Ý
NGHĨA ĂN CHAY TRONG PHẬT GIÁO LÀ GÌ
Hoang Phong
Tôi
rất do dự khi đề cập đến chủ đề này, vì thật ra đã có rất
nhiêu sách vở, bài viết về vấn đề ăn chay. Lật trở lại chủ
đề này, tôi có cảm giác như đẩy một cánh cửa đã mở rộng, vì
vậy tôi chỉ ước mong có thể đóng góp thêm một vài ý kiến về
ý nghĩa của ăn chay, giới hạn trong một vài quan điểm Phật
giáo mà thôi.
Ăn
chay không phải là một đặc thù của đạo Phật, nhiều tôn giáo
khác cũng chủ trương ăn chay, chẳng hạn như đạo Jain của Ấn
độ. Nhiều người không Phật giáo, hoặc không theo một tôn
giáo nào cả nhưng họ ăn chay rất nghiêm túc, trong số này có
nhiều người Tây phương. Trái lại một số người Phật giáo lại
ăn thịt cá. Vậy thực sự ý nghĩa của việc ăn chay theo tinh
thần Phật giáo là gì ?
Phần
thứ nhất của bài sẽ đề cập lướt qua vấn đề ăn chay dưới khía
cạnh hiểu biết khoa học. Tiếp theo, phần thứ hai sẽ nêu lên
vài quan điểm đại cương về ăn chay theo kinh sách Phật giáo
và các học phái Phật giáo khác nhau. Phần thứ ba sẽ lạm bàn
về ăn chay một cách cởi mở hơn.
1. Ăn chay dưới
khía cạnh khoa học
Con
người là một sinh vật ăn chay hay ăn thịt ? Khoa học cho ta
biết một cách minh bạch rằng từ nguyên thủy con người là một
sinh vật ăn hoa quả, rễ, lá, củ và thân thực vật. Răng người
không phải là răng dùng để ăn thịt, không có nanh nhọn và
dài. So với kích thước của thân thể, ruột người quá dài,
trung bình18m, đó là đặc tính của sinh vật ăn cỏ, vì ruột
dài giúp đắc lực hơn vào việc hấp thu chất dinh dưỡng thấp
trong thực vật.
Tổ
tiên loài người sống trên cây, sau đó thích ứng với đời sống
dưới đất, từ đó bắt đầu ăn thêm côn trùng bắt được dưới
những tảng đá, trong cỏ hay hóc cây…. Khoa học gọi lối ăn
này là lối ăn tạp, có nghĩa là ăn bất kể thứ gì. Vì phải
canh chừng nguy hiểm, tức những sinh vật hung dữ ăn thịt, tổ
tiên con người phải tập đứng nhón trên hai chân để nhìn thấy
xa hơn, và để tránh nguy hiểm, phải tập chạy bằng hai chân,
vì chạy bằng hai chân sẽ nhanh hơn là bằng bốn chân. Đó là
một vài lý do trong số rất nhiều lý do khác thúc đẩy sự tiến
hoá của giống người.
Khi
tổ tiên con người dần dần biết đứng trên hai chân, vị trí
của đầu đối với xương sống cũng thay đổi, giúp cho sọ phát
triển dễ dàng hơn về phía sau, tạo cho con người có bộ óc
lớn hơn. Từ bộ óc phát triển, con người biết dùng đá đẻo,
cung tên…để làm khí cụ săn bắt những thú vật lớn và khôn
lanh hơn những loại côn trùng hay sinh vật nấp dưới các tảng
đá hay hóc cây, lối ăn tạp cũng biến đổi đi, con người bắt
đầu ăn thịt nhiều hơn.
Tiếp
tục trên dòng tiến hoá, con người biết tạo ra những dụng cụ
càng ngày càng tinh xảo, bắt được và giết được những con thú
to lớn và hung dữ hơn. Trong số những dụng cụ tinh xảo đó
gồm có súng đạn và bom nguyên tử ngày nay. Nhưng những khí
cụ nguy hiểm này không còn dùng để săn bắn nữa, vì thú vật
trở nên quá ngây ngô và khờ khạo so với con người. Những khí
cụ ấy con người dùng để giết lẫn nhau trong mục đích tranh
giành và bảo vệ miếng ăn ; mặc dù các nước hùng mạnh, sản
xuất được các khí giới này, đã dư thừa thực phẩm.
Cũng
nhờ vào bộ óc, con người sáng chế ra ngôn ngữ. Ngôn ngữ gồm
nhiều loại khác nhau và càng ngày càng trở nên phức tạp hơn.
Con ngươi biết suy nghĩ rắc rối hơn và trừu tượng hơn, biết
dùng những hình ảnh và biểu tượng để diễn đạt suy tư của
mình, biết sáng chế ra văn chương, thi phú, và…triết học.
Con người biết tìm ra mọi thứ thức ăn đủ loại và ăn không
chừa một thứ gì, sáng chế ra thật nhiều món ăn thật cầu kỳ.
Nhưng
đồng thời, nghiên cứu khoa học và thống kê y khoa, một sản
phẩm của con người, lại cho biết những người ăn chay có sức
khoẻ tốt hơn, ít bịnh tật hơn, nhất là các bịnh về tim mạch
và ung thư, và những người ăn chay sống lâu hơn những người
ăn thịt. Đây là những gì y khoa đã khẳng định. Nhờ vào những
hiểu biết khoa học, rất nhiều người Tây phương ăn chay để
tránh bớt ô nhiễm cho thân xác và hạn chế bớt sự tàn phá của
môi sinh, bớt hấp thu vào cơ thể những độc tố và sức dinh
dưỡng dư thừa từ thịt mỡ của thú vật. Những bài viết về ăn
chay theo chiều hướng này rất nhiều, lại kèm thêm những
chứng minh bằng thống kê, bằng những giải thích về y khoa,
phân tính về sinh hoá, sinh lý học v.v…
2. Ăn chay theo
kinh sách nhà Phật và các Học phái Phật giáo
Tại
sao phần lớn những người Phật giáo lại ăn chay ? Phật có bảo
thẳng ta phải ăn chay hay không ? Những lời nói đó của Phật
được ghi chép trong kinh sách nào ? Những kinh sách đó có
đích thực hay không ? Và thắc mắc cuối cùng được một vài bài
viết nêu lên là Phật có…ăn chay hay không ?
Phần
trình bày dưới đây không có chủ đích trả lời trực tiếp các
câu hỏi vừa nêu lên. Một quan điểm khẳng định có thể kéo
theo những tranh luận bất tận, chẳng hạn như trường hợp
nhiều sách vở và bài viết, cả trong và ngoài Phật giáo, đã
từng đưa ra những quan điểm khác nhau. Tác giả các bài viết
ấy, tùy theo trường phái, học thuyết, xu hướng hay sự hiểu
biết cá nhân, đã đưa ra những ý kiến ít hay nhiều khác biệt.
Tôi chỉ nêu lên và khai triển một vài khía cạnh của các vấn
đề trên đây mà thôi, người đọc tự tìm lấy những câu giải đáp
cho chính mình, bất kể là câu giải đáp đó theo chiều hướng
này hay chiều hướng khác, một câu giải đáp thích nghi cho
mỗi người.
Thật
sự, ăn chay đã bắt đầu từ thời kỳ của Phật, kể cả trước đó
nữa với lối tu khổ hạnh và đạo Jain (thế kỷ thứ VI trước Tây
lịch). Trước cả thời kỳ Phật giáo Bắc tông được tái lập và
bành trướng vững chắc vào thế kỷ thứ II, ăn chay do Đạo Phật
chủ trương cũng đã được phổ biến rộng rải trong dân gian
ngay từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch, bằng cớ là Đại đế A-Dục
(Asoka, 304-232 trước TL) ăn chay, cấm giết hại thú vật và
khuyên dân chúng ăn chay.
