Chúng tôi học Duy
Thức
Tâm
Minh
Thân kính tặng ACE
Áo Lam
Source: Quảng Đức.com
Đây là cuốn Kinh mà Anh Chị em
chúng tôi ai nấy cũng đều đã
hơn một lần đọc qua nhưng di sâu
vào thì ai cũng ‘ngán’ cả !
Vì vậy Kinh Văn mọi người đều
có, người thì có bản Phật Học
Phổ Thông ( PHPT- khóa 9) của thầy Thiện
Hoa, người thì có Duy Thức Học của
GS Thạc Đức ( là thầy Nhất Hạnh đó)
, người thì Thắng Pháp Tập Yếu
Luận của thầy Minh Châu ,hay Thành Duy
Thức Luận và Luận Câu Xá của
thầy Thiện Siêu v..v..
Vẫn biết rằng Duy Thức chính là
Tâm Lý Học Phật Giắo, mà Tâm
Lý là môn học thật hấp dẫn
với tất cả mọi người, vì vậy
mặc dù chúng ta học ban Toán ,ở
lớp 12 ngày xưa không có Tâm Lý,
cũng ráng tìm đọc ; bây giờ có
cơ hội học thì còn gì hạnh
phúc hơn ! Thế nhưng chỉ mới ‘đụng
vào’ 30 bài tụng để biết 100
Pháp là những thứ gì là anh chị
em chúng tôi ‘ dội ’ liền vì chữ
Hán rất nhiều , và dù có bài
dịch nhưng đôi khí cũng không
hiểu được . Thế là, vào một
buổi trưa nắng chang chang phải chạy lên
Vạn Hạnh cầu cứu thầy Chơn Thiện
dịch và giảng cho nghe 30 bài Tụng Duy
Thức , vì chiều nay là phải học chung
với Chúng rồi . Chúng tôi nhớ mãi
buổi trưa hôm ấy nhằm ngày cúp
điện của Viện nên thầy trò mỗi
người mỗi cái quạt giấy , Thầy
vừa nói ,vừa dịch, giảng còn chúng
tôi thì vừa chép vừa hỏi lại
nhũng chỗ ghi không kịp hay còn thắc
mắc .
Thế rồi mọi việc cũng qua đi trôi
chảy, chúng tôi sẵn sàng cho buổi
học ‘gay go’ này . Trước hết
chúng tôi nhắc nhở nhau về những
điều mới học được , như
lược qua những hệ thống tư tưởng
Duy Thức , có 3 nguồn chính :
Duy Thức Luận của Đại Thừa
Thắng Pháp Luận của Thượng Tọa
Bộ
Câu Xá Luận của Nhất Thiết Hữu
Bộ
Nói cách khác những sách mà ACE
có hay đã nghe nói đến đều
thuộc vào một trong 3 hệ thống tư
tưởng này mà thôi
Và chúng tôi cũng đồng ý
với nhau rằng mặc dù Duy Thức chúa
đựng thật nhiều thuật ngữ Phật
giáo, chữ Hán rất khó vì rất
ít gặp nhưng những vấn đề Phật
dạy trong Kinh thì lại rất gần gũi,
vì nó xảy ra ngay trong nội tâm chúng
ta, từng giây, từng phút và chúng ta
có thể theo dõi , thí nghiệm . . .
được nữa .
Thật là thích thú vô cùng,
chúng tôi dành nhau nói lên những
bài học, người nói sau thì phải
tìm ra bài học mới hơn nếu
‘không may’ bị bạn ‘chớp’
đi bài học đắc ý của mình .
Những bài học đầu tiên thuộc về
‘ngữ vựng’ ( vocabulary) như sau :
1) Bài học thứ� nhất : Tâm Vương là
gì ? Tại sao nói ‘tu tâm là tu theo
tâm vương chứ đừng chạy theo tâm
sở’?
Ta thường nghe Phật dạy ‘Tất cả
các Pháp đều vô ngã’ Duy Thức
học (DTH) dạy ta rằng ‘tất cả các
Pháp’ là gồm có 100 Pháp ( = 8
Tâm Vương + 51 Tâm Sở + 11 Sắc Pháp +
24 Tâm bất- tương- ưng-hành + 6 Pháp
Vô Vi ) ; đây là bài kệ để
đọc cho dễ thuộc :
Sắc Pháp 11 ,Tâm vương 8
Năm mươi mốt món Tâm sở nữa
Với hai mươi bốn Bất- tương- ưng
Cộng 6 Vô vi thành 100 pháp
Như vậy, Tâm Vương là 8 Pháp
dầu tiên trong 100 Pháp ; đó là :
Thứ nhất : Nhãn thức, thứ 2 : nhĩ
thức, thứ 3: tỉ thức, thứ 4 : thiệt
thức, thứ 5: thân thức , thứ 6: Ý
thức, thứ 7 : Mạt na thức và thứ 8: A
lại da thức
Qua bài vở học ở trường, ai cũng
biết được 5 thức đầu (chữ
Hán gọi là Tiền ngũ thức) , học
Phật Pháp ta biết được thêm 3
thức sau là Ý, Mạt na và A lại da
� thức
rất lanh lợi, tinh ranh và chạy nhảy lung tung (
tâm viên ý mã) .Nếu ý suy nghĩ
tính toán việc tốt thì thân, miệng
. . . làm và nói điều tốt, nếu
ý âm mưu hại người, làm ác
v..v. thì thân phạm tội, miệng nói
lời điêu ngoa dối trá, v..v.
Mạt na là cái gốc
của Ý nên Mạt na thức còn
được gọi là Ý căn . Nói 1
cách nôm na, những lúc Ý thức bị
gián đọan ( ngủ mê, bất tỉnh
nhân sự, ‘côma’ , bị chụp thuốc
mê v..v..) nó không bị mất hẵn, mà
nương về thức thứ 7 tức là Mạt
na thức : ý thức ví như cái cây
có cái rễ là thức thứ 7 Mạt Na .
