![]()
THIỀN
VỚI THIÊN NHIÊN
16.03.2006 - 10:58
( Trích: Văn hoá phương Đông )
|
|
|
|
Trước tiên xin nói là Thiền không chỉ là giới
luật khổ hạnh. Thấy một nhà sư ở trong
am tranh, cơm hẩm với muối dưa qua ngày, ta có
thể nghĩ đó là người rút lui khỏi thế
gian, trọn cuộc đời chỉ biết quên ḿnh
xả thân.
Thật ra, đây là một khía cạnh trong cuộc
sống của người tu, v́ Thiền dạy một
kiểu sống xả ly và làm chủ chính ḿnh. Nhưng
nếu ta nghĩ rằng trong Thiền không c̣n điều
ǵ khác hơn nữa, tức là đă nuôi dưỡng
một quan điểm rất là hời hợt phiến
diện. Thiền chiếu soi đến tận cội
nguồn đời sống, chỗ mà Thiền thực
sự là một tôn giáo, theo ư tôi, có nghĩa Thiền
chạm sát Thực tại đúng ra là nắm trọn và
sống hẳn trong ḷng. Thực tại, đây là ư nghĩa
tôn giáo của Thiền.
Phật giáo thường dùng những chữ nghe ra có vẻ
trừu tượng hơn chữ Thực tại, như
là “như thị”, “không". . . khiến ngay nhiều
học giả cũng hiểu Thiền là giáo lư dạy
sống tĩnh lặng, trầm tư. Nhưng đối
với hành giả tu Thiền những chữ này không
phải là ư niệm trừu tượng chút nào, trái lại
rất là thực tế và chỉ thẳng, sinh động
và đầy năng lực bởi v́ dù đó là Thực,
Như hay Không đều nằm giữa ḷng những
sự kiện sống động và cụ thể trong
vũ trụ, chớ không phải trừu tượng
mơ hồ theo kiểu tư duy thuần ư niệm.
Thiền không bao giờ rời xa nhưng sự kiện
thực tế ở thế gian. Thiền luôn luôn sống
giữa ḷng Thực tại. Thiền không đứng riêng
cũng không ở ngoài cảnh giới của danh và
sắc. Giả sử có Thượng Đế, th́ dù nhân
hay vô nhân, đều đồng với Thiền và ở
trong Thiền. Dù trên quan điểm tôn giáo, triết lư hay
thi ca, bao lâu một thế giới sự vật c̣n duy tŕ
sức mạnh đe dọa và hủy diệt, ḱnh
chống lại chúng ta, th́ Thiền không có mặt.
Đối với Thiền hành động dù nhỏ
nhiệm như cọng cỏ cũng không khác thân một
trượng sáu của Phật, và ngược lại thân
một trượng sáu của Như Lai cũng ngang
với cọng cỏ. Thiền nắm trọn vũ
trụ, như đang là, trong ḷng tay. Đây là tôn giáo
của Thiền. Thiền thường được
hiểu như một h́nh thái của phiếm thần.
Bề ngoài th́ có vẻ như thế, và ngay chính Phật
tử đôi khi v́ chua thấu đáo cũng tán đồng
quan niệm trên.
Xin nghe Vân Môn
đối đáp với đệ tử:
+ Tăng
hỏi :
- Thế nào là
Pháp thân thanh tịnh?
Vân Môn đáp:
Hoa thược
lan.
- Khi thế
ấy th́ sao?
- Sư tử
lông vàng.
(Tắc 39 - Bích
Nham Lục)
Nếu Thượng Đế chỉ là hoa thược
lan chia cắt ranh giới tu viện với trang trại
láng giềng th́ có thể ở đây ám chỉ tính
phiếm thần, ta có thể hiểu như thế.
Nhưng "sư tử lông vàng" th́ sao? Con vật này
không biểu hiện một cái ǵ khác, nó là tối
thượng, tự trị, là chúa tể sơn lâm, tự
ḿnh đầy đủ. Không c̣n ư niệm về bất
cứ cái ǵ trong một h́nh tượng nào. Trong câu đáp
của Vân Môn, đối với người không quen nghe
Thiền ngữ th́ không thể lĩnh hội "sư
tử lông vàng" bằng lư trí dù có được
giải thích như trên.
Một vấn đáp khác có thể dễ hiểu hơn.
