Ý NGHĨA PHÁP
PHƯƠNG TIỆN
TRONG KINH PHÁP HOA
Thích Giác Chí
A/ DẪN NHẬP
Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đức Phật là vị giáo chủ đầy tính vị
tha, Ngài đã khẳng định sự ra đời của Ngài là vì muốn đem lại
hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Ngài xuất hiện trên đời
này là vì hết thảy chúng sanh đang khổ đau. Bởi lầm chấp vọng
tưởng đảo điên nhận huyễn làm chơn, bỏ hình theo bóng cho nên
chúng sanh mới bị cuốn trôi theo dòng xoáy của luân hồi sinh
diệt. Đức Phật luôn muốn chúng sanh nhận chân rõ sự thật, nhận
được cái lẽ chân thật của cuộc đời và nhận ra cái bản thể thanh
tịnh của mình. Cái bản thể ấy vốn không sanh, không diệt, không
nhơ, không sạch vẫn thường hằng dù ở bất cứ cảnh giới nào. Đó
chính là cái Tri Kiến Phật, tri kiến Như Lai, tri kiến giải
thoát. Đức Phật ra đời chỉ để chỉ cho chúng sanh nhận chân được
Phật Tri Kiến của mình sống với nó mà thoát ly sanh tử khổ đau.
Điều này được xác định qua Kinh Pháp Hoa. Bản hoài của chư Phật
là: “khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến” (開
是眾
生
悟
入
佛
知見).
Làm thế nào để khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến? Phật
Tri Kiến là pháp chân thực không thể dùng lời nói để luận bàn,
không phải pháp hữu tướng để nhìn thấy. Bởi nếu là pháp hữu thì
duyên sanh không thật. Như Kinh Kim Cang có dạy:
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”
(凡
所
有
相
皆
是
虛
忘)
Vậy làm thế nào để chúng sanh
nhận ra được cái bản thể thanh tịnh thường hằng của chính mình.
Đức Phật đã dùng hình ảnh rất cụ thể để cho chúng ta thấy được
cái pháp của Ngài. Đó là ảnh dụ ngón tay và mặt trăng.
“Nhất thiết tu đa la như tiêu
nguyệt chỉ”(
一
切
修
多
羅
如
宵月
指)
Tất cả các kinh giáo Ta dạy như
ngón tay chỉ mặt trăng Đức Phật đã nói như vậy. Ngón tay là
phương tiện, mặt trăng là chân lý, là thật tướng mà Đức Phật đã
chứng ngộ. Điều Phật đã chứng ngộ thậm thâm vi diệu là cái điều
mà hết thảy chúng sanh đều có. “Nhất thiết chúng sanh giai hữu
Phật tánh” (一
切
眾
生
皆
有
佛
性).
Để chỉ cho chúng sanh thấy được Phật tánh, Phật Tri Kiến của
mình Đức Phật đã dùng vô số phương tiện để chỉ bày.
Như vậy pháp Phật chính là Pháp
Phương Tiện (法
方
便)
hay nói cách khác Pháp Phương Tiện chính là pháp Phật. Từ điều
này ta có thể nói rằng tất cả sự chỉ dạy của Đức Phật chỉ là
phương tiện. Vì mục đích đạt đến cứu cánh của hết thảy chúng
sanh mà Đức Phật đã dùng vô số phương tiện. Nhưng chúng sanh
phần nhiều chưa rõ được Pháp Phương Tiện của chư Phật ra sao?
Thường lầm chấp phương tiện là cứu cánh nên có một số người đã
thần thánh Kinh điển phải để những chỗ trân trọng, thậm chí có
kẻ còn thờ cả Kinh điển mà không hiểu được nghĩa lý của Kinh. Họ
không biết được tụng đọc kinh điển là để hiểu cái lý của Phật
dạy: “Tụng kinh giả minh Phật chi lý” (誦
經
者明
佛
之
理).
Mà cứ khư khư ôm lầm chấp như kẻ qua sông còn ôm mãi chiếc đò
không chịu rời bến. Nhưng cũng lắm người lại lợi dụng cái Pháp
Phương Tiện để mưu cầu danh lợi. Họ nhân danh: “Phương tiện
trong phương tiện” để giải đãi biếng nhác tu tập, tóm thu lợi
dưỡng, mưu cầu lợi danh. Trước những điều trăn trở ấy người viết
quyết định chọn “Pháp Phương Tiện” làm đề tài nghiên cứu xin
được góp thêm một đóm lửa nhỏ để làm sáng tỏ hơn vấn đề.
1.2 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ ĐỀ TÀI:
Pháp Phương Tiện là pháp được
Đức Phật xác định rõ ràng trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm Phương Tiện
thứ hai. Kinh Pháp Hoa là bộ kinh lớn thuộc kinh điển Đại thừa
nên rất được chư Tôn Đức tiền bối và hiện tại, cũng như các thức
giả quan tâm nghiên cứu và chú giải. Kinh Pháp Hoa là một bộ
kinh rất đặc biệt nó vừa cao sâu nhưng lại rất phổ thông, nên
không những được các nhà nghiên cứu Phật học giảng giải mà quảng
đại quần chúng Phật Tử đều đọc tụng thọ trì. Nhưng có lẽ Pháp
Phương Tiện chưa được đề cập riêng biệt. Tuy nhiên khi phân tích
chú giải Kinh Pháp Hoa các học giả và các nhà học Phật thường
chú trọng sớ giải phẩm Phương Tiện một cách rất sâu sắc. Vì phẩm
này chính là phẩm căn bản trong phần tích môn của Kinh Pháp Hoa.
Như Hòa thượng Thích Thiện Siêu khi giảng giải Kinh Pháp Hoa đã
dành 177/ 560 trang sách để giảng giải về phẩm Phương Tiện. Qua
đây ta có thể nói rằng Pháp Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa cũng
đã được đề cập rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và chú giải.
Trong bài viết này chỉ mong tiếp nối cái sở học của những người
đi trước.
1.3. Ý NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI.
Pháp Phương Tiện trong Kinh
Pháp Hoa như đã nói là phần căn bản của tích môn, nó như là cánh
cửa để Đức Phật khai mở Đạo Nhất Thừa. Muốn chỉ được nhất thừa
Đức Phật phải dùng phép phương tiện để khai quyền hiển thật.
Trình bày đạo nhất thừa Đức Phật cũng phải dùng đến phương tiện
ngôn ngữ. Điều này chứng tỏ không có Pháp Phương Tiện thì không
thể thuyết giáo, không thể khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri
Kiến. Nói như vậy để thấy rằng Pháp Phương Tiện đối với Phật
pháp là vô cùng quan trọng. Cho nên hiểu rõ về Pháp Phương Tiện
để hiểu sâu hơn về Kinh Pháp Hoa nói riêng và giáo lý nhà Phật
nói chung là công việc rất cần thiết. Bởi hiểu đúng ý nghĩa của
nó mới mong áp dụng Pháp Phương Tiện một cách đúng đắn. Nên với
đề tài nghiên cứu này mong rằng sẽ làm sáng tỏ hơn tính chất
quan trọng của Pháp Phương Tiện.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Pháp Phương Tiện là pháp mà Đức Thế
Tôn và chư Phật quá khứ đã khai mở ra hầu dẫn dắt hết thảy chúng
sanh qua khỏi biển sanh tử vượt thoát khổ đau. Chân lý nhiệm mầu
là bất khả tư nghì. Để diễn đạt nó Đức Phật đã dùng vô số phương
tiện. Có thể nói, tất cả cách thức trình bày, thuyết giảng, dùng
đến ngôn ngữ, hình ảnh hay thị hiện thần thông…thậm chí đến sự
ra đời, xuất gia thành đạo hay chứng nhập niết bàn cũng là
phương tiện của Phật để độ chúng sanh. Như vậy Pháp Phương Tiện
thật rộng bao la, sâu vô cùng, dài vô lượng. Với phạm vi một
tiểu luận nhỏ mà bàn về Pháp Phương Tiện chẳng khác nào đội đá
vá trời. Nên chỉ xin lạm bàn về Pháp Phương Tiện theo tinh thần
Kinh Pháp Hoa đã được học. Với tiểu luận này cũng mong trình bày
một số nhận định về Pháp Phương Tiện qua Kinh Pháp Hoa nhằm hỗ
trợ cuộc sống tu tập của những hành giả Pháp Hoa. Cũng như thêm
một ít chất liệu để mọi người cùng hiểu Phật pháp một cách sâu
sắc hơn.
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT
CẤU LUẬN VĂN:
Với tiểu luận này người viết chỉ
mong được trình bày lại một số kiến thức mà mình đã được học từ
sự khai mở của Hòa thượng ân sư, cũng xin được góp một số ý kiến
nhận định của mình như là trả bài cho chư vị giáo thọ, mong đáp
được phần nào công ơn dạy dỗ và xin chia sẽ với các hành giả
Pháp Hoa số vấn đề mang tính cách mới của Pháp Phương Tiện để
cùng nhau trao đổi hỗ trợ cho việc tu học ngày một tốt hơn.
Do mục đích đó nên tiểu luận
này trình bày dưới dạng tham cứu cơ bản, từ đó phân tích rút ra
những bài học thiết thực hay tìm đến những phương pháp làm
phương tiện cho việc tu học và hoằng pháp. Từ mục đích và phương
pháp nghiên cứu như đã trình bày ở trên. Tiểu luận này được kết
cấu gồm 3 phần 5 chương.
Phần dẫn nhập : Chương 1 - Giới
thiệu Đề tài.
Phần nội dung: Chương 2 :Giới Thiệu
Tổng Quát.
Chương 3: Ýù Nghĩa Của Pháp Phương
Tiện Trong Kinh Pháp Hoa
Chương 4 : Giá Trị Thực Tiển Của
Pháp Phương Tiện.
Phần kết luận: Chương 5: Phật Pháp
Là Pháp Phương Tiện
Trước khi đi vào nội dung
chính, thiết nghĩ chúng ta nên đi vào phần khái quát nội dung
của Kinh Pháp Hoa và duyên khởi Phật nói pháp phương tiện.
B/ PHẦN NỘI DUNG
Chương 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
2.1.XUẤT XỨ:
2.1.1.Khái quát nội dung Kinh Pháp
Hoa:
Kinh Pháp Hoa là bộ kinh lớn
của kinh điển Đại thừa hàm chứa ý nghĩa rất sâu xa và phong phú.
Không thể một vài dòng mà có thể nói hết được nội dung của bộ
kinh. Chỉ xin dẫn dụ ra đây sự tóm lược nội dung kinh mà chư
tiền bối các bậc thức giả đã tóm lược để người đọc có cái nhìn
khái quát hơn. Kinh Pháp Hoa bao gồm 28 phẩm được chia ra làm 7
quyển (theo bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh). Hải Ấn
thiền sư khái quát nội dung của 28 phẩm Kinh Pháp Hoa như sau:
a) Phẩm tựa: Hiển bày tổng quát
về sự tướng của pháp giới.
b) Từ phẩm Phương tiện thứ 2
đến phẩm Pháp sư thứ 10: Khai mở cho chúng sanh cái thấy biết
của chư Phật.
c) Từ phẩm Hiện bảo tháp thứ11
đến phẩm Chúc lụy thứ 22: Chỉ rõ sự thâm áo của Tri Kiến Phật.
d) Từ phẩm Dược vương Bồ Tát bổn
sự thứ 23 đến phẩm Phổ hiền Bồ Tát thứ 28: Nói đế sự thể nhập
Phật Tri Kiến hai con đường hành đạo Bồ tát
Nhưng phần đông đều phân tích nội
dung Kinh Pháp Hoa theo hai phần Tích môn và Bản môn.
Phần Tích môn là phần diễn tả sự
hóa độ của Đức Phật Thích Ca qua biểu hiện lịch sử tu tập, hành
đạo và giáo hóa bao gồm 14 phẩm đầu. Phần nầy được phân tích ra
làm 5 phần nhỏ.
Phần 1 là phẩm Tựa: Giới thiệu tổng
quát về Phật Tri Kiến.
Phần 2 là phẩm Phương tiện thứ 2:
Đây là phẩm căn bản của phần tích môn, cũng là chính yếu của bộ
Kinh Pháp Hoa. Nên được gọi là: “Pháp thuyết châu” (法
說
珠)chỉ
bày Phật Tri Kiến rất cao thâm chỉ có hàng thượng căn thượng trí
mới nhận được. Phẩm này Đức Phật xác nhận tất cả các pháp của
Phật đều là phương tiện.
Phần 3: Từ phẩm Thí dụ thứ 3 đến
phẩm Thọ ký thứ 6: đoạn này Phật tiếp tục chỉ bày Phật Tri Kiến
qua các hình ảnh thí dụ và trao truyền để hàng có căn trí thấp
hơn giai đoạn đầu có thể lãnh ngộ được nên gọi là: “Dụ thuyết
châu”. (喻
說
珠)
Phần 4: Từ phẩm Hóa thành dụ thứ 7
đến phẩm Thọ học, vô học nhân ký thứ 9: phần này Đức Phật đã mỡ
tâm cho các hàng đệ tử có căn cơ thuộc hàng hữu học nhận rõ nhân
tu hành quá khứ của tự thân để phát khởi tâm Đại thừa, hầu nhận
rõ được Phật Tri Kiến nên gọi là: “Nhân duyên thuyết châu”. (因
緣
說
珠)
Phần 5: Từ phẩm Pháp sư thứ mười
đến phẩm An lạc hạnh thứ 14: phần này là phần bổ sung cho phần
chính của tích môn để nói rõ hơn khả năng thành Phật của hết
thảy chúng sanh hay nói cách khác là phần này nói về Phật tính
và điều kiện để hiểu và giảng Kinh Pháp Hoa.
Đây chính là phần chuẩn bị tư tưởng
để thính chúng đi vào phần Bản môn.
Phần Bản môn: Phần Bản môn chỉ rõ
Phật tính vốn không sinh không diệt thường hằng nên Thế Tôn
thành đạo từ vô lượng kiếp trước ở Ta bà chứ không phải ra đời
và thành đạo ở hiện kiếp. Đây chính là phần triển khai giáo lý
Pháp Hoa, giải thích tại sao thành Phật và con đường đi vào Phật
đạo, kiến Phật Tri Kiến của các hàng Bồ tát. Phần Bản môn này
được chia ra 3 phần nhỏ.
Phần 1 gồm 2 phẩm: Hiện bảo tháp
thứ 15 và Như lai thọ lượng thứ 16: Đây là phần chính yếu của
Bản môn. Khẳng định Phật tánh là thường hằng không sanh không
diệt và Như lai đã thành đạo từ vô lượng kiếp trước.
Phần 2 từ phẩm Phân biệt công đức
thứ 17 đến phẩm Chúc lụy thứ 22: Phần này Đức Phật khích lệ hàng
đệ tử học hiểu và phổ biến Kinh Pháp Hoa nhưng không xa rời Bản
môn.
Phần 3 từ phẩm Dược vương Bồ Tát
bổn sự thứ 23 đến phẩm Phổ hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28: Chỉ
rõ con đường đi vào Phật Tri Kiến hay quá trình tu tập của hàng
Bồ Tát trên con đường chứng nhập Phật Tri Kiến.
Tóm lại dù nói gì đi nữa thì
nội dung Kinh Pháp Hoa cũng để khẳng định Đức Phật dùng vô số
phương tiện để mở bày dẫn dắt chúng sanh trở về với Tri Kiến
Phật của chính mình hay nói cách khác nội dung Kinh Pháp Hoa là
Đức Phật dụng phương tiện để “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật
Tri Kiến”.
2.1.2 Sự Xuất Hiện Của Pháp Phương
Tiện Trong Kinh Pháp Hoa.
Theo tinh thần nội dung tư tưởng
của Kinh Pháp Hoa thì Pháp Phương Tiện đã xuất hiện rất sớm. Vì
sao vậy? Vì tất cả hành động diễn thuyết từ sự Đản sinh, cho đến
xuất gia tu hành, thành đạo của Đức Phật đều dụng Pháp Phương
Tiện để nhằm chỉ rõ cho chúng sanh nhận rõ Phật Tri Kiến và
chứng nhập được Phật Tri Kiến của chính mình.
Nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn theo
nội dung của Kinh Pháp Hoa. Trong Kinh Pháp Hoa ta nhận thấy
rằng sau khi Đức Phật nhập vào chánh định vô lượng nghĩa xứ thân
và tâm không lay động từ trong đạo bạch hào phóng ra vô lượng
hào quang để hiển bày vô lượng cảnh giới. Sau đó Đức Phật lại từ
chánh định ung dung mà xuất bảo với Ngài Xá Lợi Phất rằng: “Trí
của chư Phật thậm thâm vô lượng, trí huệ môn đó rất khó hiểu,
khó vào, tất cả hàng Thanh văn, Bích Chi Phật không thể hiểu
được. Vì sao? Bởi vì các Đức Phật đã từng thân cận trăm ngàn vạn
ức vô số Đức Phật và đã tận hành vô lượng đạo pháp của các Đức
Phật, dũng mãnh tin tấn danh xưng cùng khắp, thành tựu pháp thậm
thâm vị tằng hữu và tùy nghi nói pháp ý thú khó hiểu” [15. 51].
