân khẩu ý tức là hòa nhập vào
Pháp thân Phật. Tĩnh tâm cũng vậy,thời
gian yên lặng để tâm tĩnh giác vào đề mục, vào tín điều, vào phúc
âm, vào niềm tin và hy vọng; ước nguyện ấy quyện thành một khối có
uy lực khôn lường, thúc đẩy linh hồn chuyển hóa đến vương quốc của
Thượng Đế.
***
Bình thường tâm không phải chỉ dành cho người tu hành, mà còn có thể
áp dụng cho mọi người,mọi giới, mọi ngành nghề trong mọi sinh hoạt
hàng ngày, khi con người đã biết Tĩnh Giác.
-Một nhân viên văn phòng
hay cơ xưởng, chẳng hạn, làm việc một cách đúng đắn, có nghĩa là sử
dụng khả năng thực sự của mình vào công việc với trực tâm -- trí
không hư dối,tình cảm chơn thật, hành động (thẳng thắn) đạo đức.
Thắp sáng cái hiện hữu, là chăm chú công việc hàng ngày, với năng
xuất cao. Kết quả, thứ nhứt là mình giải thoát mọi phiền muộn của
chính mình như không còn tham lam, so đo làm nhiều làm ít, suy nghĩ lương
hướng của mình--là giải tỏa được tham lam vốn đem đến sân si. Thứ
đến,công việc năng xuất cao,tính thẳng thắn, không hư dối, gây ấn
tượng tốt cho trưởng cơ quan, là giải tỏa được thành kiến của thượng
cấp (chủ khách) nhìn sự sơ sót khuyết điểm của công nhân hay nhân
viên. Khi một người làm việc gì mà dùng khả năngthực sự (Thắp sáng
hiện hữu), tình cảm chân thành, tư tưởng trong sáng, thì mình không
những giải thoát mọi phiền não do tham sân si vương vấn cho chính mình
mà còn làm cho thượng cấp hay tha nhân có cái nhìn cảm phục; tức là
giải tỏa mọi sự ràng buộc của thành kiến ngoại tại. Khi ta
thắp sáng hiện hữu là ta đã tự giác và giác tha vậy.
***
Trong các thế giới tôn giáo, các nhà đạo học luôn luôn tìm ra phương
pháp để nhận diện thực tại, nhứt là thực tại tuyệt đối, từ đó
mới biết được cái đích mà hướng đến.Thấy đúng (Chánh Kiến), Nghĩ
đúng (Chánh Tư Duy) cái thực tại nầy, tất phải dùng đến cái Trí. Để
tránh những sơ sót sai lầm trong nhận thức, chúng ta cần phải dùng Chân
Trí (Trí Bát Nhã Cứu Cánh) mới mong có hiệu quả vững chắc hầu nắm
bắt cứu cánh. Hành trình đi đến Chân Nguyên, hay Thể Nhận thực tướng
của vạn pháp, là Thắp Sáng Hiện Hữu, là Giải Thoát mọi ràng buộc
nhân duyên chằng chịt của nhị nguyên mà đến đích ĐẠO.
Thấy
được Thực Tướng của vạn hữu, duy trì cái thực tại ấy, và hành sử
đúng trong mọi sinh hoạt hàng ngày, là lối Kiến Thiền Hành, Tức
Khắc Khai Ngộ Hiện Đời Giải Thoát, Trực Tâm, Hiện Tại Tức Bồ Đề,
Giải Thoát Tức Thì.
Đó
là pháp Thắp Sáng Hiện Hữu với Tâm Bình Thường trên đường dài của
cuộc sống trong tiến trình Khai Thị Ngộ Nhập Chí Đạo.
PHỤ TRANG
SỐNG ĐẠO
I.- VÀO ĐẠO
Mọi sự xung quanh luyến bởi tình
Tu hành cốt chí đặng tâm
minh
An nhiên tự tại tình không
động
Pháp, giới là gì hởi đạo huynh!
II. TỰ TẠO: VÔ NGẠO
Thường nhật bình tâm tức
thị thiền
Công phu hé thấy cảnh linh
thiêng
Hãy đừng cao ngạo cho là
ngộ
Vọng thức sanh ra mối ảo
thiền.
III. TỰ TRI: VÔ NGÃ
Trí tình thẻ dụng của tâm
viên
Chấp ngả làm chi lắm lụy
phiền
Tình thức lầm mê tâm tánh
giả
Cái thân ngoại vật cảnh
thần tiên
IV.- TỰ TẠI: VÔ NGẠI
Sự vật dịch lưu khó chận
dừng
Chơn không thể nhập sống
ung dung
Thức tình không lập tâm
trong sáng
Vật vật, tâm tâm há ngại
ngùng.
V. TINH TẤN
Huân tập dày công nghiệp
thức tiêu
Hành thiền rốt ráo tự
tâm điều
Sắc không, không sắc tâm
vô ngại
Quả trỗ tịch về cảnh thoát siêu.
