SÔNG
HẰNG: LỜI DẠY TÂM
YẾU VỀ ĐẠI THỦ ẤN
Bên bờ Sông Hằng,
những lời giảng này được Ngài
Tilopa dạy cho Naropa
Phạn Ngữ (Sanskrit): Mahamudra
Upadesham, Tạng Ngữ: Chaggya Chenpo Menngag
Bản tiếng Anh do Ari Kiev chuyển
ngữ: Essential Instructions on Mahamudra
Bản tiếng Việt do Cư Sĩ
Nguyên Giác chuyển ngữ
Thư Viện Hoa Sen
Thành kính đảnh lễ
Trí Tuệ Bất Nhị Thù Thắng. [1]
Này
Naropa thông minh, kẻ đang kham nhẫn khổ
đau,
ngươi đã chịu đựng gian nan,
và hết lòng tận tụy với đạo
sư.
Do vậy, cho dù Đại Thủ Ấn không
có thể được phô bày,
ngươi hãy một lòng ghi khắc lời
dạy này, hỡi kẻ may mắn!
Ô!
Hãy nhìn kỹ vào các pháp [hiện
tượng] thế gian!
Hư ảo và hệt như mơ, chúng
không thể còn mãi!
[Nhưng] chúng không phải là mơ hay
hư ảo trong đời thường.
Do vậy, khi xa lìa được tà
kiến,
ngươi phát huệ, chiếu kiến vào
các họat động thế gian.
Hòan tòan cắt lìa các tâm thủ
và xả, ưa thích và ghét bỏ
-- [các tâm đó là] cõi của
luân hồi,
hãy thiền định đơn độc
nơi núi rừng.
Khi
cảnh giới vô-chứng (non-attainment)
được chứng nhập,
nhờ giữ tâm mình liên tục
phi-thiền-định (non-meditation),
thì Đại Thủ Ấn được
thành tựu.
Những chuyện thế gian là nguyên do của
đau khổ.
Hãy nhìn vào ý nghĩa cốt tủy
tối hậu
mà nhận chân ra cái vô dụng của
hành vi so đo suy lường (deliberate action).
Sự
thật vượt ngoài tri thức
sẽ không thể thấy được bằng
phương tiện tri thức.
Nơi của vô-tác (non-action)
sẽ không tới được bằng hành
vi so đo tạo tác.
Nếu ngươi muốn đạt tới nơi
của niệm siêu vượt vô-tác,
thì hãy cắt đứt gốc rễ của
tâm,
và hãy an nghỉ trong tánh biết trần
trụi.
Hãy
để dòng sông ô nhiễm của niệm
tưởng
vào trong cái trong trẻo [tự nhiên]
của nó.
Đừng thủ hay xả, đừng nhận hay
bỏ đối với các hiện tướng,
hãy cứ để mặc chúng như
chúng là.
Khi không nhận mà cũng không bỏ,
thì [tâm] được giải thóat
vào Ðại Thủ Ấn.
Cũng
như, [khi] cắt đi cội rễ của một
cây có nhiều cành và cuống
lá,
thì mười ngàn cành và hàng
trăm ngàn lá sẽ rụi tàn.
Cũng
như, ngay cả bóng tối gom về của một
ngàn đại kiếp
cũng bị xua tan bởi một ngọn đèn
đơn độc.
Tương tự, một khỏanh khắc bừng
sáng của tự tâm
Chắc chắn sẽ xua hết nhiều đại
kiếp tội lỗi u mê.
Nếu
người hạ căn không thể an trụ trong
nghĩa tối hậu,
họ nên tập pháp Niệm Hơi Thở,
[2]
và đừng ráng sức đưa mình
vào tánh biết.
Hãy tinh tấn nỗ lực cho tới khi
nào
ngươi an trụ được trong tánh
biết hiện tiền
nhờ phuơng tiện Thiền Chỉ và
Thiền Quán. [3]
Cũng
như, khi ngươi nhìn vào giữa hư
không,
tất cả định kiến về biên
địa và trung tâm đều biến
mất.
Cũng vậy, khi ngươi lấy tâm nhìn
tâm,
thì vô lượng niệm sẽ biến
mất, và ngươi thấy được tự
tánh của tâm.
Cũng
như, hơi nước bay lên từ đất
và mây tan biến vào hư không,
chúng đi không về đâu và
cũng không trụ vào bất kỳ
đâu.