Đức Phật vừa xuất định đã tán thán
trí huệ của Chư Phật là chính để hiển bày sự dụng của Pháp
Phương Tiện mà Đức Phật sắp nói ra. Thật vậy chúng ta hãy nghe
Phật dạy đoạn tiếp theo: “Này Xá Lợi Phất, từ ta thành Phật đến
nay đã dùng các nhân duyên, các thí dụ, rộng nói ngôn giáo và vô
số phương tiện dẫn đạo chúng sanh khiến xa lìa chấp trước. Sở dĩ
làm vậy là vì phương tiện tri kiến Ba la mật Như Lai đều đã đầy
đủ. Này Xá Lợi Phất, tri kiến Như lai rộng lớn sâu xa, vô lượng
vô ngại lực, vô sở úy, thiền định giải thoát, tam muội sâu vào
không có ngần mé, thành tựu các pháp chưa từng có. Này Xá Lợi
Phất, Như Lai hay phân biệt khéo nói các pháp ngôn từ mềm dịu
vui đẹp lòng chúng” [13. 187].
Ở đây ta thấy Phật nói sự thành
tựu về phương diện từ lợi cũng nói về phương diện lợi tha. Từ sự
thành tựu của tự lợi nhìn vào biết được chúng sanh tánh, dùng
xảo thuyết để dẫn dắt chúng sanh tức khéo hợp với căn cơ mà nói
pháp. Đó là Pháp Phương Tiện.
Đây chính là sự khởi đầu Đức
Phật tuyên dương Pháp Phương Tiện của chư Phật. Vì nếu không
dụng pháp phương tịên thì không chỉ bày được Tri Kiến Phật vốn
rất khó hiểu, khó nghĩ vì pháp đó là thập như thị: như thị
tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như
thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản
mạt cứu cánh. [13. 189]
Như vậy chúng ta đã nhận thấy
rằng Pháp Phương Tiện đã được Đức Phật khẳng định ở phẩm Phương
tiện của Kinh Pháp Hoa. Để tìm hiểu sâu hơn Pháp Phương Tiện
trong Kinh Pháp Hoa và ứng dụng của nó ra sao trong quá trình tu
tập và hoằng pháp chúng ta cùng đi tiếp vào phần ý nghĩa Pháp
Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa.
Chương 3: Ý NGHĨA PHÁP PHƯƠNG TIỆN
TRONG KINH PHÁP HOA
3.1 PHÁP PHƯƠNG TIỆN.
Như chúng ta đã biết chúng sanh có
vô lượng phiền não thì Đức Phật vị Pháp Vương cũng có vô lượng
pháp môn tu tập để diệt trừ , đưa chúng sanh ra khỏi biển sanh
tử luân hồi. Như vậy, pháp ở đây chính là phương pháp tu tập
diệt trừ phiền não. Chúng sanh nhờ các pháp tu nầy để đạt được
sự giác ngộ. Nhưng Tri Kiến Phật thậm thâm vô lượng chúng sanh
không thể tự nhận biết mà phải nhờ đêùn sự khai mở của Đức Phật
để đạt đến giác ngộ. Đức Phật dùng pháp gì để “Khai Thị Chúng
Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến.” Đó chính là Pháp Phương Tiện.
Vậy, Pháp Phương Tiện chính là
phương pháp xử dụng phương tiện để thuyết giảng, để giáo hóa
chúng sanh, nhằm giúp cho chúng sanh nhận chân được Phật Tri
Kiến của mình mà tu tập giải thoát.
3.1.1 Phương Tiện Là Gì?
Phương là phương pháp; tiện là tiện
dụng, phương tiện hiểu theo nghĩa nầy là phương pháp tiện dụng,
phương pháp dùng một cách thích hợp và thuận tiện. Từ nghĩa nầy
ta có thể nói rằng; Pháp Phương Tiện chính là phương pháp tiện
dụng mà Đức Phật dùng để giáo hóa chúng sanh nhận rõ được chơn
như thật tánh của các pháp và của chính mình. Nhưng giải thích
như thế thì quá giản đơn không thể bao hàm hết ý nghĩa của Pháp
Phương Tiện mà Đức Phật đã xử dụng. Vậy chúng ta cần phải hiểu
hai chữ phương tiện theo nghĩa rộng hơn. Theo hòa thượng Thích
Thiện Siêu hai chữ phương tiện được hiểu như sau: Phương là giáo
lí chân chánh, tiện là ngôn ngữ xảo diệu. Giáo lí thậm thâm mà
không dùng lời xảo diệu thì mới vô thuyết tâm, nhờ ngôn ngữ xảo
diệu mà từ giáo lí vô ngôn trở thành giáo lí đa ngôn.
Thật vậy, nói đến chơn tâm là nói
đến sự vô ngôn, vắng bặt suy lường nếu không dụng ngôn ngữ làm
phương tiện thì ai nói, ai nghe, nói cái gì và nghe cái gì? Nếu
đã dùng ngôn ngữ, hình ảnh, cảnh tượng v.v.v..để nói, để chỉ về
nó tức đã xử dụng phương tiện ngôn ngữ, hình ảnh, cảnh tượng
v.v.v…. Cũng theo Hòa thượng Thích Thiện Siêu thì chữ phương
tiện có hai nghĩa rộng và hẹp. “Về nghĩa hẹp: phương là phương
pháp, tiện là thuận tiện, thích đáng. Phương pháp thích đáng để
dẫn đến mục đích, một ý muốn đó là phương tiện. Về nghĩa rộng:
tất cả các cách thức trình bày thuyết giảng dùng đến ngôn ngữ
sắc tướng v.v. thậm chí cả đến sự ra đời của Phật cũng đều là
phương tiện” [13. 172]
Chữ phương tiện theo tiếng Nhật là
“hò ben” từ ghép của hai chữ “hò” (phương
方)
và “ben”(tiện
便).
Hò ngoài nghĩa là vuông còn có nghĩa là đúng. Ben là phương pháp
hay phương tiện. Do đó hò “hò ben”nghĩa là phương pháp đúng. Như
vậy, phương tiện nhằm chỉ ý niệm một phương pháp soi sáng áp
dụng thích hợp. [8.114]
Kết hợp hai cách định nghĩa trên
đấy ta có thể nói; phương tiện là một phương pháp đúng, thích
đáng, soi sáng áp dụng thuận tiện, thích hợp cho người hay
trường hợp để dẫn đến mục đích, một ý muốn.
Thật ra, chữ phương tiện được rất
nhiều nhà học Phật nghiên cứu định nghĩa và giải thích, song
không ngoài hai ý trên. Người viết cũng nhận thấy đây là định
nghĩa về hai chữ phương tiện tương đối hoàn hảo. Mở rộng ra ta
có thể hiểu Pháp Phương Tiện như là một phương pháp đúng, đầy đủ
tiện ích, thích đáng mà Đức Phật dùng để soi sáng cho hết thảy
chúng sanh thấy rõ được sự thật của các pháp là vô tướng và nhận
rõ Phật Tri Kiến của chính mình. Hay nói một cách cụ thể hơn
Pháp Phương Tiện chính là phương pháp đúng đắn tiện ích mà Đức
Phật xử dụng nó để thực hiện bản hòai của mình là “ Khai Thị
Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”.
Qua đây chúng ta hiểu Pháp Phương
Tiện như là một phương cách đặc biệt nhưng phổ thông mà Đức Phật
vì bản hoài của mình mà khai mở pháp môn phương tiện. Để hiểu
hơn vấn đề này thiết nghĩ ta cũng cần tìm hiểu đôi nét về bản
hòai của chư Phật.
3.1.2 “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập
Phật Tri Kiến” Là Bản Hoài Của Chư Phật.
Chư Phật ra đời vì muốn cứu độ hết
thảy chúng sanh. Chúng ta có thể nói nếu không có chúng sanh khổ
đau thì Chư Phật sẽ không xuất hiện trên đời. Vì sao chúng sanh
lại khổ đau? Vì bị vô minh che lấp chân tánh nên chúng sanh mãi
đảo điên sanh tử, nhận giả làm chân mới bị luân hồi chi phối.
Đức Phật vì lòng từ bi vô hạn luôn muốn cứu vớt chúng sanh ra
khỏi biển sanh tử luân hồi. Chư Phật nhận rõ trong mỗi chúng
sanh đều có được cái tánh giác vốn không sanh không diệt, nhưng
chúng sanh không nhận rõ cái tánh giác của mình nên mê lầm chấp
trước dẫn đến khổ đau. Chư Phật muốn độ chúng sanh nên chỉ cho
chúng sanh thấy rõ được cái tánh giác vốn không sanh không diệt
của chính mình. Cái tánh giác ấy chính là Tri Kiến Phật. Như
vậy, chư Phật ra đời chỉ nhằm mục đích “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ
Nhập Phật Tri Kiến”. Bản hoài nầy được Phật xác định rõ ở phẩm
phương tiện thứ 2 của Kinh Pháp Hoa. Khai là mở ra; thị là chỉ;
ngộ là nhận biết; nhập tức thâm nhập; Phật Tri Kiến là giác tánh
của mỗi chúng sanh. Như vậy, bản hoài của Chư Phật là mở ra, chỉ
cho chúng sanh nhận biết và sống được với tánh giác chân thật
của chính mình. Đây là mục đích chính duy nhất về sự ra đời của
Đức Phật. Từ đây có thể nói rằng sự ra đời của Đức Phật là
phương tiện để hoàn thành bản hoài của chư Phật ba đời.
3.2. PHÁP PHƯƠNG TIỆN TRONG KINH
PHÁP HOA.
3.2. 1. Pháp Phương Tiện Qua Phẩm
Tựa
Theo một số học giả nghiên cứu về
Pháp Hoa cho biết rằng nhiều nguyên bản kinh không có phẩm tựa
và giả định cho rằng phẩm tựa là phẩm mà các Chư Tổ sau nầy thêm
vào để khái quát nội dung của Kinh Pháp Hoa. Điều nầy không hẳn
là như vậy, vì khi đọc kỉ bộ Kinh Pháp Hoa chúng ta nhận thấy rõ
phẩm tựa là phẩm chuẩn bị khung cảnh, tư tưởng để mở đường cho
tư tưởng Pháp Hoa đến với đại chúng học Phật mà không bị ngỡ
ngàng. Thật vậy, sau phần lục chủng chứng tín kinh nói đến việc
Đức Phật thuyết Kinh đại thừa tên là “ Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ
Tát pháp Phật sơ ũhộ niệm”. Thế nào là Kinh Vô Lượng Nghĩa? Kinh
“ vô lượng nghĩa” không có nghĩa là kinh nầy có nhiều nghĩa, mà
ở đây cần hiểu là kinh nầy không thể cắt nghĩa được. Vì sao? Vì
kinh nầy vốn lìa ngôn ngữ, văn tự, cho nên dù dùng lời nói hay
hình ảnh để diễn thuyết thì diễn thuyết hòai vẫn không hết được
nghĩa của nó. Vì nó chính là thưc tại cuộc sống, là tri kiến như
lai, là sự thể nhập chứ không thể nói bàn được.
Như vậy, ở đây Đức Phật đã xử dụng
phương tiện li tướng, li ngôn thuyết thật tướng kinh. Nhưng
thính chúng cũng chưa hiểu được. Nên Đức Phật lại dụng phương
tiện nhập vào thiền định vô lượng nghĩa xứ để nói với thính
chúng rằng; muốn hiểu được Kinh vô lượng nghĩa xứ phải nổ lực tu
tập xa lìa các tướng thế gian não phiền mới nhận được thật tướng
chân như. Nhưng nghĩa lí quá sâu xa chúng đương cơ lại là Thanh
Văn vẫn không hiểu được pháp nầy. Đức Phật lại một lần nữa dụng
Pháp Phương Tiện, mượn sự đối đáp của hai người trợ thủ là Bồ
Tát Văn Thù và Bồ Tát Di Lặc. Qua sự đối đáp của hai vị Bồ Tát
thượng thủ ấy pháp Phật dần dần hé mở, đặt nền tảng để Đức Phật
thuyết giảng về kinh điển đại thừa sau nầy. Pháp Phương Tiện ở
đây đã giúp hé mở chân lí, đặt nền móng để Đức Phật “Khai Thị
Chúng Sanh Ngộ Nhập Phập Tri Kiến”. Muốn hiểu hơn sự diệu dụng
của Pháp Phương Tiện ra sao, chúng ta hãy cùng vào phần tích môn
tiếp theo.
3.2.2.Pháp Phương Tiện Qua Phần
Tích Môn (昔
門):
Như đã nói ở phần khái quát nội
dung Kinh Pháp Hoa, phần tích môn bao gồm từ phẩm phương tiện
thứ 2 đến phẩm An Lạc Hạnh thứ 14. Đây là phần kinh diễn dịch
phần có tích chất lịch sử của Đức Phật Thích Ca. Phần nầy được
khởi đầu bằng phẩm phương tiện, đây là phẩm được ví như là “Pháp
Thuyết Châu”. Phần nầy chỉ bày Phật Tri Kiến và tuyên bố pháp
Phật dùng luôn là Pháp Phương Tiện. Thật vậy, nếu không xử dụng
Pháp Phương Tiện thì làm sao chỉ được Tri Kiến Phật, thực tướng
của các pháp. Mở đầu phẩm kinh nầy là hình ảnh Đức Phật từ chánh
định an lành mà dậy, bảo với ngài Xá Lợi Phất rằng: Trí huệ của
các Đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu, khó vào,
tất cả hàng Thanh Văn cùng Bích Chi Phật đều không biết được và
đức Phật xác định: “Từ ta thành Phật đến nay, các món nhân
duyên, các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương
tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Đức
Như Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và ba la mật” [15. 51].
Pháp Phật chứng thật sâu vô cùng, vì nó đầy đủ thập như thị.
“Các pháp tướng của
nó như vậy.
Tánh của nó như vậy.
Thể của nó như vậy.
Lực của nó như vậy.
Tác của nó như vậy.
Nhơn của nó như vậy.
Duyên của nó như vậy.
quả của nó như vậy.
Báo của nó như vậy. Và từ đầu chí
cuối của nó như vậy.” [16. 35]
Từ “như vậy” (như thị
如是)
khiến người nghe rất đổi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng nếu ngưòi nghe
chưa học qua Phật pháp, thậm chí có học qua mà không sâu sắc vẫn
thấy sự bối rối như thường. “như vậy” là như cái gì? Nếu có thể
nói cái gì thì đâu cần phải nói “như vậy”. Nói “như vậy” là vì
tánh, tướng, thể, lực, tác, nhơn, duyên, quả, báo trước sau rốt
ráo của các pháp vốn không chỉ được qua sắc tướng âm thanh. Nói
thế không lẽ không chỉ được thật tướng vô tướng của các pháp
sao? Nếu không chỉ được Như Lai ra đời mà làm gì? Nếu không rõ
được thật tánh của các pháp thì chúng sanh sẽ bị lầm chấp mà còn
lầm chấp thì sanh tử làm sao dứt được. Đức Phật trong quá trình
thuyết giáo độ sanh với một tâm nguyện tha thiết thủy chung
nhưng cũng rất linh họat. Ngài đã vận dụng “Tứ Tất Đàn” một cách
vô cùng phong phú. Đây chính là quyền khai phương tiện của Đức
Phật.
Ơũ phẩm kinh nầy ta thấy Đức Thế
Tôn đã đợi đến lần thưa thỉnh thứ ba mới nói diệu pháp. Có phải
diệu pháp khó nói không hay Đức Phật muốn gây khó khăn cho hàng
đệ tử? Không phải vậy pháp Phật vốn khó chỉ bày. Như Lai hoàn
toàn không muốn gây khó khăn hay tạo áp lực đến với thính chúng
mà Như Lai đang dụng phương tiện một cách xảo diệu. Cái gì càng
khao khát thì khi nhận được mới quí trọng. Như Lai hiểu được tâm
lí của chúng đệ tử nên dụng phương tiện chờ đến lần thỉnh thứ ba
Ngài mới nói chính là muốn tạo tâm lí khao khát, muốn đưa chúng
đương cơ đến chỗ quên hết ngoại cảnh, tập trung cao độ vào vấn
đề Như Lai sắp nói. Hay nói cách khác Như Lai chờ đến lần thỉnh
thứ ba mới chuyển dạy pháp vi diệu. Thật ra, Đức Phật đã dùng
Pháp Phương Tiện loại trừ tạp niệm cho thính chúng. Để họ trong
sạch hoàn toàn như lu nước cần được súc sạch để chứa đựng vị
cam lộ. Phải chăng đây chính là sự khởi đầu Pháp Phương Tiện
trong Kinh Pháp Hoa. Sau khi nhận lời thỉnh cầu của ngài Xá Lợi
Phất. Đức Phật dụng phương tiện khéo dặn dò để cũng cố niềm tin
đối với Phật pháp của thính chúng.