VI. BUÔNG XÃ
Ý thức ưa duyên cảnh mỹ
miều
Danh tình lợi xã, ý tiêu
diêu
Công phu tinh tấn tiềm
năng phát
Huân tập thâm sâu tiềm
thức tiêu
Thanh thản tâm tư vô thức
tướng
An nhàn trí não hữu tâm
điều
Trí tình giả tướng đừng
tầm kiếm
Thoát kiếp luân hồi
nghiệp quả tiêu.
TĨNH
LẶNG
Tĩnh đi thân bình thản
Tĩnh đứng khẫu bặt lời
Lặng nằm tâm tận xã
Thoát ngồi ý lặng yên
Lặng thấy mùa xuân đến
Lặng nghe nắng hạ về
Tĩnh thức ao thu lạnh
Mặc nhìn gió đông sang
MẶC THOÁT
Nắng hạ mùa sen trổ
Thu thủy cá thảnh thơi
Hoa xuân đua sắc nở
Gió đông thổi lặng ngồi
Bốn mùa tám tiết đổi
Giếng thẳm bóng trăng soi
Một mình thanh thản sống
Mặc mặc thời gian trôi
HÀNH THIỀN
Thiền chính không có lời
Như lai tam muội hiện
Tĩnh lặng thường hành:
Giải
Mặc mặc như như: Thoát
TĨNH MẶC
08- 12- 86
LÊN NÚI
Tay không chạm hư không
Chân không đạp đất không
Lên núi THẤY không mệt
BIẾT mệt ở đâu? Không!
TĨNH
MẶC
_Kỷ niệm ngày 21 giêng
Mậu Thìn, hẹn
cùng thầyThông Giác lên thăm thầy Sáu,
nhưng Thông Giác đã lên
trước 1 ngày.
SỐNG THỰC
Dòng đời đôi mé thong dong
sống.
Nẻo đạo trung không tĩnh
lặng hành.
Khởi định đều không thực
tướng sanh.
Không tâm không pháp tâm
thanh tịnh
TĨNH MẶC
15- 2- 88
MỤC LỤC
PHẦN
MỘT
Tri Kiến
CHƯƠNG MỘT: Về Thực Tại
A. Thực Tại
Tuyệt Đố : tr. 7-23
-Hegel-
Schopenhauer - Kierkegard - Heidegger - Cơ Cấu Thuyết -
-Các
Nền Triết Học Đông Phương.
B. Thực Tại
Tương Đối: tr. 23-32
Danh
và Thể
CHƯƠNG HAI: Tri Kiến Thiên
Chúa Giáo
-Jesus- Phato- Augustine. tr. 32-54
CHƯƠNG BA: Tri Kiến Phật
Gíao
A..
Tổng Quát. tr. 55-59
B. Tánh Không Duyên Khởi. tr. 59-69
C. Chơn Không Diệu Hữu. tr. 69-82
D. Tàng Thức (Alaị da Thức): Tr. 82-83
1. Phân tích
Tàng Thức. tr. 83-103
1.1. Sự phát
triển
1.2. Cơ cấu
1.3. Sự chuyển
hướng
1.4. Asanga và
sự phối hợp Tàng Thức vào thế giới quan Duy Thức
1.5. Ý nghĩa
và tác năng của Tàng Thức trong hệ thống Duy Thứ của Asanga
2. Từ Thực Tại
Luận đến Giải Thoát luận. tr. 103-108
2.1. Tàng Thức
như là nền tảng của tạp nhiễm lẫn tịnh hóa
2.2. Tự tính
tùy thuộc và chuyển y
2.3. Tàng Thức
và Pháp Thân trong chuyển y theo Asanga
3. Kết Luận. tr.
108-110
· Câu Chuyện
Nàng Bhađda. tr. 110-127
CHƯƠNG BỐN: Cơ Cấu của Lý Thuyết về Tri Kiến
I. Theo Kant: tr. 127-137
1. Tính lưỡng
phân
2. Cảm quan,
không, thời
3. Suy tưởng
4. Từ Phán định
đến Phạm trù
5. Hai phân
nhánh
6. Ý thức chứ
không phải là sự hữu là khởi điểm
II. Theo Phật Giáo: tr. 137-167
Cấu trúc Tâm Kinh theo Viên Trắc
Bác Nhã Tâm Kinh qua cái nhìn của Duy Thức, HT.
Thích Thắng Hoan
Tâm Phật theo kinh Hoa Nghiêm
Đại Thừa Tuyệt Đối Luận của Nguyệt Khuê Thiền
Sư
Tâm và Tự Tính của Tâm theo Tạng Thư Sống Chết
CHƯƠNG
NĂM: Kinh Nghiệm Giòng Sống Chết
I. Tử Thư Tây Tạng (Padma Sambhava). Tr.
167-186
1. Lời Tựa
2. Lời Giới
Thiệu
Những
kinh nghiêm về cái Chết trong các truyền thống huyền môn.
II. Tạng Thư Sống Chết: Chết và Tái
Sanh.(Sogyal Rinpoche). tr. 186-195
1. Nền Tảng
2. Nền tảng của Tâm phàm tình
3. Mẹ con gặp gở
4. Thời gian và Ánh Sáng căn bản
5. Cái chết của một bậc thầy
PHẦN HAI
Giải Thoát Tri Kiến Tr. 195-197
CHƯƠNG MÔT: Cái Nhìn Bát Nhã Tâm Kinh Qua Lăng kính Thời Không. Tr. 198-207
I.