+ Tăng:
- Khi sư
tử chụp bắt đối thủ, dù là thỏ hay
voi, nó phải dùng sức rất mạnh. Sức lực
đó là ǵ?
- Chân thật, không hư dối.
- Sư:
“Chân thực,
không hư dối", hay là vận dụng hết sức
ḿnh theo Lâm Tế là “toàn thể tác dụng", trong đó
không c̣n cái ǵ giữ kín, không có cái ǵ ngụy trang, không có cái
ǵ phí bỏ. Khi người nào sống được
như thế tức là “sư tử lông vàng", vị
ấy tượng trưng cho kiên cường, chân
chất, toàn tâm toàn ư, là bậc Thánh; không phải thể
hiện Thực tại mà vị ấy chính là Thực
tại, không c̣n thứ ǵ ẩn núp phía sau, vị đó là” toàn
chân", “thực pháp”
Cần phải nắm vững cái nh́n sáng suốt
của Thiền về cuộc đời, về thế
gian, v́ yếu tố này rất quan trọng để
hiểu rằng không có điều ǵ thuộc chủ
nghĩa tượng trưng trong t́nh yêu Thiên Nhiên.
Giả sử như cần áp đặt một h́nh thái
phân loại nào đó vào Thiền, th́ có thê' nói Thiền có
tính đa thần, dù cái “đa" đó được xem
nhiều như cát sông Hằng. Không phải chí vài ngàn
thần linh mà hằng trăm ngàn vô số thần linh.
Đối với Thiền mỗi cá nhân là một thực
thể tuyệt đối sao cho liên đới với
tất cá những cá nhân khác; sự liên đới này
giữa nhũng mối quan hệ hỗ tương
nhiều vô hạn đều có thể được trong
giới xứ của Không, bởi v́ tất cả
đều hiện hữu ở đây ngay khi đang là,
tức là những lẽ thực có tính cá thể. Có thể
hơi khó hiểu đối với ai chưa quen với kiểu
lập luận của Phật giáo: Nhưng tôi không có tḥi
gian dừng ngang đây để giải thích toàn bộ
hệ thống từ đầu, v́ phải nhanh chóng đi
vào để tài chính.
Tóm lại, Thiền có phong cách riêng để nắm
bắt Thực tại, và phong cách này đă tạo ra ư
nghĩa hàm ẩn trong t́nh yêu Thiên Nhiên.
Tính chất chủ yếu nào trong sự khổ hạnh
của Thiền liên quan đến t́nh yêu Thiên Nhiên? Đó là
ḷng tôn kính, có nghĩa là chúng ta không nh́n Thiên Nhiên như
một đối tượng phải chinh phục và
tận dụng bừa băi v́ lọi ích nhân loại, mà xem
Thiên Nhiên như bằng hữu, một chúng sinh huynh
đệ cùng cộng nghiệp với chúng ta trên Phật
đạo. Thiền muốn chúng ta ḥa hội với Thiên
Nhiên như một tác nhân thân hữu, đầy thiện
chí và có sức sống nội tại hoàn toàn y hệt chúng
ta, luôn luôn sẵn sàng hoạt động ḥa điệu
với nguyện vọng chính đá ng của chúng ta. Thiên
Nhiên không bao giờ là kẻ thù thường trực ḱnh
chống chúng ta với thái độ đe dọa; Thiên Nhiên
không phải là sức mạnh sẽ nghiền nát chúng ta,
nếu chúng ta không nghiền nát nó hoặc bắt ép nó
phục vụ chúng ta
Sự khổ hạnh của Thiền không bắt
buộc bẻ cong hay hủy diệt ư muốn và bản
năng của chúng ta, trái lại có sự kính trọng Thiên
Nhiên và không uy hiếp Thiên Nhiên, dù Thiên Nhiên đó là Bản
Nhiên của chính chúng ta hay Bản Nhiên của thế
giới sự vật. ăn năn hối hận không
phải là thái độ chính đáng đối với chính
ḿnh, cả sự biện hộ một cách ích kỷ mà
chúng ta có thể bày tỏ với Thiên Nhiên dưới
bất kỳ góc cạnh nào. Tuy nhiên, sự khổ hạnh
của Thiền rốt cuộc cũng không phải là
đồng t́nh với xu hướng vật chất quá
ư lộ liễu trên khắp thế giới trong lănh
vực khoa học, công nghiệp, thương trưởng
và biết bao trào lưu tư tưởng.