“Xá Lợi Phất khéo nghe
Pháp của các Phật đặng
Vô lượng sức phương tiện
Mà vì chúng sanh nói.” [15. 68]
Đức Phật phải rất khéo dùng phương
tiện để nói cho chúng sanh rõ được pháp mình chứng. Những phương
tiện đó là gì?
“Dùng các duyên thí
dụ
Lời lẽ sức phương
tiện
Khiến tất cả vui
mừng
Hoặc là nói khế
kinh
Cô khởi cùng bổn sự
Bổn sanh vị tằng
hữu
Cũng nói những nhơn
duyên
Thí dụ và trùng
tụng
Luận nghị cộng chín
kinh.” [15. 68-69]
Như đoạn kinh trên thì dù là thí
dụ, hay nói khế kinh thậm chí đến vị tằng hữu thuyết nhơn duyên.
Tất cả đều là sự xử dụng phương tiện một cách thiện xảo của Đức
Phật. Duy chỉ có Phật thừa nhưng lại phải quyền khai nói thành
ba thừa thậm chí nói đến ngũ thừa hay thập giới đều là vì phương
tiện để hướng đến giải thoát, nhập vào Phật Tri Kiến. Đối với
chúng sanh căn cơ ám độn Đức Phật phải nói mười pháp giới, dạy
cho ngũ thừa để chúng sanh từng bậc lên đến vô thượng chánh đẳng
giác, Phật thừa. Cho nên dù Đức Phật dạy cho chúng sanh qui y
Tam Bảo thọ trì ngũ giới để gieo nhân hạnh nhân thừa, tu thập
thiện hướng đến cảnh giới Chư Thiên, cho đến hành lục độ vạn
hạnh để viên thành quả vị Bồ Tát. Nhưng thật ra tất cả đó là
phương tiện của Đức Phật giúp cho chúng sanh gieo nhân hạnh Phật
thừa để được trọn vẹn giải thoát.
“Trong cõi Phật
mười phương
Chỉ có một thừa
pháp
Không hai cũng
không ba
Trừ Phật phương
tiện nói” [15. 70-71]
Như vậy, Đức Phật nói rằng; không
chỉ ở cõi nầy mà trong tất cả mười phương chư Phật đều dùng Pháp
Phương Tiện chế ra ba thừa pháp chứ thật ra chỉ một Phật thừa.
Nhưng vì để cứu chúng sanh đau khổ nên Phật nói các đạo dứt khổ,
chỉ cho họ chổ an vui tịnh lạc gọi là niết bàn chứ không phải
thiệt diệt. Tức nói niết bàn nhưng thực không phải là niết bàn
thiệt diệt. Vì
“Các pháp từ bổn
lai
Tướng thường tự
vắng lặng” [15. 74]
Chỉ có khi Phật tử thành đạo rồi
mới thâm nhập được pháp nầy mà thôi. Đức Phật quả là một vị Đạo
sư thượng diệu, Ngài đã dùng tất cả các cách làm tiện lợi nhất
đơn giản nhất để chúng sanh có thể hiểu được các pháp mà họ có,
cái đạo mà ngài đã chứng; từ những đồng tử chơi giỡn nhóm đất
làm miễu Phật. Ngài cũng gieo nhân hạnh Phật thừa vào đó, thậm
chí có người điên khùng chấp tay trước tượng Phật , Đức Phật
cũng quyền khai phương tiện để độ họ. Chứng tỏ Pháp Phương Tiện
là một pháp rất siêu việt vượt lên trên mọi chướng ngại đưa
chúng sanh về bến giác, hay thâm nhập vào Tri Kiến Phật. Đức
Phật thành đạo rồi ngài vẫn không rời chánh định luôn suy tư về
phương cách độ sanh. Nhưng Thế Tôn nhận thấy đạo của mình chứng
được sâu xa không ngần mé, khó hiểu, khó tin, khó truyền dạy nên
Đức Thế Tôn khởi niệm muốn nhập niết bàn. Nhưng Đức Thế Tôn lại
nghĩ; Ta ra đời vì để độ chúng sanh sao lại vì khó mà nhập niết
bàn? Đức Phật chợt nhớ đến Chư Phật quá khứ đã dụng phương tiện
để độ chúng sanh Ta nay cũng phải như vậy. Nên đức Phật đã dụng
Pháp Phương Tiện để thuyết giáo độ sanh. Nhận thấy được phương
tiện là quyền xảo mới có thể độ được chúng sanh cang cường. Đức
Phật thay vì chỉ nói đạo nhất thừa Ngài đã phương tiện nói ba
thừa là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Thậm chí Phật chỉ bày
tám vạn bốn ngàn pháp môn để đưa chúng sanh vào Phật huệ. Điều
biểu hiện qua thi kệ:
“Các pháp tướng
tịch diệt
Không thể dùng lời
bàn
Bèn dùng sức phương
tiện
Vì năm tỳ kheo nói
Đó gọi chuyển pháp
luân
Bèn có tiếâng niết
bàn
Cùng với A La Hán”
[15. 84-85]
Như vậy, Niết bàn hay A La Hán cũng
chính là phương tiện của Phật mà thôi. Nhưng khi ta đọc đến đoạn
cuối của phẩm phương tiện ta thấy có đoạn kệ viết:
“Nay Ta vui vô úy
Ơũ trong hàng Bồ
Tát
Chính bỏ ngay
phương tiện
Chỉ nói đạo vô
thượng.” [15. 86]
Đoạn nầy có nghiã Đức Phật hiện
đang ở giữa chúng Bồ Tát không còn sợ hãi gì nữa liền bỏ ngay
phương tiện để nói đạo vô thượng thôi. Nhưng theo thiên ý của
người viết không hẳn là thế mà Đức Phật đang dụng phương tiện
một cách rất ư là tinh tế. Điều nầy được chứng thực khi bước vào
phẩm thí dụ Đức Phật dùng phương pháp thí dụ làm phương tiện để
thuyết pháp độ sanh. Đức Phật đã ví tam giới như nhà lửa dùng tả
thực để chỉ cái pháp vô vi khó nhìn thấy. Bằng ví dụ tam giới
như nhà lửa Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy được cái sự thực bất
an của cảnh đời tạm bợ. Cuộc sống ở thế giới Ta Bà đấu tranh
giành giựt cấu xé lẫn nhau, giẫm đạp lên nhau để tranh giành cái
thú vui giả tạm. Chỉ có những bậc trí mới nhận ra sự thật nầy,
còn phần nhiều thì nhận khổ làm vui ví như trâu mao mến cái đuôi
của nó vậy. Trong cuộc sống có những lúc sự thật hiển nhiên quá
làm cho chúng ta ngỡ ngàng không tin cứ tưởng bị dối gạt. Xá Lợi
Phâùt trong kinh nầy là một điển hình, Ngài nghe Đức Phật thuyết
giảng Phật pháp thâm sâu không hiểu kịp nên nghi là ma giả Phật
để dối gạt mình. Sau khi nhận ra chỗ thâm diệu của Pháp Phương
Tiện Xá Lợi Phất đã thú nhận rằng: “Chúng con chẳng hiểu Phật
phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp
vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy”. Điều nầy chứng tỏ Đức Phật
đã xử dụng Pháp Phương Tiện một cách thành thục.
“Phật dùng các món
duyên
Thí dụ khéo nói phô
Lòng kia an như
biển.” [15. 99]
Dụng phương tiện pháp mà như không
phương tiện, vì mượn các nhân duyên, thí dụ mà chỉ khiến cho
lòng chúng sanh được an tịnh. Pháp Phương Tiện không riêng gì
Phật Thích Ca xử dụng mà chư Phật quá khứ, chư Phật vị lai cũng
đều xử dụng pháp nầy để mong độ thoát chúng sanh.
“Phật nói thuở quá
khứ
Vô lượng Phật diệt
độ
Cũng đều nói pháp
đó
Phật hiện tại vị
lai
Số nhiều cũng vô
lượng
Cũng dùng các
phương tiện
Diễn nói pháp như
thế.” [15. 99]
Tại trong phẩm nầy, Đức Phật đã xác
định cuộc đời của Ngài từ giáng sanh đến xuất gia, thành đạo và
chuyển pháp luân cũng dùng phương tiện nói. Cũng có thể những
hình ảnh ấy chính là Pháp Phương Tiện của Phật để thuyết giáo
qua hình ảnh. Đặc biệt ở phẩm nầy Đức Phật cũng đã phương tiện
thọ kí cho Ngài Xá Lợi Phất thành Phật để xác quyết niềm tin vào
Tri Kiến Phật của đệ tử. Làm cho Xá Lợi Phất càng tin sâu hơn,
thấy rõ hơn về Tri Kiến Phật của chính mình. Nhưng sau khi thọ
kí cho Xá Lợi Phất trong thính chúng vẫn còn không hiểu được
pháp Phật nói nên sanh tâm nghi ngờ. Ngài Xá Lợi Phất thỉnh cầu
Phật dạy rõ hơn về tri kiến của Như Lai. Đức Phật đã dạy rằng:
“Các Phật Thế Tôn dùng các món nhơn duyên lời lẽ thí dụ phương
tiện mà nói pháp đều là đạo vô thượng chánh đẳng giác” [9. 127].
Như vậy, nhân duyên, lời lẽ, thí dụ đều là phương tiện của Đức
Phật. Đức Phật dụng Pháp Phương Tiện để chỉ đạo vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Lại vì có một số chúng sanh căn cơ chậm lụt
không thể bắt kịp ý tưởng của Thế Tôn. Nên ngài một lần nữa lấy
thí dụ làm phương tiện để chỉ cho chúng sanh cái Phật Tri Kiến
của chính mình. Đức Phật ví mình như một ông trưởng giả giàu có
nhiều con cái nhưng các con của ông đang ở trong căn nhà mục
nát, nhiều thú dữ và lửa đang bốc cháy dữ dội.Ông trưởng giả
muốn cứu các con ra khỏi nhà lửa mà các con ông lại ham chơi đùa
không biết gì về sự nguy hiểm đang rình rập. Ông kêu các người
con chạy ra ngoài lửa nhưng các người con không tin cứ mãi chơi
đùa. Ông phải dụ rằng ra khỏi nhà ông sẽ cho ba thứ xe. Các con
ông nghe vậy đua nhau chạy ra khỏi nhà lửa. Ông nhờ vậy cứu được
các con bằng cách bày ra ba thứ xe dê, xe hươu và xe trâu.
Từ những hình ảnh thí dụ trên
người trí khéo có thể nhận biết, cái nhà xiêu vẹo ấy được ví như
thế gian giả tạm mà đã giả tạm thì làm sao có thể đứng vững
được. Nhưng ác thay những thứ giả tạm ấy có sức thiêu đốt ghê
gớm những con người không nhận ra nó. Con cái vui chơi chạy giỡn
không biết gì là lửa chỉ cho chúng sanh ngu si điên đảo không
nhận sự thật là khổ đau bức bách cứ nhận khổ làm vui mà không
cầu tìm giải thoát.
Kinh kể lại ông trưởng giả nhận
thấy con cái như thế thì rất đau lòng , rất muốn dùng cánh tay
giang rộng ôm hết con vào lòng đưa ra khỏi nhà lửa. Đức Phật
cũng như thế vì lòng từ bi thương xót tất cả chúng sanh, muốn
cứu chúng sanh thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nhưng chúng sanh đâu
nhận rõ bản hoài chư Phật cứ nhởn nhơ trong sanh tử. Cho nên dù
Phật có dùng sức lực cứu chúng sanh ra khỏi nguy hiểm chăng nữa,
họ cũng trở lại sanh tử mà thôi. Bởi chưa nhận thức được khổ đau
nên chúng sanh cứ mãi quanh quẩn trong sanh tử luân hồi. Nhưng
trước mắt là phải làm thế nào để chúng sanh ra khỏi nhà lửa tam
giới. Đức Phật phải dùng phương tiện nói ba thừa giáo chỉ cho
chúng sanh thấy được cảnh giới của Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ
Tát là hạnh phúc hơn rất nhiều với đời sống hiện tại. Trong kinh
là Đức Phật dụ nói ba thứ xe để các con của ông trưởng giả ham
thích đồ chơi tốt đẹp mà ra khỏi nhà lửa. Nếu như trong lúc các
người con đang ham chơi đó mà ông trưởng giả không khéo dụng
phương tiện bày ra các trò chơi tốt đẹp thì không thể dẫn dụ các
người con ra khỏi nhà lửa.
“Các con như thế đó
Làm ta thêm sầu não
Nay trong nhà lửa nầy
Không một việc đáng vui
Mà các con ngây dại
Vẫn ham mê vui chơi
Chẳng chịu tin lời ta
Toan sẽ bị lửa hại
Ông bèn lại suy nghĩ
Nên bày các phương tiện.” [15. 127]
“ Nên bày các phương tiện” Tức là
nên nghĩ ra phương cách gì tiện lợi có thể đưa các con ra khỏi
nhà lửa. Cũng vậy, Đức Thế Tôn khi nhìn thấy chúng sanh đang ở
trong tam giới là; dục giới, sắc giới và vô sắc giới vốn không
có được sự an ổn, luôn chịu sự thiêu đốt của lửa dữ phiền não.
Ngài vô cùng thương xót chúng sanh nên một lòng muốn cứu hết
thảy chúng sanh nhưng đâu dễ ai tin. Ngài đã phương tiện xuất
gia, tu hành thành đạo để rồi phương tiện chuyển pháp luân nói
ra ba thừa pháp để giáo hóa chúng sanh. Tuy có nói ra ba thừa
giáo pháp nhưng cái Đức Phật muốn truyền trao là Phật thừa, con
đường thể nhập Phật Tri Kiến. Tam thừa còn khó tin được huống
chi nhất thừa. điều nầy ta thấy rất rõ ở tâm lí chúng sanh.
Chúng sanh thường cho quả vị hiền thánh là của những bậc cao xa
chứ thực mình không bao giờ có được. Sự tự ti mặc cảm thấp hèn
cũng đã vô tình che lấp cái tính vô úy vốn có sẵn ở mỗi con
người. Trong cuộc sống ta thường gặp các lời phát biểu của các
vị Phật tử rằng: quí thầy, quí cô ở trong chùa tu hành chớ tụi
con người phàm làm gì có được phần đó. Chính có lẽ thấy biết tâm
lí tự ti mặc cảm của chúng sanh nên Đức Phật đã dụng phương tiện
như một con người bình thường tìm ra chân lí giải thoát.
Đức Phật đã hiện thân như một con
người rất bình thường từ sanh ra, cho đến thành đạo, chuyển pháp
luân hay thị hiện nhập niết bàn. Đức Phật biết rõ Tri Kiến Phật
là của báu vô lượng. Nếu ai thâm nhập được tri kiến Như Lai thì
sẽ được giải thoát ung dung tự tại, tùy duyên xuất nhập bất cứ
cảnh giới nào mà không hề vướng bận.Ý tưởng nầy được ảnh dụ qua
hình ảnh ông trưởng giả giàu vô lượng, của cải ông xài không bao
giờ hết. Tri Kiến Phật, tức bản thể chơn tâm thường hằng không
sanh, không diệt, không tăng, không giảm được ví như kho báu vô
lượng. Đức Phật muốn trao truyền cái Như Lai tạng tâm cho hết
thảy chúng sanh sánh như ông trưởng giả chỉ cho các con của mình
xe trâu lớn đẹp mà thôi. Xét xem ông trưởng giả ấy có mắc phải
lỗi hư dối không? Không, ông trưởng giả ấy không hề mắc lỗi hư
dối vì mục đích của ông là cứu các con ra khỏi nhà lửa, tạo cho
các con của ông đời sống an ổn. Đức Phật cũng như thế Ngài đã
làm tất cả những gì có thể làm được để cứu chúng sanh. Mọi việc
làm của Phật đều là phương tiện thì có gì là hư dối. Tuy phương
tiện là không thật nhưng Đức Phật đã xử dụng Pháp Phương Tiện
một cách xảo diệu đưa chúng sanh ra khỏi sanh tử. Tức Đức Phật
đã dùng cái không thật để chỉ ra cái lí chân thật. Như vậy, Đức
Phật đã khéo xử dụng phương tiện nhằm đưa chúng sanh thoát khỏi
khổ đau, đạt được sự an vui tỉnh lạc.
Hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm hóa
thân làm Tiêu Diện cũng chính là phương tiện để độ chúng sanh vì
lòng từ bi. Thật vậy, các Ngài đã đầy đủ các ba la mật nên đã
dùng vô số phương tiện để cứu giúp chúng sanh. Đức Phật cũng đã
có đủ các ba la mật đặc biệt là tri kiến ba la mật, nên Đức Phật
đã xử dụng phương tiện ba la mật tùy theo căn cơ để độ chúng
sanh. Đức Phật thuyết pháp để độ chúng sanh bằng tất cả phương
tiện mà Ngài có được. Với những hạng người căn cơ thấp Đức Phật
thuyết tứ đế, thập nhị nhân duyên, để đưa đến quả vị Thanh Văn,
Duyên Giác. Bước lên bậc có căn trí cao hơn, Đức Phật lại dạy
cho pháp lục độ để viên mãn quả vị Bồ Tát .v.v. Tất cả những
pháp ấy thật ra cũng chỉ là bậc thang từ thấp lên cao. Tuy Kinh
Pháp Hoa có nói đến đại thừa hay tiểu thừa nhưng thực chất không
phải vậy. Đây chỉ là phương tiện của Phật mà thôi.
Như vậy, với Pháp Phương Tiện Kinh
Pháp Hoa đã phá bỏ đi lầm chấp, định kiến về đại thừa hay tiểu
thừa. điều này nếu chúng ta chịu khó suy nghĩ sẽ thấy được kinh
điển đại thừa phát triển sau nầy đều có nền móng từ những bộ
kinh nguyên thủy căn bản. Hay nói một cách khác giáo lí đại thừa
được xây dựng trên nền tảng giáo lí Tứ Đế, Thập Nhị Nhân
Duyên.v.v.v. Giáo lí Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên không phải là
giáo lí tiểu thừa mà nó là bước khởi điểm đưa chúng sanh vào
Phật Đạo. Muốn thâm nhập vào kho tàng tri kiến Như Lai thì chúng
sanh phải nhận thức rõ, đời là đau khổ, phải biết nguyên nhân
đưa đến khổ đau, có ý thức vượt qua khổ đau. Có như vậy chúng
sanh mới từ bỏ thú vui giả tạm để quay về nương tựa chánh pháp.
Khi chúng sanh biết quay về nương
tựa ba ngôi báu Đức Phật đã dùng phương tiện thọ kí để củng cố
niềm tin cho chúng sanh. Thọ kí là sự gởi gắm truyền trao và đón
nhận thọ trì. Bất cứ giáo pháp nào mà có được sự truyền trao và
thọ trì thì giáo lí ấy tất sẽ phát triển. Có lẽ tư tưởng Phật
thọ kí chỉ mới xuất hiện ở kinh điển đại thừa sau nầy. Đức Phật
thọ kí cho hàng đệ tử của mình để cho hàng đệ tử thấy rằng khả
năng thành Phật của họ là có cơ sở. Không những thế chúng ta còn
nhận thấy ở Thế Tôn đã phương tiện thọ kí một cách độc đáo. Đó
là Thế Tôn thọ kí cho những người chỉ mới gieo duyên với Phật
Đạo, như Đức Phật thọ kí cho đồng tử khi đùa giỡn đã có ý niệm
Phật. Đây không phải là thọ kí, truyền trao Phật Đạo một cách
bừa bãi mà là xác quyết niềm tin cho hết thảy thính chúng. Để
cho thính chúng hiểu rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
tức chủng tử Phật. Mà đã có chủng tử Phật thì trước sau gì cũng
thành Phật, điều nầy đồâng nghĩa với có Phật Tri Kiến thì trước
sau gì cũng hiển lộ Phật Tri Kiến. Đức Phật đã dùng phương tiện
thọ kí để chỉ bày chỗ thâm diệu nầy.
Trong phẩm Tín Giải ta lại thấy
Đức Phật đã xử dụng pháp đồng sự như là một phương tiện để độ
sanh. Trong phẩm nầy kể chuyện Đức Phật qua hình tượng ông
trưởng giả đã cùng làm việc với chúng sanh, cùng trò chuyện với
chúng sanh và chỉ cho chúng sanh những phương pháp tu tập vượt
thoát khổ đau. Đức Phật đã chỉ cho chúng sanh ánh sáng chân lí
của cuộc đời, như sự nhiệm mầu trong cuộc sống mà rất ít người
nhận ra. Chánh kinh đã diễn tả ông trưởng giả đã mặc áo thô rách
trỉn dơ đến gần gã cùng tử để cho gã không còn thấy sự cách biệt
giữa ông chủ và kẻ tôi tớ. Vì ông biết gã cùng tử nầy chính là
con mình vì một niệm sai lầm đã rời bỏ ông đi lang thang khi khi
còn nhỏ dại. Khiến cho cuộc sống phải lao đao lận đận vô cùng.
Ông trưởng giả thương xót con mình bèn dùng phương tiện đến gần
với con, để an ủi, để chỉ bày, lần lần tập cho con dần làm chủ
rồi mới tuyên bố nhận con. Đức Phật cũng vậy đến với hết thảy
chúng sanh bằng tất cả cuộc đời mình. Đức Phật biết rõ chúng
sanh vốn do bị si mê lầm chấp mà xa rời chân tánh (nhân tối sơ
nhất niệm sai thù -
因最
初
一
念
差
殊).
Nên Ngài đến với chúng sanh như một người đồng sự để xẻ chia bao
nỗi khổ đau của con người, rồi lựa chọn những cơ hội thuận tiện
giảng giải cho họ nghe những chân lí mà Ngài đã tìm ra. Chúng
sanh nhờ đó mà thoát khỏi sanh tử luân hồi. Pháp Phương Tiện ở
đây được Đức Phật áp dụng như một pháp đồng sự để hóa độ chúng
sanh thật tuyệt vời. Tuy nhiên pháp đồng sự được xử dụng truyền
bá giáo lí cho những con người ở gần bên mình mà thôi. Nhưng Đức
Phật thì từ bi vô lượng Ngài không những muốn chúng sanh gần
Ngài thấm nhuần chân lí. Đức Phật còn muốn hết thảy xa gần, thậm
chí đến chúng sanh đời sau nầy cũng được thấm nhuần chân lí giải
thoát. Nên pháp Đức Phật truyền dạy như những cơn mưa, chúng
sanh tùy theo căn cơ nghiệp cảnh mà lãnh thọ khác nhau. Để rồi
cuối cùng chúng sanh cũng nhận ra được Phật Tri Kiến của mình
như người bạn khốn khó cũng nhận ra được hạt minh châu nơi gấu
áo. Hạt minh châu ấy chính là Tri Kiến Phật, tri kiến giải thoát
cho hết thảy chúng sanh.
Muốn cho hàng đệ tử nhận rõ Phật
Tri Kiến của mình Đức Phật đã phương tiện chỉ cho những người đệ
tử thấy được quá trình tu tập từ vô lượng kiếp, nhớ lại chí
nguyện thuở ban đầu của họ, khuyến khích họ nổ lực tu tập nhằm
tiếp cận với Tri Kiến Phật của chính mình. Đọc tới phẩm thọ kí
ta thấy ở đây Đức Phật dùng cách thọ kí như là phương tiện
truyền thông đến những hàng đệ tử để cho họ nhận thức về bản
thân. Sẵn sàng tiếp nhận đạo Nhất thừa, tức là chấp nhận cái Tri
Kiến Phật của chính mình. Như vậy, thọ kí cũng là một phương
tiện độ sanh của Đức Phật. Một phương pháp kể về những việc làm
trong qúa khứ và triển khai hướng đến vị lai thọ kí trở thành
phương tiện rất hữu hiệu trong quá trình hoằng pháp của Đức
Phật. Như đã nói ở trên thọ là nhận, kí là gởi, là ủy thác thọ
kí được xem như sư truyền trao gởi gắm cho hàng đệ tử giáo pháp
cao siêu và hàng đệ tử tín thọ phụng hành. Nguyện làm cho giáo
pháp ngày một lan rộng, mong cứu độ hết thảy chúng sanh.
Không những xử dụng thọ kí để đôỉ
thoát chúng sanh, khai mở Phật Tri Kiến. Đức Phật còn xử dụng
hóa thành để làm phương tiện để dìu dắt chúng sanh dần dần ra
khỏi biển khổ sanh tử đạt đến Tri Kiến Phật. Chúng sanh căn tánh
ám độn phần nhiều giãi đãi biếng nhác chỉ thích làm những công
việc dễ làm lại hay nghi ngờ khả năng của chính mình, đây gọi là
ti mạn. Với những loại chúng sanh như thế Đức Phật đã xử dụng
hóa thành như một phương tiện để độ họ. Vì sao? Vì ai cũng mong
muốn con đường đi của mình thật ngắn, thật nhanh đến đích. Nên
Đức Phật đã dựng lên hóa thành để chúng sanh có điểm tựa dùng
làm nghỉ ngơi, khiến cho thần trí sau khi nghỉ trở nên minh mẫn,
nhiệt huyết tràn đầy trở lại, Đức Phật mới diệt hóa thành đưa họ
đến bảo sở để đạt được sự cứu cánh toàn vẹn. Hóa thành là niết
bàn hữu dư y của hàng Thanh Văn. Bảo sở ấy chính là Tri Kiến
Phật, tri kiến Như Lai là niết bàn vô dư y. Như vậy, Hóa thành
là phương tiện, Bảo Sở là cứu cánh muốn đạt được cứu cánh tất
phải xử dụng phương tiện. Đức Phật cũng thế muốn chỉ cho chúng
sanh Tri Kiến Phật, tri kiến giải thoát tất phải dùng phương
tiện quyền biến. Tại phẩm nầy Đức Phật không những quyền biến
phương tiện tạo ra hóa thành như niết bàn cho hàng Thanh Văn. Để
cho hàng đệ tử không thấy ngán ngại Phật Đạo sâu xa khó thành
tựu được , mà Đức Phật còn dùng thuyết nhơn duyên để làm rõ căn
cơ nhiều đời nhiều của hàng đệ tử khiến họ nhận rõ bản tâm vốn
không sanh không diệt. Từ những nhân duyên Đức Phật chỉ ra cho
hàng đêỉ tử đương cơ biết rằng ; thật ra họ từ lâu đã theo học
với Thế Tôn chứ không phải chỉ mới kiếp nầy. Từ đó nguời đệ tử ý
thức được con đường của mình đã đi, đang đi và sẽ đi, những kết
quả mà mình đạt được, đang đạt được và sẽ đạt được tri kiến giải
thoát, Tri Kiến Phật để hoàn thành sự nghiệp giải thoát cho
chính mình.
Chân lí ấy, tri kiến ấy không tìm
được ở nơi đâu khác mà là ngay trong chính mình, vấn đề nầy được
Đức Phật chỉ rõ qua phẩm Hiện Bửu Tháp. Bằng phương tiện hiển
thị chân lí qua hình ảnh. Trong kinh đã trình bày Bảo tháp của
Đức Phật Đa Bảo từ dưới đất vọt lên. Đất là nền tảng của muôn sự
vật, vạn vật đều từ đất mà nảy sinh ra. Được ví như bản tâm của
chúng ta nơi xuất phát của muôn ngàn ý niệm. Tại nơi đây niệm
niệm sanh diệt có thể làm cho chúng ta điên đảo bởi phiền não
lầm mê, nhưng cũng chính nơi đây khơi nguồn tuệ giác đưa chúng
ta thoát khỏi bờ mê. Tuệ giác đó, tri kiến đó chính là bổn tâm
thanh tịnh vốn hằng hữu mà ở trong kinh nầy biểu hiện qua hình
ảnh tháp Phật Đa Bảo. Bằng ẩn dụ đưa thính chúng lên giữa không
trung để nhìn thấy Đức Phật Đa Bảo. Đức Phật muốn chỉ cho chúng
ta rằng muốn nhận chân được Phật Tri Kiến không con đường nào
khác ngoài con đường trung đạo, con đường không bị dính mắc bởi
nhị biên sai lầm. Phật Đa Bảo là vị Phật đã có từ vô thỉ hiện ra
giữa thính chúng khi Đức Phật Thích Ca thuyết giảng Kinh Pháp
Hoa điều nầy nói lên cái gì? Phải chăng Phật Tri Kiến vốn hằng
hữu từ vô thỉ và chỉ hiện hữu khi có đủ nhân duyên. Đúng vậy,
khi hội đủ nhân duyên thuyết giảng Kinh Pháp Hoa Đức Phật Thích
Ca mới tuyên giảng bộ kinh nầy. Đây là tạng thâm sâu của chư
Phật không thể tùy tiện nói. Đức Phật Thích Ca là Đức Phật của
lịch sử nhân loài là biểu tượng của tích môn và Đức Phật Đa Bảo
hiện ra từ trong quá khứ là biểu tượng của bổn môn. Câu chuyện
về tháp Phật Đa Bảo được Kinh Pháp Hoa nói đến trong phần tích
môn là để hiển lộ bổn môn mà Phật sẽ tuyên thuyết sau nầy. Như
đã phân tích một số phẩm kinh ở phần trên chúng ta thấy rằng
trong Kinh Pháp Hoa Pháp Phương Tiện mà Đức Phật đã dùng đa số
là pháp thí dụ. Lấy cái nầy để chỉ cho cái kia “ Khai tam thừa
qui nhất thừa” (開
三
乘
歸
一
乘).
Bằng những thí dụ rất có hình ảnh
từ dụ tam giới như nhà lửa, dụ cây cỏ thuốc, dụ hóa thành, dụ
ngọc trong gấu áo đến dụ Tri Kiến Phật như viên minh châu trên
mão nhà vua trong phẩm an lạc hạnh. Đức Phật không chỉ khẳng
định Tri Kiến Phật là báu vật của mỗi chúng sanh mà còn khẳng
định Đạo Nhất Thừa đến khi đúng thời mới khai mở. Không những
thế với phẩm an lạc hạnh Đức Phật còn chỉ ra phải lập hạnh như
thế nào để tu đạt đến đỉnh cao của lí tưởng giảo thoát. Hay bằng
ví dụ người khát đào giếng Đức Phật đã gởi đến chúng ta một
thông điệp; Tìm về đạo nhất thừa hay để tìm ra Phật Tri Kiến của
chính mình chúng ta phải nổ lực đến cùng, bao giờ đạt đến cứu
cánh viên mãn mới thôi. Điều nầy được Đức Phật nói trong phẩm
pháp sư thứ mười. Tại phẩm nầy Đức Phật cũng đã nói đến điều
kiện giảng dạy và truyền bá Kinh Pháp Hoa.
Như vậy, với ba châu; pháp thuyết
châu, dụ thuyết châu, nhân duyên thuyết châu và bảy dụ; dụ nhà
lửa, dụ cùng tử, dụ cỏ thuốc, dụ hóa thành, dụ ngọc trong áo, và
dụ viên minh châu trên đỉnh mão nhà vua. Đức Phật đã chỉ rõ chỗ
quyền khai phương tiện dạy tam thừa để qui nhất thừa. Hay nói
một cách khác Đức Phâảt đã xử dụng phương tiện khéo léo áp dụng
pháp tu nhất thừa một cách rất hoàn hảo dần đưa chúng sanh từ
căn cơ ám độn trở về với trí tuệ vốn có của mình. Đến đây xem
như chúng ta đã triển khai được về Pháp Phương Tiện trong Kinh
Pháp Hoa qua phần tích môn. Để biết được ở phần bổn môn Kinh
Pháp Hoa nói về Pháp Phương Tiện của Phật ra sao? Dụng phương
tiện để chỉ bổn môn như thế nào? Và việc giới thiệu bổn môn có
lợi ích gì? Chúng ta hãy cùng nhau đi vào phần tiếp của luận
văn.
3.2.3. Pháp Phương Tiện Qua Phần
Bổn Môn (本
門):
Như phân tích của một số nhà học
giả thì phần bổn môn được bắt đầu từ phẩm Như Lai thọ lượng thứ
16. nhưng theo một số phân tích vừa trình bày ở trên ta thấy
rằng phẩm “ Hiện Bửu Tháp” thứ 11 đã có dáng dấp của bản môn.
Phần bổn môn theo Hòa Thượng Thích Thiện Siêu đây là phần khai
cận hiển viễn, khai tích hiển bổn thân quyền thân thật. Từ các
nhận định trên ta thấy phần bổn môn Đức Phật phương tiện dùng
cái gần để chỉ cái sâu xa, dùng dấu tích để chỉ bày cái căn
nguyên bổn gốc. Đức Phật Thích Ca dùng đời sống mình để chỉ cái
nguồn cội sâu xa. Hay nói cách khác Đức Phật đã nói bản vị quá
khứ của mình để chỉ cái nguồn đạo chân thực mà ngài đã chứng
ngộ. Mong đưa chúng sanh trở về với tự tánh thanh tịnh của chính
mình.