Kinh
sách nhà Phật thật phong phú, nhưng vấn đề khuyến cáo trực
tiếp và chi tiết về việc ăn chay không thấy đề cập đến nhiều,
có thể việc này là một điều quá đương nhiên đối với người tu
Phật hay chăng ? Kinh sách chỉ thường xuyên nhắc đến việc
cấm sát sinh. Nhưng nếu nhìn theo một khía cạnh khác, ta
cũng không thể chờ đợi và căn cứ một cách đơn giản và duy
nhất vào kinh sách để chọn cho ta cách xử thế với chính ta
và môi sinh chung quanh ta. Ta không thể tự ghép mình theo
kinh sách một cách từ chương. Kinh bảo thế nào thì làm thế
ấy, không bảo thì thôi, ta tự do làm gì thì làm. Ta cũng
thấy cái tại hại của một vài truyền thống mà người tín đồ tự
buộc chặt vào những tín điều bất di dịch.
Theo
thống kể có 58 000 bộ kinh ghi chép những lời giảng huấn của
Phật. Con số khá lớn, dù cho Phật đã thuyết giảng trong bốn
mươi lăm năm liền. Đó là chưa kể đến kinh sách bị mất mát,
chẳng hạn như hàng triệu quyển kinh đã bị người Hồi giáo đốt
sạch ở thư viện tại Vườn nai Lộc Uyển (Sarnath); ngày nay
thư viện chỉ còn sót lại một nền gạch mà thôi. Có tất cả ba
lần kết tập kinh điển, lần thứ nhất một năm sau khi Phật
nhập diệt tại thành Vương Xá (Rajagrha). Lần thứ hai được tổ
chức tại Vệ-xá-li (Vesali), 110 năm sau khi Phật nhập diệt.
Trong lần kết tập thứ hai đã thấy có những bất đồng ý kiến
giữa các nhà sư, nói chung có hai hệ phái khác nhau. Lần kết
tập thứ ba, còn rắc rối hơn nữa. Theo kinh điển tiếng Pa-li
(Nam tông) thì lần kết tập thứ ba xảy ra tại Hoa-thị-thành (Pataliputra),
vào năm 137 sau khi Phật nhập diệt. Theo các học phái Bắc
tông thì lần kết tập thứ ba được tổ chức chậm hơn, tức vào
năm 160, sau ngày Phật nhập diệt. Theo các tài liệu Bắc tông,
địa điểm kết tập cũng không phải ở Vệ-sá-li mà xảy ra ở
Ja-lan-đa-ra (Jalandhara, vùng Cachemire ngày nay). Trong
lần kết tập thứ ba, đã thấy xuất hiện 18 hệ phái và có bốn
ngôn ngữ khác nhau được xử dụng để ghi nhớ những lời giảng
huấn của Phật. Có thể là trong lần kết tập thứ ba này, Tam
tạng kinh : Kinh Luật, Kinh Tạng và Kinh Luận đã bắt đầu
được ghi chép bằng chữ viết (?), nhưng không có dấu tích
chính xác nào lưu lại. Theo các học giả Tây phương, kinh
điển Nam Tông ghi chép bằng chữ viết xuất hiện chắc chắn vào
thế kỷ thứ I trước Tây lịch cho đến giữa thế kỷ thứ I sau
Tây lịch; kinh sách Bắc tông được ghi chép từ giữa thế kỷ
thứ I trước Tây lịch, và kéo dài đến thế kỷ thứ VI đối với
một vài kinh sách xuất hiện muộn. Nói như thế để hiểu rằng
trên phương diện kinh sách ghi chép bằng chữ viết, không thể
khẳng định được là kinh sách Nam tông hay Bắc tông lâu đời
hơn hay đích thực hơn.Trước đó, Tăng đoàn gồm các nhà sư và
những người tu hành phải học thuộc lòng kinh điển và truyền
khẩu cho nhau, hết thế hệ này sang thế hệ khác, hàng trăm
năm trước khi được ghi chép hẳn hoi.
Vấn
đề nêu lên như trên đây giúp ta hiểu rằng phải thận trọng
khi căn cứ một cách từ chương và câu nệ quá đáng vào kinh
điển. Phật giáo Nam tông cho rằng không có giới luật nào
trong Phật giáo ngăn cấm tín đồ không được ăn thịt. Trong số
các kinh sách Nam tông có tập Trung bộ kinh (Majjhima-Nikaya),
một trong năm tập thuộc Kinh Tạng trong Tam tạng kinh, có kể
câu chuyện về Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), một người em họ của
Phật chủ trương tu khổ hạnh, người này đã xin Phật ban giới
nhắm vào việc cấm đoán hàng tỳ kheo không được ăn thịt. Phật
không chấp thuận và dạy rằng : « Ăn thịt có thể coi như
trong sạch trong ba trường hợp, người ăn không thấy, không
nghe, không có lòng hoài nghi con vật bị giết riêng cho mình
». Tiểu sử về Đề-bà-đạt-đa do kinh sách ghi chép cũng khá
rắc rối, đây là một người có vẽ khá cực đoan và đã nhiều lần
ám hại Phật.
Vậy
ta phải hiểu như thế nào về những luận cứ vừa kể trên đây ?
Ta biết rằng Phật dạy ta phải giữ giới, và điều thứ nhất
trong giới luật là cấm sát sinh. Khi còn tại thế, Phật đã tổ
chức sinh hoạt của Tăng đoàn phù hợp với Đao Pháp và môi
sinh, chẳng hạn như việc an cư kết hạ. Mùa mưa ở Ấn độ là
mùa hồi sinh của thiên nhiên và vạn vật; cây cỏ, côn trùng
và muôn thú đều vươn lên sức sống, sinh xôi và phát triển.
An cư để tránh không vô tình tàn phá thiên nhiên và dẫm đạp
lên những sinh vật nhỏ bé dưới chân. Phật dạy phải an cư,
chẳng lẽ Phật lại cho phép ăn thịt cá khi các đồ đệ của Ngài
« không thấy, không nghe, không có lòng hoài nghi con vật bị
giết cho riêng mình ».
Phật
thường nhắc đi nhắc lại câu này trong kinh sách : « Các con
phải cẩn thận, luôn luôn cảnh giác và canh chừng tâm thức
của các con. Tâm thức luôn luôn tìm cách đánh lừa các con ».
Tiếp tục ăn miếng thịt, khi không thấy, không nghe, không
hoài nghi về nguồn gốc của miếng thịt, tức là ta cố tình
dùng tâm thức của ta để đánh lừa ta đấy. Khái niệm về tương
liên, tương tác và tương tạo của Đạo Pháp cho biết rằng mỗi
hành vi, mỗi tư duy và mọi hiện tượng đều liên đới và liên
kết một cách chặt chẻ với nhau. Sự kiện « không biết, không
nghe, không hoài nghi » có thể tháo gở được quy luật tương
liên của vạn vật hay chăng ? Nếu luật nhân quả cũng lỏng lẻo
như thế thì còn có giá trị gì nữa ?
Chẳng
hạn khi ta ăn thịt heo, tuy rằng ta không thấy, không nghe,
không hoài nghi con vật bị giết vì ta, thì mỡ heo vẫn có thể
làm nghẽn tim mạch của ta, và nếu con heo bị sán lải ta cũng
có thể bị sán lải như thường, ta gánh chịu trực tiếp hậu quả
của hành vi ăn thịt của ta. Xu hướng thúc đẩy ăn thịt, sự
thèm ăn và thích ăn kích động ta và hành vi ăn thịt của ta
sẽ gây ra nghiệp. Nghiệp nguyên nghĩa của nó là « hành động
». Hành vi ăn một miếng thịt bắt buộc phải có một sinh vật
đứng ra gánh chịu sự đau đớn.
