|
LÁ CHÚC THƯ DƯỚI
NỀN CỔ THÁP
Toại Khanh Chùa Túc Châu ở Tế Một tấm lưng kḥm trên h́nh hài
gầy guộc, y phục nâu ṣng và chỉ dùng mổi cây
gậy trúc khẳng khiu để tới lui đây đó,
không ít người thoạt nh́n cứ ngỡ ḥa
thượng là một lăo nông nào đó đến văn
cảnh chùa. Hiếm ai trong lần sơ ngộ có thể
ngờ được cái sở học kinh người
và một đạo hạnh thâm hậu phía sau vẻ ngoài
thô lậu thanh bần ấy. Mấy mươi năm
trước, ngài đă từ quan để đi tu
với phương trượng chùa Túc Châu lúc đó là
đại lăo tăng Vạn Tường, tương
truyền là một kỳ nhân có thể chỉ uống
nước lạnh suốt nhiều tháng trong mỗi
lần tŕ tụng một bộ kinh nào đó. Danh sư
xuất cao đồ, học chúng Túc Châu không hiếm
người măn phúc kinh luân để thừa tài an bang tế
thế. Đầu thập niên 1940, t́nh h́nh
chính trị Trung Quốc ngày một phức tạp, xă
hội cũng theo đó biến đổi tệ hại
hơn. T́nh trạng sinh hoạt của chùa Túc Châu dĩ
nhiên cũng ít nhiều bị ảnh hưởng theo ḍng
thác thời cuộc. Tăng chúng ṭng học tại đây
ngày một thưa thớt. Từ con số trăm vị
lúc cực thịnh xuống c̣n không được
một nửa, vậy mà cũng phải bữa cháo
bữa rau. Rồi một ngày sau năm 1949, có ai đó ác
tâm tố cáo chùa chứa phản động, chính
quyền ra tay truy xét thô bạo rồi giải tán toàn
bộ học chúng chùa Túc Châu. Bao nhiêu đồ đệ
tinh anh thực học của hoà thượng Vạn Khánh
giờ chẵng c̣n ai. Ngài trở thành một ông từ già
với hai chú tiểu tóc đào giữa ngôi đại
tự mênh mông. Chùa vắng như không người,
nhưng tay mắt công an vẫn ngày đêm lảng
vảng. Thời gian trôi nhanh không ngờ được.
Khách văng lai thưa dần, rồi không c̣n ai về thăm
Túc Châu nữa. Tin tức ở đó ngày càng hiếm hoi.
Một ngày mùa đông năm 1981 có vị lăo tăng ghé
lại Túc Châu xin ngũ nhờ qua đêm. Chùa chỉ c̣n
hai sư bà hom hem. Khu hậu viên ngổn ngang chuồng
trại. Sau ngày giải phóng, chùa Túc Châu có lúc
được trưng dụng làm trại chăn nuôi gia
súc. Sau một thời gian chăn nuôi thất bại, chùa
Túc Châu lại bị bỏ hoang rồi dần dà
địa phương cho mời hai sư bà từ
một chùa khác sang trông nom nhang khói ở đây. Từ sau
lúc hoà thượng Vạn Khánh viên tịch, chẵng
biết hai chú tiểu hầu ngài đă trôi giạt về
đâu. Tiếp đăi vị lăo tăng
như một khách quư, có lẽ phần nào cũng do
thấy ông cao tuổi, hai sư bà cung kính hướng
dẫn ông đi thăm quanh chùa và khi đi ngang ngôi tháp sau
hậu viên, họ thản nhiên cho biết trong đó là
chổ thờ di cốt vị phương trượng
cuối cùng của chùa Túc Châu. Vị lăo tăng ngơ ư
muốn được vào làm lễ, hai sư bà dĩ
nhiên đồng ư. Ḷng tháp chật hẹp, lại nặng
mùi ẩm mốc. Ông ngậm ngùi nh́n lên một cái bọc
lụa màu đỏ đặt trên bệ thờ. Trong
đó là chiếc tiểu sành đựng di cốt của
ḥa thượng Vạn Khánh. Một nhúm nhang đang cháy
dở dang bên cạnh. Vị lăo tăng đưa mắt
nh́n quanh rồi khẻ giật ḿnh. Ông vừa đọc
thấy hai hàng chữ ngoằn ngoèo trên vách tháp. Cố
giữ vẻ tự nhiên, ông chỉ tay lên vách rồi
từ tốn hỏi hai sư bà : - Xin
lỗi, chữ ǵ trên đó lem nhem quá, hai sư bà có
thể đọc cho nghe được không ạ ?