Mục Đích- Khái Niệm về Tư Duy Thời Không
1. Chủ Đích
2. Nhận Định về Thời Không
3. Thời Không và triết lý Duy Thức
II. Cơ Cấu Cái Trí theo Thời Không. Tr.
207-223
A.-Phân Tích Ngủ Uản
B.-Các Loại Trí
III.-Phân Tích Bát Nhã Tâm Kinh. Tr.
224-239
A. Trí quan sát (chủ thể quan sát): Năng
Tri
B. Đối Tượng quan sát: Ngũ uẩn và Tánh
Không: Sở Tri
C. Đặc Tính Các Pháp:
a) . Tự
tính tuyệt đối
b) . Tự
tính tùy thuộc
c) . Tự
tính giả lập
d) . Tính
vô ngả
e) , Không
gian tính : Nhân duyên quả
f) . Thời
gian tính
g) . Giải
kiến Tánh Không của Tứ Diệu Đế
h) . Giải
kiến Tánh Không của Trí và Đắc
D. Quả Đạt Được
1). Quả
a). Thoát khỏi khổ ách
b). Giác nhộ Niết Bàn
c). Chứng minh
2). Tán tụng
E. Kết Luận
CHƯƠNG
HAI: Thắp Sáng Hiện Hữu. Tr. 240-268
1). Minh Sát Tuệ
2).Quán Tứ Niệm Xứ
3). Quán Âm Thanh và Ánh Sáng
4). Niệm Phật
5). Niệm Thần Chú
6). Khán Thoại Đầu hay Công Án
7). Tĩnh Tâm hay Im Lặng Thánh
CHƯƠNG
BA: Chí Đạo
I.- Thiệt Tánh Giác. Tr. 268-270
1).-Không Gian
2.-Thời Gian
II.- Vài Thí Dụ về Sự Giải Thích Thiệt
Tánh Giác.
Tr. 270-277
1). Văn Thù Sư Lợi thăm bịnh Duy Ma Cật
(kinh Duy Ma Cật)
2). Trực Tâm (phẩm Phật Quốc, kinh Duy Ma
Cật)
3). Truyện Nàng Bhađda
III.-Phương Tiện Biện Minh Cứu Cánh. Tr.
277-310
A.-Pháp Phương Tiện
B.- Chí Đạo: Pháp Bổn Như Vô Pháp
1). Bình Thường Tâm là Đạo
2). Thiền Dzogchen
IV.- Cái Chết Của Sự Sống
Tự Tại.Tr.310-316
1). Hành Trì Cho Người Sắp Chết
2). Tự Tại Khi Chết
KẾT LUẬN. Tr.
317-330
PHỤ TRANG: Tr. 331-333
SÁCH THAM KHẢO
1. Ba Trụ
Thiền,Philip Kapleau, Đỗ đình Hồng dịch. 1954
2. Bát Nhã Tâm
Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức, HT.T.Thắng Hoan, 1996
3. Chuyện Cổ
Phật Giáo, tập chép tay do Đ.H Nguyễn Phước Lộc Vũng Tàu
4. Đại Thừa
Tuyệt Đối Luận,Nguyệt Khuê Thiền Sư, T.Duy Lực dịch
5. Kim Cang Tam
Muội, Thuần Tâm
6. Kinh Duy Ma
Cật, dịch giả T. Huệ Hưng,1970
7. Kinh Hoa
Nghiêm Luận Giải, LH Tịnh Huệ, 2001
8. Kinh Pháp Bảo
Đàn,HT.T.Thanh Từ,1998
9. Human Behavior,
James V. McConnell,1983
10. Mật Giáo
Thậm Thâm Nội Nghĩa, Nguyễn Pram,1993
11. Personality,
William Samuel, 1991
12. Phủ Định
Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán, B.K Martial, Thượng Tọa T. Viên
Lý dịch, 2000
13. Tạng Thư
Sống Chết, Sogyal Rinpoche, Trí Hải dịch, 1996
14. Tạng Thư Tây
Tạng, Padma Sambhava, Xuân Thu, 1997
15. Tạp Chí
Triết 1 (1995), Triết 2 (1996):
-Điểm
Sách (Tài Liệu): LS Nguyễn Hữu Liêm, TS Luật;
-Tàng
Thức, Như Hạnh, TS Triết và Tôn Giáo;
-Tân
Tiến và Hậu Tiến, Nguyên Đạt Phạm trọng Luật, GS;
-Viên
Trắc và Bát Nhã Tâm Kinh, Như Hạnh
16.Trancework, Michael D.Yapko, Ph.D 1990
17.Thiền Tông Việt Nam, TS T. Thanh
Từ,1998
18.Tu Niệm Phật Tam Muội, Đường Đại
Viên, T. Ấn Nghiêm dịch
19.Tự Gia Bảo, TS T. Thanh Từ, 1995
20.Vấn Đề Thực Tại, Phổ Nguyệt tham
khảo sách Triết học.