Thiền đề nghị kính trọng Thiên Nhiên,
thương yêu Thiên Nhiên, sống ḥa điệu với
Thiên Nhiên. Thiền nh́n nhận Bản Tánh của chúng ta là
một với Thể Tánh của cảnh giới sự
vật, không phải theo nghĩa toán học mà hàm ư Thiên Nhiên
sống trong ta và ta sống trong Thiên Nhiên. V́ lư do đó
sự khổ hạnh của Thiền đề cao nếp
sống đơn sơ mộc mạc, tri túc thiểu
dục, không nỗ lực khai thác Thiên Nhiên v́ mục tiêu ích
kỷ.
Vài người sợ rằng khổ hạnh sẽ
hạ thấp mức sống nhân loại. Nhưng nói
một cách thẳng thắn th́ làm tiêu ṃn cái ngă vẫn
tốt hơn là chiếm đoạt thế giới. Không
phải là chúng ta vẫn thường xuyên lao vào chuẩn
bị chiến tranh khắp nơi cốt để nâng cao
và duy tŕ mức sống quư báu của chúng ta sao? Nếu t́nh
trạng tiếp tục như thế, chắc chắn là
rốt cuộc chúng ta hủy diệt người khác, không
phải riêng rẽ từng người mà có tính cách
quốc tế. Thay v́ nâng cao cái gọi là mức sống, có
khi nào tốt hơn hết là nâng cao phẩm chất
cuộc đời? Đây là một sự thật,
nhưng trong lịch sử không có tḥi đại nào như
ngày nay có một sự thật rất ư bức xúc là phải
gào lên thật to về ḷng tham, tật đố và tội
lỗi. Chúng ta, những người học Thiền,
bắt buộc phải bênh vực mănh liệt sự khổ
hạnh của Thiền.
Phương diện mỹ học của Thiền liên
hệ chặt chẽ với sự khổ hạnh của
Thiền ở chỗ cả hai đều vắng bặt
ngă chấp, và cả chủ thể lẫn khách thể
đều phát sinh từ cái Không. Nghe qua có vẻ kỳ
lạ, nhưng đó là nền tảng của giáo lư
Thiền, thường lặp đi lặp lại và bàn
bạc trong văn học Thiền. Muốn giải thích
cần có một buổi nói chuyện triết lư đài,
đầy chông gai tri kiến. Không nhưng chi ḍi hỏi
tư duy phức tạp và kiên cố, mà thường khi
chính sự tư duy dễ dẫn đến lầm
lẫn trọng đại về ư nghĩa đích thực
của sự chứng ngộ Thiền. Do đó Thiền
loại trừ ngôn cú trừu tượng và lư luận
thuần ư niệm; và văn học Thiền hầu như
không có ǵ khác ngoài những dân chúng về cái gọi là giai
thoại hay cơ duyên hay vấn đáp đối với
ai chưa từng thâm nhập sự huyền diệu
của Thiền th́ thật là cả một mảnh
đất hoang dă đầy lùm bụi gai góc khó thể
bước vào. Tuy nhiên các Thiền sư không lùi
bước; các vị nhất quyết có cách thức riêng
để tự biểu lộ; trên phương diện
này các vị rất thành thạo, và điều này rất
đúng v́ thực chất sự chứng nghiệm của
các vị rất xác định qua phương thức
truyền đạt và minh chứng của các vị.
+ Lục Hoàn
đại phu cùng nói chuyện với Nam Tuyền. Hoàn
hỏi:
- Triệu pháp sư nói: “Trời
đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta
một thể”. Thật là kỳ quái?
- Nam Tuyền chỉ hoa
trước sân kêu đại phu nói:
- Thời nhơn thấy gốc hoa
này giống hệt như mộng.
(Tắc 40 - Bích Nham Lục)
Vấn đáp trên đây thể hiện mỹ học
một cách hùng hồn nơi phong cách của Thiền
đối với sự vật trong Thiên Nhiên. Hầu
hết mọi người đều không biết nh́n hoa;
đối với một vật nào đó họ chỉ
đứng xa, không bao giờ nắm bắt
được tinh thần của vật đó; v́ không
nắm được chắc chắn nên nh́n hoa như
thể chiêm bao. Người nh́n ngắm ngăn cách với
vật bị nh́n ngắm; có một rào chắn ngăn
ngại hai bên, và nguồn nh́n ngắm không thể nào
bước đến chạm vật tận thâm cùng.