Khởi đầu phần bổn môn của Kinh Pháp
Hoa là phẩm “ Tùng địa dõng xuất”. Từ phẩm nầy trở đi Kinh Pháp
Hoa diễn tả những cảnh giới những cảnh giới vượt ngoài tầm hiểu
biết thông thường của người phàm. Sự xuất hiện của Tháp Phật Đa
Bảo ở phẩm thứ 11 đã báo hiệu Đức Phật chuẩn bị nói đến những
cảnh giới siêu việt, dần dần định hướng cho phần bổn môn. Đến
phẩm “ Tùng địa dõng xuất” miêu tả cảnh Bồ Tát từ dưới đất vọt
lên hằng hà sa khi nghe Đức Phật thuyết Kinh Pháp Hoa tuyên
dương đạo nhất thừa. Như thế để nói lên đất tâm của chúng sanh
vốn sẵn có những chủng tánh lành thiện hay là những hạt giống bồ
đề sẵn sàng ra hoa kết quả khi đầy đủ nhân duyên khai mở. Bằng
phương tiện vị tằng hữu thuyết nhân duyên, Đức Phật khẳng định
điều nầy khi nói qua cảnh vô số Bồ Tát từ dưới đất vọt lên. Hình
ảnh vô số Bồ Tát từ đất vọt lên muốn nói rằng Bồ Tát không phải
ở cảnh giới nào khác mà chính ở ngay tại Ta Bà nầy. Cũng vậy,
ngay tại nguồn tâm của chúng sanh vốn có vô số hạt giống Bồ Đề
Giác Ngộ. Mà có hạt giống giác ngộ thì sẽ có quả giác ngộ, có
được sự giác ngộ tức sẽ có giải thoát. Có nhân tức có quả chân
lí nầy không thể sai chạy.
Để chỉ cái bản lai của chính mình
Đức Phật dùng hình ảnh thật sinh động “cha trẻ , con già”. “Cha
trẻ , con già” là hình ảnh của bổn môn và tích môn hòa nhịp. Đây
là một sự thật hy hữu, cha trẻ là cha của tích môn, con già vì
là con đến từ bổn môn. Sự kiện nầy nếu không dùng phương tiện vị
tằng hữu thì làm sao có thể hiểu và tin được. Đúng như thế, Bồ
Tát Di Lặc người biểu trưng cho ý thức phân biệt đã khởi nghi
hiện tượng cha trẻ con già và Bồ Tát xuất hiện trùng trùng từ
phương dưới của cõi Ta Bà đã đưa vấn đề nầy để hỏi Thế Tôn. Đức
Phật đã dùng một thí dụ về người thầy thuốc thông minh để nói về
thọ lượng của Như Lai. Như Lai thọ lượng vô cùng, Ngài đã thành
Phật từ vô lượng kiếp. Nhưng Như Lai đã dùng vô số phương tiện,
hiện vô lượng thân tướng để độ chúng sanh nơi cõi Ta Bà. Nên ta
thấy trẻ mà không trẻ, ngược lại thấy con già nhưng thực sự
không già. Ngưòi bình thường thấy Đức Phật đản sanh ở Lâm Tỳ Ni
lớn lên xuất gia tu hành và thành đạo rổi chuyển pháp luân.
Nhưng thấy như vậy là thấy cái hiện tướng của Như Lai, chứ không
phải thấy được cái thật tướng của Như Lai. Nên trong kinh nói
Đức Phật thấy chúng sanh mê mờ ngu si phước mỏng nghiệp dày, vì
hạng người nầy mà Đức Phật nói: Ta lúc trẻ xuất gia tu hành được
vô thượng chánh đẳng chánh giác, chứ thiệt Ta đã thành Phật từ
vô lượng kiếp trước. Đây chỉ là phương tiện của Phật để giáo hóa
chúng sanh, đưa chúng sanh về Phật Đạo, giúp cho chúng sanh nhận
rõ Tri Kiến Phật.
Sự thực Như Lai thấy rõ không sai
lầm thật tướng của ba cõi, lại vì chúng sanh căn tánh không đều
nên khai môn phương tiện để độ chúng sanh khiến chúng sanh phát
khởi thiện căn. Tại phẩm nầy qua câu chuyện của cha con ông thầy
thuốc chúng ta thấy Đức Phật xử dụng phương tiện hiện tướng niết
bàn để độ sanh. Khiến cho chúng sanh thấy rằng chư Phật khó gặp
mà trừ bỏ giãi đãi, tinh tấn tu hành sớm được giải thoát. Đây là
một phương tiện tuyệt vời khi xử dụng sanh tử để đôỉ sanh tử chỉ
có Phật mới có thể xử dụng một cách hoàn hảo đến như vậy. Ngoài
Đức Phật ra không có ai làm được như thế, dùng sự vô thừong để
đưa chúng sanh trở về với lẽ chơn thường. Đức Phật đã dùng pháp
huyễn, độ như huyễn đạt chân lí một cách thật tuyệt vời. Với
phẩm Như Lai thọ lượng nầy Đức Phật đã mở ra cho chúng ta tầm
nhìn bao la vô cùng vô tận.
Đức Phật làm Phật sự khắp mười
phương không hề ngừng nghỉ, “Tuy thường xuyên ở Ta Bà, nhưng
Phật không hề vắng mặt ở thế giới nào và không lúc nào không làm
lợi ích chúng sanh. Như vậy, những điều Ngài làm chưa ngừng nghỉ
chắc chắn sẽ làm dưới dạng vô hình Ngài nói có Phật Nhiên Đăng,
Phật Di Đà, Phật Dược Sư.v.v. Tất cả giảng dạy nầy chỉ là phương
tiện để giáo hóa chúng sanh” [9. 476]. Với phương tiện thiện xảo
trong phẩm Như Lai thọ lượng Đức Phật đã cho ta thấy một Đức
Phật bất sanh, bất diệt hằng hữu, dù có trãi qua cảnh giới nào
quốc độ nào đi chăng nữa thì Phật vẫn là Phật. Điều nầy phải
chăng Đức Phật dụng phương tiện để chỉ cho chúng ta Tri Kiến
Phật cũng luôn hằng hữu, thể của nó không khác nhưng dạng lại
không đồng. Cái dụng của Tri Kiến Phật hay Phật tánh của chúng
sanh cũng luôn biểu hiện dưới các hình thức lành thiện để thăng
tiến đạo giải thoát và làm lợi lạc quần sanh.
Không dừng lại ở đây Đức Phật còn
xử dụng pháp phân biệt như là một phương tiện độ sanh, chúng ta
có thể thấy rõ điều nầy qua phẩm phân biệt công đức. Như chúng
ta đã biết Đạo Phật là trung đạo, không bị kẹt giữa hai thế giới
nhị biên phân biệt. Vậy tại sao ở đây Đức Phật lại dùng pháp
phân biệt? Đức Phật có lầm lẫn gì chăng? Không Đức Phật không có
sự lầm lẫn ở đây mà Ngài đã rất trí tuệ khi dùng pháp phân biệt
như một phương tiện để chỉ cho chúng sanh nhận rõ được thật hư,
cao thấp, nông sâu của các pháp. Vì đối với Đức Phật thì mọi
pháp đều bình đẳng như nhau song đối với chung sanh thì cần phân
biệt, nhận định rõ các pháp để không bị lầm chấp. Như chúng ta
thấy trong phát Bồ Đề Tâm Văn có đến tám hình thức phát tâm Bồ
Đề để cầu Phật đạo đó là; Tà, Chánh, Chơn, Ngụy, Đại, Tiểu,
Thiên, Viên. Người tu theo Phật đạo phải minh định rõ ràng tâm
mình; tà hay chánh, chơn hay ngụy, đại hay tiểu, thiên hay viên.
Nhận định rõ được việc làm của mình là tối cần thiết khi hành xử
tiến tu đạo nghiệp. Cho nên Đức Phật đã vì chúng sanh phân biệt
là thế. Trong kinh văn Phật dạy: “A Dật Đa! Có chúng sanh nào
nghe Đức Phật thọ mạng dài lâu như thế, nhẫn đến có thể sanh một
niệm tín giải, đặng công đức không thể hạn lượng được. Nếu thiện
nam tử, thiện nữ nhơn vì đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác,
trong tám mươi ức na do tha kiếp tu năm pháp ba la mật; bố thí
ba la mật, trì giới ba la mật, nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba
la mật, thiền định ba la mật, trừ trí huệ ba la mật, đêm công
đức nầy với công đức tín giải trước, trăm phần, nghìn phần, trăm
nghìn muôn ức phần chẳng kịp một, nhẫn đến tính đếm thí dụ,
không thể biết được. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn có công đức
như thế mà thối thất nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác,
thời quyết không có lẽ đó.” [15. 411-412].
Như vậy, ở đây Đức Phật đã dùng
phương tiện để chỉ rõ rằng ai tin vào thọ mạng vô lượng của Phật
thì công đức vô lượng không thể tính kể, vượt thoát cả năm ba la
mật là; bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định. Tin
vào thọ mạng của Như Lai tức tin vào cái Tri Kiến Phật của chính
mình. Người có đức tin sâu như vậy phải là người có trí tuệ siêu
việt, nhìn thấy được thật tánh bất sanh, bất diệt của vạn pháp,
thấy được thật tướng của vạn pháp là duyên sanh. Thấy biết chân
thật rồi thì sớm muộn gì cũng sẽ nỗ lực đạt cho được sự chân
thật ấy. Thấy được nguồn tâm thanh tịnh chính là viên tròn công
đức thì công đức nào có thể sánh bằng. Qua đây Đức Phật muốn dạy
cho chúng ta đừng chạy theo pháp sanh diệt bên ngoài, mà phải
quay lại nguồn tâm phản văn tự kỉ để phát hiện ra cái Phật Tri
Kiến của chính mình trau dồi nuôi dưỡng tri kiến ấy mới là pháp
tu đúng đắn đưa đến Phật đạo.
Pháp Phương Tiện phân biệt công đức
còn kéo dài đến phẩm Tùy Hỷ Công Đức thứ 18 của Kinh Pháp Hoa.
Nhưng ở đây được nâng lên một cấp độ cao hơn, tức ai vui theo
người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa cũng được viên tròn công
đức. Hay có thể nói rằng hành giả Pháp Hoa sẽ có vô lượng công
đức. Mở đầu phẩm Kinh nầy Đức Phật nói với Ngài Di Lặc Bồ Tát
rằng; Nếu có một người nghe Kinh Pháp Hoa sanh tâm vui mừng, rồi
sau đó đêm truyền dạy cho người khác cứ như vậy lần lượt đến
người thứ năm mươi cũng tùy hỉ sanh tâm vui mừng. Công đức của
người nghe kinh thứ năm mươi đó nếu đem so với đại thí chủ bố
thí cho hết thảy chúng sanh theo ý muốn của chúng, trong bốn
trăm muôn ức thế giới trãi tám mươi năm, khi họ sắp chết vị thí
chủ mới dạy họ tu hành làm cho đắc quả A La Hán thì công đức của
người thứ năm mươi đó vượt thoát không thể tính kể. Nói như vậy
có quá lắm không? Không, nếu như ta hiểu được lời Phật dạy. Đức
Phật dạy người thứ năm mươi nghe Kinh Pháp Hoa mà vui vẻ tin
nhận. Vì Kinh Pháp Hoa chính là sự hiển lộ chân lí nhất thừa,
Phật thừa. Người nghe Kinh Pháp Hoa mà vui vẻ tiếp nhận thọ trì
là người đã cảm nhận được chân tâm thường trú của mình, mà người
thứ năm mươi nghe lại mà cảm nhận được điều nầy quả thật sâu
sắc. Như vậy, công đức của họ không thể nghĩ bàn không có gì là
khó hiểu. Trái lại, người không nhận ra được bản tâm chính mình
mà chỉ hướng ra bên ngoài tìm cầu pháp hữu vi thì làm sao sánh
được với những ai đã tịnh lạc với nguồn tâm mình.
Như vậy, bằng phương tiện so sánh
Đức Phật lại khẳng định sâu hơn khả năng thành Phâỉt của hết
thảy chúng sanh. Hoan hỷ tin nhận Phật Tri Kiến của mình, khả
năng thành Phật của tự thân hành giả Pháp Hoa vượt qua tự ti mặc
cảm. Đưa hành giả Pháp Hoa lên một tầm cao mới cũng chính là một
pháp tu đưa đến quả vị Phật. Nếu như ở phẩm phân biệt công đức
chúng ta thấy rằng người nào tin vào thọ mạng của Như Lai là vô
lượng thì công đức vô lượng tức người nào nghe và kính tin Kinh
Pháp Hoa thì công đức không thể tính kể. Đến tùy hỉ công đức vơi
Kinh Pháp Hoa như trong phẩm tùy hỉ công đức thì có vô lượng vô
biên công đức không thể dùng ngôn ngữ mà luận bàn được. Với
phương tiện phân biệt công đức Thế Tôn đã giúp cho chúng sanh
thấy được giá trị bất khả tư nghì của chân tâm, Phật tánh. Đúng
là chúng ta không thể hiểu hết được sự nhiệm mầu của Pháp Phương
Tiện mà Đức Phật đã xử dụng trong sự nghiệp độ sanh. Chúng ta
còn sẽ bắt gặp sự độc đáo của Pháp Phương Tiện khi đi sâu vào
Kinh Pháp Hoa. Khi bước vào phẩm Pháp Sư Công Đức chúng ta nhận
ra thọ trì Kinh Pháp Hoa sẽ đưa đến sự viên thông của lục căn
(nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý). Bằng Pháp Phương Tiện phân biệt
công đức Đức Phật dẫn dắt hành giả Pháp Hoa từng bước đi vào
Phật Đạo hay nhập Phật Tri Kiến một cách khéo léo. Diễn biến
nhịp Kinh đều đều dần tiến như cuốn hút thính chúng đi từ ngoài
vào trong, từ thấp đến cao từ cạn cho đến chỗ thậm thâm vi diệu.
Đức Phật quả là quyền biến khi xử dụng phương tiện.
Bước vào phẩm Thường Bất khinh Bồ
Tát chúng ta nhận thấy phương tiện giáo hóa của Đức Phật thật
giản đơn nhưng rất độc đáo. Kinh kể lại một tiền thân Đức Phật
là Bồ Tát Thường Bất Khinh chỉ chuyên dùng lời tán thán Phật
tánh của hết thảy chúng sanh. Mỗi khi gặp ai ngài đều nói “Tôi
không dám khinh quí ngài, quí ngài nhất định sẽ thành Phật” Bồ
Tát Thường Bất Khinh không tu pháp môn nào ngoài câu tán thán
vừa nói ở trên. Điều nầy cho ta thấy Ngài đã dùng sự tán thán
Phật làm phương tiện độ sanh để xác quyết với chúng sanh là ai
cũng có khả năng thành Phật. Ngài đã xử dụng pháp nầy với sự
nhẫn nhục cao độ, vì khi Ngài nói như vậy có rất nhiều người
không hiểu đã chửi rủa thậm chí đánh đập Ngài một cách thậm tệ.
Nếu không có được nhẫn nhục Ba La Mật thì không thể thành tựu
được pháp nầy. Bằng sự tán thán không phân biệt Bồ Tát Thường
Bất Khinh đem lại cho chúng sanh sự bình đẳng tuyệt đối, vì tất
cả ai ai cũng có Phật tánh và đều có khả năng thành Phật. Bồ Tát
có trí tuệ hơn người đã nhận ra thể tánh bình đẳng của hết thảy
chúng sanh, lại vì thương chúng sanh vô hạn nên Bồ Tát đã hành
nhẫn nhục để độ chúng sanh, chỉ cho chúng sanh thấy Phật Tri
Kiến của mình và cuối cùng Ngài cũng làm được cái hạnh khó làm.
Nếu không tin vào Tri Kiến Phật vốn hằng hữu trong mình thì
Thường Bất Khinh Bồ Tát khó có được sự thành tựu như thế. Qua
hình ảnh Thường bất Khinh Bồ Tát Đức Phật đã tạo ra cho chúng
sanh niềm tin vào Phật Tri Kiến của chính mình. Biết mình có
Phật tánh, tin mình có Phật tánh chúng ta sẽ dễ dàng nổ lực hơn
trên con đường tìm lại Phật Tri Kiến của chính mình. Như vậy, Bồ
Tát Thường Bất Khinh con đường hành đạo Bồ Tát mọât cách sinh
động gần gũi nhưng lại rất thâm sâu.
Có thể nói ở phần bổn môn nầy
phương tiện khai đạo của Phật rất cao sâu khó nghĩ ; vừa rất gần
gũi nhưng lại rất thâm sâu. Khi thì Đức Phật hiển hiện bổn môn
như một thực tế hiển nhiên, nhưng có khi trừu tượng khó hiểu.
