|
CÁC THIỀN VIỆN Tỳ kheo Giác Nguyên Source: Luy Lâu Trong
mục đích thông tin Phật sự, chúng
tôi đăng tải những tin tức xét
thấy cần thiết cho đại chúng nói
chung , chẵng hạn tin tức về các thiền
viện sau đây, ngoài ra không có
một chủ ý riêng tư gì khác.
Đường lối tu học ở các thiền
viện có thể khác biệt nhau, sự
nghiên cứu và chọn lựa là thuộc
về người đọc. 1. KHU
VỰC TRUNG BỘ THÁI LAN a.
THIỀN VIỆN DHAMMAKAYA ĐỊA
CHỈ : Khlong Sam, Khlong Luang, Pathumthani 12120 Nằm
cách ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Được
xem là một trong những thiền viện quy mô
và thơ mộng nhất Thái Lan với các
vườn cảnh, hồ nước và nhiều
công trình kiến trúc nghệ thuật
vừa truyền thống vưà hiện đại.
Tổng diện tích của thiền viện là
1000 mẩu tây. PHƯƠNG
PHÁP HƯỚNG DẪN: Thiền
viện Dhammakaya có chung đường hướng
tu tập với tổ đình Pak Các
buổi giảng của thiền sư đều
bằng tiếng Thái, nhưng trong thiền viện
luôn có sẳn người phiên dịch
và nếu cần, thiền sinh có thể
đến phòng Information Centre để mua những
cuốn băng giảng Cassette đều bằng
tiếng Anh. Thiền
viện hoạt động dưới sự
điều hành của thượng tọa Dhammajayo
và thượng tọa Dattajivo. Nhân số trung
bình trong thiền viện là hai trăm Tỳ
Kheo, hai trăm Sa Di, 90 tu nữ, và trên
dưới hai trăm cư sĩ. SINH
HOẠT : Thiền
viện sẽ lo chu tất hai buổi điểm tâm
và ăn trưa cho tất cả thienà sinh.
Buổi chiều mọi người trong thiền
viện sẽ được cấp phần nước
uống lót dạ. Về
thời khóa tu học, tất cả mọi
người trong thiền viện đều phải
thức dậy trước 4:30 khuya để tụng
kinh và hành thiền đến 6 :30 sáng. Sau
bữa điểm tâm, mọi người cùng
quét dọn thiền viện. Đến 9 :00 là
buổi thiền tập đại chúng. 11:00 bữa
cơm trưa, 2 :00 hành thiền, và nghe
Pháp, 4:00 uống nước chiều, 6:00 tụng
kinh, 9:00 PM hành thiền, 9: 30 PM đi ngũ . Loại
mùng thông dụng ở đây là mùng
ngồi Klod, tiện dụng cho việc toạ thiền
hơn là nằm duỗi, rất tiện cho việc
di chuyển. b.
THIỀN VIỆN ASOKARAM ĐỊA
CHỈ : Sukhumvit,
Samudprakan 10280. Nằm cách ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Tổng
diện tích của thiền viện gồm trong 50
mẩu tây, và có thể được xem
là một khu sinh thái độc lập với
rất nhiều loài chim quý lạ cùng
một hệ động vật phong phú. Tất
cả đều được bảo tồn trong
hình thái nguyên thủy. PHƯƠNG
PHÁP HƯỚNG DẪN: Thiền
viện vốn được ngài Achahn Lee xây
dựng và xác lập đường lối
hướng dẫn. Ngài là huynh đệ
đồng môn với thiền sư Achahn Chah,
đều cùng là học trò của
ngài Achahn Mun. Thiền viện tập trung
hướng dẫn đề mục hơi thở theo
pháp môn Nhập Xuất Tức Niệm trong kinh
điển Pali. Thiền sư hướng dẫn
là ngài Achahn Tong và Achahn Bunku ( có thể
sử dụng Anh ngữ lưu loát). Nhân
số trung bình của thiền viện gồm
khoảng 100 Tỳ Kheo, hơn mười Sa Di , 150 tu
nữ và gần 100 cư sĩ nam nữ. Về
các sinh hoạt cũng gần giống với trung
tâm Dhammakaya. Đặc biệt các điều
kiện điện nước ở đây rất
tốt. c.