Ở đây không có sự lĩnh hội sự thật ngay
trước mắt. Nếu như trời và đất, với
vô số cảnh vật ở giữa, đều lưu
xuất từ một nguồn gốc, mà bạn và tôi
cũng sinh ra từ đó, th́ nguồn gốc đó
phải được nắm bắt một cách chắc
chắn như là một sự thê' nghiệm hiện
tiền, v́ chính trong sự thể nghiện này mà bông hoa
của Nam Tuyền trong vẻ đẹp tự nhiên đă
khơi dậy ư nghĩa mỹ học. Điều mà
người Nhật gọi là t́nh yêu Thiên Nhiên sẽ
đậm đà Thiền vị ở chỗ biết
thưởng ngoạn Thiên Nhiên, tức biết sống
với Thiên Nhiên.
Chúng ta cần nhớ rằng nếu chỉ kinh
nghiệm được nhất tính th́ chưa trọn
vẹn trong sự thưởng ngoạn thực sự
Thiên Nhiên. Điều này chắc chắn tạo ra một
nền tảng triết lư cho tính đa cảm trong t́nh yêu
Thiên Nhiên, và giúp chúng ta đi vào tận cùng sâu kín của tâm
thức mỹ học. Ta có thể nói trong phạm vi này tính
đa cảm đă được tịnh hóa. Tuy vậy
vẫn có thể cảm nhận được t́nh
thương trong thế giới nhiều vô số; sựï
nhận xét của Nam Tuyền sẽ thất bại khi
chỉ có tính b́nh đẳng. Quả thật con
người thế gian sống chiêm bao, v́ họ không
nhận ra nền tảng chân thực của sự
sống. Sự tương dung giữa nhất thể và
đa thể, hoặc đúng hơn sự sát nhập cái
tôi vào mọi người khác theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm,
là điều tuyệt đối cần thiết
để hiểu thấu chân mỹ của Thiên Nhiên.
Thưởng ngoạn chân mỹ của Thiên Nhiên luôn luôn
bao hàm một cái ǵ tôn giáo. "Tôn giáo” theo ư tôi là "siêu
xuất thế gian", siêu vượt thế giới
tương đối, chỗ mà chúng ta bắt buộc
phải đương đầu với nhũng
đối nghịch và hạn cuộc. Đối nghịch
và hạn cuộc chạm trán với chúng ta từng sát-na
một, trên b́nh diện vật lư lẫn tâm lư, cũng
sẽ cắt đứt ḍng mạch tự do của
sự cảm nhận chân mỹ đối với sự
vật Cái đẹp chỉ được cảm
nhận khi ra khỏi chuyển đôäng và ngôn cú. Cái
đẹp không ở nơi h́nh thể mà ngay trong ư nghĩa
muốn diễn đạt, và ư nghĩa đó sẽ
được cảm nhận khi biết nh́n ngắm
chủ đề bằng tất cả sức sống
của ḿnh xuyên thấu h́nh thể chuyển tải ư
nghĩa, để rồi cùng dấn thân theo. Chỉ có
thể được như thế khi ta sống “siêu
xuất thế gian", nơi không c̣n tiếp tục
những đối nghịch hỗ tương mà chúng ta
luôn luôn quan tâm thái quá trong thế giới nhiều vô số
này - cho dù những đối nghịch này được
bao bọc trong một cái ǵ tầm cỡ cao quư hơn giá
trị thực sự của chúng. Bấy giờ mỹ
học sẽ ḥa nhập vào tôn giáo.
Phong cách Thiền đối với thiên Nhiên không phải là
Sự Chứng nghiệm tính đồng nhất, cũng
không phải cảm ứng về cái “vĩnh tịch"
mà thi nhân và nghệ sĩ thường mơ mộng.
Nếu như họ dằn dai lăng phí với cái đă
được cảm nhận "xuyên qua và ân sau tính
hiến dịch vô thương" th́ lúc đó họ
sẽ bắt tay với Lục Hoàn đại phu và Tăng
Triệu, và sẽ c̣n lâu, rất lâu mới thành bằng
hữu của Nam Tuyền. Bông hoa đích thực chỉ
được thưởng ngoạn khi nghệ sĩ và
thi nhân biết sống với nó, sống hẳn trong ḷng
nó, và ngay khi ư nghĩa về đồng nhất không c̣n
nữa th́ sự "vĩnh tịch" cũng thế
thôi.