Khi Đức Phật chỉ thẳng, khi lại hiển lộ thần thông để chỉ về
Phật Tri Kiến. Như ở phẩm Như Lai thần lực Đức Phật đã hiển lộ
thần thông bất khả tư nghì để cho chúng sanh nhận thấy được chân
lí nhiệm mầu nơi chính tự thân của mình. Trong kinh Đức Phật đã
phú chúc việc hoằng pháp, truyền thừa Kinh Pháp Hoa tại thế giới
Ta Bà cho hàng Bồ Tát tùng địa dõng xuất là những Bồ Tát cựu trụ
ở Ta Bà, chứ không giao việc nầy cho các vị Bồ Tát ở mười phương
mặc dầu các vị nầy phát tâm nhận lãnh. Điều nầy cho thấy rằng:
Phật Tri Kiến phải tự tâm phát khởi chứ không thể tìm cầu bên
ngoài mà được. Còn đến với phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự thì ta
thấy Đức Phật xử dụng phương tiện gì để thuyết Kinh Pháp Hoa, để
chỉ được bản thể chơn như thanh tịnh. Giải về phẩm kinh nầy Hòa
thượng Thích Trí Quảng đã dạy: “Đức Phật Thích Ca giới thiệu cho
chúng ta Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát giải được nhất
thiết ngôn ngữ hay pháp ngữ. Nhưng trên thực tế chúng ta thấy
chính Đức Phật ,chính là người giải được tất cả ngôn ngữ không
bằng lời. Thật vậy, khi Phật trụ thế, chúng sanh có ngôn ngữ
khác nhau nhưng chúng sanh nào đến với Phật, cũng cảm thấy Ngài
hiểu mình và giải quyết mọi thắc mắc ưu phiền cho chính mình”
[9. 609]. Như vậy, Đức Phật bằng phương tiện ẩn dụ kể về đời
sống của một vị Bồ Tát nhưng lại chỉ cho thấy cái khả năng của
Phật tức Phật Tri Kiến. Đi từ thực tế đến bản thể hay từ bản thể
diễn dịch cuộc sống hiện tại. Chúng ta dễ thấy điều nầy qua diễn
dịch sau đây: “Nhất thiết chúng sanh hỷ kiến, giải nhất thiết
chúng sanh ngôn ngữ đà la ni bằng cách xử dụng ngôn ngữ xuyên
qua bản thể. Ơũ dạng bản thể, tất cả sự vật đều bằng nhau.”[9.
609]. Từ đây thấy Đức Phật dung thông tất cả phương tiện để nhằm
đưa chúng sanh đến sự giác ngộ cao nhất. Khi nhận rõ Tri Kiến
Phật của chính mình hành giả Pháp Hoa có thể tùy thuận chúng
sanh mà làm tất cả các Phật sự. Tại phẩm Diệu Âm Bồ Tát Đức Phật
nói về Bồ Tát Diệu Âm là vị Bồ Tát có sức thần thông không thể
nghĩ bàn. Đặc biệt, sự xuất hiện Bồ Tát Diệu Âm là do chính năng
lực của Phật Đa Bảo. Trong kinh nói rằng khi đại chúng muốn thấy
được thân tướng của Bồ Tát Diệu Âm Đức Phật đã nói “Đức Phật Đa
Bảo sẽ vì các ông mà hiện bày thân tướng của Bồ Tát Diệu Âm.”
Như vậy, ta thấy từ trong bản môn, Phật Đa Bảo hiện thân tướng
của Bồ Tát Diệu Âm. Nhưng Diệu Âm Bồ Tát là người đã từng cúng
dường vô số các thứ kỉ nhạc. Điều nầy chứng tỏ sự dụng Pháp
Phương Tiện của Phật quả không thể nghĩ bàn. Bởi qua đây, Đức
Phật muốn mượn hình ảnh của Diệu Âm Bồ Tát để dạy cho chúng ta
phải nên tùy thuận hoàn cảnh có thể dùng phương tiện âm thanh
để đi vào đạo.
Tiếp nối ý tưởng trên nên phẩm kinh
tiếp theo là phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát . Kinh Pháp Hoa đã được sắp
xếp theo một trình tự hợp lí từ Diệu Âm đến Quán Thế Âm. Diệu Âm
là tiếng nói vi diệu của chân tâm và Quán Thế Âm tức là xem xét
tư duy về âm thanh của thế gian. Như vậy, muốn có được tiếng nói
vi diệu của bản tâm thanh tịnh, cần phải có sự tư duy đúng về
thế giới hiện hữu hay nói theo Kinh Pháp Hoa thì muốn đạt được
chân tâm ta cần phải tu theo hạnh Quán Thế Âm. Tu hạnh Quán Thế
Âm chính là sự lắng nghe tiếng nói của tự tâm mình và rãi lòng
từ bi đến khắp chúng sanh, lắng nghe tất cả những nỗi sầu bi của
họ mà ra tay cứu giúp. Qua việc xiển dương hạnh tu của Bồ Tát
Quán Thế Âm, Đức Phật đã dạy chúng ta một phương cách diệt trừ
phiền não(tham, sân, si, mạn, nghi) bằng cách “Phản văn, văn tự
tánh” (反
聞﹐聞
自
性)
tức nghe lại tiếng nói tự cõi lòng mình để điều chỉnh cuộc sống
tu hành cho hợp lí, hợp với lẽ đạo để có thể nhận biết tiếng nói
của chân tâm.
Như vậy, chúng ta thấy rằng Đức
Phật đã dùng nhiều cách mở cánh cửa bản môn để cho chúng ta nhận
thức rõ nguồn tâm của chính mình. Nói cách khác Đức Phật từ
trong bản môn cũng đã dùng vô số phương tiện để hiển bày chân lí
khiến cho vô số chúng sanh ngộ nhập được Phật Tri Kiến.
Trong Kinh Di Giáo để phá bỏ lầm
chấp của hàng đệ tử và chúng sanh sau nầy, Đức Phật đã tuyên bố
“Trong bốn mươi chín năm ta chưa hề nói điều gì” Vì sao? Vì tất
cả đều là phương tiện dù là nhất thừa như Kinh Pháp Hoa đi chăng
nữa khi đã nói ra tức đã quyền khai phương tiện. Đạo là bất khả
tư nghì (不
可
思
議)
, đạo là không thể nghỉ bàn được, dù là một niệm khởi cũng sai
lệch, là vọng niệm. Nhưng không dùng lời nói bàn thì làm sao nói
được lẽ đạo nên phải dùng phương tiện nói bàn nhưng rất phải
cảnh giác với sự thủ chấp. Chúng sanh điên đảo chỉ vì sắc tướng
âm thanh thì Đức Phật cũng ngay chổ ấy mà mở môn phương tiện tạm
nói ba thừa giáo để cuối cùng qui lại nhất thừa. Đức Phật phải
dùng sắc tướng âm thanh để chỉ cho chúng sanh cái chân lí nhiệm
mầu nằm ngay trong ấy. Như chúng ta thấy được rằng tại bộ Kinh
Pháp Hoa Đức Phật tuyên bố rởi bỏ pháp phường tiện để chỉ nhất
thừa. Nhưng để chỉ được nhất thừa tức cái Tri Kiến Phật, tri
kiến giải thoát. Đức Phật cũng đã dùng vô số phương tiện để thể
hiện chân lí, đạt được mục đích khai thị chúng sanh ngộ nhập
Phật Tri Kiến cho hết thảy chúng sanh. Thế mới biết Pháp Phương
Tiện có một tầm vóc quan trọng ra sao trong các pháp của Phật.
Như chúng ta đã thấy tất cả các pháp của Phật xử dụng đều là
Pháp Phương Tiện cả nên có thể nói Pháp Phương Tiện chính là
pháp Phật. Chỉ có Pháp Phương Tiện mới có thể khai mở con được
con đường độ sanh Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến.
Để thấy rõ hơn giá trị của Pháp
Phương Tiện chúng ta cùng nhau đi tiếp qua chương bốn nói những
giá trị hiện thực của Pháp Phương Tiện.
Chương 4: GIÁ TRỊ HIỆN THỰC CỦA
PHÁP PHƯƠNG TIỆN
Kinh Pháp Hoa không những có
giá trị về mặt triết học kinh điển mà còn một giá trị thực tiển
vô cùng to lớn. Kinh Pháp Hoa đưa ra những giá trị rất sâu sắc
về mặt tư tưởng và giải thoát, kinh đưa con người thoát khỏi ý
tưởng ràng buột chấp trước. Đến với Kinh Pháp Hoa ta hoàn toàn
được tự do tắm mình trong biển pháp rộng mênh mông, sâu vô tận
nhưng vô cùng hạnh phúc. Hạnh phúc đó sẽ trọn vẹn hơn cuộc sống
nếu ta biết thọ trì Kinh Pháp Hoa một cách đúng đắn. Người thọ
trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa được gọi là Hành Giả Pháp Hoa.
4.1. HÀNH GIẢ PHÁP HOA.
Thế nào là hành giả Pháp Hoa? Hành
giả Pháp Hoa chính là Người thọ trì, đọc tụng, giảng nói, biên
chép Kinh Pháp Hoa xa hơn nữa là luôn sống và tin vào Tri Kiến
Phật của chính mình. Trong phẩm phương tiện sau nhiều lần từ
chối nói Kinh Pháp Hoa vì sợ chúng sanh mê muội không tin mà đọa
lạc và sau khi ngài Xá Lợi Phất ba lần khẩn thỉnh Đức Phật Đã
dạy: “Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu chẳng đặng nói, ông
nay lóng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giảng
nói” Lóng nghe và khéo suy nghĩ, tức Đức Phật muốn thính chúng
phải nghe bằng tất cả kính tin và cảm nhận. Từ điều nầy chúng ta
thấy rằng; muốn trở thành một hành giả Pháp Hoa trước hết phải
có niềm tin kiên cố vào Kinh Pháp Hoa, như tin vào Tri Kiến Phật
của mình. Cũng như muốn thọ trì hồng danh Phật A Di Đà phải có
đầy đủ tín, hạnh, nguyện. Tin sâu, nguyện thiết, hành thâm mới
chính là cửa ngỏ đi vào Phật Đạo. Như Kinh tâm địa quán dạy; Đức
tin là mẹ sinh ra các công đức.
Nhưng có niềm tin không vẫn chưa
đủ mà hành giả Pháp Hoa phải “vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai,
ngồi tòa Như Lai” Như trong phẩm pháp sư có dạy. “Nhà Như Lai
chính là tâm từ bi lớn đối với tất cả chúng sanh, y Như Lai
chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như Lai chính là nhất thiết
pháp không” và còn phải dùng tâm không biếng trễ cũng chính là
sức tinh tấn vậy. Nhà Như Lai là lòng đại bi tức lòng thương
chúng sanh rộng lớn không ngần mé, có thể che chở cho hết thảy
chúng sanh. Đức Phật vì thương chúng sanh nên hiện hữu trên đời.
Hành giả Pháp Hoa cũng phải phát xuất từ lòng thương tưởng chung
sanh mà phát tâm thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa. Hay nói cách
khác hành giả Pháp Hoa phải bằng tất cả tâm đại bi đối với chúng
sanh không so bì, bỉ thử hay vụ lợi.“Hành giả Pháp Hoa là sứ giả
Như Lai phải mang thông điệp tình thương của Như Lai đến mọi
loài” [9. 319]. Nếu được như vậy là hành giả đã vào nhà Như Lai
an ổn mà thọ trì Pháp Hoa. Áo Như Lai chính là nhu hòa nhẫn
nhục. Nhu là nhu nhuyến, mềm dẻo; hòa là thuận theo lẽ phải.
Nhẫn nhục là đức tính kham nhẫn chịu đựng hy sinh để tạo nên
tính cách đại hùng lực.
Như vậy, hành giả Pháp Hoa phải là
con người có được sự nhu nhuyến mềm dẻo, tùy thuận chúng sanh
theo chánh lý, lại đầy đủ sự kham nhẫn đại hùng lực. Thành tựu
những pháp như vậy mới có thể thọ trì Kinh Pháp Hoa một cách
thấu triệt trở thành một hành giả Pháp Hoa. Nhưng muốn truyền
giảng ngoài những điều cần thiết đã nói ở trên, hành giả Pháp
Hoa còn phải thành tựu nhất thiết pháp không đây được xem như
tòa Như Lai. Theo điều kiện nầy thì khi muốn truyền dạy Kinh
Pháp Hoa hành giả cần phải không trụ chấp vào bất cứ pháp nào vì
tất cả các pháp đều là phương tiện. Phải nhận thức tất cả các
pháp là không; không sanh, không diệt, không cấu, không tịnh
.v.v. Để rồi tùy theo căn cơ, trình độ của chúng sanh mà dùng
phương tiện dạy dỗ, dìu dắt cho chúng sanh nhận chân được Phật
Tri Kiến.
Với tâm từ bi vô lượng, nhu nhuyến
mềm dẻo, tùy thuận và không chấp trước hành giả Pháp Hoa an trú
trong bốn pháp “hành xứ, thân cận xứ, an lạc hạnh, phát đại bi
tâm” Có thể đem lại lợi ích an lành cho hết thảy chúng sanh.
4.2. PHÁP PHƯƠNG TIỆN ĐEM LẠI LỢI
ÍCH THIẾT THỰC CHO ĐỜI SỐNG TU TẬP
Phật ra đời vì muốn cứu độ hết thảy
chúng sanh, đưa chúng sanh trở về với tự tánh giác ngộ vốn có
của chính mình. Nhưng chúng sanh vì quá mê mờ không hiểu nổi
pháp thậm thâm vi diệu. Nên Phật phải dùng nhiều phương cách độ
sanh, khai mở pháp môn phương tiện nhằm cứu khổ độ mê. Chúng
sanh điên đão trăm bề thì Đức Phật có muôn ngàn phương tiện.
Ngài đã không quản gian lao khó nhọc đi dọc sông Hằng truyền
trao giáo pháp cứu vớt sinh linh. Bước chân Ngài như còn in đậm
nét son trên vạn dặm nẻo đường truyền trao chánh pháp. Chúng ta
ngày nay nối chí Tôn Sư ngày đêm tu tập cũng mong cứu vớt sinh
linh đang đắm chìm trong đau khổ. Nhưng Đức Thế Tôn nhập diệt từ
lâu đã trãi qua hơn hai mươi lăm thế kỉ. Giáo pháp của Ngài để
lại là kho tàng Kinh điển được tuân thủ theo nguyên tắc giới
định tuệ. Ba môn học nầy chính là cửa ngõ, là bậc thang đưa đến
sự giác ngộ giải thoát, nhưng cũng chính các điều nầy như trói
buột ta. Ta luôn sợ phạm vào điều Phật cấm, nó luôn làm cho ta
thụ động hơn trong các hoạt động của mình. Với một đời sống như
thế chúng ta không thể bắt kịp nhịp sống xã hội đang ngày một
phát triển nhanh chóng, thì làm thế nào hướng dẫn cho nhân sinh.
May mắn cho chúng ta được thừa hưởng Pháp Phương Tiện mà Thế Tôn
để lại. Nhờ vào Pháp Phương Tiện mà chúng ta như được mở trói
đôi tay. Có thể tùy thuận hoàn cảnh mà tu hành và hoằng pháp.
Theo HT.Thích Trí Quảng “Ngày nay trình độ dân trí bên ngoài
tương đối cao. Trong khi hiểu biết chúng ta không bằng thế gian
huống là vượt thế gian làm thầy thiên hạ. Với thể lực yếu, trí
lực kém, ác nghiệp quá sâu biết bao khó khăn chờ đón ta phía
trước , chúng ta không còn cách nào hơn là nương theo Pháp
Phương Tiện tu hành” [9. 100]
Thật vậy, nhờ vào Pháp Phương Tiện
mà Lục Tổ có thể cùng chung sống với nhóm thợ săn cùng ăn, cùng
ngủ để rồi cuối cùng Ngài đã độ được họ. Thiền Sư Đơn Hà đã có
thể đốt Phật độ Tăng hay Thiền sư Nam Tuyền đã giết mèo để cho
chúng đệ tử được khai ngộ. Còn rất nhiều mẫu chuyện nhà thiền
cho thấy cái diệu dụng của pháp môn phương tiện. Nếu ví trí tuệ
của người tu như đôi mắt thì Pháp Phương Tiện như đôi tay. Trí
tuệ là thể, phương tiện là dụng. Không có thể dụng không chỗ
nương, trái lại không có dụng thì thể không cách gì hiện hữu.
Thể và dụng luôn đi đôi với nhau hỗ tương nhau để hiển lộ.