Tuy
nhiên vấn đề ẩm thực của Phật giáo nguyên thủy, nếu giữ đúng
theo ý nghĩa của Phật đã dạy thì thật là tốt : chỉ ăn một
lần trước ngọ để giới hạn sự tham ăn và ăn quá nhiều của ta;
khất thực và ăn bất cứ gì để tránh cho tâm thức ta không
vướng mắc và lo âu vào miếng ăn; ăn nguội lạnh và lẫn lộn
mọi thứ thức ăn của người thế tục cúng dường trong bình bát
để không xem đó là một sự thích thú, không kích động sự thèm
khát, kén chọn hay bám níu. Tôi xin phép kể ra đây trường
hợp của Tân-đồ-la Bạt-la-nọa-xà (Pindola Bharadvaja), một vị
trong 16 vị La-hán. Ông đã bốc ăn một cách bình thản ngón
tay cái của một người mắc bịnh cùi hiến dâng thực phẩm và
làm rớt ngón tay cái lở loét trong bình bát của ông. Nhưng
tiếc thay, khất thực không thích nghi với tổ chức xã hội
ngày nay nữa. Chùa chiền có bếp nút để phục vụ Tăng đoàn,
chẳng lẽ ta cố tình không bao giờ héo lánh xuống bếp để
không thấy, không nghe, không biết…
Người
Phật giáo Bắc tông ăn chay nghiêm túc hơn, nhưng ăn cả trưa,
cả chiều, có khi ăn rất cầu kỳ, bắt chước gần như thật các
món ăn thịt cá của thế tục : nhìn giống như đúc, mùi vị cũng
như nhau. Đó cũng có thể là cách đánh lừa tâm thức ta, nuôi
nấng sự thèm khát và bám níu của ta. Do đó, sự tỉnh thức và
cảnh giác rất hệ trọng trong từng hành vi của ta. Tinh thần
của hành vi ăn chay quan trọng hơn là những gì đã được biến
chế để ta ăn. Dù cho ăn thịt cá, ta cũng nên nghĩ đến thân
xác của một sinh vật phải gánh chịu sự đau đớn để đem đến sự
thích thú cho ta và nuôi dưỡng thân xác tứ đại của ta. Đồng
thời ta cũng nên ý thức rằng thân xác con vật cũng như thân
xác của chính ta tất cả đều vô thường như nhau.
Đến
đây có lẽ người đọc cũng đã tự tìm thấy câu trả lời cho các
câu hỏi được nêu lên trước khi khai triển phân đoạn thứ hai
này. Tuy nhiên, câu hỏi « Phật có ăn chay hay không ? »
được nêu lên trong một vài bài viết và nghiên cứu, là một
câu hỏi rất tế nhị, ta nên suy nghĩ cẩn thận, thật cẩn thận.
Theo tôi, tự hỏi như thế tức là ta muốn so sánh hành vi của
ta và hành vi của Phật, so sánh sự hiểu biết nhị nguyên,
công thức và quy ước của ta với sự hiểu biết siêu nhiên,
nhất nguyên và vô phân biệt của Phật, so sánh trí tuệ vô
minh của ta và Trí Tuệ thức tỉnh của Phật, so sánh tâm thức
vương mắc của ta với Tâm thức giải thoát của Phật. Tự hỏi
như thế tức ta tự đồng hoá ta với Phật, tự so sánh ta và
Phật. Theo thiển ý của tôi đây là một câu hỏi đặt sai : một
câu hỏi sai không thể có một câu trả lời đúng được. Phật từ
bỏ cung điện và cao lương mỹ vị để sống khổ hạnh, có lẽ
quyết tâm tu học của Phật không phải để tìm những miếng ăn
ngon.Ta không nên thắc mắc về việc Phật đã dùng những thực
phẩm gì, trái lại ta nên tự hỏi ta có đủ sức hiểu được những
lời giảng huấn của Phật hay không.
Đại-bát niết-bàn kinh (Maha parinibana-sutta) « kể chuyện »
về bửa ăn cuối cùng của Phật, có một chữ ghi chép không rõ :
thịt heo hay nấm heo ? Nhiều người bỏ công nghiên cứu và tìm
hiểu ngôn ngữ thời bấy giờ để quả quyết đấy là một loại nấm
gọi là nấm heo, nấm có tên gọi như thế vì người ta phải nhờ
đến khứu giác bén nhậy của heo để tìm ra nấm này, giống như
hiện nay người Âu châu vẫn dẫn heo và chó đánh hơi để đi tìm
loại nấm truffe rất quý. Có người lại nghiên cứu thẳng về
các loại nấm trong vùng nơi Phật tịch diệt xem đích thực là
loại nấm gì. Có người dựa vào các thổ ngữ xưa vùng Bắc Ấn độ
để quả quyết đấy là một loại thịt heo khô xay thành bột (?)…
Kết quả là ngày nay có nhiều bài viết xoay quanh vấn đề vừa
kể. Theo thiển ý của tôi, đây là một ví dụ điển hình của sự
câu nệ, buộc chặt ta vào kinh điển đã trải qua hàng trăm năm
truyền khẩu, và cũng là một trường hợp tiêu biểu cho thấy sự
vướng mắc rất thô thiển của tâm thức ta mà thôi, vướng mắc
vào một chữ không rõ nghĩa để nghiên cứu, tranh cải…và sau
đó, biết đâu ta cũng có thể tự buộc vào tâm thức ta một chút
hoài nghi vô ích, nếu không muốn nói là nguy hiểm. Trong mục
đích giải thích quan điểm này, tôi xin đưa ra ví dụ như sau,
tuy không phải hoàn toàn đúng với Đạo Pháp giảng dạy, nhưng
có tính cách một ví dụ cụ thể và dễ hiểu : với sự hiểu biết
quy ước, công thức và nhị nguyên của ta thì đây là một miếng
thịt, đây là một cái nấm ; nhưng đối với một người tu tập,
dù ở cấp bậc thấp đi nữa, cũng có thể dùng cách nhìn như sau
: xem hai thứ ấy chỉ là những kết hợp từ những hạt nguyên tử
do cơ duyên đưa đến, chúng không khác gì nhau vì những hạt
nguyên tử đều giống nhau, gồm có phần hạt nhân và những
electron xoáy lộn trong không gian trống rỗng mà thôi. Tu
tập không nên dừng lại ở những vướng mắc nhỏ nhặt, ta nên
nhìn xa hơn, hướng tâm thức cao hơn, nhắm thẳng vào Từ bi,
Trí tuệ, Giác ngộ và Giải thoát.
3.
Lạm bàn về ý nghĩa của ăn chay
Trong
phân đoạn này tôi cũng xin phép được mở đầu bằng những câu
hỏi. Người đọc có bao giờ ăn chay hay chưa ? Nếu có ăn chay,
thì ăn chay từ bao giờ, ăn chay trường, theo định kỳ, hay
tùy hứng ? Trường hợp những người không ăn chay là trường
hợp lọt ra ngoài chủ đề bản thảo rồi. Phần trình bày sau đây
có thể không còn là một mối quan tâm cho họ nữa. Đối với
trường hợp những người có ăn chay, các câu hỏi sau đây sẽ
rất quan trọng : ta ăn chay trong trường hợp nào ? Cái gì đã
kích động ta ăn chay ?
Có
khá nhiều người ăn chay và sự kiện ăn chay của họ được thúc
đẩy bởi những nguyên do và mục đích khác hẳn nhau, tôi xin
phân chia thành nhiều trường hợp như sau.
Trường hợp thứ nhất, người ăn chay nhắm vào việc bảo tồn
sức khoẻ, tránh mọi bịnh tật ngặt nghèo. Đó là lối ăn chay
đã được trình bày trong phần một : ăn chay dưới khía cạnh
khoa học. Y khoa và khoa học đã nghiên cứu rất nhiều về vấn
đề trên đây. Có nhiều người Phật giáo là bác sĩ y khoa, dược
sĩ, dinh dưỡng học, sinh lý học…viết và nêu lên chủ đề này.
Các bài viết ấy chứng minh sự lợi ích của ăn chay trên lãnh
vực sức khoẻ. Theo thiển ý của tôi, khai triển đơn thuần ý
nghĩa của ăn chay theo chiều hướng như thế cũng tốt, nhưng
không có gì là Phật giáo cả. Đó chỉ là cách khuyến khích cố
gắng bám níu vào xác thân tứ đại và vô thường của ta bằng
cách ăn chay, đấy cũng là một cách gián tiếp củng cố thêm ảo
giác của cái « ngã ». Người tu Phật chỉ biết ăn chay mà thôi,
không chờ đợi gì cả, hậu quả về sức khoẻ là một việc thứ yếu
hoặc đương nhiên, dù sao sức khoẻ của ta còn tùy thuộc vào
vô số nghiệp và cơ duyên khác nữa. Người ăn chay trường vẫn
có thể bị ung thư hay bị nghẽn tim mạch như thường, trong
những trường hợp như thế ăn chay không đủ sức hoá giải những
nghiệp khác quá mạnh. Ngoài ra cũng có những người miễn
cưỡng phải ăn chay vì truyền thống hay ép buộc trong gia
đình, hoặc vì rơi vào một hoàn cảnh nào đó…Tôi xin phép
không bàn thêm về tất cả những trường hợp như vừa kể trên
đây.
