TINH
THẦN CỞI MỞ KHOAN DUNG CỦA ĐẠO PHẬT
Thích
Phước Sơn
Đạo
Phật từ Ấn Độ du nhập vào Việt
Trong kinh
Pháp Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa,
đức Phật kể lại tiền thân của
Ngài từng có mối liên hệ với
Đề Bà Đạt Đa. Chính Đề
Bà đã là yếu tố trợ duyên
để Ngài tinh tấn tu hành, chóng
thành chánh quả. Do thế, đối với
Đề Bà, đức Phật xem như một
ân nhân, một thiện hữu trí thức,
nên dù triết hiện tại có ác
tâm làm hại Phật, sau khi chết phải
đọa vào địa ngục trong một kiếp,
Phật vẫn thọ ký cho ông trong tương
lai sẽ thành Phật hiệu là Thiên
Vương Như Lai.
Đọc
qua đoạn này, chúng ta cảm thấy vô
cùng thống khoái, bởi lẽ, những gì
uẩn khúc giữa đức Phật và
Đề Bà Đạt Đa được hóa
giải hoàn toàn và khai thông một
cách triệt để.
Tấm
gương của đức Phật thường
được các đệ tử noi theo. Vào
đời Đường ở Trung Quốc, Hàn
Dũ (768-824) vốn là một nhà Nho bảo
thủ, từng có thành kiến với Phật
giáo nên đã phản đối việc
rước Xá lợi Phật của vua
Đường Hiến Tông, và bị Hiến
Tông đày đến Triều Châu. Trong
lúc ở đây, có thì giờ nhàn
rỗi, ông bắt đầu tìm hiểu Phật
giáo, rồi thọ giáo với Hòa thượng
Đại Điền, được Đại
Điền tận tình hướng dẫn và
cuối cùng ông đã hướng về
chánh pháp, lấy đạo giải thoát
làm chỗ nương thân cho đến chung
cục cuộc đời.
Tương
tự như Hàn Dũ là trường hợp
Trương Hán Siêu (?-1314) đời Trần
ở Việt
"Non xanh xanh vẫn như
xưa
Du nhân đi mãi
vẫn chưa thấy về
Sóng in bóng tháp
Bồ Đề
Mở toang cửa động
liền kề chân mây
Đời lênh đênh
trước khác nay
Thân nhàn mới
biết trước ngày lầm to
Mênh mông trời
đất năm hồ
Vòm râu cũ, kiếp
thăm dò nơi đâu".
Có lẽ
về già, Trương Hán Siêu đã
thắm thía những nỗi thăng trầm trong
chốn hoạn trường như Nguyễn Công
Trứ đã phàn nàn:
"Ra trường danh lợi
vinh liền nhục,
Vào cuộc trần ai
khóc lộn cuời".
Nhờ
vậy, ông mới ý thức được
kiếp sống thực mỏng manh, thân phận con người
vô cùng bé bỏng. Do đó, đứng
trước hình ảnh từ bi của đức
Phật, qua cuộc sống ung dung bình dị của các
Thiền sư, dường như đó là
chỗ nương tựa cần thiết cho những ai
từng gặp nhiều phong ba bão tố của
cuộc đời. Vả lại, bản chất của
người trí thức là luôn luôn
khát khao tìm đến những giá trị
siêu việt. Thế nhưng, trong cuộc sống
đời thường, ông và Nguyễn Công
Trứ đều là những người tích
cực phụng sự đất nước, và
chưa ai dám bảo họ là những kẻ
trốn đời tiêu cực bao giờ.
Vào
khoảng đầu thế kỷ 19, ở miền Nam,
có một nhà khoa bản nổi tiếng là
thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807-1972), khi soạn
bốn tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên, có
đôi chỗ ông bỡn cợt các nhà
sư. Thế nhưng, lúc ông qua đời,
bài vị của ông lại được mang
về thờ ở chùa, và chính các
nhà sư là người lo việc hương
khói cho ông. Chứng kiến cảnh tượng
ấy, hẳn có người sẽ bảo, các
nhà sư kia thật là mù mờ lẩn
thẩn, không phân biệt được ai là
tà chánh, bạn thù. Nhưng họ có
biết đâu chính các ngài đã
thể hiện đức độ bao dung mở rộng
tấm lòng Bồ tát, xử sự theo tinh thần
từ bi hỷ xả mà đức Phật
đã truyền dạy. Vả lại, nếu như
đạo Phật không biểu lộ được
tấm lòng bao dung, thì đạo Phật cũng
chẳng còn là đạo Phật nữa.
Đến
đầu thế kỷ 20, trong lúc dân tộc ta
đang tìm đủ mọi cách đánh
đuổi thực dân Pháp để giành
lại độc lập, các chùa cũng
tích cực góp phần vào sự nghiệp
chung giải phóng đất nước, xem
đó như những bổn phận thiêng liêng
của mọi người công dân yêu
nước. Tuy vậy, khi bác sĩ Yersin từ
trần tại Nha Trang năm 1943,thì chính hai
chùa Long Sơn và Long Tuyền đã đem
linh vị của bác sĩ về thờ tại
chùa, rồi làm lễ giỗ k� cho ông rất long trọng.
Bởi lẽ, họ hiểu rằng Yersin là một
nhà nhân bản, một tâm hồn chỉ
biết xả thân phụng sự nhân loại,
ông từng giúp ích cho dân chúng Nha
Trang rất nhiều, và hoàn toàn khác xa
với một tên thực dân. Việc làm
đó nói lên tinh thần trí tuệ
sáng suốt của đạo Phật, cân
nhắc chính xác, phân biệt đâu
là tà chánh một cách rõ ràng,
chứ không có thái độ cực đoan
mù quáng, hễ thấy bất cứ thứ
gì liên quan đến người Pháp
thì liền xóa sổ sạch trơn.