Mạt na thức còn có nhiều tên
gọi khác : thức thứ 7, Ỳ căn, Truyền
Tống thức . Công năng củaMạt na thức
là suy xét, so đo, chấp trước, phân
biệt : phân biệt có ‘cái ta’ ,
cái Tôi , nghĩa là bảo thủ cho
‘cái ngã, cái Tôi’ của mình
. Ngoài ra, thức này vừa có công
năng truyền các điều mắt thấy,
tai nghe, mũi ngữi v.v.( DTH gọi là ‘các
pháp hiện hành’ ) vào A lại da
thức , vừa tống các chủng tử
ở trong A lai da thức khởi ra hiện hành (
đó là lý do tại sao những cảnh
vật đã thấy từ hồi thơ ấu
có thể ‘tái hiện ‘ lại trong
trí khi ta hồi tưởng lại) .
A lại Da thức : là cái ‘ kho
chứa’ mà Mạt na đã đem mọi
thứ cất vào đó và chấp cái
kho tàng này là ‘cái Tôi’
cái ngã . . . vì vậy A lại da còn
được gọi là ‘ ngã ái
chấp tàng’ ( bị thức thứ 7 chấp
làm ‘cái Ta’ ) Đây là một
cái kho vĩ đại, có vậy mới chứa
hết tất cả những gì mà mạt na
muốn nắm giữ trong nhiều đời nhiều
kiếp được . Duy Thức học gọi
đó là Tàng thức . Vậy A Lại Da
thúc còn có 2 tên nữa là thức
thứ 8, và Tàng Thức .
Thầy Thiện Hoa đã dịch bài kệ 8
Tâm Vương sau đây để dễ thuộc
& nhớ công năng của chúng :
Anh em 8 chú một
chàng si ( si=si mê = thức thứ 7)
Duy có ý thức
rất linh ly ( linh ly= linh động, khôn ngoan)
5 ngưới ngoài
cửa lo buôn bán ( 5 thức trước)
Làm chủ trong
nhà đệ bát y (đệ bát y = thức
thứ 8)
Từ đó ta
thấy rằng muốn áp dụng Duy Thức vào
sự tu tập , ta phải cần chăm chú vào
2 thức thứ 6 và thứ 7 ,vì thức thứ
6 thì có thể nghĩ thiện nghĩ ác,
toan tính bao la còn thức thứ 7 thì si
mê , chấp ngã, chấp pháp, sa đà
theo tâm phân biệt ‘ ta’ và
‘người’ , ‘yêu-ghét’
‘lấy-bỏ’ v..v.. càng ngày càng xa
lời Phật dạy, quên hẵn đường
về ( chơn tâm) khiến ta trôi lăn mãi
trong sanh tử luân hồi. Ta phải tập quán
‘nhân vô ngã’ và ‘pháp
vô ngã’ mới mong làm chủ
được 2 thức này , lọai dần ngã
chấp và pháp chấp. Đây cũng như
công việc ‘ gạn cát đãi
vàng’ cho đến khi rèn luyện xong
thì tất cả ‘thức’ đều trở
thành ‘ Trí ’ : Mạt na thức trở
thành’Bình Đẳng tánh trí’, A
lại da thức thì thành ra ‘Đại
viên cảnh trí’ , Ý thức lúc
ấy là ‘Diệu Quan sát trí ,’
còn 5 thức trước chuyển ra ‘ Thành
Sở Tác Trí ’ - Chúng ta thấy rõ
ràng Tu là chuyển hoá chứ không
phải ‘thêm’ hay ‘bớt’ cái
gì cả . Ở đây ta cũng thấy
được cái ‘vô tư, vô tội,
ngây thơ trong sáng’ của 5 thức
trước , như vậy tu tập là làm sao
để cho ‘cái thấy chỉ là cái
thấy, cái nghe chỉ là cái nghe v..v..’
chứ không để cho cái tâm phân
biệt ( ‘cái anh Mạt na’ tức là khen
chê, yêu ghét ,lấy bỏ đó ! ) chen
vào!
2)Tâm Sở là
những gì ?
Ở đây ta lại
có 1 lô những danh từ về DTH , có
từ chúng ta đã biết và hiểu
nghĩa ,có từ hoàn toàn mới lạ nên
ACE chúng tôi cùng nhau ôn tập lại 1
lần cho nhớ :
Tâm Sở tùy theo
Tâm Vương mà khởi và giúp
đỡ Tâm Vương tạo Nghiệp , Kinh
dạy:
51 món Tâm Sở =
51 món sở hữu của Tâm Vương,
được chia thành 6 nhóm như sau :
a) Căn bản phiền
não (6) : Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến
(ác kiến = thân kiến, biên kiến, tà
kiến, kiến thủ, giới cấm thủ)
b) Tùy phiền não
(20) - được sinh ra do căn bản phiền
não ở trên) : Phẩn ( tức giận) ,
Hận, Não (buồn rầu bức rức) , Phú (
che giấu tội lỗi của mình) , Tật (
tật đố = ganh tị) , Xan (keo kiệt , bỏn
xẻn, rít róng) , Cuống( Dối gạt
người ) , Xiễm ( nịnh hót, bợ đở
v..v..) , Hại, Vô Tàm ( không biết hổ
đối với lương tâm mình), Vô
Qúy ( không biết thẹn với người ) ,
Phóng dật, Bất tín, Giãi Đãi,
Trạo cử, Hôn Trầm, Tán Lọan , Thất
Niệm, Bất Chánh Tri
c) Bất Định ( 4) :
Hối, Miên, Tầm ( tìm cầu) ,Tư ( suy
xét chính chắn)
d) Biến hành (5) :
Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng , Tư ( lo
nghĩ) . Sở dĩ gọI là ‘ biến
hành’ vì 5 thứ này có thể đi
cùng khắp, xuyên qua thời gian, không gian ,
các Thức ( 8 thức tâm vương) và
các Tánh ( lành, dữ, không lành
không dữ) nữa .
e) Biệt cảnh (5) :
Dục, Thắng Giải ( hiểu biết rõ
ràng) , Niệm, Định, Huệ
f) Thiện ( 11) : Vô Tham
, Vô Sân, Vô Si, Tàm, Quí, Bất Hại,
Bất Phóng Dật, Hành Xả, Khinh an , Tín,
Tinh Tấn .