Tôi xin nhấn mạnh là Thiền không xem một sự
việc như vậy dưới danh xưng "chuyển
động không ngừng trên bề mặt cuộc
sống". Đời sống là một tổng thể
toàn diện và nguyên vẹn, bắt khả phân, không có ngoài
mặt hoặc bên trong, v́ thế không có một “chuyển
động không ngừng" nào phân cách với sự
sống. Như đồ giải thích trong tắc của
Vân Môn “Sư Tử Lông Vàng". Sự sống chuyển
động trong nhất thể toàn vẹn, dù động
hay tịnh theo bạn quan niệm th́ sự suy diễn
của bạn vẫn không thể sửa đổi
được sự thật. Thiền trùm khắp và
nắm trọn cuộc sống, và cùng với cuộc
sống khi chuyển động không ngừng khi
đứng yên lặng lẽ. Ơû đâu có bất kỳ
dấu hiệu nào của sự sống th́ ở đó có
Thiền. Dù vậy, khi cái "vĩnh tịch" bị
trừu tượng hóa từ “chuyển động không
ngừng trên bề mặt cuộc sống" th́ nó sẽ
ch́m vào cái chết? và sẽ không c̣n “bề mặt"
ở đâu cả. Cái tĩnh lặng của Thiền
nằm trong "dầu sôi lửa bỏng”, ba đào
nổi dậy, và lửa cháy khắp trời Acala. Hàn
Sơn, một Thiền sư thi nhân ngông ngông rất
nổi tiếng ở đời Đường có bài
thơ:
Tâm như
trăng thu
Như hồ
trong, lóng lặng, thăm thẳm
Dù h́nh sắc
nào
Cũng
chẳng thể nghĩ lường
Toàn thể
đều bất tư ngh́
Thoạt nghe dường nhu bài thơ nói lên sự
tịch lặng hay vé thanh lương. ánh trăng thu
tỏa chiếu khắp sơn hà đại địa
gợi cho ta nhất thể của vạn vật. Nhưng
đó là chỗ mà Hàn Sơn không muốn vẽ lên một
sự so sánh nào giữa cảm giác của ḿnh với
vạn hữu. Lư do e lầm ngón tay cho là mặt trăng.
Để nói lên chân lư, ở đây không một ám chỉ
nào hay ngụ ư ǵ về tịch lặng thanh lương,
cũng không có sự đồng nhất giữa Thiên Nhiên
với con người. Nếu có chăng một diều ǵ
khơi dậy nơi đây, th́ đó là sự rỗng rang
trong suốt được thi nhân cảm nhận một
cách tṛn đầy. Nhà thơ hoàn toàn trượt khỏi
thân xác, luôn cả cảnh giới sự vật và tâm
giới chính ḿnh, không có trung gian xen lẫn giữa nội
tâm và ngoại cảnh. Nhà thơ hoàn toàn thanh tịnh, và
từ ban vị thanh tịnh hoặc rỗng rang tuyệt
đối này nhà thơ nh́n ra thế giới gọi là
nhiều vô số. Nhà thơ sẽ thấy cỏ hoa sông núi
và muôn vật muôn thứ, và sẽ bảo rằng tất
cả đều đẹp, đều hài măn. “Chuyển
dộng không ngừng" cũng được đánh giá
ngang hàng với "vĩnh tịch". Sẽ hoàn toàn không
đúng với tinh thần Thiền và t́nh yêu Thiên Nhiên khi
tưởng rằng các Thiền sư thi sĩ và nghệ
sĩ phủ nhận chuyển động của thế
giới nhiều vô số để biến ḿnh vào sự
vĩnh tịch của ư niệm trừu tượng.
Trước tiên cần phải chứng nghiệm cái
rỗng rang trong suốt th́ ta mới có thể thương
yêu Thiên Nhiên với vô vàn sự vật muôn h́nh muôn vẻ, mà
vẫn không rơi vào nhị biên. Bao lâu ta c̣n nuôi
dưỡng vọng niệm dấy khởi từ sự
phân chia giữa chủ thể và khách thể, và tin rằng
đó là tối hậu, th́ cái rỗng rang trong suốt
sẽ mờ đục và t́nh yêu Thiên Nhiên sẽ bị
uế nhiễm bởi nhị biên và nguy biện.