THIỀN VIỆN WIWEK ASOM (vivekasrom) ĐỊA
CHỈ : Tambon Ban
Suan, Ampher Muang, Chonburi 20000, nằm cách ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Thiền
viện là mũi đất yên tĩnh nhất
của Chonburi. Tất cả thiền thất
được xây dựng kề cận nhau và
kiến trúc hiện đại, tiện nghi, dĩ
nhiên nam nữ cách ly. PHƯƠNG
PHÁP HƯỚNG DẪN Đường
lối căn bản vẫn là Tứ Niệm
Xứ, nhưng theo phương pháp hướng
dẫn của các trung tâm Mahasi. Người
sáng lập thiền viện là ngài Asabha
người Miến điện, một trong những
đệ tử nổi tiếng nhất của ngài
Mahasi. Nhân
số trung bình của thiền viện là
khoảng 50 tỳ kheo, 30 tu nữ và gần 50 cư
sĩ nam nữ. Ngôn ngữ giảng dạy trong
thiền viện có thể gốm trong ba thứ
tiếng Thái, Anh và Miến Điện.
Thiền sư hướng dẫn là Achahn Asabha,
Achahn Charuwan và Achahn Pramuan. Sinh
hoạt trong thiền viện hầu như
được thu gọn đến mức tối đa
để thiền sinh có thể tu thiền trên
dưới 20 giờ mỗi ngày. Hầu hết
mọi người đều chỉ ăn mỗi
ngày một bữa, nhưng trong những
trường hợp cá biệt, các cư sĩ
có thể ăn chiều. Nếu thiền sinh ăn
chay thì thiền viện cũng sẽ tạo
điều kiện giúp đỡ. Cũng như ở
các thiền viện khác, tất cả chư
tăng phải khất thực để sống,
và cư sĩ thì mỗi ngày xuống
nhận thức ăn ở phòng ẩm thực.
Các điều kiện sinh hoạt ở đây
rất tiện nghi và hiện đại. d.
THIỀN VIỆN SORN THAWEE ĐỊA
CHỈ : Bangkla,
Chachoengsao 24110. Từ Bangkok, quý khách lấy xe
Bus đi về Moh Chit hoặc Ekamai, rồi từ
đó đi thêm một chặng xe Bus nữa
để đến Bangkla. ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Thiền
viện nằm trên mảnh đất mười
mẩu tây, có hồ nước và cây
cối mát mẻ, toạ lạc giữa đồng
lúa. PHƯƠNG
PHÁP HƯỚNG DẪN: Thiền
viện kế thừa truyền thống thiền
Quán của ngài Mahasi. Không đặt
nặng các công phu tụng niệm hay chấp
tác, mỗi ngày chia đều thời gian cho hai
thời khóa thiền toạ và thiền
hành, từ 8 –- 10 tiếng đồng hồ.
Tất cả thiền sinh không được ngũ
quá 6 tiếng. Nhân
số trung bình của thiền viện gồm
khoảng 20 tỳ kheo, 30 tu nữ và 50 cư sĩ
nam nữ thường xuyên tòng khoá.
Thiền sư hướng dẫn ở đây
là ngài Achahn Thawee (cho người Thái)
và một sư cô người Áo (cho
các thiền sinh Tây Phương). SINH
HOẠT: Mỗi
ngày thiền sinh phải thức dậy từ 4
giờ sáng để tu thiền . Mọi
người đều phải ăn ngọ, và y
phục của thiền sinh phải đặc biệt
đơn giản, không màu mè kiểu
cọ. Nơi đây không tiếp nhận
các thiền sinh đến tu ngắn hạn,
dưới hai tuần. Mọi sinh hoạt cá
nhân không cần thiết cho việc tu thiền
như đọc sách, viết lách, nghe
radio,..đều bị cấm chỉ. Mỗi ngày,
thiền sinh phải trả 2 USD cho sinh hoạt phí
tại thiền viện. e.