Cũng thế, vô lượng niệm khởi
lên từ tâm:
bằng cách nhìn vào tự tâm
mình, thì các làn sóng niệm biến
mất.
Cũng
như, hư không lìa xa các sắc màu
và hình tướng.
Hư không bất biến, không nhiễm
chút gì của trắng hay đen.
Cũng thế, tự tâm, siêu vượt qua
sắc màu và hình tướng,
thì không nhiễm bởi các hiện
tượng trắng, đen của đức hạnh
và tội lỗi.
Cũng
như, mặt trời trong trẻo và thanh
tịnh
không bị ngăn che bởi bóng tối
của một ngàn đại kiếp.
Tương tự, các đại kiếp trôi
lăn trong luân hồi
không thể ngăn che tự tánh chiếu ngời
của tâm.
Cũng
như, mặc dù hư không bị xem là
‘rỗng không,’
nhưng tự hư không lại không thể
được mô tả bởi [các chữ]
như thế.
Tương tự, cho dù tự tâm
được mô tả là ‘tịnh
quang,’
nhưng vẫn không có cơ sở nào
để xem xét nó qua các lời mô
tả như thế.
Thí
dụ, hư không vốn không chỗ trụ
nào để bám víu, nương tựa
Hệt như hư không, Ðại Thủ Ấn --
tức là chính tự tâm mình
cũng không có chỗ nào để
trụ.
Hãy [để tâm] an nghỉ tự
nhiên
trong dòng chảy liên tục nguyên sơ
không tạo tác.
Khi các buộc ràng được nới
lỏng,
thì không còn ngờ vực gì về
giải thóat.
Trong
cách đó, tự tánh của tâm thì
hệt như hư không.
Tất cả các hiện tượng đều
được bao trùm trong đó.
Hòan
tòan, đừng lao nhọc thân thể
và hãy giữ [thân tâm] an nghỉ
tự nhiên.
Không nói nhiều, sẽ nghe [âm thanh]
hệt như một tiếng vang.
Không nghĩ ngợi tư lường, hãy
nhìn vào thực tại được hiển
lộ minh bạch.
Thân
này mong manh, hệt như lau sậy;
và tâm, hệt như giữa bầu hư
không, siêu vượt cảnh giới của
niệm.
Hãy an nghỉ [thân tâm] trong trạng
thái đó,
không rời ra hay đặt để vào,
không xả không thủ.
Khi tâm không còn chỗ trụ nào
[vô sở trụ],
thì đó là Ðại Thủ Ấn.
Khi
tự ngươi vào được như
thế,
thì sự giác ngộ tối thắng
được thành tựu.
Khi
không còn một pháp [vật] để
trụ,
thì tâm trong trẻo tự nhiên.
Khi không còn một đường nào
[để đi],
thì đã vào được con
đường của chư Phật.
Bằng cách an trụ phi-thiền-định,
thì sự giác ngộ tối thắng
được thành tựu.
Cái
nhìn bất nhị, siêu vượt tất cả
chủ thể và đối tượng
là vua của các thị kiến.
Khi không còn dao động gì [ngòai
cái nhìn này]
thì đó là vua của các thiền
định.
Khi không còn tâm tạo tác suy
lường nào,
thì đó là vua của các pháp
hành.
Khi không còn mong đợi hay ngờ vực
nào,
thì quả được hiển lộ.
Tự
tánh vô sinh của vạn pháp hiển hiện
khi tan bức màn vô minh.
Đừng thực hành thiền định
và hậu-thiền-định (post-meditation),
nhưng hãy an nghỉ trong tự tánh vô
sinh.
Như thế, các cảnh tướng [ở
ngòai], các niệm tưởng [ở trong],
và ý thức so đo suy lường đều
biến sạch.
Giải
thóat hoàn toàn khỏi các biên vực
là thị kiến tối thượng.
Không bờ bến, sâu thẳm và bao la
bát ngát, là thiền định tối
thượng.
Vô tác, an trú trong tự tánh, là
pháp hành tối thượng.
Xa lìa các mong đợi, an trú trong tự
tánh, là quả tối thượng.
Với
người mới tu, tâm hệt như thác
nước.
Tới giữa, nó chảy dịu dàng, như
Sông Hằng.