Thiền sư Tịch Thất sáng lập thiền viện
Vĩnh Nguyên ở Nhật có bài thơ:
Gió tung sóng đổ xuôi triền thác
Xô sóng reo lời nhạc nhuận tươi
Trên đồi kia vầng trăng vằng vặc
Bóng trúc che khung cửa giấy mờ
Lời sơn thất, tuổi già chồng chất
Giạt dào dâng cảm hứng nguồn thơ
Mai sau chết, đá vùi thân xác
Xương cốt kia trong suốt muôn đời.
Vài bạn đọc có thể bị tính chất
độc cư và vắng lặng trong bài thơ quyến
rũ, nhưng thật ra điều này không dám dúng mục
tiêu quá ư rơ ràng đối với ai thấu đáo
Thiền. Thiền sư nghệ sĩ nếu không băo ḥa
với cảm giác của Tịch Thất đă biểu
lộ một cách tượng h́nh như trên, th́ không
thể nào hy vọng giao cảm với Thiên Nhiên và cũng
không thể nào biết thương yêu Thiên Nhiên. Rỗng
rang trong suốt là ch́a khóa mơ cưa vào Thiền nghĩa
của Thiên Nhiên, và chính từ điểm đó mà bắt
đầu thương yêu Thiên Nhiên. Khi có ai nói rằng
Thiền cho chúng ta nền tảng triết lư và tôn giáo trong
t́nh yêu Thiên Nhiên, th́ chúng ta cần lưu tâm triệt
để cảm thức và phong cách Thiền vị đó.
Khi Sir George Samson (tác giả quyên Đoản Thiên Lịch
Sử Văn Hóa Nước Nhật) ức đoán rằng
“giới quư tộc, tăng sĩ, nghệ sĩ xúc
động v́ tin rằng nhất tính trùm khắp toàn
thể Thiên Nhiên" và "đây là cứu cánh của
Thiền giả, v́ qua sự thanh lọc tâm khỏi
những vọng động ngă chấp sẽ đạt
tới tịch lặng, trực giác về nhất tính
giữa ḿnh với vũ trụ, nhưng tác giả lại
không thấy phần đóng góp của Thiền vào ḷng
thưởng ngoạn chân mỹ của người
Nhật đối với Thiên Nhiên. Tác giả không thể
giũ sạch ư niệm về “vĩnh tịch"
hoặc sự đồng nhất trên mặt tâm linh
giữa chủ thể và khách thể.
Ư niệm về "đồng nhất tâm linh", qua
đó những vọng động ngă chấp của chúng
ta bị lóng lặng, và trong đó vĩnh tịch sẽ
được chứng nghiệm, lại là một ư
niệm hấp dẫn. Hầu hết người học
về văn hóa và triết học Đông phương
đều bảo lưu ư kiến đó và xem như là ch́a
khóa giúp họ mở cửa tâm lư huân tập lâu đời
của người Aù Đông. Nhưng đây chỉ là t́m
cách lư giải một sự huyền diệu theo tinh
thần Tây phương - thực ra không có cách nào khác. Nói
một cách thẳng thắn th́ Thiền không thừa
nhận "nhất tính trùm khắp Thiên Nhiên, cũng không
nỗ lực chứng nghiệm tính đồng nhất
bằng cách thanh lọc tâm hết vọng động ngă
chấp. Đối với tác giả lời phát biểu
trên th́ hội được “nhất tính"
đương nhiên là chứng được “đồng
tính" ẩn phía sau, một khi đă thành tựu sự
thanh lọc ngă chấp. Rất khó bẻ lại ư kiến
có sức thuyết phục này chừng nào c̣n lập cứ
theo con đường lư luận giữa Có và Không. Tôi
sẽ giải thích rơ hơn ở chương sau.
Bây giờ cần phải nói về khoa học luận
của Thiền. Từ ngữ này nghe ra có vẻ triết
học, nhưng chủ đích của tôi là muốn nói lên
một cách thẳng thắn sự thật về trực
giác Thiền. Đối với Thiền điều
lolắng bậc nhất phải làm, trong sắc thái
độc đáo của ḿnh, là loại trừ mọi quan
niệm trung gian dưới mọi h́nh thức. Mọi
sự trung gian đặt để trước Thiền
cốt t́m hiểu sự thật về chứng nghiệm
chắc chắn sẽ làm mờ đục bản chất
của chứng nghiệm.