Trong đời sống tu tập hằng ngày
nếu không có phương tiện chúng ta không thể nào sinh hoạt được.
Muốn ăn chúng ta phải có thực phẩm, muốn ngủ chúng ta phải cần
chăn chiếu. Đến sinh hoạt trong chùa cũng phải có mõ chuông, để
phục vụ đời sống hằng ngày chúng ta luôn cần đến phương tiện.
Pháp Phương Tiện cho phép chúng ta sống theo hạnh đồng sự để xẻ
chia những kiến thức cho những con người xung quanh, và qua đó
chúng ta có thể hiểu hơn cuộc sống một cách sâu sắc hơn. Hành
giả Pháp Hoa dụng Pháp Phương Tiện đi sâu vào trong quần chúng
để hướng thiện cho cuộc đời. Còn trong sinh họat tự thân Pháp
Phương Tiện cũng có một vị trí vô cùng quan trọng, nó như cánh
cửa mở rộng để hành giả Pháp Hoa có thể tùy theo nhân duyên
hoàn cảnh mà ứng biến cho phù hợp. Như việc đi lại phải cần tiền
tàu xe mà giới luật lại không cho cầm nắm tiền bạc nếu như không
phương tiện cầm giữ, đi đâu cũng phải có cận sự thì thật là bất
tiện. Trong cuộc sống thường xảy ra những điều ngoài dự đoán
nếu không có Pháp Phương Tiện thì hành giả Pháp Hoa rất khó khăn
trong cuộc sống. Ngày nay, khoa học kỹ thuật pháp triển người tu
hành cũng nhờ Pháp Phương Tiện mà có thể xử dụng những công cụ
tiên tiến để nâng cao trình độ, tri thức của mình. Có thể cũng
áp dụng những thành tựu khoa học để phục vụ cho đời sống tu tập,
ví dụ muốn luôn nhắc nhở sự niệm Phật được tinh chuyên ta có máy
niệm Phật được chế tác bằng một con chíp điện tử. Khi cần lưu
trữ tài liệu học tập cho thật giản đơn ta có thể phương tiện xử
dụng máy vi tính. Có thể nói rằng trong cuộc sống tu tập hành
giả Pháp Hoa không thể không cần đến Pháp Phương Tiện. Thật vậy,
muốn tu hành theo hạnh kính Lễ Chư Phật ta cũng dụng phương tiện
hành lễ với Phật tượng. Từ việc lễ lạy Phật tượng ta dần dần
diệt trừ được tâm ngã mạn, đoạn trừ được tham sân si, tịnh hóa
thân tâm. Như vậy, thông qua Pháp Phương Tiện chúng ta có đầy đủ
các pháp tu tập để dần khai mở Tri Kiến Phật của mình.
Thật ra, trong đời sống tu tập ta
chưa hề rời Pháp Phương Tiện như ở phần định nghiã về Pháp
Phương Tiện ta đã biết phương tiện là phương cách tiện lợi nhất
để đạt được mục đích. Vì vậy để đạt được mục đích giải thoát
chúng ta luôn dụng Pháp Phương Tiện thông qua các hình thức tu
tập như; tụng Kinh, ngồi thiền, trì chú, niệm Phật v.v. không có
pháp môn nào không dụng phương tiện. Pháp Phương Tiện theo chúng
ta như hình với bóng nó gần gũi đến mức ta không nhận ra được nó
mà cứ mặc nhiên xử dụng như chính ta vậy. Bởi vì, nâng tay lên
là phương tiện, bước chân đi cũng là phương tiện. Lật trang
Kinh, hay ngồi tỉnh tọa đều là phương tiện vậy như Chư Tổ đã dạy
“Tụng Kinh giả minh Phật chi lí, tọa thiền giả đăng Phật chi
cảnh”. (誦
經
者
明
佛
之
理﹐坐
禪
者
登
佛
之
境)
Dùng phương tiện tụng Kinh để nhận ra cái lí của Phật dạy,
phương tiện ngồi thiền là để sống với cảnh giới của Phật.
Như vậy, trong quá trình tu tập
rèn luyện tự thân mong cầu giải thoát hành giả Pháp Hoa không hề
rời Phương tiện. Hay nói một cách khác chính Pháp Phương Tiện
giúp cho hành giả Pháp Hoa luôn vững tiến trên bước đường tu tập
giải thoát. Không những thế Pháp Phương Tiện luôn là sự cần
thiết cho hành giả Pháp Hoa trong quá trình thực hiện hạnh Bồ
Tát viên tròn đạo hạnh.Với Pháp Phương Tiện hành giả Pháp Hoa đi
vào cuộc đời, như chim thêm cánh có thể bay cao hơn, xa hơn
trong sự tu tập và hành đạo làm lợi lạc quần sanh.
4.3. PHÁP PHƯƠNG TIỆN VỚI SỰ NGHIỆP
HOẰNG PHÁP ĐỘ SANH.
Có thể nói việc hoằng pháp là Phật
sự vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ lâu
dài cho Phật pháp, không có hoằng pháp thì Đạo Phật sẽ đi đến
chỗ diệt vong. Với sự phát triển của xã hội mọi pháp dừng lại
đều đi đến chỗ diệt vong. Ý thức được sự quan trọng của việc
hoằng pháp nên từ xưa đến nay công tác hoằng pháp luôn được giao
cho những vị có tâm huyết đảm nhận. Người làm công tác hoằng
pháp là người trước hết phải có sự uyên thâm Phật lí, có tinh
thần dấn thân phục vụ chúng sanh trên tinh thần vô vị lợi. Nhưng
vẫn chưa đủ người làm công tác hoằng pháp còn phải biết tùy theo
nhân duyên hoàn cảnh mà chỉ dạy Phật pháp, tùy hoàn cảnh mà
dụng phương tiện để đem lại lợi ích thiết thực cho hết thảy
chúng sanh. Nói như thế để ta thấy được tầm quan trọng của Pháp
Phương Tiện trong công việc hoằng pháp. Trong công tác hoằng
pháp hành giả phải hiểu rõ Pháp Phương Tiện để tùy duyên mà xử
trí công việc cho hợp lí, cốt làm sao cho quần chúng hiểu được,
hiểu đúng Phật pháp để nương theo đó mà tu học. Pháp Phương Tiện
giúp cho người hoằng pháp có nhiều điều kiện để tiếp cận với đời
sống xã hội. Như chúng ta phương tiện làm các công tác xã hội
theo tinh thần đồng sự. Trong đời sống xã hội có nhiều hoàn
cảnh thì người làm công tác hoằng pháp cũng phải có nhiều phương
thức tiếp cận họ. Pháp Phương Tiện giúp chúng ta tiếp cận với
cuộc sống đời thường, một cacùh nhẹ nhàng hơn, sâu hơn và nhanh
hơn để đem lai lợi ích thiết thực cho con người. Chúng ta có thể
thông qua hình thức hộ niệm cho người mất xẻ chia với mọi người,
làm cho nỗi đau của họ phần nào vơi đi. Thiết thực nhất là qua
đó ta có thể hướng dẫn cho họ nương về với chánh pháp, hướng dẫn
họ thực tập tu hành để dần dần đi đến giác ngộ giải thoát. Lời
nói là phương tiện ngữ ngôn giúp cho người nghe có thể khai tâm
mở trí nhận chân được giá trị cuộc sống thật sự, thấu đạt chân
lí dần dần đi đến cứu cánh giải thoát. Pháp Phương Tiện cho phép
chúng ta đến với cuộc đời qua mọi hình thức miễn là đem được ánh
sáng chân lí phổ cập khắp nơi. Người hoằng pháp có khi lấy thân
mình làm phương tiện, thông qua đời sống phạm hạnh của tự thân
làm ảnh hưởng đến nếp sống của người xung quanh khiến cho họ quí
trọng ta và theo ta học pháp. Đây gọi là thân giáo sư cũng là
phương pháp giáo hóa hữu hiệu nhất và phương tiện đơn giản nhất
đêm lại hiệu quả nhất. Ta có sống được như vậy thì ta nói người
đời mới chịu tin. Mình đang hút thuốc không thể khuyên người ta
từ bỏ thuốc lá. Hơn thế nữa ta phải sống thế nào cho người đời
thấy rằng theo giáo lí Đạo Phật là an lạc hạnh phúc. Lấy đời
sống tu tập của chính ta làm phương tiện hoằng pháp là thiết
thực nhất, song không dễ chút nào vì phương thức hoằng pháp nầy
đòi hỏi chúng ta phải có một đời sống thật sự nghiêm túc tu tập
tinh chuyên. Muốn được như thế chúng ta cần phải nỗ lực tinh cần
không được xao lãng. Từ trong nội tâm trong sáng của chính mình
hành giả Pháp Hoa tùy nghi xử dụng phương tiện hoằng pháp lợi
sanh.
Ngày nay, khi đời sống xã hội phát
triển, trình độ dân trí được nâng cao, tầm hiểu biết của con
người là vô cùng sâu sắc. Đây là chỗ tiện và bất tiện cho công
tác hoằng pháp, tiện là với trình độ cao người nghe dễ tiếp thu
những điều chúng ta trình bày, nhưng đây cũng chính là sở tri
chướng của chúng sanh hay chấp chặt vào những điều thấy biết mà
khó tin chánh pháp. Đòi hỏi người hoằng pháp phải có một trình
độ rất cao để đáp ứng nhu cầu xã hội. Đứng trước những khó khăn
đó hành giả Pháp Hoa đã dùng tri thức khoa học hiện đại như là
một phương tiện để hổ trợ cho việc hoằng pháp. Chúng ta có thể
thông qua sách báo để đến với quần chúng một cách nhanh chóng và
hiệu quả, như báo Giác Ngộ, bán nguyệt san, tập văn v.v.. Ngoài
chúng ta còn có thể dùng các phương tiện thông tin đại chúng
phát thanh, truyền hình hay dung các phương tiện nghệ thuật khác
như; phim ảnh, ca, kịch, cải lượng v.v.. Tất cả các loại hình
nghệ thuật từ phổ thông cho đến bậc cao chúng ta đều đã dùng
Pháp Phương Tiện một cách uyển chuyển nhằm giúp cho mọi người
nắm bắt tri thức Phật Giáo một cách hữu hiệu nhất. Thật vậy, tất
cả các hình thức hoằng pháp của chúng ta từ xưa cho đến nay thảy
đều nương vào Pháp Phương Tiện. Có phương tiện chúng ta mới có
thể chỉ cho mọi người thấy được chân lí của Đạo Phật, mới truyền
bá những tinh thần giáo lí nhà Phật được. Như thông qua phim ảnh
ta có thể diễn tả lại cuộc đời của Đức Phật, Chư Tổ hay các vị
Bồ Tát bằng hình ảnh cụ thể để cho mọi người dễ nắm bắt. Cũng
bằng phương tiện phim ảnh, ca, múa, nhạc, kịch v.v.. chúng ta có
thể đưa tư tưởng về luật nhân quả, lí duyên sinh. Thậm chí đến ý
chỉ thiền tông cũng có thể chuyển tải qua hình thức các món nghệ
thuật nầy với những câu thiền ngữ được nói thông qua sự diễn
xuất của các nhân vật. Qua nhiều hình thức khác nhau Pháp Phương
Tiện trong công tác hoằng pháp luôn là sự uyển chuyển kịp thời
để thích nghi với từng hoàn cảnh. Như vậy, chứng tỏ Pháp Phương
Tiện luôn cần thiết trong công việc hoằng pháp. Hay nói một cách
khác sẽ không thể tiến hành công tác hoằng pháp nếu không có
Pháp Phương Tiện. Nhưng ứng dụng Pháp Phương Tiện vào thực tế
thế nào cho hợp lí chúng ta cùng đi tiếp vào phần sau.
4.4. PHÁP PHƯƠNG TIỆN CẦN XỬ DỤNG
NHƯ THẾ NÀO CHO HỢP LÍ
Trong cuộc sống lúc nào cũng luôn
tồn tại hai mặt của cuộc đời, các pháp cũng vậy luôn tồn tại hai
mặt thể và dụng nên khi xử dụng pháp gì chúng ta cũng phải nhận
rõ pháp mình đang xử dụng để khỏi phải lầm chấp. Như đã nói ở
trên Pháp Phương Tiện thật là tuyệt vời, nhưng phải xử dụng như
thế nào để đem lại lợi ích thiết thực, tránh đi những bất cập
trong đời sống tu tập và hoằng pháp. Khi xử dụng Pháp Phương
Tiện chúng ta cần phải nhận thức rõ phương tiện và cứu cánh là
hai mặt trái phải của nhau, không nên lầm chấp phương tiện là
cứu cánh và xử dụng phương như thế nào cho hợp lí. Có nhiều
người lợi dụng hai chữ phương tiện để gần gũi tiếp xúc với Phật
tử để quyên tiền làm những việc riêng của mình tóm thâu lợi
dưỡng bất chấp luân thường đạo lí. Trong những trường hợp có thể
cố gắng được song lại vì giãi đãi lợi dụng phương tiện không cố
gắng vượt qua, làm cho ý chí lui sụt yếu đuối. Lại có người
nương vào hai chữ phương tiện để hưởng thụ tiện nghi vật chất
một cách quá mức có khi đi đến chỗ xa hoa phung phí. Như xe dùng
làm phương tiện đi lại cho đỡ nhọc nhằn lại phải đòi hỏi sắm xe
mô đen đắt tiền để khoe khoang giàu có. Cũng có kẻ lợi dụng
phương tiện để trang bị phòng ốc sang trọng để hưởng thụ ngũ dục
cho thỏa lòng ham muốn. Họ không biết rằng càng lợi dụng phương
tiện không đúng mục đích sẽ dẫn đến những hậu quả rất tai hại.
Tín tâm của hàng Phật tử ngày một giảm suốt, đạo nghiệp ngày một
xa rời dẫn đến kết cục đọa lạc khổ đau sanh tử. Như vậy, cần
phải rất cẩn thận khi xử dụng phương tiện trong cuộc sống tu học
và hoằng pháp. Không nên quá dễ dãi xem thường để rồi trở thành
kẻ nô lệ ngũ dục bị sai khiến. Điều nầy trong dễ thấy trong thời
đại hiện nay nó một số tu sĩ chúng ta tham gia vào các tổ chức
kinh tế, chính trị như là phương tiện để độ sanh, nhưng lại
không đủ lực để cho ngũ dục lôi kéo làm lệch lạc mục đích ban
đầu. Như để ngăn ngừa sự sai lầm đó, trong phần lược giải Kinh
Pháp Hoa Hòa thượng Trí Quảng có dạy: “Phương tiện dùng cho
người mới phát tâm vào đạo để đạt đến quả Vô thượng giác. Nhưng
đắc đạo rồi, mở cửa phương tiện để giáo hóa chúng sanh như Phật
Thích Ca. Chúng ta cần phân định rõ như vậy. Chỉ mở phương tiện
được, với điều kiện chúng ta đã thành Vô thượng chánh đẳng chánh
giác”. [9.100] Pháp Phương Tiện rất đa dạng đòi hỏi người áp
dụng nó phải có một trình độ và định lực nhất định nếu không dễ
bị lệch lạc đưa đến sự phản tác dụng. Không nên lạm dụng Pháp
Phương Tiện quá mức để đưa đến những hậu quả không tốt làm ảnh
hưởng đến đời sống tu tập của chính mình. Như muốn cứu một con
người đang chết đuối trước hết mình phải biết bơi, phải biết
cách thức cứu người bị đuối nếu không sẽ dẫn đến tình trạng hại
mình mà không cứu được người. Pháp Phương Tiện của Đức Phật nhằm
soi sáng tâm chúng sanh để cho chúng sanh khai mở Phật Tri Kiến.
Thường được xem như ngón tay chỉ mặt trăng hay dụ cho chiếc
thuyền đưa qua bể khổ. Người dụng pháp mà không tăng trưởng trí
tuệ, không thuần được chánh hạnh lại kẹt ở chổ phương tiện. Nên
vấn đề quan trọng là làm thế nào biết vận dụng giáo lí làm
phương tiện sống cho chính mình. Phải biết chuyển hóa giáo lí
thành sự sống cho thân tâm, nếu không biết chuyển hóa giống như
người ăn mà không tiêu được thì dẫn đến bịnh, cũng vậy người học
Phật mà không biết chuyển hóa dễ mắc bệnh giáo điều cứng nhắc
khó tiến tu có kết quả. Như vậy, chúng ta thấy rằng việc xử dụng
Pháp Phương Tiện thật không thể dễ dàng chủ quan, mà phải rất
thận trọng. Điều nầy chứng tỏ chúng ta luôn phải sống tỉnh thức
trong mọi hoàn cảnh và sáng suốt khi áp dụng các pháp vào thực
tiển cuộc sống.
