Thư pháp
07.04.2006 - 14:10
|
|
|
|
Nói đến Thư pháp là nói đến một loại
hình nghệ thuật độc đáo, hình tượng
mỗi chữ viết ra nói lên được hồn
người, diễn tả dụng ý của ngôn từ
bằng chính chữ viết của mình, do đó, mỗi ký
tự viết ra là một nét bút đặc trưng khác nhau
tùy theo vị trí và dụng ý của người viết,
cũng như tùy thuộc vào lời văn được
viết.
Do vậy làm sao mà tạo nên một phông chữ ưng ý
và hoàn chỉnh thay cho cách viết thư pháp bằng bút lông
được? Vì trên máy vi tính, mỗi phông chữ chỉ
gói gọn trong 24 ký tự tiếng Việt mà thôi, thí dụ
như chữ a này vẫn dùng cho chữ â kia chẳng
hạn... Tuy nhiên, với niềm đam mê và sự cố
gắng hiệu chỉnh không ngừng, phông chữ tạm
gọi là Thư pháp gõ theo mã tiếng Việt đã
được hình thành, tuy chưa vừa ý nhưng cũng
tạm đáp ứng được phần nào cho các
bạn thích chơi chữ và dùng làm thiệp. Chúng tôi xin
tạm gọi là chữ thư pháp thôi, vì như trên đã
nói, làm sao máy tính diễn tả hồn người
được?
Chúng tôi không phải là những nhà nghiên cứu Tiếng
Việt, cũng không phải là cụ đồ nho mà dám nói
lên Hồn Việt qua nét chữ, chúng tôi chỉ là những
người tập tành làm nghệ thuật mà thôi, đã
tập tành thì chưa dám nói đến vị nghệ
thuật, chứ đừng nói chi là vị nhân sinh.
Nhưng đứng trước trào lưu phát triển công
nghệ thông tin như hiện nay, việc ứng dụng
công nghệ mới vào kho tàng nghệ thuật dân gian
của Việt Nam của chúng ta cũng là việc đáng
làm và đáng quan tâm, dù sao thì cũng phải có một cái gì
đó nói lên Hồn người Việt của mình trên
chiếc máy tính chứ! Do vậy nên tuy biết rằng mình
tài hèn sức mọn, chúng tôi vẫn gắng làm, nhờ
đó mà các phông chữ thư pháp ra đời.
Tiếng Việt của chúng ta khác với các ngôn ngữ
khác, vì chúng ta có dấu. Về mặt mỹ thuật thì
đây cũng là một điểm để các cụ
đồ thời nay trổ tài hoa mỹ khi viết
dấu, tuy nhiên trong máy tính, chỉ có mỗi một cách
viết cho mỗi loại ký tự hoặc dấu, nên
việc diễn tả có phần hạn chế, mong
người sử dụng hãy thông cảm cho vì máy tính không
thể nào bằng bút lông được!
Khác với những chữ thư pháp có trên thị
trường, đó chỉ là những hình ảnh các
chữ đã được viết sẵn, các phông
chữ thư pháp của chúng tôi là phông chữ True Type
thực sự, có kích thước file chỉ vài chục KB
mà thôi, bạn có thể Add Font vào thư mục Fonts của
Windows bằng cách Install new fonts, phông chữ này sẽ có
mặt trong List font của Winword, Corel, Photoshop và sử
dụng như những phông chữ bình thường khác.
Xin lưu ý với các bạn là trong Word, các chữ thư
pháp hiển thị trên trang văn bản sẽ không nhìn
thấy phần chân của ký tự đối với các
chữ g, y, q chẳng hạn, vì nó là dạng phông chữ
nghệ thuật nên dài hơn bình thường và vì Word
đã ngầm định khoảng cách trong Paragraph,
nhưng khi in ra để chế bản thì hoàn toàn chính xác,
xin quý vị và các bạn hãy yên tâm. Ngoài các phông chữ
Thư pháp ra, chúng tôi còn dành tặng quý vị các phông
chữ độc đáo và mới lạ khác mang tính
thẩm mỹ không kém gì chữ thư pháp.
Nói về Hồn Việt qua Thư pháp, chắc chắn còn
rất nhiều điều để bàn, chúng tôi không dám
đề cập đến nhiều vì chỉ là hậu
sinh mà thôi, mong các vị tiền bối thông cảm cho,
nhưng tóm lại, chúng tôi chỉ muốn tạo các phông
chữ thư pháp để đem đến một chút gì
đó gởi đến quý vị và các bạn cho thỏa
niềm say mê mà thôi. Chắc chắn sẽ còn rất nhiều
điều để nói, xin quý vị và các bạn hãy nói
lên cảm nghĩ của mình bằng cách click vào mục Góp
ý kiến nhận xét. Một lần nữa, xin cám ơn quý
vị và các bạn.
