Ý-NGHĨA NIẾT-BÀN
CHÁNH-TRÍ
(Phụ trương Từ Quang tạp
chí, do Hội Phật học Nam Việt ấn
tống, năm ?)
Source: Thư Viện Hoa Sen
Theo
Kinh-điển Hán-văn, hôm nay rằm tháng
2 âm-lịch là ngày Phật nhập
Niết-bàn.
Cùng một việc dứt thở, bỏ xác,
tại sao ở người thế-gian, gọi là
chết, còn ở Phật lại gọi là
“nhập Niết-bàn”? Vậy sự sai
khác giữa đôi đàng như thế nào
và Niết bàn có nghĩa là gì?
Đó là hai điểm mà tôi xin
đề-nghị cùng chư quý
đạo-hữu tìm hiểu, xuyên qua các
sách vở đã được viết ra
rất nhiều về vấn-đề này.
{
Trước tiên, chúng ta hãy nghe Kinh
Bại-bát Niết-bàn nói về giờ
phút trước khi và trong khi Phật nhập
Niết-bàn.
Như Lai
liền nói bài kệ:
Các
hành vô-thường
Là
pháp sinh-diệt.
Diệt
sinh-diệt rồi,
Tịch-diệt
là vui”.
Đại ý bài kệ nói rằng
sự-vật không thường còn, vì
đó là những thứ hễ có sinh ra
là phải có diệt đi, nghĩa là
có sinh là có tử, có đầu là
có đuôi, có khởi đoan là có
chấm dứt. Nếu diệt được cái
“sinh diệt” ấy tức là nếu chấm
dứt được sự “sinh tử”, thì
được cái vui gọi là “tịch-diệt”.
Sinh-tử đây là sinh-tử của thân,
là vật sinh-diệt. Vì vậy Như-Lai
nói tiếp:
“Các
vị nên biết, hết thảy mọi
hành-tướng đều là
vô-thường. Thân tôi nay, tuy là thể
kim-cương, vẫn không khỏi lẽ
vô-thường biến thiên. Trong nẻo
sinh-tử rất đáng sợ-hãi, các
vị nên siêng làm hạnh tinh-tấn, cầu
mau ra khỏi hố lữa sinh-tử này, đó
là lời dạy cuối cùng của tôi.
Thời nhập Niết-bàn của tôi đã
đến”.
PHẨM PHÓ-CHÚC
“Ngay khi ấy Như-Lai vào Sơ-thiền; ra
Sơ-thiền, vào Nhị-thiền; ra
Nhị-thiền, vào Tam-thiền; ra Tam-thiền
vào Tứ-thiền; ra Tứ-thiền vào
Không-xứ; ra Không-xứ, vào Thức-xứ;
ra Thức-xứ, vào Vô-sở-hữu-xứ; ra
Vô-sở-hữu-xứ, vào Phi-tưởng
phi-phi-tưởng-xứ; ra Phi-tưởng
phi-phi-tưởng-xứ vào
Diệt-tận-định.
Lúc đó, A-Nan thấy Như-Lai im bặt
không nói, thân thể, chi-tiết không
dao-động, liền sa lệ nói rằng:
“Thế-Tôn nay đã nhập Niết-bàn
rồi!”.
“Bấy giờ A-nâu-lâu-đà (Anurudha)
bảo A-Nan: “Ngay bây-giờ Như-Lai chưa
nhập Niết-bàn đâu! Sở-dĩ Ngài
im-bặt, thân không dao-động, chính
vì Ngài nhập Diệt-tận-định.
Đức Thế-Tôn ra Diệt-tận-định,
lại trở vào Phi-tưởng
phi-phi-tưởng-xứ, và lần-lượt cho
đến vào Sơ-thiền; ra Nhị-thiền,
vào Tam-thiền; ra Tam-thiền, vào
Tứ-thiền. Và, ngay ở nơi ấy, Ngài
nhập Niết-bàn”
.
PHẨM NHẬP NIẾT-BÀN
Hai đoạn kinh trên đã chỉ cho
chúng ta thấy Phật không có
“chết” cái chết của phàm-phu,
mà Ngài đã “nhập định”.
Không phải một nhập-định hữu hạn
mà vô cùng vĩnh-viễn, vì
Ngài đã tận “diệt phiền-não,
sinh-tử, đã lìa mọi tướng, vào
chỗ vắng-lặng vô cùng vô tận”.