Thay v́ làm sáng to hay giản dị hóa vấn đề,
sự hiện diện của đệ tam nhân luôn luôn
kết thúc trong sự tạo ra phức tạp và tối
tăm. Do đó Thiền ghê tởm trung gian. Thiền
khuyến cáo người học đạo nên trực
tiếp với chủ đích, dù như thế nào đi
nữa.
Chúng ta thường nói về đồng nhất trong
nhà Thiền, nhưng từ này chưa đúng. Đồng
nhất nghĩa là giả định trước đó có
hai chữ đối nghịch: chủ và khách, nhưng chân
lư th́ ngay từ đầu không hề có hai chữ
đối nghịch như thế để Thiền
phải làm công việc đồng nhất. Thực sự
không hề có phân chia giữa chủ thể và khách thể,
và mọi sự phân biệt chia chẻ là do ta tạo tác sau
này, mặc dù khái niệm về thời gian không can dự
ở đây. Mục đích của Thiền là khôi phục
kinh nghiệm về tính bất khả phân nguyên bản,
nghĩa là, nói cách khác, quay trở về bản thiên thanh
tịnh và rỗng rang trong suốt. Đây là lư do tại sao
trong nhà Thiền sự phân biệt đố đăi là
điều cấm kỵ. Cần phải báo động
với môn đồ thuyết nhất tính và tịch
lặng rằng họ dang bị những khái niệm
bủa vây; nên để họ giáp mặt những sự
kiện thực tế, sống trong và sống với
những sự kiện thực tế.
+ Một hôm
Trường Sa đi dạo núi về đến cửa
cổng, Thủ tọa hỏi:
- Ḥa
thượng di đâu về?
Trường Sa
đáp:
- Đi dạo
về
- Đến
chỗ nào đi về?
- Trước
tùy cỏ thơm đến, sau theo hoa rụng về.
(Tắc 36 - Bích
Nham Lục)
Có phải sự diễn tả ở đây ám chỉ
cái "tịch lặng ẩn khuất trong chuyển
động?" Hoặc tính đồng nhất giữa
Trường Sa với cỏ đến và hoa về?
+ Ngưỡng
Sơn một hôm cùng Trường Sa xem trăng.
Ngưỡng Sơn chỉ mặt trăng nói:
- Mỗi
người trọn một cái này, chỉ v́ dùng chẳng
được
(Ám chỉ “nhất tính” và “tịch lặng” chăng?)
Trường Sa
bảo:
Vừa là
tiện đẹp, ông dùng xem.
(“Nhất
tính" và "tịch lặng" vẫn c̣n mà mắt, sao
"dùng" đượcc?)
- Sư thúc dùng
xem!
(Có phải là
nhập Niết-bàn tịch diệt?)
Trường Sa
cho một đạp té nhào. Ngưỡng Sơn
đứng dậy nói:
Sư thúc
giống như cọp!
(Khi cọp
cũng như sư tử lông vàng rống lên th́ bóng ma
"nhất tính" tiêu tan, cả "vĩnh tịch"
cũng biến mất).
Quả là một
cảnh tượng sống động thật lạ
kỳ diễn ra giữa các Thiền sư thi nhân,
dường như các vị đang thích thú trong ánh trăng
thanh lương giữa đêm, và đă làm chúng ta phải
khựng lại và nghĩ suy về ư nghĩa của
Thiền đối với t́nh yêu Thiên Nhiên. Có một cái ǵ
ở đây được thực sự khuấy
động hai nhà sư rơ ràng đang trầm tư và thương
yêu Thiên Nhiên?
Khoa học
luận của Thiền không nhờ đến trung gian ư
niệm. Nếu bạn muốn hiểu Thiền th́ ngay
đó, tức th́, không suy tính nghĩ lưỡng, không
phải ôm đầu chạy t́m chỗ này, chỗ nọ.
V́ trong lúc bạn t́m cầu th́ đối tượng
sẽ vuột mất. Nắm bắt tức khắc,
lĩnh hội tức th́ chính là đặc điểm
của Thiền. Nếu như người Hy Lạp
dạy chúng ta làm sao để lư luận và Thiên Chúa giáo
dạy phải đặt đức tin vào đâu th́
Thiền chỉ cho ta siêu vượt lư luận và không
được đắn đo chần chờ, ngay cả
khi đạt đến chỗ giáp mặt "cái không
thể thấy dược". Bởi v́ quan điểm
của Thiền là nhận ra cái tuyệt đối, nơi
không c̣n bóng dáng nhị nguyên dù dưới bất cứ h́nh
thức nào . Lư luận th́ phát xuất từ sự phân chia
chủ thể với khách thể, c̣n đức tin th́ phân
biệt giữa cái thấy dược và không thấy
được. Tư duy theo Tây phương không bao giờ
bỏ đuốc song đề miên trương này, cái này
hoặc cái kia, lư trí hoặc tín tâm, con người hoặc
Thượng Đế v.v...