Năm 1963,
chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ
thị tôn giáo, Phật giáo lâm vào
cơn pháp nạn. Các nhà lãnh
đạo Phật giáo yêu cầu Chính
phủ tôn trọng tự do tín ngưỡng,
đối xử công bằng với các tôn
giáo, nhưng hoàn toàn vô hiệu.
Không có cách nào khác, Bồ tát
Quảng Đức đã dùng nhục thân
làm đuốc để soi sáng lòng
người, thức tỉnh lương tâm những
người có trách nhiệm. Nhưng lương
tâm đã không đuợc đánh
thức mà bóng tối lại bùng lên
bằng lời tuyên bố mỉa mai của bà
Ngô Đình Nhu: "Họ đã nướng
thịt người, và nếu như có thiếu
xăng thì tôi sẽ cho thêm". Lời
phát biểu ấy đã làm chấn
động dư luận trong và ngoài
nước. Thế mà,hàng giáo phẩm
Phật giáo không ai treo giá tính mạng
của bà Nhu một đồng nào như một
số giáo chủ khác đã làm khi
có kẻ xúc phạm đến tôn giáo
mình. Có chăng thì chỉ là lời
từ con rất cảm động của Đại
sứ Trần Văn Chương đối với
đứa con ngỗ ngược của mình:
"Nó đã dùng những lời lẽ
vô lễ xúc phạm đến các bậc
tôn túc giáo phẩm Phật giáo, tôi
không nhìn nhận nó là con tôi
nữa". Thế rồi, việc gì đến
phải đến. Và mọi sự đều
chuyển biến theo luật nhân quả "thiện
ác đáo đầu chung hữu báo"
(lành dữ rồi cũng đều có trả).
Năm 1988,
giáo sư Nguyễn Tài Thư viết về
lịch sử Phật giáo Việt Nam với một
ý niệm dễ dãi, có đôi chỗ
lệch lạc tinh thần đạo Phật. Vậy
mà các bậc tôn túc giáo phẩm
Phật giáo không ai than phiền lời nào.
Tuy nhiên, cuộc đời cũng không phải
hoàn toàn đơn giản, bởi lẽ, hễ
điều gì trái với sự thật, xúc
phạm đến lương tâm con người
thì sẽ có người lên tiếng
để bảo vệ sự công bằng và
bênh vực lẽ phải. Đó là giáo
sư Vũ Ngọc Khánh. Ông chỉ nhân danh
lương tri của một người trí thức
chính trực mà lên tiếng, chứ không
phải lên tiếng với tư cách là
một người Phật tử.
Thái
độ viết lịch sử Phật giáo của
giáo sư Nguyễn Tài Thư thật khác xa
với thái độ khiêm tốn của thi
hào Nguyễn Du (1765-1820) khi ông nói về
lòng ngưỡng mộ kinh Kim Cương của mình
đến nỗi đọc hơn nghìn lần
mà vẫn chưa hiểu nổi ý kinh:
"Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ trung
áo chỉ đa bất minh,
Cập
đáo phân kinh thạch đài hạ,
Tài tri
vô tự thị chân kinh"
(Ta từ
nghìn bận đọc Kim Cương
Yếu
chỉ đa phần chẳng tỏ tường
Đến
lúc sắp kề bên mộ huyệt.
Biết kinh
không chữ mới chơn thường)
Tinh thần
khiêm tốn ấy cũng được thể
hiện nơi bậc tiền bối khác là
nhà bác học Lê Quí Đôn (1726-1784)
khi ông bàn về đạo Phật:
"Đạo Phật thanh tịnh vô vi, cao siêu
tịch diệt, không hệ lụy đến sự
vật, đấy cũng là đạo giáo
của bậc cao minh dùng để tu dưỡng
bản thân. Đến những lời bàn
luận sâu rộng về đạo đức,
về tinh thần, không có điều gì
là không có ý nghĩa mầu nhiệm.
Nhà Nho chúng ta cứ giữ thành kiến
nọ kia, thường hay bắt bẻ, như thế
có nên chăng?...Không gian bao la, sự vật
biến hiện, dù có tài ngang dọc cũng
không thể biết hết, huống gì kiến
văn còn có nhiều chỗ chưa thấu
đáo, thế mà hễ thấy sách có
chép về những sự việc ly kỳ,
đều nhất thiết không tin, thậm chí
chê bai cả Tiên Phật, sao mà hẹp
hòi thế? Than ôi! Ngựa trắng chở kinh sang
Đông độ, có lẽ đã hơn
ngàn năm nay rồi mà giáo hóa huyền
vi, pháp thuật mầu nhiệm, thực là
cùng trời đất bất hủ. Cho nên
đã từng trải qua các vua chúa anh minh,
khanh tướng danh vọng không biết bao nhiêu
lần bài bác, dẹp trừ, nhưng chung
cục vẫn không hủy bỏ được.
Thế thì sao chúng ta lại lắm lời
chê bai để phải rước lấy vạ
miệng?" (Kiến Văn Tiểu Lục, q.9.tr.I)
Qua hai tấm gương
của Lê Quí Đôn và Nguyễn Du
trên đây, chúng ta có thể học
được một bài học về đức khiêm
tốn và sự cẩn trọng để ứng
dụng mỗi khi phải trình bày về lịch
sử của tiền nhân.
Tóm
lại, kinh nghiệm cho chúng ta thấy, chỉ
có những kẻ đạt nhân, túc học
mới biểu lộ tấm lòng khiêm hạ
một cách chân thành, cũng như chỉ
có những bậc bi trí viên dung mới
mở rộng cõi lòng bao dung tất cả.
--
o0o --
Cập
nhật ngày: 01-10-2001