Ở đây ta thấy
rằng trong 51 món tâm sở, chỉ có 11
là Thiện ,Lành còn lại là phiền
não, đau khổ hay là ‘bất
định,’ như vậy việc tu tập là
luôn luôn theo dõi tâm mình, phát
triển những thiện tâm sở và
‘đàn áp ‘ những phiền não
đừng cho dấy khởi lên .
3) 11 Sắc Pháp
là những gì ?
Sắc pháp là
những pháp thuộc về sắc; sắc= hình
dáng và màu sắc . Sắc pháp
có11 món là gồm 5 căn : nhãn
căn ( con mắt) ; nhĩ căn ( lỗ tai) , tỉ
căn ( lỗ mũi); thiệt căn ( cái
lưỡi) ; thân căn , và 6 trần :
sắc trần, thanh trần, hương trần, vị
trần , xúc trần, pháp trần.
Bài học ở
đây là nghiệp dụng của 11 sắc
pháp này và đặc biệt về pháp
trần ( đối tượng của ý thức) .
Nghiệp dụng của
con mắt là chiếu soi các sắc ( hay nói :
sắc trần là cảnh bị thấy bởi con
mắt)
của lổ tai là hay
nghe các tiếng ( hay : thanh trần là tiếng
bị nghe bởi lỗ tai)
của lỗ mũi
là hay ngửi các mùi thơm và thối
(hay: hương trần là mùi bị ngửi
bởi lỗ mũi)
của cái lưỡi
là nếm các bị và nói năng,
kêu gọi (hay: vị trần là vị , cảnh
bị nếm bởi lưỡi)
của thân là
duyên xúc trần ( nặng,nhẹ, trơn,
nhám v..v..) hay còn nói : xúc trần là
những va chạm ,tiếp xúc bị biết bởi
thân.
Pháp trần : cái bóng dáng
của 5 trần còn lưu lại trong ý thức
: khi mắt không còn thấy sắc, tai không
còn nghe tiếng, v..v.. cho đến thân không
còn tiếp xúc , đụng chạm. . . mà
trong ý thức vẫn còn tái hiện lại
được bóng dáng của 5 trần : cái
bóng dáng đó gọi là pháp
trần , danh từ DTH gọI là ‘lạc-tạ-
ảnh- tử’ ( cái bóng rớt lại) ; hay
nói : pháp trần là tướng phần
ảnh tượng của ý thức . Sách PHPT
của Thầy Thiện Hoa có phân biệt 5
lọai pháp trần nữa
ACE chúng tôi ai
nấy đều thấy rằng có nhiều cái
chúng ta đã biết
nhưng qua DTH ta vẫn
thấy thật mới lạ như nói ‘sắc
trần là tướng phần của con mắt’
, ‘thanh trần là tướng phần của
lỗ tai’ v..v. hay ‘sắc pháp là
tướng phần ảnh tượng’của
tâm vương và tâm sở . Đó
là tại vì danh từ DTH tướng phần
có nghĩa là đối tượng ; còn kiến
phần = chủ thể .
4) 24 Tâm bất
tương ưng hành pháp là những
gì ?
Đây là 24
món không tương ưng với Tâm , chỉ
nương theo 3 phần Tâm Vương, Tâm sở
và Sắc pháp mà giả thành lập .
Ví dụ như Đắc (Được , trái
ngượtc với ‘mất’) Được
là được cái gì ? vd : được
1 đồng bạc => vậy phải có
đồng bạc là ‘sắc pháp’
và ‘nhãn thức’ để ‘thấy’
, ý thức phân biệt là ‘ tâm
pháp’ v..v.. 24 món bất tương ưng
hành pháp là : Đắc, Mạng căn, Chúng
đồng Phận, Dị sanh tánh, Vô
tưởng định, Diệt tận định,
Vô tướng báo , Danh Thân( tên, danh
từ) , Cú thân( câu văn) , Văn thân(
chữ) , Sanh, Trụ, Lão, Vô thường ,Lưu
chuyển, Định vị, Tương ưng, Thế
tốc, Thứ đệ, Thời, Phương, Số,
Hoà hợp tánh, Bất hoà hợp tánh .
24 món Bất tương ưng hành này
hợp với 8 Tâm vương, 51 Tâm sở
và 11 Sắc pháp vị chi là 94 pháp ;
đây là các pháp hữu vi có
sinh có diệt, biến đổi luôn luôn. Khi
các pháp hữu vi diệt rồi thì các
pháp vô vi mới hiển bày. Vô vi là
những gì không tạo tác, không sinh
không diệt, không tăng không giảm,
vắng lặng, thường còn ; có 6 pháp
Vô Vi :
5) 6 Pháp Vô Vi : 6 món
Vô Vi là do 4 món hữu vi trên đây (
Tâm Vương, Tâm Sở, Sắc Pháp, Bất
tương ưng hành pháp) diệt hết
mà hiện bày ra, đó là thật
tánh của Thức ; 6 món Vô Vi là : Hư
Không, Trạch diệt, Phi Trạch diệt , Bất
động diệt, Thọ tưởng diệt, Chân
Như .
Đây là bài học thứ nhất về
Duy Thức của ACE chúng tôi, hôm nay chỉ
học về chữ một . Chúng tôi dành 3
buổi cho Duy Thức , nên 2 buổi sau , ACE chúng
tôi sẽ học về thức thứ 7 và
thức thứ 8 cũng như hệ thống 8 thức
của DTH .
Chúng tôi học Duy
Thức
(tiếp theo)
Tâm
Minh
Thân kính tặng ACE
Áo Lam
Sau khi được giới thiệu ‘bề
ngoài ‘ của căn nhà Duy Thức, chúng
tôi tiến sâu thêm một chút vào
bên trong ; bắt đầu bằng bài kệ :
‘Anh em 8 chú một chàng si . . .
Làm chủ trong nhà
Đệ Bát Y ‘
Thì ra thức thứ 8
mới là ‘ Ông Chủ’ Hôm nay ACE
chúng tôi quyết ‘ làm quen ‘ với
Ông Chủ A lại Da thức này ( và nhắc
nhở nhau rằng, �ng chủ’ hay ‘người bán
hàng’ v.v.. đều là biểu hiện
của ‘Tâm’ hết đó nha ! J J !!)