Trường hợp thứ hai, người ăn chay được thúc đẩy bởi một
cái gì sâu xa hơn. Xin kể ra trường hợp một nhà vô địch hạng
nặng về nhu đạo của Pháp, đã nhiều lần vô địch Âu châu, vô
địch Thế vận hội và vô địch Thế giới. Một lần ông đi xe
mô-tô và bị tai nạn, bắp chân của ông bị rách toạc ra, ông
thấy thịt của ông đỏ lòm giống như một miếng thịt bít-tết,
mùi máu rất tanh, từ đó ông không ăn thịt bít-tết nướng còn
máu nữa. Ví dụ kể ra sau đây tinh tế và sâu xa hơn một chút,
đây là trường hợp của thi hào người Pháp tên là Alphonse de
Lamartine, thuộc thế kỷ XIX. Ngày nhỏ, khi mẹ ông tình cờ
giắt ông đi ngang một lò sát sinh, ông thấy máu chảy lênh
láng ra tận đường đi, mùi tử khí, mùi máu và mùi thịt hôi
tanh không chịu nổi. Khi về đến nhà ông xin mẹ được ăn chay.
Những
câu chuyện vừa kể, không có gì là Phật giáo, nhưng ta thấy
có một cái gì đó phát xuất từ tâm thức ta, thúc đẩy và kích
động ta một cách kín đáo. Điều ấy chưa hẳn là từ bi, nhưng
có thể là một chút từ tâm đã hé lộ trong tâm thức, tuy còn
rất mơ hồ. Đó là một thứ xúc cảm hiển hiện khi tâm thức tiếp
xúc và bị kích động bởi quang cảnh khổ đau của chúng sinh
hay đồng loại. Những trường hợp như thế xảy ra rất nhiều,
biến dạng tùy theo hoàn cảnh và trường hợp, nếu ta chú ý sẽ
thấy dể dàng trong cuộc sống hằng ngày chung quanh ta. Tuy
nhiên mầm móng của lòng từ tâm đó vẫn còn bị che lấp, nhiều
hay ít, bởi vô minh và dễ đi vào quên lãng.
Tôi
cũng xin đề nghị không luận bàn xa hơn trong trường hợp ăn
chay do những kích động « mơ hồ » nơi mỗi cá nhân như vừa kể
trên đây, những kích động như thế không có gì liện hệ mật
thiết đến vấn đề ăn chay trong Đạo Phật.
Trường hợp thứ ba là những người Phật giáo ăn chay và ý thức
rõ rệt hành vi ăn chay của mình. Vậy, đối với họ, ý nghĩa
của ăn chay là gì ? Tôi xin trình bày phần này với nhiều chi
tiết hơn và theo thứ tự từ thô thiển đến thật tinh tế. Để cụ
thể hoá mỗi trường hợp, tôi xin chọn một vài ví dụ như sau
:
Ví
dụ thứ 1 : Những người chỉ ăn chay khi nào có nhu cầu mà
thôi. Chẳng hạn một người có con sắp đi thi, cầu khẩn chư
Phật một cách hết sức thành tâm và kính cẩn, xin cho con
mình thi đậu, nếu đứa con thi đậu sẽ ăn chay ba tháng. Sau
đó, đứa con thi đậu thật, và người này, có thể là cha hay mẹ
đứa nhỏ, ăn chay ba tháng. Vậy trong trường hợp trên đây, ý
nghĩa của hành vi ăn chay ở chỗ nào ? Chẳng những hành vi ấy
không có một chút gì là Đạo Pháp, mà đúng hơn, đó chỉ là một
sự mua bán với chư Phật, ra giá với chư Phật mà thôi. Người
tu Phật phải hiểu rằng đứa nhỏ thi đậu hay thi rớt là do nơi
trí thông minh của nó, do sức cố gắng của nó…tức là những gì
liên hệ và xuất phát từ nghiệp của nó. Hành vi ăn chay ba
tháng của một người khác là một việc không liên hệ chặt chẻ
lắm với việc thi đậu.
Câu
chuyện nguyện ước trên đây còn có thể xoay chuyển tệ hơn
nữa. Trong trường hợp đứa nhỏ thi rớt, người này có thể
trách chư Phật bất lực và vô tình trước sự cầu khẩn chân
thành của họ. Hoặc câu chuyện lại biến chuyển theo một chiều
hướng khác hơn như sau. Đứa nhỏ thi đậu. Sau một tháng ăn
chay, người nguyện ước chịu hết nổi, vừa ăn chay vừa đếm
từng ngày chờ cho đủ ba tháng sẽ mua tất cã những gì mình
thèm để ăn cho thoả thích. Vừa đếm từng ngày vừa hối tiếc đã
ra giá quá cao với chư Phật, và nghĩ rằng con mình dù sao
cũng học giỏi, ra giá một tháng ăn chay nó cũng dư sức thi
đậu. Hoặc sau khi ăn chay được một tháng thì không còn kiên
nhẫn được nữa, bèn xin tạ lỗi với chư Phật để ngưng ăn chay,
vì dù sao đứa nhỏ cũng đã thi đậu rồi.
Trong
trường hợp ví dụ vừa kể, ăn chay chẳng những không có gì là
Phật giáo cả, mà còn là một cực hình nữa. Chư Phật luôn luôn
thương xót chúng sinh, không bao giờ bày ra những cực hình
như thế. Vô minh đã kích động ta và xúi dục ta chọn lấy sự
đau khổ cho chính ta mà thôi.
Thật
sự vô minh hiển hiện ở mọi thể dạng. Chẳng hạn, dù cho người
ăn chay xem lời nguyện của mình là một việc phấn khởi đi nữa
: ăn chay với lòng hân hoan để trả nợ chư Phật, để giữ cho
tròn lời hứa của mình. Sau ba tháng người này thấy nhẹ nhỏm
và xung xướng. Cái nhẹ nhỏm đó, cái xung xướng đó là do nơi
tâm thức tạo ra để lừa phỉnh ta, đó là cái xung xướng phù
du, vô nghĩa và sai lầm của thế tục. Nói cách khác, những
cảm thọ ấy, dù là khổ thọ hay lạc thọ, cũng đều do nơi vô
minh tạo ra cho ta.
Ví
dụ thứ 2 : Có hai người ăn chay theo tinh thần Phật
giáo, ăn chay rất nghiêm túc mỗi tháng hai lần vào ngày rằm
và ngày mùng một. Một người bán cá và một người đi chợ mua
cá. Người bán cá ở chợ đang chặt đầu ếch lột da và ném vào
một cái thau cạnh bên. Người mua bước đến chọn một con cá
lóc. Người bán vẫn tiếp tục chặt đầu ếch và ra giá. Ngã giá
xong, người bán nắm đầu con cá lóc phía dưới mang, lấy một
khúc cây đập lên đầu con cá nhiều lần thật mạnh, con cá giẫy
giụa, tiếp theo người bán cá vừa cầm dao gọt da và vẩy cá,
vừa hàn huyên với người mua. Con cá chưa chết hẳn, khi gọt
da, nó lại giẫy giụa, người bán cá lại cầm khúc cây đập thêm
vài cái nữa vào đầu. Gọt vẩy xong, người bán cá chặt bỏ hai
mang cá, chặt đuôi, chặt vây, chặt mõm cá gần tới vị trí của
hai mắt, lưỡi cá lòi ra khỏi miệng, sau đó bỏ cá vào một cái
bao và đưa cho người mua. Trong khi chờ người mua đếm tiền
thì người bán cá lại tiếp tục chặt đầu ếch. Trong thau,
những con ếch mất đầu và bị lột da vẫn co giật hai tay và
hai chân, vì chưng hệ thống thần kinh của ếch không tập
trung hết ở não, nhưng còn phát triển dọc theo tủy xương
sống nữa.