THIỀN VIỆN BOONKANCANARAM ĐỊA
CHỈ : Pattaya,
Chonburi 20260, cách trung tâm Pattaya 5 km về phía
nam. Tọa lạc ở khu PHƯƠNG
PHÁP HƯỚNG DẪN : Thiền
viện noi theo phương pháp tu tập Tứ
Niệm Xứ của bà thiền sư Ajahn Naeb.
Trước khi chính thức dự khoá tu
thiền, các thiền sinh phải được
học qua những vấn đề căn bản
của giáo lý A Tỳ Đàm. Các
thiền sinh có thể tổ chức thành
từng nhóm nhỏ để trình pháp
với thiền sư. Ở đây hầu như
không ưu tiên cho những bài giảng
đại chúng. Thiền sư hướng dẫn
gồm ông Chua Jantrupon, cô Vitoon Voravise
(người phiên dịch) và một hành
giả người Mỹ phục vụ lâu năm
tại đây là ông Frank Tullius. Ngôn
ngữ giảng dạy ở đây gồm hai
thứ tiếng Anh và Thái. Nếp
sinh hoạt của thiền viện chủ yếu
là tinh thần tự giác, một phần
cũng vì thiền sinh của viện không
đông, chỉ trên 30 người cả Tăng
lẫn Tục. Thiền viện có thức ăn cho
người ăn chay. Vì nhu cầu tiện nghi,
mỗi ngày thiền sinh phải trả 2 USD sinh
hoạt phí. ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Thiền
viện là một khu vườn rộng trồng
dừa và tre, có những thảm cỏ xanh
rộng lớn và tổng diện tích là
8.5 mẩu tây, có 50 thiền thất đã
được xây dựng. Bà
Achahn Naeb (1897- 1983) đặc biệt hứng thú
với giáo lý Vô Ngã từ năm 34
tuổi. Bà đã theo học thiền với
ngài Pathunta U Vilasa (người Miến Điện)
và dành trọn 40 năm để học
hỏi , thực hành và giảng dạy ba
bộ môn A Tỳ Đàm, Pali và Tứ
Niệm Xứ. Ở Thái Lan hiện có sáu
thiền viện tu tập theo đường lối
của bà. f.
THIỀN VIỆN SAI-NGARM (TRAY- NGARM) ĐỊA CHỈ : Tambon Donmasang, Amper Muang, Supanburi 72000.
Xuất phát ở Bangkok, khách lấy xe Bus ở
Moh Chit đi về Supanburi, đoạn đường
100 km về Tây Bắc. Từ đây lại
dùng xe Bus địa phương đi thêm 15 km
nữa để đến thiền viện.
Điện thoại thiền viện là (035) 522 005 PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG
DẪN: Thiền viện chủ yếu
hướng dẫn phép quán niệm hơi
thở theo kinh nghiệm của Achahn Dhammadharo, dĩ
nhiên y cứ trên kinh Đại Niệm Xứ.