Thư pháp Việt Nam
Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân
về, người dân hay đến nhà những « Thầy
Ðồ » hay những người « hay chữ » để xin
chữ về treo như một bức tranh, vừa là món
đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh
thần. Thầy đồ hay người hay chữ cho
chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ trên
một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính
cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường
được khen là đẹp như rồng bay
phượng múa. Lối viết như vậy
được gọi là Thư Pháp (Calligraphy). Thư Pháp là
phương pháp viết chữ (đẹp).
Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ
Trung Hoa và đã được các nước Nhật,
Triều Tiên, Việt
Ðối với phương Tây, thư pháp được
thực hiện bằng nhiều phương tiện: bút
sắt, cọ, thước, compa, êke... Con chữ
được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ
lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị
giác người sử dụng hệ chữ La Tinh.
Ðối với người phương Ðông, nói đến
môn Thư pháp, người ta thường nghĩ
đến cách viết chữ Hán với phong cách
đặc biệt... Với cây bút lông, mực và giấy
người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật
viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý
thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.
Ở Việt-Nam vào thời điểm nầy, có lẽ
ngoại trừ một số người lớn tuổi
thâm Nho mới đọc được chữ Hán, chữ
Nôm, còn hầu hết là không đọc được.
Bởi vậy tại sao ta không viết thư pháp bằng
tiếng Việt? Viết chữ Việt cũng
đẹp vậy, bởi vì sao giải thích
được: « Sao là đẹp? Sao là không đẹp? »
(KTS Nguyễn Thanh Sơn)
« Biết đâu cái gọi là đẹp đối với
ta, chắc gì gọi là đẹp đối với kẻ
khác !... biết đâu cái gọi là đẹp đối
với ta bây giờ chắc gì gọi là đẹp
đối với ta sau nầy » (Trang Tử).
Thư pháp bằng tiếng Việt
Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn
một câu văn một bài thơ để viết lên
trang giấy là việc cần hết sức cẩn
trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa,
năng khiếu viết chữ, nội dung một bức
thư pháp còn cho thấy tư tưởng, kiến thức,
tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài
thể hiện những đường nét rồng bay
phượng múa, các thư pháp gia còn phải "nhiếp
tâm" với những gì mình sắp sửa viết ra.
Phong trào viết Thư pháp bằng tiếng Việt đã
được khôi phục một cách mạnh mẽ
từ khoảng 10 năm nay tại Việt Nam, nhiều Câu
Lạc Bộ viết Thư pháp được thành
lập trong các thành phố lớn, đã có nhiều "Thư
pháp gia" tổ chức những cuộc triển lãm
thư pháp như những hoạ sĩ triển lãm tranh
vẽ. Chúng tôi xin giới thiệu với quý vị và các
bạn sơ lược về bộ môn này.
Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn này khá
dễ, muốn viết sao cũng được, miễn
cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có
nhiều qui tắc, sau đây là vài nguyên tắc chính:
Chương pháp: tức là nghiên cứu phương pháp phân
bố chữ với chữ, hàng với hàng, và các hàng
với toàn bộ bức thư pháp. Một bức thư
pháp thành công hay không là do ở chương pháp.
- Ðầu câu không thụt vô.
- Các hàng đều và dài bằng nhau
- Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
- Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân
nửa chiều dài của hàng
- Không dùng dấu chấm câu.
Hình dạng bức thư pháp: Có bốn hình dạng chính:
- Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
- Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
- Hình vuông (Ðấu phương)
- Hình mặt quạt (Phiến diện) (xem các hình bên
cạnh)
Ấn chương (hay con dấu, con triện) là một nét
văn hóa rất độc đáo của người Trung
Quốc.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng
của một bức thư pháp hay một bức họa.
Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm giá
trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm
hỏng nó. Nghiên cứu kỹ ấn chương,
người ta có thể giám định một bức
thư họa là chính bản hay ngụy tạo.
Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc
khắc nổi:
Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền
đậm.
Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt.
Loại nửa chìm nửa nổi
Vị trí đặt con dấu:
Trong các thư tác của người Trung Hoa xưa có
nhiều vị trí được qui ước để
đóng dấu như:
- Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác gọi là Nhân
chương
- Ðóng ở thắt lưng thư tác gọi là Yêu
chương
- Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác gọi là Danh
chương
Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn
mà có thể đóng một, hai, hoặc ba dấu triện.