Ăn
chay để phát lộ lòng tư bi, nhưng trước cảnh những con vật
đang bị hành hạ và chịu đau đớn, cả hai người mua và bán
không tỏ lộ một chút xúc cảm nào cả. Chẳng qua vì những hình
ảnh đó quá quen thuộc và có vẽ tự nhiên như thế. Vì cuộc
sống, nếu bắt buộc phải bán và phải mua, thì ít ra ta cũng
giữ yên lặng để nhìn thấy cái khổ đau và chịu đựng của những
sinh vật đang bị hành hạ trước mặt ta, đấy là thái độ tối
thiểu của một người tu Phật. Ăn chay đối với hai người vừa
kể trên đây không có một ảnh hưởng gì trong tư cách và hành
vi của họ. Vô minh đã che lấp tâm thức họ. Vô minh trong
trường hợp này phát sinh từ thói quen, từ vô tâm, từ những
hiểu biết quy ước không suy xét, từ giáo dục và lối sống
trong xã hội mà họ đã hấp thụ từ nhỏ. Để phá vỡ thứ vô minh
này ta phải tỉnh thức, quán xét và phân tích những hiện
tượng chung quanh ta. Tóm lại hành vi ăn chay của hai ngươi
vừa kể trên đây không có một ý nghĩa gì về Phật giáo, hay ít
ra cũng không có một lợi ích gì cả. Có thể xem như một thứ
cảm thọ trung hoà, tức xả thọ hay vô cảm.
Ví
dụ thứ 3 : Trường hợp những người ăn chay trường theo
tinh thần Phật giáo, đó là trường hợp tăng đoàn nơi chùa
chiền và một số cư sĩ tại gia. Ăn chay đối với họ là một
việc tự nhiên. Ăn chay trường giúp cho họ không suy nghĩ gì
và không thắc mắc gì nữa về sự chọn lựa món ăn, không tìm
cách ăn ngọn, không lo nghĩ tìm kiếm nhà hàng nào có món ăn
đặc biệt, các món đặc sản để thưởng thức…Kinh sách Bắc tông
thường đưa ra hình ảnh sau đây : một người Bồ-tát không thể
nghĩ đến việc ăn thịt một sinh vật, cũng như một người mẹ
không thể nào nghĩ đến việc ăn thịt đứa con do chính mình
sinh ra. Ý nghĩ ăn thịt thoát ra ngoài tâm thức của họ, nói
một cách khác tâm thức của họ đã được giải thoát khỏi một
phần nhỏ những vướng mắc trùng trùng điệp điệp của thế gian
này.
Những
người ăn chay trong trường hợp thứ 3 trước hết có mục đích
giữ giới, tiếp theo đó là vì lòng tư bi. Giữ giới vì Phật đã
dạy như sau trong Lăng già kinh (Lankavatara-sutra) : «
Không đúng khi cho rằng hợp lý và có quyền ăn thịt một
con vật không phải do chính ta [là một người tu hành] đứng
ra giết nó, hay không phải do chính ta sai kẻ khác giết nó
(…). Có thể rồi sau này cũng có người (…) dưới ảnh hưởng của
sự ham thích ăn thịt sẽ dựng lên hàng loạt những luận chứng
phức tạp để bào chữa cho hành vi ăn uống của mình (…), ăn
thịt dù dưới hình thức nào, bằng cách thức nào hay bất cứ
nơi nào, dứt khoát phải tuyệt đối cấm đoán, không có một
ngoại lệ nào cả (…). Ta không cho phép bất cứ ai ăn thịt, Ta
cấm hẳn việc ăn thịt, và Ta sẽ còn vĩnh viễn cấm việc ấy
(…) ». Câu trên đây tôi trích dịch lại từ một quyển sách của
Philip Kapleau, một thiền sư Phật giáo người Mỹ (A buddhist
cases for vegetarism, Ed. Rider, London, 1983, tr. 29).
Lục
tổ Huệ Năng, sau khi thừa kế tổ Hoằng Nhẫn phải bỏ trốn và
sinh sống với những người thợ săn, đã kể chuyện như sau
trong Kinh Pháp Bảo đàn : « Khi nấu ăn, họ [tức những
người thợ săn] nấu chung rau cải với thịt trong một nồi. Khi
họ mời tôi ăn, tôi trả lời với họ rằng trong dĩa thịt tôi
chỉ ăn rau mà thôi ». Việc cấm sát sinh được nhắc đi
nhắc lại trong vô số kinh điển Phật giáo : Luật tạng
(Vinaya-Nikaya), Tăng nhất bộ kinh (Anguttara-Nikaya, Tương
ưng bộ kinh (Samyuttara-Nikaya)…Giới luật là một thành phần
của Đạo Pháp, Đạo Pháp vô Giới luật sẽ không còn phải là Đạo
Pháp. Nếu Phật giáo không chủ trương ăn chay thì Phật giáo
có thể sẽ không còn là Phật giáo nữa, và biết đâu Phật giáo
cũng không còn tồn tại đến ngày nay.
Ăn
chay còn có ý nghĩa cao hơn là hành vi giữ giới. Phật giáo
tập cho ta nhận thức được sự khổ đau cùng khắp trong thế
giới luân hồi. Ăn chay để làm giảm bới đi những khổ
đau đó cho chúng sinh, tập cho ta trở thành một người « bất
bạo động ». Người ăn chay theo ý nghĩa của Phật giáo là một
người « thật can đảm », « bất hợp tác », «
đứng ra ngoài » và « không tự trói mình »trong chuỗi dài bất
tận của thèm khát và giết chóc. Nhưng cũng cần chú ý rằng
nếu người ăn chay cố chấp vào việc ăn chay, câu nệ và cẩn
thận từng ly từng tí, không đụng chén đụng đủa với người ăn
thịt », cũng là một hình thức của sự bám níu, đi ngược với
giáo lý nhà Phật.
Tôi
xin trở lại cảm nghĩ đã nêu lên trong phần nhập đề, tức cái
cảm giác đẩy một cánh cửa đã mở rộng khi nêu lên chủ đề ăn
chay. Nhưng hầu hết những gì tôi được đọc và được nghe đều
giống như một cánh cửa đẩy ra phía bên ngoài, hướng tâm thức
ta vào thân xác tứ đại của ta, hoặc phóng tâm thức ta xa hơn
vào môi sinh chung quanh : ăn chay để giữ giới, bảo vệ thân
xác tinh khiết, thực thi lòng từ bi. Mặc dù cánh cửa đã được
mở rộng như thế, nhưng tôi đề nghị chúng ta cứ bạo dạn tiếp
tục đẩy cánh cửa, nhưng đẩy vào phía bên trong để bước thẳng
vào tâm thức ta, quán xét sự tương liên của tâm thức ta và
hành vi ăn chay xem sao ?
Thật
vậy, ăn chay không phải đơn giản chỉ để giữ giới, không phải
cầu mong cho thân xác được tinh khiết, cũng không phải để
cứu vớt một số chúng sinh…Dù ăn chay trường ta cũng không
cứu vớt được bao nhiêu sinh linh trước sự tàn phá của vô
minh và bản năng tham ăn và thích ăn của con người. Nếu ý
nghĩa ăn chay dừng ở mức độ như vừa kể trên đây, ta vẫn còn
vướng trong sự trói buộc của vô minh. Nhất định ăn chay phải
có một ý nghĩa cao cả hơn, tích cực hơn thế nữa.
Ăn chay là một phương thức tu tập hằng ngày của ta, luôn
luôn nhắc nhở ta về lòng từ bi. Ăn chay để cải thiện chính
tâm thức ta, giúp cho tâm thức an bình hơn, từ bi hơn, một
tâm thức trong sáng, rộng lớn và bén nhậy, bén nhậy trước
khổ đau của chúng sinh. Khi lòng từ bi được khai triển đến
cực độ sẽ đưa tâm thức đến Trí tuệ. Trí tuệ tức là Giác ngộ.
Lòng từ bi như thế mới gọi là Từ bi của Phật giáo. Ăn chay
như thế mới gọi là ăn chay theo Phật giáo. Đó là một hành vi
tích cực, cao cả, can trường và bất bạo động. Thức ăn chay
là thực phẩm nuôi nấng lòng Từ bi, Từ bi là mảnh đất
giúp cho Trí tuệ nẩy mầm và phát triển. Một vị Bồ-tát tham
thiền trong một hang động trên núi cao, chịu lạnh, chịu đói,
không phải để cứu vớt một vài con vật trong lò sát sinh,
nhưng để phát lộ và khai triển lòng Từ bi vô biên, trải rộng
lòng Từ bi đó ra tám phương trời, mười phương Phật, để đến
gần với từng sinh vật nhỏ bé trong bốn miền không gian.