Ngôn ngữ dùng trong thiền viện là
tiếng Thái. Trong trường hợp cần
thiết sẽ có người thông dịch
tiếng Anh. ĐIỀU KIỆN TRÚ XỨ : Thiền viện là một mảnh
vườn rộng 28 mẩu tây nằm giữa
ruộng lúa, quanh năm mát mẻ nhờ
cây cối và gió đồng. Điều
kiện điện nước ở thiền viện
rất tốt. Nhân số trung bình gồm
khoảng 200 Tỳ kheo, 100 tu nữ và 50 cư sĩ
nam nữ. Về nếp sinh hoạt thường
nhật, các thiền sinh phải luôn thức
dậy lúc 4 giờ sáng. Không kể
những sinh hoạt căn bản như ăn uống
tắm rữa, thời gian suốt ngày
được chia đều cho ba công phu thiền
hành, thiền tọa và nghe Pháp. g. THIỀN VIỆN SUNNATARAM ĐỊA CHỈ : Ampher Sangkhlaburi, Kanchanaburi 71180, cách
Bangkok 302 km về hướng Tây Bắc. Khách
dùng xe lữa hoặc xe Bus đi Kanchanaburi, sau
đó lại đi xe Bus về Sangkhlaburi. ĐIỀU KIỆN TRÚ XỨ : Thiền viện nằm trong một
vùng thung lũng rộng 112 mẩu tây, chung quanh
có nhiều hang động và vách
đá kỳ vĩ., cây cao bóng cả như
rừng già và có một dòng sông
chãy ngang thiền viện. PHÁP MÔN HƯỚNG DẪN : Thiền sinh được hướng
dẫn chuyên tu phép niệm hơi thở và
Từ Bi Quán. Thiền sư hướng dẫn
là Achahn Yantra cùng vài vị phụ tá,
đều nói được tiếng Anh. SINH HOẠT : Nhân số trung bình của
thiền viện gồm khoảng 100 Tỳ kheo, 30 tu
nữ và 50 cư sĩ nam nữ. Tất cả
đều phải thức dậy từ 3 giờ
sáng, sinh hoạt trong ngày chủ yếu là
ngoài giờ chấp tác (quét dọn),
thời gian còn lại là tu thiền, nghe
Pháp. Những cư sĩ thọ trì Bát Quan
Trai được bố trí chổ ở riêng
biệt. Tất cả chư tăng trong thiền
viện hầu hết đều trì hạnh
Đầu Đà không am thất và chỉ
khất thực để sống. Những tháng
mùa mưa các vị có thể vào trong
những am cỏ dựng sơ sài bằng tre. Sinh hoạt ở thiền viện
tương đối lý tưởng, có
chút tự do, những người ăn chay sẽ
được đặc cách giúp đỡ.
Vì trong khu vực thung lũng có nhiều
muỗi sốt rét nên thiền sinh cần
chuẩn bị mùng màn và thuốc men, những
thứ ở thiền viện có thể cung ứng
nhưng chắc chắn có những hạn chế. 2. KHU VỰC ĐÔNG BẮC THÁI
LAN a.
THIỀN VIỆN WAH ĐỊA
CHỈ : Amper
Sungoen, Nakhon Rajasima 30140, cách ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Khu vực
sinh hoạt chính thức của thiền viện
gồm 6 mẩu tây trên một sườn
đồi, nằm cạnh khu rừng tân tạo
gồm 400 mẩu tây, cũng do thiền viện
chăm sóc. Cách thiền viện 2 km là
một thác nước thơ mộng và yên
tĩnh. Thiền viện hiện chỉ có 34
thiền thất cho khoảng 50 thiền sinh Tăng
tục. PHÁP
MÔN HƯỚNG DẪN : Đề
mục chuyên tu của thiền viện là hơi
thở và hồng danh Phật. Về kỷ thuật,
thiền sinh có thể vận dụng theo cách
của riêng mình. Thiền sư hướng
dẫn ở đây là hòa thượng
Bhawanabhisal ( Luang Pow Pudh). Ngôn ngữ giảng dạy
ở thiền viện là tiếng Thái ĐIỀU
KIỆN SINH HOẠT : Các
thiền sinh phải dậy từ 4 giờ sáng
và các sinh hoạt còn lại cũng gần
giống các thiền viện khác. Vì
đây là khu vực của người Isan
(Thái gốc Lào) nên thức ăn trong
thiền viện cũng mang phong vị của Lào,
như ăn cơm nếp và cách nêm nếm
giống hệt ở Lào. Thiền
viện Wah Paw Kaew rất thích hợp cho những
người muốn sống gần thiên nhiên
trong môi trường hoang dã nhưng an toàn. b.
THIỀN VIỆN Wat Pah NANAJAT ĐỊA
CHỈ : Amper Warin,
Ubon Rajathani 34310, cách ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Thiền
viện toạ lạc trong một khu rừng rậm
rạp, diện tích 100 mẩu tây với một
thiền đường nằm giữa rừng cây.