Vị trí các dấu triện đều có ý nghĩa riêng
của nó.
Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước
đóng dấu của người Trung Hoa mà theo cách
thực hành sau đây:
- Khi tác giả vừa là tác giả nội dung (Ý) vừa là
tác giả hình thức (Hình); hoặc tác giả Hình nhưng
Ý là các câu văn thơ cổ (hết bản quyền) thì
con dấu ở vị trí dưới, phải. Hoặc có
thể thêm một dấu ở trên, trái như dấu treo.
Như vậy được gọi là Toàn triện.
- Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn,
thơ...) nhưng chưa có sự đồng ý của tác
giả đó thì con dấu của tác giả Hình đặt
bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả Ý và
người viết phải ghi « thủ bút » hoặc « viết
». Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện.
- Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn,
thơ...) có sự đồng ý của tác giả Ý thì
được quyền đóng dấu ở dưới,
bên phải nhưng phải đề tên tác giả Ý phía
trên cao, bên trái; và người viết phải ghi chữ «
thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm
gọi là Ðồng triện.
- Trường hợp ngoại lệ: vì lý do bố cục
mà người viết không thể sắp xếp
được vị trí nơi đóng dấu thì
được đặt dấu ở vị trí khác
nhưng phải ghi rõ tác giả về Ý. Vị trí nầy
tạm gọi là Ngoại triện.
Các kiểu chữ trong Thư pháp:
Trong thư pháp việt ngữ hiện nay xuất hiện 5
kiểu chữ chính:
- Chữ Chân Phương, tạm gọi là Chân Tự, là
cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống
chữ thường.
- Chữ Cách Điệu, tạm gọi là Biến Tự,
là cách viết biến đổi từ chữ Chân
Phương mà ra nhưng các chữ cái hơi
được biến dạng một chút để
tạo ra cái lối viết riêng của mình.
- Chữ Cá Biệt, tạm gọi là Cuồng Thảo, là
lối viết Thư Pháp mà người phóng bút « nhiếp
tâm » giữa tư tưởng và quản bút. Lối
viết chữ nầy thể hiện cá tính của
người viết, nhìn vào kiểu chữ nầy,
người xem dễ biết tác giả mà không cần
phải xem bút ký. Kiểu chữ nầy thường
viết liền lạc trong một nét nên khó đọc.
- Chữ Mô Phỏng là lối viết mô phỏng dựa
theo kiểu chữ của nước ngoài. Có người
viết chữ Việt nhìn vào ngỡ chữ Tàu, hay chữ
Ả Rập, chữ Miên, v.v...
- Chữ Mộc bản là kiểu chữ giống như
chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ
sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một
phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng
gương phản chiếu. Nhìn vào chữ có dạng
Hán-Nôm nhưng đó lại là chữ Việt viết
ngược.
Ngoài ra trong một số tranh Thư Pháp còn có hình ảnh
minh họa về thiên nhiên, trong đó phần tranh có
thể chiếm khoảng không gian lớn hơn phần
chữ. Với đặc trưng nầy Thư Pháp
trở thành Thư Họa.
Trong một số người viết thư Pháp, có
nhiều người là họa sĩ, họ thường
biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ.
Lối viết nầy rất khó. Thí dụ như:
Ta có thể hình dung ra được khuôn mặt của
Ðức Phật trong chữ "Ngộ" ở hình bên:
Sau đây là chữ "Phật" của Trần Bá Linh:
Chữ "Lệ rơi" của Tuấn Hạ:
Và cuối cùng là chữ "Mẹ" của Chính Văn:
Nếu ta nhìn kỹ thì có thể "thấy" hình dáng
người mẹ tóc dài xõa lưng, đứng đưa
lưng lại và dang tay ra để đỡ một
đứa bé, đứa bé nầy nhìn ngang, nằm co
lại như còn trong bụng mẹ.
Tham khảo và trích lục:
- Sổ tay thư pháp của KTS Nguyễn Thanh Sơn. Nhà
xuất bản Văn Nghệ TP HCM.
- Hồn chữ Việt, Về nghệ thuật thư pháp
của Thiện Duyên, Câu Lạc Bộ Yêu Thích Thư Pháp
Quận 1 TP HCM.
- Hướng dẫn viết thư pháp của Phạm
Thanh Hiệp. Câu Lạc Bộ Yêu Thích Thư Pháp Quận 1,
TP HCM.
- Thư pháp nhập môn, tập I và II của Trung Tâm văn
hóa quận 8, Câu Lạc Bộ Thư Pháp, Phạm Công Út biên
soạn.
HHL (Theo st