Thức thứ 8 ( còn
được gọi là Tàng thức hay A lại
Da thức ) đưọc xem là thức căn
bản của mọi hiện tưọng . Tàng= kho
chứa - Thức này chứa đựng mọi kinh
nghiệm của đời sống mỗi con
ngưòi và là nguồn gốc tất cả
các hiện tượng tinh thần ; bởi vì
như đã biết : thức thứ 7 là Mạt
na đã đem các pháp hiện hành
huân chứa vào cái ‘kho’ vô
tận này.
Khái niệm A Lại
da thức là cơ sở của Duy Thức Tông,
qua đó người ta giải thích sự
hiện hữu của ‘cái gọi là con
người ’ - ‘cá nhân’, cái
mà Mạt na chấp là ‘cái Ta’ hay
‘ cái Tôi’ vậy. Tất cả những
ghi nhận của mắt, tai, mũi, lưỡi, tất
cả những việc làm của thân , miệng,
ý ( gọi chung là nghiệp : thân
nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp ) đều
được tích lũy trong A Lại Da Thức ,
dưới hình thức ‘ những hạt
giống’ , đợi nhân duyên đầy
đủ sẽ ‘hiện hành’ Nói
cách khác, khi các hạt giống đang
ngủ yên trong Tàng thức thì gọi là
Nhân, khi đầy đủ các trợ
duyên ,nó hiện khởi ra thì gọi là
Quả . Ví dụ : trong tâm thức chúng ta
luôn có những hạt giống thiện và
bất thiện , khi gặp thuận duyên sẽ
hiện khởi ngay - như những hạt giống
của sân hận, giận dữ - nếu gặp
thuận duyên ( bị ai chọc tức, khiêu
khích, mắng chưởi, đánh đập
v..v..) thì những hạt giống đó sẽ
hiện hành ngay ( đỏ mặt, giận dữ,
phản ứng , đánh đập hay mắng
chưởi lại v..v..) những hành động
mới hiện hành này lại gây ra những
hạt giớng mới, những chủng tử mới
của nghiệp, lại được huân vào
Tàng thức v..v. . tạo ra cái vòng lẩn
quẩn , tiếp tục tạo tác và chịu
sự chi phối của nhân quả luân hồi .
Những hạt giống tư tưởng trong A Lại da
thức cũng như mầm mống của hạt
giống trong cây chanh chẳng hạn : hoa chanh và
trái chanh tuy chưa xuất hiện nhưng nó
đã có tiềm tàng trong cây chanh ,
chỉ chờ hội đủ thời gian, sự
tưới tẩm, bón phân , thời tiết v..v.
thì sẽ đơm hoa kết trái mà
thôi . Ngoài ra Nhất Thiết hữu Bộ
còn gọi hiện tượng này là Căn
bản thức nghĩa là các hạt giống
tâm thức giống như biểu hiện của
sóng & nước ( sóng và nước
là một, sóng luôn hiện hữu trong
nước - không có nước thì không
thể nào có sóng được )
Về đặc tính
của A Lại Da thức, Mạt Na thức và 6
thức kia, có bài tụng cho dễ nhớ như
sau ( bài Việt dịch của thầy Thiện Hoa ) :
Hằng thẩm tư
lương ngã tương tùy ( Hằng xét
đo lường theo chấp ngã
Hữu tình nhật
dạ trấn hôn mê Hữu tình ngày
đêm bị mê muội
Tứ hoặc bát
đại tương ưng khởi 4 hoặc, 8
đại chung nhau khởi
Lục chuyển hô vi
‘nhiễm tịnh y’ 6 thức gọi là
‘nhiễm tịnh y’ )
( 4 hoặc = 4 căn
bản phiền não : Si, Kiến, Mạn, Ái ; 8
đại = 8 món tùy phiền não)
Chi ly hơn một
chút, Bát thức qui cũ tụng cũng có
nói thêm :
Thức thứ 8 có
Hằng mà không Thẩm xét
Thức thứ 7 ,vừa
Hằng lại vừa Thẩm xét
Thức thứ 6 , có
Thẩm xét mà không Hằng
5 Thức trước
,không Hằng và không Thẩm
( đối với ACE
chúng tôi, chữ khó ở đây là
Hằng và Thẩm . Hằng = permanent, always = luôn
luôn (có mặt 24/24) ; Thẩm = khảo sát,
thẳm sát, lo nghĩ, tư lượng, lo nghĩ
,tính toán v..v..= reflecting )
Các bài tụng
cũng nói rằng tính chất của Tàng
thức là vô phú và vô ký (
vô phú = không bị vây bủa, ngăn che ;
vô ký = không bị chi phối bởi thiện
hay ác ) . Sự hiện hữu của nó trôi
chảy như dòng sông ( hằng chuyển như
bộc lưu) ,không thể nói là
thường hằng hay đoạn diệt.
Buổi học hôm nay
đưa đến cho ACE chúng tôi những
bài học sau :
1) Sự huân tập
đóng vai trò thật quan trọng trong
đời sống chúng ta . Những điều
mắt thấy tai nghe, những hành động
của thân, miệng, ý v..v.. đươc
cất kỹ vào Tàng thức chờ ngày
xuất hiện ; vì vậy chúng ta phải
rất cẩn trọng trong việc tu tập của
chính bản thân và giáo dục
đàn em , con em của chúng ta . Về bản
thân, chúng ta phải năng tưới tẩm những
hạt giống thương yêu hiểu biết ,
từ bi, trí tuệ , tinh tấn v..v.. vì
chúng là những hạt nhân khi đủ
nhân duyên sẽ đơm hoa kết trái an
lạc , hạnh phúc ; và tìm cách
diệt những hạt giống sân hận , tham lam,
ích kỷ như người làm vườn
chăm chỉ tưới cây ,bắt sâu, bón
phân cho những cây lan, khóm hồng ,cây cam
cây quýt và xịt thuốc để diệt
cỏ dại vậy . Sâu ăn hại cây , cỏ
dại chiếm đất làm cây khô héo
hay giết chết cây v..v. là những chủng
tử xấu, cần phải đề phòng,
đừng để chúng được ( hay ‘bị’)
huân vào A Lại da Thức, vì khi đủ
duyên ,chúng sẽ hiện khởi thành
những hành vi tội lỗi, lời nói
độc ác, có năng lực làm hại
mọi người và hại cả bản thân
mình .