Vật liệu xây dựng ở đây chủ
yếu là gổ và đá cẩm thạch.
Kiểu dáng kiến trúc của thiền
viện khá hiện đại. PHÁP
MÔN HƯỚNG DẪN : Tiếp
nối tinh thần tu học đích truyền từ
thiền sư Achahn Chah, thiền viện không
đặt nặng vấn đề kỷ thuật trong
công phu tu tập thiền Quán. Trong chủ
trương của thiền viện, Niệm Xứ
nào cũng tốt và oai nghi nào cũng quan
trọng, không chú trọng hình thức
toạ thiền như ở nhiều thiền viện. Điểm
quan trọng là phương pháp dù có
vẻ linh động quyền biến nhưng tinh
thần căn bản vẫn là kinh điển
Pàli. Quan điểm hành đạo căn
bản của thiền viện là kết hợp
Chỉ Quán và lấy Luật Tạng làm
thanh quy. Thiền
viện Nanajat không có những pháp thoại
đại chúng, thiền sư chỉ giảng
dạy điều gì đó qua những câu
trả lời các thắc mắc của thiền
sinh. Ngôn ngữ sử dụng trong thiền viện là
tiếng Thái và một số ngôn ngữ
Tây Phương. Phương trượng và
thiền sư của thiền viện là hai
thượng toạ người Anh Achahn Pasanno và
Achahn Jayasaro. Vì là chổ ghé chân
của nhiều người khách Tây
Phương, nên tuy là một thiền viện,
Nanajat có một thư viện kinh Phật rất
phong phú với nhiều tài liệu nghiên
cứu quý giá viết bằng các thứ
tiếng. NẾP
SINH HOẠT Ở THIỀN VIỆN : Nhân
số của thiền viện thường chỉ khoảng
hai mươi vị sư , cả Tỳ kheo lẫn Sa di,
và hơn chục cư sĩ. Thiền viện
không có tu nữ. Các nam cư sĩ
đến tu thiền ở đây trên một
tuần lễ đều phải xuống tóc.
Nếu muốn xuất gia thì phải trãi qua
một thời gian mặc đồ trắng để
học tập kinh luật theo đòi hỏi căn
bản của một nhà sư Nam Tông.
Điều kiện thí phát không bắt
buộc ở nữ giới, nhưng các nữ
thiền sinh ở đây phải sống khép
mình như các tu nữ thật sự.
Người đến sau sẽ được
người đến trước kềm cặp hướng
dẫn. Thời
khóa tu học ở thiền viện khá khắt
khe. Mọi người đều phải thức
dậy từ 3 giờ sáng cho buổi kinh khuya
và sau đó hành thiền đến
sáng. Tất cả chư tăng sẽ khất
thực tại chùa vào lúc 8 giờ
sáng và phải thọ trai xong xuôi lúc
8;30 sáng.Buổi chiều lúc 3:00 giờ, các
thiền sinh tập trung quét dọn, vun vén
khắp nơi, đến 5:00 giờ thì
được phân phát thức uống buổi
chiều. Sau đó mọi người cùng
vào tụng kinh chiều và hành thiền. Điều
kiện điện nước ở Nanajat tương
đối hạn chế. Chỉ trừ những nơi
sinh hoạt đại chúng và phòng tắm,
phòng riêng của thiền sinh không
được dùng điện. Vấn đề
thực phẩm cho thiền sinh Tăng tục ở
Nanajat được chăm chút cẩn thận.
Những người muốn ăn chay sẽ
được tạo điều kiện thuận
lợi. Mỗi người trong thiền viện
đều có phòng riêng, trừ
trường hơp đột xuất phải ở chung
nhau trong vài hôm, dĩ nhiên nam nữ cách
ly rõ ràng. Hầu như mỗi thiền thất
đều có một con đường thiền
hành riêng biệt để không ai làm
phiền ai. Thiền viện Nanajat là một trong
một trăm chi nhánh của tổ đình Nong
Pah Pong, trung tâm điều phối các thiền
viện theo truyền thống của thiền sư Achahn
Chah từ lúc ngài còn sinh tiền. c.