Đây là nghĩa đại-khái của danh-từ
“nhập Niết-bàn”.
Bây giờ chúng ta hãy đi sâu vào
vấn-đề để hiểu rõ thêm hơn.
Điểm cần ghi nhớ là đừng nghe
nói Phật “nhập Niết-bàn”, rồi
tưởng Phật đã về một cõi
nào đó, hưởng phước đời
đời, như Thiên-đường của
nhiều Tôn-giáo khác. Cũng đừng
hiểu rằng Phật đã tiêu-tan trong
Hư-vô (Néant), khi đọc kinh-điển
thấy nói Phật “tịch-diệt” hay
“viên-tịch”. Vậy “nhập
Niết-bàn” là đi vào đâu?
Niết-bàn là phiên-âm chữ
Nirvâna của Ấn-Độ, Tàu dịch
nghĩa là Diệt, Người Pháp dịch
là Extinction với cái nghĩa: Thổi trên
ngọn đèn để tắt. Diệt ngọn
lửa mà một hơi thở làm mất
tích, đó gọi là Niết-bàn.
Nhưng ngọn lửa mà một hơi thở,
hơi thở của chúng ta, làm tắt, ngọn
lửa đó là gì?
Một ẩn-sĩ Bà-la-môn hỏi Ngài
Xá-lợi-Phất (Sariputra), một
đại-đệ-tử của Phật:
–
Niết-bàn, Niết-bàn, này ông bạn
Xá-lợi-Phất, đó là gì?
– Sự
tiêu-diệt lòng tham-muốn, sự
tiêu-diệt lòng nóng giận hận thù,
sự tiêu-diệt lòng si-mê sai-lạc,
đó thưa ông bạn, là cái mà
người ta gọi là Niết-bàn. ( SAMYUTTA
NIKAYA )
Vậy Niết-bàn chỉ lả một danh-từ
chỉ cái kết quả cứu cánh của
sự tu-hành theo Phật-giáo mà
mục-đích cứu-cánh là diệt
tam-độc: tham, sân, si.
Để rõ hơn, chúng ta hãy tiếp
nghe lời Phật dạy:
“Người tu nào đã từ bỏ
được thú vui và tham-muốn, đã
đầy đủ trí-huệ, là ngay ở
cõi đời đây, đã đạt
đến sự giải-thoát sinh-tử, sự
tịch-tĩnh, đã đạt đến
Niết-bàn, nơi an dưỡng
thường-tồn, vĩnh-cửu.
Kẻ nào đã ra khỏi những con
đường mòn gạt-gẫm của
Luân-hồi, kẻ nào đã lội qua
bên kia sông và đã tới bờ, giữ
tâm chánh-định, không quá thất,
không nghi hoặc, kẻ nào đã
giải-thoát mọi sự-vật thế-gian và
đạt đến Niết-bàn, kẻ ấy
là một tu-sĩ chân-thực”. SUTTASANGAHA
Niết-bàn
là nơi an-dưỡng thường-tồn,
vĩnh-cửu! Vậy sao bảo Niết-bàn không
phải là một cõi? Xin thưa, những chữ
“nơi an-dưỡng” dùng ở đây
là một lối nói “tạm” để
ám-chỉ cái “thường”, đối
lại với cái “vô-thường”
là cảnh thế-gian. Do đây trong kinh
Dvyatânupassanâ, Phật dạy:
“Cái không tiêu không diệt là
Niết-bàn, hạng người cao-cả quan-niệm
nó như thật có; nhờ thấu-triệt
được sự thật này, họ
được giải-thoát khỏi mọi thèm
khát tham muốn và được
hoàn-toàn an-lạc”.
Vậy Niết-bàn chỉ cái
“Thường”, mà còn chỉ cái
“An-lạc” của những tâm-hồn
giải-thoát. Có giải-thoát, có
diệt dục, mới có Niết-bàn:
“Trong
kẻ từ-bi bố-thí, cây
đạo-đức sẽ mọc lên.
Trong kẻ
tự chế-ngự được, không một
cơn giận hờn nào có thể nổi
lên.
Người
chân-chính gạt bỏ mọi điều ác.
Bởi sự
tận diệt tham, sân, si, ngươi sẽ
đạt đến Niết-bàn”.
MAHÂ-PARINIBBANA SUTTA
Thế thì Niết-bàn phải là một
tâm-trạng không? Cũng không.