2) Đối với
các em, chúng ta phải là những gương
tốt , đừng ‘ làm một đường
nói một nẻo’ đừng thất hứa
với các em, đừng dạy các em những
thói quen xấu ( cờ bạc, rượu chè,
mánh mung, ăn nói bậy bạ , nói xấu
lẫn nhau, mất đòan kết, la mắng hay
dùng những lời không đẹp với nhau
v..v..- ở đây chúng ta có rất nhiều
điều cần tự cảnh giác mình ,
vì không thể kể hết được) .
Chúng ta dạy các em Phật Pháp, Chuyên
Môn, Trò Chơi , tiếng Việt v..v.. qua những
lời hay ý đẹp , đó là chúng
ta đã huân vào Tàng thức của
các em một vườn hoa trái tương lai
sẽ đơm bông kết quả , như trao
tặng các em một hành trang tinh thần quí
giá của Anh Chị HTr. /GĐPT trước khi
các em vào đời.
3) Bài học thứ 3
là dựa vào tính chất của Tàng
Thức ( vô phú, vô ký), ta thấy rõ
Tàng thức rất thụ động, nó
không phân biệt tốt xấu ; nó thuần
túy là ‘cái kho chứa,’ vàng
bạc châu báu, bông hoa thơm tho v..v.. cũng
chứa, mà rác rưởi hôi tanh dơ
bẩn cũng chứa hết ; cho nên Tàng thức
không thể đóng vai trò giải thoát
khỏi những tập khí ô nhiễm v..v..
được . Vì thế vai trò lảnh
đạo để ‘vượt ngục’ sinh
tử luân hồi chính là vai trò của
Ý thức. Chỉ có ý thức - cái
thường linh hoạt suy nghĩ bao la vũ trụ
đó- suy nghĩ tốt lành cũng nó
mà suy nghĩ xấu ác cũng nó . Chính
nó đồng thời có thể gieo vào
Tàng thức những hạt giống (chủng tử)
thánh thiện tốt lành, vừa ‘kiểm
điểm, góp ý, phê bình’ để
chuyển hoá ‘bệnh’ si mê chấp
ngã cuồng dại của Mạt na. Bởi vậy
dù tu theo pháp môn nào, chúng ta cũng
thấy ‘bí quyết ‘ vẫn là
‘cột cái Ý lại’ như cột con
trâu lòng đừng cho nó chạy tứ tung
phá hại lúa mạ của người khác
vậy - Muốn tu hành có kết quả, ta phải
làm chủ Ý.
4) Bài học thứ 4
là về cái mà chúng ta thường
gọi là ‘nghiệp’ . Nghiệp là
gì ? Nghiệp có phải là một hình
phạt từ trên trời rơi xuống hay 1 tai
họa ‘vô cớ’ dính vào ta hay
không ? Không, nghiệp là những hành
động có tác ý của thân,
miệng, ý đã được huân vào
trong Tàng thức như những chủng tử,
đợi có đủ cơ duyên thuận
tiện sẽ xuât hiện như một cái
quả vừa đủ thời gian để chín
muồi. Đức Phật cũng dạy : ‘ Con
người là chủ nhân của nghiệp,
là kẻ thừa tự nghiệp; nghiệp là
quyến thuộc, là thai tạng mà từ
đó con người được sinh ra. Như thi
hào Nguyễn Du cũng được xem như am
hiểu Phật Pháp khi Ông viết ( trong truyện
Kiều) :
‘Đã mang lấy
nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẩn trời gần
trời xa’
để nói lên
trách nhiệm của con người trước
luật Nhân Quả : gieo lúa thì
được gạo, gieo hạt cam thì hái
trái cam, gieo gió thì gặt bão
v..v..không thể nào gieo hạt cam mà
đòi có trái bưởi được.
5) Bài học thứ 5
là về tinh thần giáo dục Phật giáo
nói chung, tinh thần giáo dục trong GĐPT
nói riêng. Chúng ta thấy rất rõ sự
tiến triễn tâm lý con người phát triển
từ bên trong mà ra chứ không phải
chỉ từ sự thúc đẩy bên ngoài
mà có. Thực tế cho thấy các trẻ em
cùng cha mẹ, hưởng 1 cuộc sống vật
chất và tinh thần như nhau nhưng tính
tình có thể rất khác nhau, thậm
chí hai anh / chị em song sinh có khi tính
tình cũng không giống nhau. Vì vậy
giáo dục phải lấy đứa trẻ ( con
người) làm khởi điểm, phải căn
cứ trên tâm lý của nó chứ
không phải là của người dạy
nó, tâm lý này không phải là
cố định, theo đúng mẫu mã nào,
mà là luôn luôn biến đổi,
chuyển hoá không ngừng . Vì thế
chúng ta, những người HTr. GĐPT cần
phải theo kịp tinh thần giaó dục tự
chủ, tự giác, năng động, sáng
tạo v..v.. một nền giaó dục có
tính cách đánh thức con người,
và trả con người về cho chính nó (
như chúng ta thường nghe chư Phật chư
Tổ bảo ‘ đi tìm bản lai diện
mục ‘ ) mà đức Phật đã
dạy cho đệ tử của ngài cách
đây gần ba ngàn năm .
6) Bài học cuối
cùng của ACE chúng tôi hôm nay lại
cũng là một bài về ‘ thuật ngữ
‘ DTH hay là vấn đề ‘chữ
một’ : đó là 3 chữ ‘ cảnh’
, ‘tánh’ và ‘lượng’
***Cảnh: có 3 cảnh : tánh
cảnh : là tự thân của thế
giới thực tại khách quan (the realm of things in
themselves) Tánh= bản chất ; cảnh= đối
tượng
Vậy tánh cảnh=
bản chất của đối tượng = bản
chất của thế giới thực tại khách
quan đới chất cảnh : là
hình ảnh về một thực tại nào
đó trong tri giác của ta = ảnh tượng
được nương vào và sinh bởi
tánh cảnh = cảnh đuợc mang theo, được
phản ánh từ thực tại ( ví dụ khi ta
thuơng hay ghét một người nào
đó thì hình ảnh của người
ấy trong lòng ta là hình ảnh
được sáng tạo bởi tâm thức
chứ không phải hình ảnh của
người ấy trong thực tế ; nói các
khác, đó là hình ảnh đã
bị ‘ méo mó’ qua suy diễn của
tâm phân biệt , vì vậy Thiền quán
dạy ta buông bỏ những đới chất
cảnh ( ảo ảnh) để thể nhập vào
tánh cảnh .