Mắt tôi kém quá … Hai người gật đầu : - Chúng tôi
có thấy, thưa thầy, nhưng không đọc
được là những chữ ǵ. Có lẽ chỉ là
h́nh hí họa của ai đó tiện tay thôi ạ ! Nằm trằn trọc trong gian pḥng
rộng thênh của sư phụ ngày nào, Đại
Chuyết cứ nghĩ măi đến hai ḍng chữ
đọc được khi năy. Có lẽ cho đến
bây giờ thiên hạ vẫn chưa ai chú ư đến
chúng. Hai sư bà không đọc được chỉ do
họ không thể ngờ đó là hai ḍng thảo tự
được viết ngược. Thảo tự
của mỗi người hầu như đều có
chỗ tùy tiện riêng tư, đă vậy nếu bị
viết ngược th́ càng mù mịt hơn. Ông
đọc được chỉ v́ từ lúc c̣n là
học tăng, một vài huynh đệ đồng khóa
của ông đă cùng nghĩ ra lối viết ấy
để xướng họa trong lúc giải trí.
Những người đọc được kiểu lộng
thư này dĩ nhiên không nhiều. Hai ḍng chữ kia
tiếp tục nhăy nhót trong óc ông như một thách
đố : Đài
thượng vô tục diệm Câu một đúng là hoàn cảnh
của học viện Túc Châu bây giờ. Thế c̣n câu hai
? Phải chăng sư phụ c̣n có điều muốn
nhắn gửi ? Ngài muốn dặn ḍ điều ǵ, cho
ai ? Sáng sớm hôm sau, ngay từ lúc
sương mù c̣n chưa tan hết, Đại Chuyết
đă lặng lẽ cầm chiếc đèn pin lần ra
ngôi tháp với một thanh gổ nhỏ trong tay. Sau
một lúc chau mày quan sát, ông cúi người gỏ nhẹ
xuống từng viên gạch dưới nền tháp.
Đây rồi. Trong góc cùng của tháp có một viên
gạch không được trát vữa. Đại
Chuyết giở nhẹ tấm gạch lên và bất giác
rùng ḿnh. Một cuộn giấy tṛn được phong
kín bằng sáp nến nằm khuất dưới lớp
cát mỏng. Xếp lại viên gạch vào chỗ
cũ, Đại Chuyết quay về pḥng rồi vặn
lớn ngọn đèn. Gió sớm mùa đông vẫn
lạnh như cắt da và thổi tràn từng đợt
qua khóm trúc lớn bên cửa sổ, thế mà ngồi trong
pḥng, Đại Chuyết cứ phải lấy tay áo
thấm mồ hôi trán. Bên trong lớp sáp kia đúng là lá
thư của ngài Vạn Khánh. Một lá thư dài, khá dài,
và cũng là những ḍng thảo tự viết
ngược, đầy cả hai mặt giấy. “ “ Sự biến xăy đến
với Túc Châu quá bất ngờ, khiến ta không kịp có
được một buổi uống trà cùng các con
như vẫn mong mơi, để bây giờ phải
ngồi một ḿnh mà nói với các con bằng mấy ḍng
này. Muộn chăng ? Có c̣n kịp lúc nữa hay không, các
túc đồ của ta ? Ta cũng như các con,
đều là những người tay trắng. Cái duy
nhất ta có thể để lại cho các con chỉ là
những thứ ta nhận được từ sư phụ
ḿnh và đă lấy đó làm hành trang trên đường
đạo nghiệp. Ngày nào đọc được lá
thư này của ta, có lẽ các con sẽ hiểu rơ thêm v́