Tới tận cùng, nó hệt như sông
chảy hòa vào biển -- như mẹ và con
hội ngộ.
Tánh
sáng, tức Ðại Thủ Ấn,
sẽ không thấy được xuyên qua
việc diễn giải [các cỗ xe] ba-la-mật
[Đại Thừa] và mật chú [Kim Cang
Thừa],
các bộ kinh kể cả bộ Luật
Tạng,
hay ngay cả xuyên qua các kinh luận đơn
lẻ và hệ thống giáo điều.
Khi
ngươi không còn tạo tác thêu
dệt nào trong tâm,
và không còn bất kỳ ước
muốn nào,
thì [các niệm] hệt như các
đợt sóng tự sinh và tự diệt trong
nước.
Khi một ước muốn khởi lên,
thì tánh sáng bị che đi, và
không được chứng ngộ.
Gìn
giữ các lời nguyện một cách khái
niệm tri thức,
thì ngươi đã vi phạm mật
nguyện samaya [4] trên tầng
đệ nhất nghĩa.
Nếu tâm an trú trong đệ nhất nghĩa
vô trụ, phi đối tượng,
thì mật nguyện samaya bất khả hư
hoại là một ngọn đèn trong bóng
tối.
Khi,
vắng sạch bất kỳ ước muốn
nào,
ngươi không bị chấp thủ vào
một cách nhìn nào,
thì tất cả giáo pháp trong Kinh
Phật, không loại trừ giáo pháp
nào,
đều sẽ được chứng ngộ.
Nếu ngươi gắng sức vào
được chân lý này,
thì ngươi sẽ được giải
thóat khỏi nhà tù luân hồi.
Nếu
ngươi thiền định trong chân lý
này,
thì tất cả vô minh, chướng ngại
và si mê sẽ bị thiêu rụi.
Do vậy, nó được gọi là ngọn
đèn của giáo pháp.
Những
người u mê không hướng tâm
đến chân lý này,
cứ đều đặn bị cuốn trôi
đi và vùi dập bởi dòng sông
lớn của luân hồi.
Thật là buồn khi chúng sanh cứ chịu
nỗi khổ bất khả chịu đựng
của việc tái sanh vào đường
dữ.
Nếu
ngươi muốn giải thóat khỏi đau
khổ, hãy theo một vị đạo sư
thượng thủ.
Được ơn lành của thầy, tâm
của ngươi sẽ được giải
thóat.
Nếu
ngươi dựa vào dấu ấn hành
động, [5]
thì trí tuệ của Đại Lạc
và Tánh Không sẽ khởi dậy.
Như thế, hãy hợp nhất phước
lành của phương tiện thiện xảo
và trí tuệ.
Tinh
lực sẽ từ từ hạ xuống, ngừng
lại, đảo ngược và lan tỏa.
Nó sẽ được mang vào trong nội
thân và lan khắp cơ thể.
Khi
không còn chấp thủ nào, trí tuệ
của niềm an lạc rỗng rang khởi dậy
và, chiếu sáng như mặt trăng
tròn đầy,
người sẽ thành tựu trường
thọ mà không bạc một sợi tóc.
Ngươi
sẽ trở thành sáng chói và rực
rỡ, với năng lực như của một sư
tử.
Các thành tựu thông thường sẽ
mau chóng đạt được, dẫn tới
bậc thành đạt tối hậu.
Những
chúng sinh may mắn, hãy ghi nằm lòng lời
khuyên cốt tủy này về Ðại Thủ
Ấn.
Bên
bờ Sông Hằng, những lời giảng này
được Ngài Tilopa dạy cho Naropa. Xin nguyện
thành tựu công đức.
[1]
Trí Tuệ Bất Nhị Thù Thắng: Bản
của Ari Kiev viết là ‘glorious coemergence’;
chữ coemergence có nghĩa là cái thấy
bất nhị, khi thấy tâm với pháp là
một, khi thấy sinh tử với niết bàn
là một.
[2]
Bản của Ari Kiev viết là hãy ‘giữ
điểm chủ yếu của năng lực
gió’ -- hold the vital point of wind energies. Như thế
sẽ tối nghĩa, cho dù có đúng
với bản gốc Phạn Ngữ.