độc ảnh cảnh
: thế
giới ảnh tượng chỉ có trong tâm
thức chứ không có trong thực tế ( như
trong giấc mộng ) ; cũng là một biểu
hiện của Tàng thức A lại da
Trong 3 Cảnh này
Tàng thức chỉ quan hệ với (hay duyên
với) Tánh Cảnh
***Tánh: cũng có 3
Tánh là Thiện, Bất thiện và
Vô ký ( = trunbg tính= không
thiện không ác) . Trong 3 tánh này,
Tàng thức duyên với vô ký
***Lượng: là hình
thái của nhận thức , cũng có 3
lượng :
Hiện lượng : trực
giác ( nhận thức trực tiếp, không
cần qua suy luận) . Trực giác có thể
đúng hay sai , nếu đúng thì gọi
là chân hiện lượng, sai thì gọi
là tợ hiện lượng
Tỷ lượng: phải
dùng đến suy luận . Cũng vậy, tỷ
lượng có thể đúng ( = chân tỷ
lượng) hay sai (tợ tỷ lượng)
Phi lượng : bao gồm tợ
hiện lượng và tợ tỷ lượng
Trong 3 Lượng, Tàng thức chỉ duyên
với Hiện lượng
Buổi học chấm dứt tại dây với
lời nhắc nhở nhau nhớ học thuộc
định nghĩa của 3 Cảnh, 3 Tánh và 3
Lượng , đừng có nhầm Tánh Cảnh
với 3 Tánh đó nha !J J !! Có như vậy
sau này nói đến các mối quan hệ
của Mạt na với 3 Cảnh, 3 tánh và 3
Lượng mới hiểu và khỏi nhầm lẫn
được .
Thức thứ 6 & thứ 7 :
Ý thức & Mạt na thức
Tâm
Minh
Thân kính
tặng ACE Áo Lam
Như đã học trong bài đầu
tiên về Duy Thức, ACE chúng tôi nhắc nhau
nhớ là : ‘tu tâm’ là tu 2 ‘anh
chàng ‘ này , 1 anh Ý thức thì
‘mơ tưởng bao la vũ trụ’ một anh
Mạt na thì chấp ngã quá chừng ,
chấp 1 cách si mê , chấp Tàng thức
làm ‘ngã’ - đến nỗi tính
khí của Mạt na thường biểu hiện
với 4 phiền não :
ngã si ( quan niệm sai lầm
về cái ‘ngã’ ) ;
ngã kiến ( nhận thức sai
lầm cho rằng đó là một cái
‘ngã’ độc lập và thường
còn
ngã mạn (tự cao, tự
đại, tự cho mình là ‘ số
một’ - hơn ai hết !J J !)
ngã ái ( yêu ‘cái
tôi’, cái ‘của tôi’ [mine] và
cái ‘tự ngã của tôi’ [ myself ] )
Chính Tâm làm
cho ta trong sạch, cũng chính tâm làm cho ta
ô nhiễm. Trong thựtc tế, tâm là
người thù nguy hiểm nhất mà cũng
chính là người bạn chí thân
của con người .
Đó là lý
do mà chúng tôi phải học kỹ hơn
về hai loại Tâm này .
Hôm nay chúng tôi
đi sâu hơn một chút về Tâm hay
là ‘Thức’ đó : hình thái
của Thức có thể ví như sự chuyển
động của vật chất và năng
lượng , của sóng và nước, mà
năng lượng thì vừa thuộc về vật
chất (Sắc) vừa thuộc về phi vật chất
( Vô Sắc) , Trong bài’ Sự báo ứng
của Nghiệp’ ngài Narada Thera ( Nam Tông)
dạy về lịch trình tiến triển của
dòng tư tưởng như sau : khi ta ngủ say,
không chiêm bao mộng mị, tâm ở trong
trạng thái tiêu cực , sinh diệt trong từng
sát na, được gọi là Bhavanga . Luồng
Bhavanga trôi chảy như một dòng suối ,
luôn luôn biến đổi, không khi nào
giống hệt nhau trong 2 chập tư tưởng kế
tiép . Không chỉ trong lúc ngủ mà
lúc thức ta cũng có loại tâm này.
Kinh Thắng Pháp Tập Yếu diễn tả lịch
trình tiến triển của một tư
tưởng qua ví dụ sau đây:
Một người nằm
dưới gốc cây xoài , lấy khăn che
mặt lại, ngủ say ; một ngọn gió thổi
qua làm rung động nhánh cây và một
trái xoài rụng xuống bên cạnh
đầu anh ta . Anh ta tung khăn ra va hướng mắt
về phiá có tiếng động ; thấy 1
vật, anh cầm lên quan sát và nhận ra
đó là 1 trái xoài . Anh hả miệng
ra cắn vào trái xoài ăn, nuốt ; xong
nằm xuống ngủ trở lại. Câu chuyện
thật đơn giản và một em bé cũng
có thể đã gặp cảnh này, nó
rất gần gũi với sinh hoạt hằng ngày,
nhưng ở đây ta muốn diễn tả những
hành động này theo thuật ngữ Phật
Giáo , theo danh từ DTH cho nên ta phải ‘
tập nói’ theo những từ mới học
trên đâymà thôi . Trong câu chuyện
này :
Một người nằm
dưới gốc cây xoài , lấy khăn che
mặt lại, ngủ say = dòng bhavanga yên
tĩnh trôi chảy ;
một ngọn gió
thổi qua = tâm bhavanga vừa qua
làm rung động
nhánh cây = tâm bhavanga rung động
và một trái
xoài rụng xuống bên cạnh đầu anh ta =
tâm bhavanga tắt sau khi rung động trong 2 chập
tư tưởng ) .