Đối với Thiền
mọi việc này đều bị tháo gỡ và quét
sạch, v́ đó là bức màn che lấp trí quán chiếu vào
tận cùng bản chất đời sống và thực
tại. Thiền dẫn chúng ta vào giới xứ tánh Không,
chỗ mà thuyết khái niệm mất chân đứng
nơi mà cây không rễ sẽ mọc lên, và làn gió mát sẽ
thổi khắp đất đai.
Qua sự diễn tả một cách ngắn gọn
đặc điểm của Thiền, chúng ta có thể
thấy phong cách của Thiền đối với Thiên
Nhiên như thế nào. Không phải trong ư nghĩa
đồng nhất hoặc tịch lặng mà Thiền nh́n
và thương yêu Thiên Nhiên. Thiên Nhiên luôn luôn chuyển
động, không bao giờ đứng yên. Nếu như
Thiên Nhiên có dược yêu thương th́ nó phải được
nắm trọn trong cái động, và ta cần minh
định đây chính là giá trị mỹ học của
Thiền. T́m kiếm yên lặng tức giết chết
Thiên Nhiên, chân đứng nhịp đập của nó, và ta
chỉ c̣n cái thây cứng ngắt để ôm giữ. Ca
tụng yên lặng là sùng mộ trừu tượng và khô
chết. Không có cái ǵ trong đó để thương yêu và
Đồng nhất cũng là trạng thái tĩnh và
chắc chắn là dính liền với tử. Khi chúng ta
chết, chúng ta trở về với cát bụi nơi chúng
ta sinh ra, như thế chúng ta đồng nhất với
đất. Đồng nhất không phải là diều ǵ
đáng thèm thuồng quá đỗi như vậy. Nên phá
bỏ mọi rào cản nhân tạo mà chúng ta đă dựng
lên giữa Thiên Nhiên và chính ḿnh, v́ chỉ khi nào dẹp
bỏ hết ta mói nh́n thấy đến tận cùng trái
tim sinh lực của Thiên Nhiên và cùng chung sống với
Thiên Nhiên - đây mới là ư nghĩa đích thực của
t́nh yêu. V́ lư do đó mà bắt buộc ta phải dẹp
sạch mọi dàn dựng ư niệm. Khi Thiền nói
đến rỗng rang trong suốt có nghĩa là dẹp
sạch, là lau sạch hoàn toàn mặt lương tâm. Tuy
nhiên sự thật là gương vốn dĩ chưa
hề mờ bụi, và cũng không cần chùi rửa làm
ǵ; nhưng bởi v́ những thứ tư trang kháiniệm
như đồng nhất, tịch lặng, nhất
thể, động niệm ngă chấp v.v... mà bắt
buộc ta phải tổng vệ sinh.
Đọc đến đây có người sẽ bảo
Thiền là h́nh thái của thuyết Thiên Nhiên thần bí,
thuyết trực giác triết lư và là một tôn giáo xiển
dương chủ nghĩa giản dị và khổ
hạnh. Dù thế nào di nữa Thiền cũng cho ta
một cái nh́n tổng quan về thế gian rơ ràng và sáng
suốt nhất, bởi v́ giới xứ của Thiền
trùm khắp hằng ngàn vô số tinh thể cơi giới, và
c̣n siêu vượt tất cả. Thiền có sức quán
chiếu đến tận cùng thực tại bởi v́
Thiền âm vang từ cùng tận mọi hiện hữu.
Thiền biết được con đường toàn
vẹn thưởng ngoạn chân mỹ, bởi v́ Thiền
sống ngay trong tự thân của chân mỹ đó, biết
rơ như là thân kim sắc của Như Lai với ba
mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ
đẹp. Với một hậu trường như
thế, t́nh yêu Thiên Nhiên sẽ tự bộc lộ mỗi
khi ta xúc chạm cảnh giới sự vật.
HHL (Theo The Essentials of
Zen Buddhism)