THIỀN VIỆN NONG PAH PONG ĐỊA
CHỈ : Amper Warin,
Ubon Rajathani 34190, rất gần thiền viện Nanajat,
khách có thể hỏi thăm đường
từ đây. ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ : Thiền
viện bao gồm một khu rừng và những
bãi trống trên diện tích 140 mẩu
tây. Trước kia nơi này là chổ
hỏa táng và nổi tiếng nhiều ma
quỷ. Trong mấy năm gần đây thiền
viện đã có nhiều công trình
xây dựng như nhà bảo tàng lưu
giữ các tác phẩm nghệ thuật Phật
Giáo cùng những kỷ vật về ngài
Achahn Chah và các bộ xương người
đã một thời được dùng
làm đề mục tham thiền của các
thế hệ thiền sinh tại đây. Ngôi
thiền thất của ngài thiền sư
đến nay vẫn được bảo trì
như một bảo vật của thiền viện.
Ngôi tháp bảo lưu di cốt của ngài
Achahn Chah cũng được xây dựng tại
thiền viện này. SINH
HOẠT : Hầu
hết những nền nếp sinh hoạt như thời
khóa tu học ở các thiền viện
thuộc truyền thống của ngài Achahn Chah
đều giống nhau. Về một vài chi tiết
không đáng kể thì do điều
kiện từng nơi mà có những sai
biệt. Chẵng hạn về thức ăn thì
thiền viện Nong Pah Pong hầu như chỉ ăn
cơm nếp quanh năm và nội quy ở
đây gần như cấm hẳn việc chư
tăng giao tiếp với các nữ hành
giả. Do vậy những tín nữ muốn xuất
gia thường được gửi sang thụ
huấn với các nữ thiền sinh kỳ cựu
bên thiền viện Nanajat, nhất là đối
với trường hợp người Tây
Phương. Về
tiện nghi sinh hoạt thì thiền viện Nong Pah
Pong không lắp đặt điện nước
ở phòng riêng các thiền sinh. Hai tiện
nghi này chỉ có ở chổ sinh hoạt chung
của đại chúng như hội trường,
phòng ăn, nhà tắm, phòng vệ sinh.
Kế đến, ngôn ngữ sử dụng trong
thiền viện toàn bộ đều bằng
tiếng Thái. Một người muốn tòng
khóa ở đây phải biết nói
tiếng Thái, tối thiểu cũng đủ xoay
sở trong sinh hoạt thường ngày. Nhân
số ở Nong Pah Pong gồm khoảng 50 Tỳ Kheo, 50 tu
nữ. Hành giả cư sĩ thường
đến đây tu tập theo các thiền
khoá rồi rút lui, ít khi ở lại
vì phải nhận rằng điều kiện sinh
hoạt chật vật của thiền viện
đã khiến họ e ngại. d.
THIỀN VIỆN WANABODHINYAN ĐỊA
CHỈ: Amper Phibun
Mangsahan, Ubonrajathani 34110. Thiền viện nằm trong khu
Bảo Tồn sinh thái Sirindhorn, gần biên
giới Lào. Đường xe cộ có phần
khó khăn vì khách phải qua nhiều
chặng tàu đò. ĐIỀU
KIỆN TRÚ XỨ: Khuôn
viên thiền viện là một khu rừng
nhiệt đới có diện tích 1000 mẩu
tây và là chổ tập trung của nhiều
loại thú rừng xứ nóng như heo
rừng, hươu nai, các loài chim
chóc,… SINH
HOẠT: Vì
cũng là một chi nhánh của thiền
viện Nong Pah Pong nên những nét chính
về nếp sinh hoạt của thiền viện Bodhinyan
cũng giống như ở các chi nhánh
khác. Vì quá xa xôi heo hút nên
nhân số hiện tại của thiền viện
chỉ có khoảng mười vị sư,
không có tu nữ hay cư sĩ . TK
GIÁC NGUYÊN tổng hợp từ Internet |
![]()
![]()
![]()