sao ngày xưa ta đă như quá vô tâm khi chọn cho các con
những pháp hiệu nghe qua có phần nghịch nhĩ :
Bất Tài, Vô Đức, Vô Năng, Vô Học, Vô Trí,
Tiểu Mạn, Đại Chuyết,…Chỉ một
người duy nhất trong số các con có
được chữ Vạn của ḍng truyền pháp Túc
Châu, đó là Vạn Nhậm. Điều đó do đâu,
ta sẽ nói ở sau. Chỉ nên biết, ai ta cũng
thương đồng đều hết. Và ngay trong
việc đặt cho pháp hiệu cho từng người
cũng không hề có chút thiên vị. Chỉ có khổ tâm
dụng ư mà thôi. Bây giờ các con chẵng c̣n bên cạnh ta
nữa, mấy ḍng tâm huyết này thay ánh mắt ta dơi nh́n
theo từng bước luân lạc của các con… “ Với Bất Tài, ngọn bút kinh
nhân của học viện Túc Châu, hăy luôn nhớ lời ta
: Người thế gian c̣n biết nói lập thân tối
hạ thị văn chương, trong cửa đạo
chữ nghĩa cũng chẵng qua là một trong nhiều
phương tiện hành hoạt. Đời kẻ
cầm bút lắm khi bạc tựa kiếp tằm: Rút
hết tinh anh ghi chép chuyện đời để sau cùng
người thương tâm tổn trí lại cũng chính
là ḿnh. Chỉ nên cầm bút khi không thể có chọn
lựa nào khác, và luôn biết được chỗ
dừng để không mắc lỗi. Chép chuyện
đời sao bằng ghi chuyện ḿnh và ghi chuyện ḿnh
sao hơn được việc lặng lẽ sửa
ḿnh! “ Với Vô Đức, người
nổi bật trong đám học tṛ của ta về
khả năng giám chúng, nên nhớ lời ta : Quản chúng
ở tŕnh độ rốt ráo phải được
bắt đầu từ khả năng tự hoá, tự
quản. Con sẽ là một phương trượng
mẩu mực khi biết tự khiêm để trở
thành biển lớn dung chứa muôn sông. Tăng tục bên
con là người từ muôn phương sao tránh
được những dị biệt. Hăy quên ḿnh đi,
để không một cá tính nào của người thiên
hạ có thể làm phiền ḷng con. Đào dưỡng và
cưu mang các thế hệ tăng-già là trọng nhiệm
thiêng liêng nhất của nhà thiền. Lúc cần, hăy
biết lăng quên tất cả những ư niệm Lớn
Nhỏ Bỉ Thử. Trong Phật môn không hề có
việc người cai trị và kẻ bị trị.
Thử hỏi ai có quyền nghĩ những trưởng
tử nào đó của Như lai đang nằm
dưới tay ḿnh ? Những tục niệm như ghét
thương, sở hữu cũng cần được
cảnh giác. Người xuất gia phải sống
bằng ư niệm không nhà, nếu không cẩn cẩn
sẽ là tṛ cười thiên hạ khi bỏ nhà nhỏ
rồi lại vào nhà lớn. Bao dung, và xả kỷ là
những điều căn cội cho sự nghiệp
truyền đăng của một phương
trượng. “ Với Vô Năng, người chói
ngời với phong phạm một giảng sư quán
chúng, hăy nhớ lời ta : Hiền thánh xưa nay có
được khả năng lập ngôn v́ đă qua
được bước đầu lập hạnh.