Ăn
chay phải tích cực và phải biết xử dụng việc ăn chay như một
phương pháp tu tập của tâm thức. Ăn chay mà vô cảm hay xả
cảm, chỉ là một hành vi vô ích mà thôi. Đến đây, ta thử lạm
bàn xa hơn, cao hơn nữa, đưa tâm thức vượt lên trên mọi khái
niệm nhị nguyên của ăn chay và không ăn chay, vượt lên trên
mọi sự gò bó, bám níu, câu nệ của giới luật, của tích lũy
đạo hạnh, của từ chương trong kinh sách, vượt lên trên những
gì đã được trình bày trên đây. Tóm lại đây là một chủ đề khá
rộng, vì vậy tôi xin phép được mở thêm một phân đoạn mới nằm
hẳn ra bên ngoài phân đoạn thứ ba.
4.
Ăn chay, môi sinh và sự sống
Dù
cho ta có mở rộng cánh cửa ăn chay về phía trong để bước
thẳng vào tâm thức ta, nhưng nếu ta vẫn còn phân biệt bên
trong và bên ngoài, phân biệt tâm thức ta với ngoại cảnh,
với môi sinh, với những sự sống khác, phân biệt giữa sự sống
của ta và sự sống của mọi sinh linh, trong trường hợp như
thế ta vẫn còn ý thức và bám níu một cách gián tiếp vào ý
tưởng về « sự sống của chính ta » ; để nuôi dưỡng sự sống đó
ta quyết định « ăn hay không ăn » « sự sống của những sinh
linh khác ». Khi còn phân biệt như thế tức là ta vẫn còn bám
chặt vào cái ngã. Vậy ta hãy tìm hiểu và nhận định vị trí
của thân xác, của tâm thức và sự sống của chính ta trong thế
giới chung của mọi sinh linh xem sao.
Một
vài tác giả Phật giáo viết bài binh vực chủ trương ăn thịt
cá của mình bằng cách dùng luận cứ cho rằng những người ăn
chay khi luộc rau cũng đã sát hại vô số sinh linh nhỏ bé
trong rau cỏ và trong nước. Nhận xét này rất đúng, vì ta
không thể hoàn toàn tránh hết mọi hung bạo, ngược đãi đối
với tất cả chúng sinh, dù vô tình hay cố ý, dù chủ trương
bất bạo động hay tu khổ hạnh cũng vậy. Từ hơn hai ngàn năm
trăm năm trước, khi loài người chưa có kính hiển vi, Phật đã
dạy ta rằng trong một giọt nước cũng có vô lượng chúng sinh.
Khi uống một ngụm nước, khi tắm rửa…là ta đã đưa sự sống của
ta va chạm và làm thiệt hại đến sự sống của những sinh linh
khác. Nhưng nên hiểu rằng, sự sống của những vi sinh vật ấy
còn thô sơ lắm, chưa có những xúc cảm, chẳng hạn như lo sợ
hay thương yêu, giống như những sinh linh hữu tình tiến hoá
hơn.
Vậy,
chúng sinh nói chung và sự sống thật sự là gì ? Kinh sách
chia thế giới luân hồi làm ba lãnh vực hay cõi, gọi là tam
giới (tridhatu) : dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
Cõi
dục giới (kamadhatu) gồm có sáu loại chúng sinh phân bố theo
sáu cấp bậc tiến hoá từ thấp lên cao : địa ngục, quỷ đói (preta),
súc sinh, con người, chư thần (asura) và chư thánh (hay chư
thiên). Tuy nhiên, con người cũng có thể lâm vào cảnh địa
ngục, chẳng hạn như bị tù tội, đọa đày, rơi vào cảnh đói khổ,
bị ngược đãi và nô lệ, hoặc trở thành hung dữ, tham lam và
nham hiểm như quỷ đói, hoặc đần độn và khờ khạo như hàng thú
vật, hoặc cao cả như chư thần hay chư thánh. Nhưng đặc tính
chung của những sinh linh có giác cảm, còn gọi là chúng sinh
hữu tình, trong cõi dục giới là muốn ăn, muốn dâm và sợ chết.
Đó là những bản năng sâu kín nhất và tiêu biểu nhất của
chúng sinh nơi cõi luân hồi, và đó cũng là những động cơ
mãnh liệt nhất buộc chặt chúng sinh trong chu kỳ bất tận của
tái sinh và hiện hữu. Những bản năng đó là nguồn gốc của vô
minh nguyên thủy. Ăn chay là để hoá giải bản năng muốn ăn và
vô minh tham sống của ta.
Sinh
linh trong cõi dục giới có mười chín khả năng gọi là những
khả năng ô nhiễm, những khả năng này gồm có : sáu khả năng
giác cảm (ngũ quan và tâm thức, Phật giáo xem tâm thức là
giác cảm thứ sáu) ; khả năng sinh tồn (sự sống) ; hai khả
năng dục tính (tính dục đực và cái, hay là tính dục nam và
nữ) ; năm khả năng tạo nghiệp (xấu hay tốt) phát xuất từ
hành vi : khả năng cảm thấy sự sảng khoái (sukhendriya), đau
khổ (duhkhendriya), thích thú (saumanassyendriya), khổ đau
tinh thần (daurmanasyendriya), và vô tâm (upeksendriya) ;
năm khả năng đạo hạnh của thế tục là : lòng tin (sraddhendriya),
sự cần mẫn (viryendriya), tinh tấn (smrtindriya), thiền định
(samadhindriya), và sự hiểu biết minh bạch (prajnendriya).
Để
cho đầy đủ, tôi kể ra đây hai cõi khác của tam giới, nhưng
không đi vào chi tiết. Hai cõi này là cõi sắc giới và cõi vô
sắc giới. Cõi Sắc giới là cảnh giới của chư thánh, tức những
sinh linh còn mang hình tướng (đặc tính của vật chất), nhưng
những sinh linh này chỉ còn mang mười lăm khả năng, bớt được
một số khả năng như khả năng dâm tính và ba trong tổng số
năm khả năng tạo nghiệp. Cõi vô sắc giới là cảnh giới của
những vị đại thiên, những sinh linh vượt ra khỏi hình tướng
vật chất và họ chỉ còn giữ lại tám khả năng : bớt được bảy
khả năng về hình tướng (năm khả năng giác cảm và hai khả
năng dục tính, chỉ còn lại khả năng tâm thức), đồng thời
cũng bớt thêm được bốn trong số năm khả năng tạo nghiệp.
Trên
đây là những gì kinh sách mô tả. Trên thực tế, trong cõi dục
giới, ta nhận biết dễ dàng các loại sinh linh sống chung
đụng và sát cánh nhau trong nhiều cấp bậc, từ địa ngục của
ngạ quỷ (những cảnh đọa đày), quỷ đói (những người nham hiểm
và ác độc), súc sinh và những sinh linh đần độn và khù khở (súc
vật), tiếp theo là con người và trên nữa là những sinh linh
tinh khiết và cao cả. Hai cõi sắc giới và vô sắc giới cao
hơn và tinh tế hơn so với cõi dục giới, vượt ra khỏi sự nhận
biết nhị nguyên và quy ước của ta, kể cả khoa học. Những
sinh linh trong hai cảnh giới này vẫn còn chung đụng với
chúng ta trong thế giới luân hồi, nhưng chỉ có một số nhỏ
trong chúng ta có tâm linh bén nhậy và vi tế nhờ vào sự tu
tập lâu dài, mới cảm nhận và tiếp xúc được được những cảnh
giới đó và những sinh linh trong những cảnh giới đó. Biết
đâu ta đã từng gặp gở trước mặt những sinh linh tinh khiết,
chẳng hạn như những thánh nhân trong cõi sắc giới (vì vẫn
còn phần vật chất), nhưng ta không « thấy » được họ vì vô
minh che lấp. Sinh linh trong cõi vô sắc giới hoàn toàn
không còn mang khả năng vật chất (tức năm giác cảm) chỉ còn
phần tâm thức mà thôi, vì vậy nhận biết và tiếp xúc với
những sinh linh ấy còn khó cho ta hơn nữa.