Anh ta tung khăn ra va
hướng mắt về phiá có tiếng
động = (khi có đối tượng xuất
hiện luồng bhavanga rung động 2 chập rồi
tắt, tùy theo đối tượng xuất
hiện, 5 giác quan bắt đầu họat
động ; ở đây là MẮT = nhãn
thức )
thấy 1 vật = nhãn
thức ,
anh cầm lên = tiếp
thọ tâm
quan sát = suy
đạc tâm
và nhận ra
đó là 1 trái xoài = xác
định tâm ( phân biệt, lựa chọn, thu
nhận hay loại bỏ ) .
Anh hả miệng ra
cắn vào trái xoài ăn = việc
thưởng thức trái xoài gồm 7 chập
tư tưởng-gọi là Javana ( vai trò
của ý chí ) . (1)
Nuốt miếng xoài =
đăng ký tâm
Ăn xong ngủ trở
lại = tâm trở lại trạng thái bhavanga
yên tĩnh
Bài học thứ (1): Chính ở giai
đọan này ( Javana) là quan trọng nhất
vì tư tưởng quyết định biểu
hiện thành hành động tốt hay xấu (
thiện hay bất thiện). Nếu quyết định
đúng đắn thì tạo ra thiện
nghiệp, nếu quyết định sai lầm thì
tạo ra bất thiện nghiệp. Dù đối
tượng xuất hiện có được yêu
thích hay không, ta vẫn có thể tạo ra
một tiến trình Javana thiện hay bất thiện
theo ý muốn . Ví dụ như khi gặp
người thù nghịch, sự giận dữ
liền phát sinh ( tạo nghiệp bất thiện) ngoài
ý muốn của ta , nhưng nếu ta có tu
tập tỉnh thức, biết chế ngự tâm
mình, thay vì nổi giận , ta có thể
rải tâm Từ đến người ấy ( tạo
thiện nghiệp) .
Bài học thứ 2: DTH dạy rằng trong
tiến trình tâm, mỗi loại thường
phát sinh trong 1,2, 3 chập tư tưởng, chỉ
có tâm Javana phát sinh liên tiếp trong 7
chập lúc bình thường và 5 chập khi
lâm chung và tất cả 7 chập đều
cùng chung một đối tượng. Những
tâm sở phát sinh trong 7 chập tư tưởng
ấy đều giống hệt nhau, nhưng năng
lực thì không đồng đều . có
chập mạnh có chập yếu . Đó là
lý do giải thích sự trổ sanh Quả
của các Nghiệp theo thời gian, theo tác
động, theo khả năng báo ứng v..v..
Bài học thứ 3: Ý thức (thức
thứ 6) là lanh lợi hơn hết, suy nghĩ
làm việc phải nó cũng đứng
đầu mà tính toán mưu toan việc ác
thì nó cũng là ‘số 1’
(‘công vi thủ , tội vi khôi’ = công
cũng nó đứng đầu mà tộI
nó cũng trước hết !) .Thức này
cũng có công năng chấp ngã và
chấp pháp .
Chỉ có Ý
thức mới có khả năng soi sáng
,chuyển hoá Mạt Na Thức và Alaida thức.
Nói cụ thể, Ý thức vừa phải đồng
thời gieo trồng những chủng tử tốt,
thiện vào tàng thức, vưà rửa
sạch mọi ô nhiễm do si mê chấp thủ
của mạt na bằng cách thông qua thân,
miệng, mà ý thức có thể điều
hành, sai khiến cái thấy, cái nghe v..v.. Do
đó, nói cho đúng thì : chuyển
hoá là phải chuyển hoá toàn diện
hệ thống của tâm thức - cần có
sự tương duyên giao hoà của cả 8
thức - chứ không phải chỉ riêng từng
thức nào .
Bài học thứ 4:Trong 3 Cảnh, Ý
thức có đủ 3 Cảnh ( tánh cảnh,
độc ảnh cảnh & đới chất cảnh)
Trong 3 Tánh thức
này cũng có đủ 3 tánh (Thiện,
ác và vô ký )
Trong 3 Lượng, thức
này cũng có đủ 3 lượng ( hiện
lượng, tỷ lượng & phi lượng)
Nghiệp dụng của
Thức này là làm cho Thân động,
Miệng nói . . . tạo ra dẫn nghiệp và
mãn nghiệp để cảm thọ quả báo
trong hiện kiếp hay trong các đời sau .
Bài học thứ 5. Theo DTH, có một
thức căn bản và 7 chuyển thức : Mạt
Na cũng là một chuyển thức ; nó một
mặt chấp Tàng thức làm ‘
ngã’ mặt khác nó chính là
nền tảng cho sự nhiễm và tịnh của 6
chuyển thức trước ( nhãn, nhĩ, tỉ,
thiệt, thân và Ý thức). Thật vậy, 6
chuyển thức trước luôn luôn liên
hệ chặt chẽ với sự hiện diện
của Mạt na, và Mạt na thì luôn luôn
tác động lên 6 chuyển thức
trước, với chức năng lưu chuyển
,đối lưu giữa chủng tử và hiện
hành. Do đó, nếu sự cuồng si của
Mạt na càng lớn thì khả năng sáng
suốt của 6 chuyển thức trước càng
nhỏ ; nói nôm na : cái tâm phân
biệt càng lớn thì sự nhận thức
vô tư trong sáng càng nhỏ , các sự
vật, hiện tượng, màu sắc, âm thanh
v..v.. sẽ bị méo mó, xuyên tạc, bẻ
cong . . . Lúc ấy, mắt, tai . . . sẽ không
chỉ là thuần túy phục vụ cho
‘cái thấy’ ‘cái nghe’. . .
nữa mà còn �m’ thêm cái tâm ưa - ghét, lấy -
bỏ. Mạt na mà giải thoát được
chừng nào (nghĩa là bớt cuồng si trong 4
thứ phiền não ) thì khả năng thanh
tịnh sáng suốt của 6 chuyển thức
trước càng lớn lên chừng ấy.