Bản hạnh vững vàng th́ ngữ ngôn tự khắc
có hấp lực. Tài hoa trên chót lưỡi đầu môi
chỉ là tṛ chơi của một sớm một
chiều. Ngay đến người tập vơ trong dân gian
cũng phải thành tựu nội công mới mong có
được chưỡng lực. Những bậc pháp
khí đến cầu pháp sẽ nh́n con ra sao hơn là nghe
con nói ǵ. Đức Thích Tôn và các cao đồ của ngài
thuở trước đều dùng đủ cả thân
giáo và ngôn giáo để độ sinh. Không trang nghiêm
được ḷng ḿnh, người nói pháp dễ mắc
lỗi lầm, mà trong đó, Tự Tán Hủy Tha là
một điều đại kỵ của người
sứ giả Như Lai, khiến tổn giảm âm
đức, đánh mất lư tưởng nối
truyền huệ mạng. “ Với Vô Trí, một học tăng
thừa tài kinh quốc, thân đắp Phật y nhưng
vẫn nặng ḷng với thế cuộc, hăy nhớ
lời ta: Xót thương quần sinh chính là bản
hạnh của Bồ Tát, nhưng nên thương thế
nào cho hợp cách với một Sa Môn. Đừng bao
giờ chọn cho ḿnh con đường dẫn
đến tuyệt địa. V́ lắm khi măi lo dấn
thân bạt mạng mà tự mất lối về. Việc
chưa xong mà trước sau đều ngh́n trùng không
bờ bến, chơi vơi giữa ḍng. Lại nữa,
khả năng kinh quyền cũng là một vốn
liếng quan trọng cho con. Đến như việc ôm
bát khất thực để t́m một bữa ăn c̣n
phải nói đến hai chữ Tùy Duyên th́ kể chi
đến chuyện an bang tế thế càng khó lắm
thay. Kẻ làm tướng cầm quân ra trận c̣n
phải nhớ những điều cấm kỵ trong
binh gia để tránh vong mạng oan uổng th́ kẻ nuôi
hạnh Bồ Đề càng phải thận trọng
mươi lần. Chúng ta thân gửi Không Môn mà ḷng
chẵng quên thương đời, nhưng ḷng dẩu
có thương đời cũng nên nhớ thân đang
tại Không Môn. Đến được rồi cũng
đi được, đó chính là bản lănh tự
tại của một Bồ Tát giữa biễn lửa
tử sinh. Và tinh thần tự tại đó c̣n có một
ư nghĩa quan trọng khác là Bồ Tát chỉ luôn hành
động bằng sự tự quyết thông qua ḷng
đại bi và đại trí của chính ḿnh, tuyệt
không v́ tác động nào khác hay của bất cứ ai. “ Với Vô Học, người luôn
xứng danh với ngoại hiệu Ṭng Lâm Thủ Sách
bằng sở kiến thâm viễn và ḷng cầu học vô
bờ, hăy nhớ lời ta : Mỗi cá nhân chỉ là
một hạt cát nhỏ nhoi giữa vũ trụ bao la
với kiếp sống trăm năm vốn ngắn
ngũi như một chớp mắt trên ḍng thời gian
vô thủy vô chung. Những điều có thể học
được th́ nhiều như cát biển. Kiến
thức của người uyên thâm nhất thiên hạ
nhiều lắm chỉ là một vốc cát biển, một
nắm lá rừng. Do đó cái chí yếu của việc
học cốt nằm ở chổ sở dụng mà thôi.
Mỗi cuộc b́nh sinh chỉ có một lư tưởng
sống, người hiếu học đến mấy
cũng chỉ nên chọn lấy điều có thể
ứng dụng cho lư tưởng sống đời
ấy. Càng ham vung vít nhăng cuội th́ sau cùng mọi
sở tri có được chỉ là những thứ
nửa vời vô dụng. Hăy tùy sức mà học lấy
những ǵ thực sự bao hàm được cả hai
ư nghĩa tự lợi và lợi tha. Ngoài ra tuyệt
chẵng nên phí sức. Nên phân biệt rơ điều ḿnh
thích và cái ḿnh cần. Kiếp nhân sinh tựa phù vân nên
vốn không có đủ thời gian cho những đam mê
vô bổ. Kẻ học đạo giải thoát càng
phải lưu tâm cảnh giác những sở tri
chướng vốn ngăn ngại tuệ nghiệp.