Bản
Anh Ngữ của Kunzang Tenzin nói rõ là
niệm hơi thở: If the mind is dull and you are unable to
practice these instructions, Retaining essential breath’ (Nếu
tâm thô tháo và ngươi không có
thể tu tập các lời dạy này, giữ
gìn hơi thở chủ yếu.)
Còn
bản Anh Ngữ của The Dharma Fellowship viết: ‘One
who wishes to attain this level of meditation should first begin by practicing
remembrance of the breath.’ (Học nhân nào muốn
thành tựu bậc thiền này, trước
tiên hãy bắt đầu bằng pháp
niệm hơi thở.)
[3]
Nhờ phương tiện chỉ và quán:
dịch từ nhóm chữ ‘by means of myriad gazes and
[modes of] focused attention,’ nghĩa là ‘bằng
phương tiện chiếu kiến thâm sâu
và [các trạng thái của] sự chú
tâm.’ Đối với người Việt,
nói ngắn gọn là ‘nhờ phương
tiện thiền quán và thiền chỉ’
thì dễ hiểu hơn.
[4]
Samaya, gốc chữ Sanskrit, nghĩa là các lời
nguyện Mật Tông trong Phật Giáo Kim Cang
Thừa; vi phạm các lời nguyện này sẽ
có ảnh hưởng cực kỳ tai hại.
[5]
Dấu ấn hành động, action mudra (Phạn: karmamudra):
có 2 nghĩa -- nghĩa thứ nhất là một
thế ấn ở tay, biểu tượng hành vi
giác ngộ; nghĩa thứ nhì là nhờ
sự trợ giúp của người phối ngẫu
tâm linh. Theo định nghĩa từ trang: http://www.namsebangdzo.com/Action_Seal_Seal_of_Action_p/g00012.htm
Bản
tiếng Anh do Ari Kiev chuyển ngữ. Copyright @
The Gar Choding Trust, 2005. Giữ bản quyền. Bản
tiếng Anh có trên trang www.gar-choding-trust.org
được tự do phổ biến nếu giữ
văn bản chính xác không thay đổi.
Bản
tiếng Việt do Cư Sĩ Nguyên Giác chuyển
ngữ, dựa phần chính vào bản tiếng
Anh ‘The Ganges: Essential Instructions on Mahamudra’
của Ari Kiev; một vài chỗ tham khảo thêm
ở 2 bản Anh-ngữ khác: bản
‘Tilopa’s Mahamudra Instruction to Naropa in Twenty Eight
Verses’ của Kunzang Tenzin, tại http://www.kagyuasia.com/l_tilo_t_song_mahamudra2.html
và bản ‘Ganga-Mahamudra-Upadesa of Sri
Tilopa’ của The Dharma Fellowship, tại
http://www.dharmafellowship.org/library/texts/the-ganga-ma.htm.
Viet_Vajra
Foundation trình bày và ấn tống
để cúng dường Ðại Sư Garchen
Triptrül Rinpoche tôn quý, bậc thành tựu
giả Ðại-Thủ-Ấn, hiện thân
của lòng từ bi vô lượng của
Quan-Âm. Nguyện tất cả chúng sinh
sớm thành tựu Ðại-Thủ-Ấn viên
mãn, trong đời này, hoặc trong các
đời sau.
Liên
lạc dịch giả Nguyên Giác: hai520222@yahoo.com
Liên lạc Viet_Vajra Foundation: vietvajra@yahoo.com
Tháng
02/2006
Ngài
Tilopa (968-1069) sanh truởng tại xứ Ðông
Những
lời giảng này đã được
ngài truyền lại cho đại đệ tử
của ngài là Naropa (1016-1100). Ngài Naropa
xuất thân là một vị hoàng tử
xứ Ấn và là một học giả lỗi
lạc từ đại viện Phật Học Nalanda,
nhưng ngài đã từ bỏ hết thảy
để tìm về dưới chân của
đạo sư Tilopa, trải qua 12 cảnh khổ
nhục cùng cực dưới sự hướng
dẫn của thầy, và đã đắc
Ðại-Thủ- Ấn viên mãn. Hai
ngài Tilopa và Naropa được coi là hai
vị Sơ Tổ của giòng ‘Khẩu
Truyền’ Kagyu, sau truyền xuống đến các
vị đại đạo sư Tây-Tạng là
Marpa Milarepa và Gampopa, cho đến tận
ngày nay.