Bài học thứ 6: điểm khác
biệt trong tính khí của Mạt Na và
Alạida là: Alaida lấy Tánh Cảnh làm
đối tượng thì Mạt na lấy
Đới chất cảnh làm đối tượng
; một cách nôm na, Alaida nhìn sự vật
hiện tượng ‘như -nó -là’ ( as -
it -is) trong khi Mạt na nhìn với một hay nhiều
cặp kính màu của si mê, chấp ngã .
. . do vậy mà cái thấy của mạt na
là sai lầm vì bị ngăn che .
Tính chất của
Mạt na vừa là thẩm (reflecting) vừa là
hằng( always )- nghĩa là vừa khảo sát,
thẩm sát, vừa luôn luôn có mặt
suốt 24/24 giờ một ngày ; luôn luôn so
đo tính toán. Nói theo danh từ DTH thì
Mạt na có tính hữu phú vô ký ;
hữu phú = có bị ngăn che , Cái gì
đã ngăn che ? Đó chính là 4
cái si mê của nó ( ngã si, ngã
kiến, ngã mạn, ngã ái ). Vô ký=
không thiện, không ác . Nói ngắn
lại cho dễ nhớ : Mạt na là chấp ngã
và khi duyên vào đối tượng nào
thì chấp đối tượng đó làm
ngã và sự chấp ngã như vậy
là hoàn toàn sai lầm nên gọi là
phi lượng ( wrong perception)
Bài học thứ 7: (vừa ôn lại
những từ ‘ Cảnh, Tánh &
Lượng’ trong bài trước : ) trong 3
Cảnh, Mạt na chỉ quan hệ với Đới
chất cảnh
Trong 3 Tánh , Mạt na
là hữu phú vô ký
Trong 3 Lượng Mạt
na chỉ có Phi lượng
Bài học thứ 8: bài học này
lại là một bài học về từ mới
trong DTH . Trong bài trước chúng ta đã
học 3 Cảnh, 3 Tánh và 3 Lượng . Hôm
nay học thêm : 5 Thọ, 3 Cõi, 9 Địa , 9
Duyên.
5 Thọ là : Khổ
thọ, Lạc thọ, Ưuthọ, Hỷ thọ và
Xả thọ
3 Cõi ( = ta
thường gọi là tam giới = Dục giớI,
Sắc giới, Vô Sắc giới ) : cõi Dục (
realm of Desire) = thế giới của người và thú
( thế giới của dục vọng, ham muốn,
thèm khát) ; cõi Sắc ( realm of Form) = thế
giớI vật chất nhưng nhẹ nhàng thanh
thoát hơn cõi Dục ; cõi Vô Sắc (
realm of No Form = thế giới phi vật chất, thế
giới của năng lượng ( energy) . Tâm
thức cũng là một dạng năng lượng
( mental energy).
9 Địa : a) Ngũ thú tạp cư điạ (
=thuộc về Dục giới)
b) Ly, sanh Hỷ lạc địa
c) Định, sanh Hỷ lạc địa (= 4
địa này thuộc Sắc giới
d) Ly hỷ, diệu lạc địa từ Sơ
đến Tứ thiền )
e) Xả niệm thanh tịnh địa
f) Không vô biên xứ địa
g) Thức vô biên xứ địa ( = 4
Địa này thuộc Vô Sắc giới)
h) Vô sở hữu xứ địa
i)phi tưởng phi phi tưởng xứ địa
9 Duyên : Hư không, Ánh sáng, Căn,
Cảnh, Tác ý , Phân biệt y, Nhiễm
tịnh y, Căn bản y , Chủng tử .
Sau khi học được các từ của DTH,
chúng tôi tự ra bài tập ở nhà cho
ACE mình bằng cách lập bảng tóm
tắt sau đây cho dễ nhớ 8 Thức đã
biết, duyên với những món
nào :
Mắt Tai Mủi Lưỡi Thân Ý Mạt na
AlaiDa
3 Cảnh
3 Tánh
3 Lượng
5 Thọ
3 Cõi
9 Địa
9 Duyên
Bài học thứ 9: Chúng
tôi nhắc lại về sự khác nhau gây ra
khó khăn ban đầu cho việc hoc DT , đó
là chúng ta học TLH hiện đại ( Tây
phương) chỉ biết 2 góc độ của 1
nhận thức : đó là Chủ thể ( Subject)
và Đối tượng ( Object) nhưng khi học
DT- tức Tâm Lý Học Phật Giáo ( cổ
điển- Đông phương ) ta lại gặp
đến 3 danh từ như đã học trong
bài đầu tiên :
Kiến phần : chủ thể
Tướng phần : đối tượng
Tự thể phần : phần căn bản của
thức làm nền cho chủ thể và
đối tượng .
**** Lãy 1 ví dụ cụ thể : nước
là kiến phần, sóng là tướng
phần và tính ướt, loãng, không
màu không mùi (hay hợp chất H2O ) là tự
thể phần.
Tương tự, trong hệ thống 8 thức,
mỗi Thức đều có đầy đủ
cả 3 phần và ở mặt ‘tướng’
thì có 3 nhưng ở mặt tổng thể
chỉ là Một - như nước và sóng
hay H20 vậy.
Dù đã qua 3 buổi học ,nhưng ACE
chúng tôi vẫn thấy như là ‘
cởi ngựa xem hoa’ - chưa thể nói là
biết được chút gì về Duy Thức
cả, nên để kết thúc buổi học
,chúng tôi luôn nhắc nhau rằng dây
chỉ là phần học Chúng, học tập
thể, học để lấy cái hăng hái
ban đầu nhờ sự sách tấn của Tăng
thân của mình , về sau mỗi người
đều phải tự học thêm ,đặc
biệt về DTH thì phải học kỹ 30 bài
tụng DT cũng như phần giảng giải của
Thầy Thiện Hoa ( PHPT khóa IX, X và XI ) - và
ACE chúng tôi cũng đã có kinh nghiệm
tự thân là cùng một bộ Kinh, mà
học năm nay khác và sang năm khác :
có thể chúng ta sẽ thấy thêm
được nhiều bài học mới hơn
mà năm ngoái chưa nhận ra được .
| Mục lục
Tâm Minh | Mục
lục Tác giả |
Cập nhật
ngày: 01-07-2001