Trên
phương diện khoa học, cõi dục giới của chúng ta được mô tả
như thế nào ? Khoa học chia cõi này thành ba giới : giới
khoáng vật, giới thực vật và giới động vật. Giới khoáng vật,
nói chung là giới vật chất, không hàm chứa sự sống. Nhưng
giới đó cũng biến động, thoái hoá và tạo tác không ngừng,
tùy thuộc vào các điều kiện. Chẳng hạn như nước dưới không
độ sẽ đông cứng, trên 100° C sẽ bốc thành hơi. Muối ăn hòa
tan trong nước, ta không thấy muối, nhưng khi nước bốc hơi,
độ đậm đặc trở nên cao hơn, muối sẽ kết thành tinh thể.
Những biến dạng này khá đơn sơ, tùy thuộc vào một vài điều
kiện và dễ nhận thấy. Tuy nhiên, giới vật chất còn phức tạp
và biến động một cách « tinh vi » hơn thế rất nhiều, khoa
học cho thấy ranh giới giữa vật chất và năng lượng không thể
phân biệt được một cách minh bạch, đối với thế giới cực vi (vật
lý lượng tính) hay cực đại (thiên văn học) phải dùng những
máy móc tối tân và toán học để chứng minh hay phỏng đoán
những gì không thể hiểu hay quan sát trực tiếp được. Tất cả
những biến động đó, từ thô thiển đến tinh vi của thế giới
vật chất, Phật giáo gọi chung là sự tạo tác bằng điều kiện,
vì thật sự không có một vật thể nào hay một hiện tượng nào,
dù vi tế hay thô thiển, tự nó độc lập cả, kể cả không gian
và thời gian, tất cả đều tùy thuộc vào điều kiện. Một phần
những vật thể biến động ấy tạo ra tứ đại của thân xác ta,
hoặc nói rộng hơn là « thân xác » của tất mọi chúng sinh
trong cõi luân hồi.
Ngoài
giới khoáng vật là hai giới thực vật và động vật. Thông
thường ta chỉ nhìn thấy hai giới này ở thể dạng đa bào (nhiều
tế bào kết hợp, chẳng hạn như những sinh vật thấy được bằng
mắt). Thế giới của những sinh linh cực thô sơ, như siêu
trùng, vi khuẩn cho đến thực vật và động vật đơn bào, cần
phải dùng các phương pháp khoa học để quan sát, như kính
hiển vi chẳng hạn. Vì chúng quá nhỏ ta không thấy, nhưng
thật sự chúng đông lắm, hiện diện ở khắp mọi nơi trong không
gian, trong những môi sinh khắc khe nhất, trên thân xác ta,
trong ngũ tạng của ta, trong miệng, trong mũi, trong nách,
trong háng, trong hậu môn của ta…Chúng tạo ra lợi ích cũng
có và tai họa cũng có : chúng là thành phần cơ bản của thức
ăn cho sinh vật đa bào, và cũng là nguồn gốc của bịnh tật,
tai ương, truyền nhiễm, và có thể giết hại vô số những sinh
linh khác.
Các
sinh vật đơn bào thuộc hai giới thực vật và động vật không
khác nhau nhiều, các nhà sinh học cho biết ranh giới phân
chia giữa hai giới này rất mong manh ở thể dạng đơn bào.
Nhưng khi kết hợp để tạo ra những sinh vật đa bào thì khác,
động vật có nhiều khả năng hơn. Kinh sách cho biết trong cõi
dục giới của chúng ta, sinh linh hữu tình có 19 khả năng :
giác cảm, sinh tồn, dục tính, tạo nghiệp v.v., như đã kể ra
trên đây. Trong khi ấy, trong giới thực vật, các khả năng
như thế không có, hoặc rất thấp. Chính là dựa vào điểm then
chốt này này mà người ăn chay chỉ ăn thực vật mà thôi. Tuy
nhiên, trong giới thức vật, sự sống lắm khi cũng khá phức
tạp. Chẳng hạn như cây mắc cỡ, còn gọi là cây xấu hổ hay gọi
một cách văn hoa là cây trinh nữ, cũng biết cách tự vệ trước
nguy hiểm bằng cách co rúm lá và cuống lá khi bị vật nào đó
đụng chạm. Đây là những phản ứng thô sơ do sự teo nhỏ hay
trương nở các tế bào ở nách lá và cuống lá gây ra bởi hiện
tượng hút nước hay thải nước liên hệ với các tế bào chung
quanh. Khám phá khoa học mới nhất và gần đây về thực vật cho
biết rễ của vài loại cây tiết ra độc tố giết hại các cây
khác chung quanh để tranh giành môi trường sống riêng cho
chúng. Có những thí nghiệm cho thấy khi trồng cây và đồng
thời vặn nhạc êm dịu thường trực thì cây cối sẽ xanh tốt và
mau lớn, những hiện tượng này khoa học không giải thích được.
Sự
sinh sản (dục tính) của cả hai phái thực và động vật ở thể
đơn bào có thể xảy ra bằng cách chia cắt tế bào làm hai,
hoặc bằng cách phối hợp hai tế bào đực và cái. Hoa đực và
hoa cái là dục tính khá phức tạp của thực vật. Nhân giống vô
tính (clonage) rất thông thường trong giới thực vật (giâm
cây, chiếc cây, cấy mầm… không cần hột), ngày nay khoa học
cũng có thể nhân giống động vật tiến hoá (trường hợp con
trừu Dolly).
Trước
sự phức tạp đó của sự sống, hành vi ăn chay phải định nghĩa
như thế nào và đứng vào vị trí nào bây giờ ? Nếu cố chấp vào
việc ăn cái này là chay, ăn cái kia không phải chay, thì ta
sẽ gặp nhiều trường hợp bối rối. Tóm lại, ranh giới giữa
động vật và thực vật không phải là tiêu chuẩn tuyệt đối, mà
chỉ là tiêu chuẩn tốt nhất, để định nghĩa việc ăn chay. Ta
thấy rằng muốn nhận định vị trí và sự tương liên của ta đối
với các sinh linh khác trong cõi dục giới nói riêng và cõi
ta bà hay luân hồi nói chung rất khó, nhận định vị trí và
mối tương liên đó của ta trong sự sống theo những hiểu biết
khoa học cũng không phải chuyện dễ : vì tất cả mọi hình thức
của sự sống liên hệ với nhau, liên kết với nhau, hổ tương
cho nhau và hũy hoại lẫn nhau. Trong bối cảnh tương liên như
thế, xác định việc ăn chay cũng rất tế nhị. Ta có nên vượt
lên trên sự gò bó của ăn chay, ăn cái này không ăn cái kia,
để hoàn toàn hội nhập với sự sống hay chăng ? Điều này có
thể là một lối thoát : quên cái ngã của ta, đem sự sống của
riêng ta hội nhập với sự sống của muôn loài chúng sinh ? Khi
ý thức được như thế, ta sẽ hiểu rằng hành vi ăn chay có
nghĩa là sự kính trọng, yêu thương sự sống của muôn loài và
trong sự sống đó có cả ta nữa, nhưng sự hiện diện của ta
hoàn toàn vô nghĩa, chỉ là một sự tham dự rất nhỏ, rất khiêm
tốn mà thôi.
Ernst
Haeckel (1834-1919), một nhà động vật học và phôi học nổi
tiếng người Đức, nhận thấy quá trình hình thành của bào thai
(phôi), của một hài nhi chẳng hạn, bắt đầu từ dạng thể đơn
bào sau đó là dạng thể kết hợp đa bào của sinh vật thô sơ,
tiếp theo là dạng thể cá của thai nhi trong một bọc nước với
mang và đuôi, kế tiếp là đặc tính của ếch nhái, bò sát và
loài có vú. Sự hình thành của thai nhi lập lại tất cả chu
trình tiến hoá của giới động vật. Ông đã đưa ra một câu
tuyên bố nổi tiếng : « Sự hình thành của phôi là cách tóm
lược ngắn gọn từ sự hình thành của cả chủng loại » (L’ontogénèse
est une courte récapitulation de la phylogénèse –
Ontogenesis is a short recapitulation of phylogenesis). Nếu
đúng như thế thì một cá thể cũng liên hệ mật thiết với quá
khứ và suốt quá trình tiến hoá của chủng loại hay cả sự sống
nói chung. Quá trình tiến hoá đó kéo dài hàng tỷ năm, từ một
vi sinh vật thô sơ cho đến những động vật phức tạp như giống
người ngày nay trên địa cầu. Nhận xét của E. Haeckel cũng là
một phản ảnh về triết lý của khái niệm tương liên trong Phật
giáo, sự tương liên này bao hàm cả quá khứ, hiện tại và
tương lai của sự sống, của tất cả mọi sinh linh.