Đôi khi chỉ v́ chút hư danh mà cam tâm vùi đầu làm
mọt sách quên tu há chẵng hoang phí thân người
lắm ru ! “ Ta đặc biệt cho Vạn
Nhậm cái pháp hiệu nghe ra đàng hoàng nhất ấy
cũng là có chỗ dụng ư. Hắn không sở
đắc một biệt tài nào xuất chúng, tất
cả ở hắn chỉ ở mức Cần và
Đủ. Sở trường duy nhất của hắn
là một tâm địa có thể dung ḥa mọi thứ, và
có thể khởi hành ở mọi lĩnh vực. Đó
chẵng là bản lănh mà Khổng Phu Tử xưa đă
tự nhận xét về ḿnh khi so sánh với các đệ
tử hay sao ? Dĩ nhiên trong một đại sự quan
trọng Vạn Nhậm tuyệt không thể không cậy
nhờ đến từng người trong các con, và
ngược lại, các con có lẽ cũng rất cần
đến một người giống hắn.
Tương duyên chính là mạch sống trong quan hệ sinh
tồn của vạn pháp hữu vi. Muôn duyên ḥa hợp
nhau mà vận hành đồng bộ. Trong đó không có chính
thứ, trước sau, trên dưới, mạnh yếu
theo chiều dọc v́ tất cả đều có cùng cái
giá trị của một mắt xích trong xâu chuỗi
tương quan. Ta chỉ lo là khi thiên hạ ai cũng
muốn trở thành sao sáng th́ một người như
Vạn Nhậm quả là không dễ gặp. Ta may mắn
có được một học tṛ như hắn, chỉ
tiếc hắn quá yểu mệnh. C̣n nhớ buổi
chiều an táng hắn, ta đă đau xé ḷng như ngày
xưa đức Khổng đă khóc thương Nhan
Hồi. Các con nên hănh diện v́ một huynh đệ
như hắn. Dù hôm nay hắn đă không c̣n nữa… “C̣n nhiều, nhiều lắm. Có
thể nói một trăm hai mươi học tăng
ở Túc Châu đều có sở trường. Trong
mấy trang giấy này làm sao ta có thể kể ra hết
từng người. Nhưng chung quy lại, mỗi
người trong số các con có thể phần nào dựa
theo ư nghĩa tên ḿnh mà đoán được dụng ư
giáo huấn của ta. Nên nhớ, hăy lấp đầy
sở đoản và phát huy sở trường bằng
một khẩu quyết duy nhất : Vạn Pháp Do Duyên,
Tùy Thời Tiến Thoái ! “ Ta viết lá thư này khi các con
đă ra đi ba năm mười một tháng. Viết
khi tự biết ḿnh không c̣n lại bao nhiêu thời gian.
Viết mà không biết gửi cho ai, và làm sao gửi. Ta
đặt lá thư dưới nền cổ tháp với
một lời ám chỉ mơ hồ trên vách. Ta chỉ xem
đây như một tṛ chơi định mệnh
với kết quả thật mong manh. Hi vọng mai này khi
trở lại Túc Châu, ai đó trong số các con sẽ t́m
thấy lá thư này. Nếu được vậy,
đúng là duyên phận sư đồ của chúng ta
vẫn c̣n đó…” Thầy Đại Chuyết bàng hoàng
gấp lại lá thư. Ông lặng người
tưởng lại gương mặt từ bi của
sư phụ rồi nghĩ đến số phận
của từng người trong huynh đệ ông từ
sau ngày chia tay nhau năm đó ở Túc Châu. Quá nửa
số đó đă bằng mọi cách rời Hoa Lục
để t́m ra hải ngoại. Kẻ sang Nhật,
người sang Đài Loan, Hương Cảng, rồi
cả Âu, Phi, Mỹ, Úc. Thành công cũng có, thất bại
cũng nhiều. Chỉ tiếc không ai đọc
được lá thư này của thầy để
rồi không ít người đă vong thân ngay trên chính
sở đắc của ḿnh. Lá thư của sư
phụ như ngầm chứa những lời cảnh báo
nghiêm trọng và buồn thay, nó đă chính xác một cách
tàn nhẫn. Chiều hôm đó, Đại
Chuyết ra tháp lạy thầy lần cuối rồi
lặng lẽ ra đi với lá di thư cất kỹ
trong túi áo như một kỷ vật mà cũng là món hành
trang sắp sửa muộn màng. Ông về lại FL 02/05 |
![]()
![]()
![]()