Tất cả những điều đã phân tích và
dẫn chứng ở trên người viết chỉ mong mọi người nhận thấy pháp
Phật cao sâu nhưng rất uyển chuyển như con nước dịu dàng uốn
mình theo mọi địa hình nhằm đưa thuyền về đến biển, cũng vậy
pháp phương tiện để đưa chúng sanh đến bờ giải thoát. Như vậy,
người học Phật phải biết tùy duyên mà ứng dụng Phật pháp một
cách hiệu quả nhất. Xin mượn lời Tổ dạy thay cho tiểu kết phần
nội dung quan trọng nầy.
“Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Đến nay tính lại đà quên hết
Chỉ nhớ trên đầu mỗi chữ Như.” [9.
113]
C/KẾT LUẬN
Chương 5: PHẬT PHÁP LÀ PHÁP PHƯƠNG
TIỆN
5.1. PHÁP PHƯƠNG TIỆN ĐEM LẠI SỨC
SỐNG CHO ĐẠO PHẬT
Như chúng ta đã biết Đức Phật sau
khi chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác đã cảm thấy Phật
pháp quá cao siêu khó nghe, khó thấy, khó chứng và khó tin. Tuy
Ngài vẫn biết rằng trong mỗi chúng sanh vẫn luôn hằng hữu Phật
Tri Kiến, nhưng lại vì vô minh che lấp bản tâm nên chúng sanh
lầm chấp khó độ. Đức Phật đã nghĩ về việc nhập niết bàn, nhưng
vì thương chúng sanh Đức Phật đã quyền khai phương tiện mở đường
độ sanh. Đức Phật bắt đầu quán sát căn cơ chúng sanh, tùy theo
trình độ cao thấp mà thuyết pháp độ sanh đóng cửa khổ đau, mở
cửa niết bàn. Trong tất cả các truyền thống Kinh điển chúng ta
đều nhận thấy bóng dáng của Pháp Phương Tiện. Trong bộ Kinh Pháp
Hoa chúng ta đang đề cập Đức Phật xác định tất cả các pháp Phật
nói ra đều là phương tiện. “ Dĩ phương tiện nhi độ sanh” (以
方
便
而
度
生),
lấy phương tiện để độ sanh là căn bổn của Phật Pháp. Vì căn trí
của chúng sanh chậm lụt thấp kém không tin nỗi vào Phật Tri Kiến
của chính mình, nếu Phật không dụng phương tiện chỉ bày thì
chúng sanh muôn đời không nhận ra được chơn như thật tánh. Như
vậy, Pháp Phương Tiện đã khơi thông mạch sống của Đạo Phật chúng
ta. Không những thế pháp phương tiện còn luôn là sự diễn đạt các
pháp Phật một cách hữu hiệu để Tổ Tổ truyền thừa mạng mạch Phật
pháp. Chính Pháp Phương Tiện đã đa dạng hóa tất cả các hình thức
sinh hoạt của Đạo Phật chúng ta, để đưa Đạo Phật thể nhập vào
cuộc đời. Tùy theo nhân duyên hoàn cảnh mà chuyển biến thích
hợp. Đạo Phật du nhập vào tất cả các nền văn hóa nhân loại nhưng
không hề bị chống trái hay bài xích, cũng bởi nhờ các nhà hoằng
pháp của chúng ta biết áp dụng tinh thần tùy duyên bất biến để
hòa nhập với các nền văn hóa văn minh khác, nhưng vẫn giữ được
bản sắc của chính mình. Pháp Phương Tiện đã làm cho sự sống của
đạo Phật luôn thích ứng với mọi hoàn cảnh. Chính nhờ vào Pháp
Phương Tiện mà Phật Giáo dù có chia ra nhiều tông phái chăng nữa
vẫn chung sống với nhau rất hòa hợp. Đây chính là nét độc đáo
của Đạo Phật mà không tôn giáo nào có được. Vì tất cả những
người theo Đạo Phật đều ý thức rằng; tất cả đều là phương tiện
để thích nghi với môi trường sống mà thôi. Pháp Phương Tiện đã
giúp cho Phật Giáo du nhập vào tất cả các quốc gia trên khắp thế
giới mà không hề vấp phải sự kháng cự nào. Vì Phật Giáo nhờ vào
Pháp Phương Tiện giúp cho những người tu hành truyền đạo có được
sự uyển chuyển thích hợp, để hòa mình vào đời sống cộng đồng,
nương theo phong tục tập quán của người dân bản xứ mà đem lại
hạnh phúc thiết thực cho họ, khiến cho họ cảm thấy sự có mặt của
Phật Giáo là cần thiết. Như vậy, Pháp Phương Tiện đã làm cho sức
sống của Đạo Phật ngày một lớn mạnh hơn. Cũng nói thêm rằng sự
lớn mạnh của Phật Giáo không mang tính chất bành trướng tôn giáo
mà chỉ mong mang sự thật của nhân sinh đến với đời sống nhân
loại. Pháp Phương Tiện của Đạo Phật thiết thực đã đem đến cho
nhân sinh nguồn sống lành mạnh và trong sáng dần dần nhận rõ bản
thể đưa đến sự an vui giải thoát.
5.2. PHÁP PHƯƠNG TIỆN CỦA ĐỨC PHẬT
ĐƯA CHÚNG SANH VƯỢT THOÁT KHỔ ĐAU CHỨNG NHẬP NIẾT BÀN GIẢI THOÁT
Trong Kinh Di Giáo Đức Phật dạy;
nước trong bốn biển chỉ có vị mặn, trong giáo pháp của ta chỉ có
một vị duy nhất đó là vị giải thoát. Để phục vụ cái mục đích duy
nhất là giải thoát cho hết thảy chúng sanh ra khỏi sanh tử luân
hồi Đức Phật đã quyền khai vô số phương tiện độ thoát chúng
sanh. Thật vậy, sau khi thành đạo Đức Phật đã mở ra con đường
giải thoát bằng vô số phương tiện. Và cũng nương nhờ Pháp Phương
Tiện ấy mà chúng sanh đã dần nhận ra được chân tánh của mình nỗ
lực tu tập thoát khỏi khổ đau sanh tử. Chúng sanh nương vào lời
Phật dạy nhận thấy ba cõi vốn không an ổn, vạn pháp vô thường,
thân tứ đại vốn dĩ khổ đau, nhận thức như vậy chúng sanh dần ra
khỏi sanh tử. Như trong Kinh Bát Đại Nhơn Giác có dạy:“Đệ nhất
giác ngộ; Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ
không, ngũ ấm vô ngã, sanh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ, tâm thị
ác nguyên, hình vi tội tẩu, như thị quán sát tiệm ly sanh tử.”
[12. 15] Từ những lời Phật phương tiện nói ra bằng ngôn ngữ,
bằng đời sống tu tập của chính mình chúng ta như nhận được những
thông điệp của trí tuệ, của nguồn sáng tràn đầy sức sống.
Thời Phật còn tại thế, có một
người đàn bà lấy chồng đã mười năm mà chưa có con nên bị gia
đình nhà chồng hất hủi. Bà chỉ mong có đứa con để được an ủi.
Sau đó bà sinh được một đứa con. Nỗi mừng vui không sao kể xiết,
bà đặt tất cả nguồn yêu thương và niềm hy vọng vào đứa con.
Chẳng bao lâu, đứa con bị bệnh chết. Quá đau khổ, bà không chịu
chôn con, bà bồng con đi tìm thầy thuốc mong cứu sống con. Nhưng
không ai cứu được. Thấy bà quá đau khổ người ta bèn bảo bà tìm
tới Đức Phật. Phật bảo: “ Con hãy đi xin cho Ta một nắm hạt cải
ở nơi nhà nào mà xưa nay chưa chưa từng có người chết, Ta sẽ cứu
sống đứa trẻ “. Bà liền bồng con đi xin hạt cải hết nhà nầy đến
nhà khác. Nhà nào cũng có hạt cải nhưng không nhà nào chưa từng
có người chết. Càng đi bà càng thấy như có những tia sáng chiếu
rọi vào tâm hồn bà làm cho bà tỉnh ngộ: Sống, Chết là định luật
tất yếu của tất cả mọi người. Lúc ấy nỗi đau khổ của bà lắng
xuống, bà liền đem chôn con và trở về bạch Phật: “Những điều
Ngài dạy con đã làm xong”. Đó chính là xảo thuyết, cũng chính là
Pháp Phương Tiện mà Đức Phật đã xử dụng để đưa một con người từ
chổ khổ đau cùng cực u mê tăm tối trở về với ánh sáng của thực
tại. Bằng một cách giáo dục rất đơn giản Đức Phật đã chỉ cho
chúng ta chân lí của cuộc đời. Pháp Phương Tiện đã giúp ta soi
sáng cuộc đời mình bằng ánh sáng trí tuệ. Nhận ra cuộc đời là
sanh diệt khổ đau ta mới có ý thức chấp nhận thực tại để chuyển
hóa cuộc sống. Như bà mẹ mất con kia nếu không nhờ Phật phương
tiện giáo hóa thì nỗi đau ấy bao giờ dứt được. Nếu như lúc đó
Phật không phương tiện bảo bà đi tìm hạt cải nơi nhà không có
người chết mà nói ngay lí vô thường sanh diệt liệu bà ta có tin
được không? Dứt khóat là ngay lúc đó bà sẽ không thể chấp nhận
dù đó là sự thật. Vì sao? Vì lúc đó bà chưa trãi nghiệm thực tế
khiến bà ta không thể chấp nhận. Biết vậy nên Đức Phật đã dụng
phương tiện một cách khéo léo để cho chính bà ta trãi nghiệm qua
sự thật và tự bà ta nhận ra chân lí của cuộc đời. Đức Phật thật
là một Bậc Đạo Sư tuyệt vời Ngài không tuyên thuyết chân lí mà
dùng phương tiện để người đời tự nhận ra chân lí của cuộc đời.
Bởi chân lí vốn hằng hữu trong cuộc sống muốn nắm bắt nó ta phải
trãi nghiệm chính bằng tự thân. Bậc đạo sư muốn chỉ bày thì phải
dùng phương tiện. Ta thấy rằng Pháp Phương Tiện không những chỉ
có Phật mới xử dụng để chỉ bày chân lí mà Chư Tổ cũng áp dụng
một cách triệt để, Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi muốn khai tâm cho Thần
Quang cũng đã dụng phương tiện một cách hết sức độc đáo. Chỉ một
câu nói: “hãy đem tâm ra ta an cho”. Đạt ma đã làm cho Thần
Quang bừng tỉnh, ngộ được chân tâm. Bởi câu nói đó đã khiến Thần
Quang quay lại với chính mình để nhìn thấy sự thật các pháp vốn
vô thường sanh diệt không có một cái “Ta” thực sự để thủ chấp.
Ngay tại đó Thần Quang đã nắm bắt được ý chỉ của thiền tông an
vui, tự tại giải thoát. Nếu không có Pháp Phương Tiện khai tâm
độc đáo của Đạt Ma Tổ Sư thì làm gì có được một Huệ Khả siêu
xuất sau nầy.
Nhờ vào Pháp Phương Tiện các bậc
Đạo Sư đã khiến cho nguồn tâm của chúng sanh được bừng sáng,
nhận ra chân lí, thoát li sanh tử, thể nhập niết bàn. Như lời
Đức Phật đã dạy qua Kinh điển thì Pháp Phương Tiện luôn tồn tại
trong giáo lí Đạo Phật cho đến khi nào hết thảy chúng sanh đều
chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì mục đích của Pháp
Phương Tiện là để chư Phật; “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật
Tri Kiến”. Bởi chỉ có phương tiện diễn bày các pháp qua hình
ảnh, ngữ ngôn còn thực tướng của vạn pháp vốn “Như Thị”. Như
vậy, chúng ta có thể nói; Pháp Phương Tiện đưa chúng sanh vượt
thoát khổ đau, chứng nhập niết bàn an vui giải thoát.
5.3. KẾT LUẬN
Trong Kinh kim cang Đức Phật có dạy:
“Ngã sở thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả hà
huống phi pháp” (我
所
說
法
如
閥
喻
者﹐法
上
應
捨
何
況
非
法).
Tạm dịch: Pháp ta nói như chiếc bè qua sông, Pháp còn bỏ huống
gì phi pháp. Như vậy, không những trong Kinh Pháp Hoa Đức Phật
xác định pháp Phật là Pháp Phương Tiện, mà trong Kinh Kim Cang
Phật cũng cho rằng pháp Phật như chiếc bè đưa người qua sông,
tức Kinh Kim Cang cũng khẳng định pháp Phật là Pháp Phương Tiện.
Không thể qua sông nếu không có đò, không thể nhận ra Phật Tri
Kiến nếu không có Pháp Phương Tiện. “Ngài Nhật Liên khi sớ giải
về Kinh Pháp Hoa đã khẳng định thật tướng Pháp Hoa chỉ có Phật
Thích Ca nói Phật Đa Bảo nghe. Từ Bồ Tát trở xuống đều nghe Pháp
Phương Tiện” [9. 111]. Chúng ta ngày nay, đón nhận giáo pháp của
Đức Phật bởi nhờ tổ tổ tương truyền. Qua biết bao nhiêu thế hệ,
bao nhiêu vùng lãnh thổ tùy theo mỗi mỗi nền văn hóa mà tiếp
nhận khác nhau, đều nương vào phương tiện khai sáng của các bậc
đạo sư. Pháp Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa chỉ là những Pháp
Phương Tiện có tính chất đặc trưng cho muôn ngàn phương tiện của
chư Phật.
Xử dụng Pháp Phương Tiện trong
Kinh Pháp Hoa, Đức Phật nhằm khai Tri Kiến Phật cho hết thảy
chúng sanh. Vì Tri Kiến Phật là thể tánh nhiệm mầu không thể
nghĩ bàn (bất khả tư nghì) nên Đức Phật đã phải quyền khai
phương tiện. Thật vậy, thâm nhập thế giới bản thể vắng lặng là
một công việc hết sức khó khăn nếu không dụng Pháp Phương Tiện
thì không thể nào chỉ ra được nên việc Đức Phật xử dụng Pháp
Phương Tiện là điều hiển nhiên. Có thể nói sự hiện hữu của Phật
tại thế gian là phương tiện của Phật bản thể nên đương nhiên
pháp của Đức Phật ấy nói cũng là Pháp Phương Tiện. Giáo pháp Đức
Phật soi sáng tâm con người thường được ví như chiếc thuyền qua
sông hay ngón tay chỉ mặt trăng. Như vậy, giáo pháp của Đức Phật
chỉ là phương tiện để hiển bày chân lí chứ không phải là chân lí,
cho nên có thể nói Phật pháp là Pháp Phương Tiện. Nhưng vì những
điều Phật dạy quá đúng với sự thật cuộc sống nên ta cứ ngỡ là
chân lí. Thật vậy, Pháp Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa đã khai
mở cho chúng ta một chân trời mới, chân trời của Tri Kiến Phật,
tri kiến giải thoát ngay tự tâm mình. Pháp Phương Tiện trong
Kinh Pháp Hoa cũng đã đưa chúng ta đến với triết lí cao siêu
nhưng lại gần gũi thân thuộc. Đến với Pháp Phương Tiện trong
Kinh Pháp Hoa ta thấy khả năng tu tập thành Phật của chính mình
là con đường lí tưởng, nhưng khả thi chứ không phải đó là con
đường không tưởng. Kinh Pháp Hoa với sự tuyệt vời của Pháp
Phương Tiện Đức Phật đã rất thành công khi mở cửa độ sanh hoàn
thành bổn nguyện “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”.
Từ Pháp Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa mở rộng ra cho đến các
Kinh điển khác gần như nơi đâu cũng có bóng dáng của Pháp Phương
Tiện. Có thể nói phương tiện là cửa ngỏ duy nhất đưa chúng sanh
trở về với chân như thật tánh và cũng là con đường duy nhất chư
Phật Bồ Tát đến với chúng sanh. Pháp Phương Tiện mở đường cho
chúng sanh đến với Phật Bồ Tát. Chư Phật và Bồ Tát cũng mở cửa
phương tiện để giáo hóa chúng sanh. Như thế cả chiều thuận lẫn
chiều nghịch Pháp Phương Tiện vẫn mang một ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với Phật pháp. Và hơn thế nữa Pháp Phương Tiện sẽ còn
được tiếp tục trong sự nghiệp hoằng dương chánh pháp đưa con
người trở về với chân thiện mỹ, đưa chúng sanh ra khỏi vô minh
điên đão. Là một hành giả Pháp Hoa ta cần phải biết đúng và áp
dụng đúng Pháp Phương Tiện để làm lợi lạc quần sanh thành tựu
đạo nghiệp. Có như vậy thì mới không cô phụ ơn sâu chư Phật đã
vì chúng ta mà khai môn phương tiện.
Nguồn:
dentutraitim.com