Tóm
lại, khi nhận định được những hiểu biết trên đây, ta sẽ hiểu
rằng cách cư xử thân thiện, yêu thương, tránh mọi hung bạo
một cách vô ích đối với tất cả mọi sinh linh, từ bỏ cái ngã
của ta, hội nhập một cách hài hoà với tất cả mọi hình thức
của sự sống chung quanh ta, từ một cánh hoa đến cọng cỏ, từ
con người đến thánh nhân cho đến những côn trùng trong cỏ
dại, kính trọng và yêu thương mọi dạng thể của sự sống trong
quá khứ, trong hiện tại và trong tương lai, mới đúng thực là
cách cư xử của một người tu Phật. Cách cư xử phóng khoáng và
rộng lớn như thế vượt lên trên khái niệm đơn giản về ăn chay.
Ăn chay chỉ là một phương tiện cần thiết cho việc tu tập,
trong mục đích phát triển lòng Từ bi mà thôi.
5. Kết luận
Ăn
chay theo sự hiểu biết của khoa học để giúp cho thân xác ít
bịnh tật hơn không có gì là Phật giáo cả, vì dù cho khoẻ
mạnh đến đâu thân xác đó sớm hay muộn cũng gặp vấn đề, nó
không thể tránh khỏi bịnh tật và cái chết. Xem ăn chay như
một hình thức mua bán hay trao đổi với chư Phật là tự tạo
cho mình một món nợ hay một cực hình, như thế thật là nguy
hại cho thân xác và tâm thức. Ăn chay nhưng hoàn toàn vô tâm
trước khổ đau của chúng sinh là một hành vi vô ích. Ăn chay
để phát lộ lòng Từ bi, kiến tạo một mảnh đất cho Trí tuệ mới
đúng thực là ăn chay trong tinh thần Phật giáo. Ăn chay
nhưng đồng thời vượt lên trên ý niệm của ăn chay và không ăn
chay, để hội nhập một cách hài hoà giữa tâm thức ta, thân
xác ta với tất cả những sinh linh dù nhỏ bé cách mấy, dù vô
hình hay hữu hình, thuộc quá khứ hay vị lai, dù đần độn và
đáng thương, dù hung dữ như quỷ đói hay hiền hoà và cao
thượng như chư thiên và chư thánh trong thế giới chung quanh
ta nơi cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới, làm được như
thế lại còn tốt hơn nữa.
Để
góp thêm vào phần kết luận, tôi xin chép ra đây một bài thơ
tôi làm đã khá lâu. Bài thơ xoay quanh hai chủ đề : chủ đề
thứ nhất là khái niệm về tương liên, tương tác, tương
tạo của mọi vật thể và mọi hiện tượng trong thế giới chung
quanh ta, chủ đề thứ hai là tính chất biến
động, hủy hoại liên tục và bất tận của mọi vật thể và sự
sống nói chung. Trong sự biến động liên tục đó ta
không thấy cái ngã của ta ở đâu cả. Kết luận của bài thơ là
nụ cười của Phật, tượng trưng cho Giác ngộ.
Bức
tượng gỗ
Trên
bệ, bức tượng Phật ngồi im,
Tôi
nghe âm vang từng thớ gỗ,
Có
tiếng chim trong rừng,
Cả
tiếng rì rào của lá,
Thì
thầm, tiếng hẹn hò của xâu.
Trên
đường vân mặt gỗ,
Tôi
thấy màu xanh trên cành,
Ửng
ánh hồng màu mây.
Trên
vết gân kẻ nứt, có nắng ấm mặt trời,
Mạch
tế bào hơi thở.
Trên
hình thù nét mặt, có bóng hình người thợ.
Trong
ánh mắt hiền hòa, có bàn tay người khắc.
Thấm
trong từng mạch gỗ,
Dòng
nhựa cây từ đất,
Mạch
nước nguồn từ sông.
Trong
hương, Tượng ngồi im trên bệ.
Khói
mê, tôi ngồi im trên chiếu.
Bỗng
tôi nghe tiếng gặm nhấm,
Của
mối mọt trong cây ?
Của
xâu bọ trong chiếu ?
Xác
thân tôi, vi sinh vật đông đảo như cát cửa sông Hằng,
Chúng
đang sống, sinh xôi và gặm nhấm.
Giật
mình trong hốt hoảng,
Ngước
nhìn lên, qua khói mỏng :
Hiền
hòa và nhân hậu,
Phật
mỉm cười trong hương.
Các
nhà khoa học nói rằng trên mỗi phân vuông của thân ta có
khoảng 200 000 vi sinh vật thuôc loài xâu bọ, loại ve (acariens),
sinh sống nhờ hơi ẩm của mồ hôi, hơi ấm của da thịt và nhờ
lớp da chết đào thải dùng làm thức ăn. Trong miệng, mũi,
tai, mắt, nách, háng, hậu môn, cơ quan sinh dục... có vô số
vi sinh vật sinh sống. Trong ruột, bao tử,... hàng triệu vi
trùng sống chung với ta, vừa ký sinh vừa giúp đỡ ta trong
việc tiêu hóa, hấp thu chất dinh dưỡng,... Không có chúng
thì xác thân ta có tồn tại được chăng ? Chúng dính liền với
sự hiện hữu của xác thân này. Ngoài ra cũng còn có những vi
trùng đang chờ đợi hoặc đang âm ỉ tàn phá ta. Vậy thì xác
thân là nhà của ta hay là đất của chúng ? Hay chĩ là mảnh
đất chung mà thôi. Thương chúng tất thương ta, thương ta hóa
ra là thương chúng.
Bổng
tôi giật mình và hoảng hốt, một luồn chấn động lan truyền
khắp mạch máu và tế bào trong cơ thể tôi. Nhìn lên, trong
cái bất động của Tượng gỗ, tôi thấy sức sống của cả vũ trụ
này, liên đới và buộc chặt với cái tồn vong và hạnh phúc của
từng vi sinh vật trong xác thân tôi, và trong sâu thẵm của
yên lặng mênh mông nơi gương mặt Tượng gỗ, tôi chợt thấy một
nụ cười.
Tôi
xin quỳ xuống và úp mặt lên chiếu, ước mong vạn vật bất cứ ở
hình thức nào, từ hạt cát, cọng cỏ, cho đến những sinh vật
bên trong và bên ngoài xác thân tôi, dù nhỏ nhoi cách mấy,
hữu hình hay vô hình, trong lòng đất sâu, trên mặt địa cầu
hay bên ngoài vũ trụ, ngạ quỷ hay thánh nhân, nơi a tì hay
thượng giới, tất cả đều được an vui và hạnh phúc. Mong lắm
thay, ước mơ lắm thay.
Tôi
xin được ngàn năm úp mặt xuống chiếu để gần gủi với cái hạnh
phúc của muôn loài sinh vật quanh tôi, trên thân thể tôi và
trong xác thân tôi. Chúng tôi xin nhường nhịn nhau, chia xẻ
với nhau từng hơi thở ấm cho đến những rung cảm mong manh
phát sinh trên mảnh đất chung vô nghĩa và nhỏ nhoi này, tôi
chỉ dám ước mơ xin được giữ lại cho tôi một nụ cười.
Bures-Sur-Yvette
(France), 17.02.07
Hoang Phong
Vài
Nét Về Tác Giả:
Tác giả là có tên thật là Nguyễn Đức Tiến, Bút hiệu : Hoang
Phong, sinh năm 1939, về hưu năm 1999. Hiện là hội viên Hội
Thiền Học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale) và
đang sống tại Pháp Quốc. Ông tốt nghiệp Tiến sĩ Khoa học và
đã từng là Giảng sư Đại học Khoa Học Saigon và Cựu Địa chất
gia và Kỹ sư tầm khỏa công ty dầu khí TOTAL, Pháp
Source:
thuvienhoasen.org