Vấn-đề thật là rắc-rối và
khó hiểu. Chính Phật cũng đã
nhìn nhận như thế trong Kinh Udâna như sau:
“Này các đệ-tử, có một
quốc-độ mà ở đấy không có
đất, không có nước, không có
nóng, không có gió(1); không có
không-gian vô tận, không có thức
vô biên, cũng không phải hoàn-toàn
không có gì cả, cũng không có
sự cảm-thọ hay không cảm-thọ, cũng
không có thế-giới này, thế-giới
kia, mà vừa là mặt trời, vừa là
mặt trăng.
Cái ấy, này các đệ-tử, ta
không gọi là khứ, là lai, là trụ,
là sinh, là tử, nó không nhân,
không thành, không diệt. Đó là
chỗ chấm dứt của sự khổ.
Khó mà thực-nghiệm được
cái “thể”; chân-lý không phải
dễ nhiếp-thọ, nắm lấy; kẻ biết
thật biết mới làm chủ được
lòng ham-muốn và kẻ nào thấy thật
thấy mới thấy vạn-vật không có
một giá-trị chân-thật nào
cả”.
{
Từ trước đến đây, chúng ta
thấy Niết-bàn không phải một cõi,
một cảnh, một tâm-trạng, cũng không
phải là cái không ngơ (hư-vô).
Vậy Niết-bàn có hay không có? .
Trong Kinh Na-Tiên Tỳ-kheo, vua Milinda đã
đặt ra câu hỏi ấy. Vả đây
là câu trả lời của Ngài Na-Tiên:
“–
Tâu Hoàng-thượng, có Niết-bàn,
và cái có ấy, có thể lấy
trí mà nhận. Còn hễ là
đệ-tử Phật mà giữ được
tâm thanh tịnh và chánh-trực, thoát
khỏi các nghiệp-chướng, thoát khỏi
được các tham muốn thấp hèn,
thì thấy được Niết-bàn.
– Xin
thí-dụ, nhà Vua nói.
–
Hoàng-thượng biết có một cái
gọi là gió. Vậy xin Hoàng-thượng
chỉ cho tôi coi gió màu sắc gì,
hình dáng ra sao, nó dày hay mỏng, dài
hay vắn?
– Không
thể chỉ được như thế, vì
làm sao nắm bắt nó được, nhưng
dầu vậy, gió là cái gì có.
– Cũng
thế, tâu Hoàng-thượng, Niết-bàn
là cái gì có mà không thể
chỉ cho thiên-hạ thấy hình sắc của
nó.
Cái lý
Niết-bàn, đầy an-lạc, rất
nhiệm-mầu, có. Và người nào ở
ăn chân-chánh, thấu hiểu tánh của
các tướng, tuân hành giáo-pháp
của chư Phật, người ấy ắt thực
chứng Niết-bàn, cũng như một đứa
trẻ học nghề, nhờ thầy chỉ dẫn,
mà rồi tự tạo, tự biến thành
một thợ giỏi trong nghề.
– Làm
sao biết được Niết-bàn, nhà Vua
hỏi.
– Nhờ
sự thoát khỏi phiền-não,
nghiệp-chướng, nhờ sự an-ổn, an-lạc
thanh-tịnh”.
Rồi Ngài
Na-Tiên cho thêm vài thí-dụ. .
–
Người té vào đống lửa
ngùn-ngụt, cố gắng vượt ra khỏi
và lên được chỗ mát-mẻ.
Người ấy cảm thấy sung-sướng vô
cùng. Cũng thế, người thoát khỏi
lửa của tham, sân, si sẽ hưởng cái
sung-sướng Niết-bàn.
–
Người té vào huyệt tử-thi
hôi-thối, nếu cố-gắng ra khỏi
được và lên chỗ không có
tử-thi, sẽ cảm thấy sung sướng vô
ngằn. Cũng thế, ai ra khỏi hầm tử-thi
của những tâm-niệm bất thiện,
người ấy sẽ hưởng cái
sung-sướng Niết-bàn.
–
Người té vào hầm phẩn dơ mà
cố-gắng ra khỏi và lên chỗ sạch,
sẽ cảm thấy sung-sướng. Ai thoát khỏi
cái lo sợ của sanh, già, bệnh, chết,
người ấy sẽ hưởng cái
sung-sướng Niết-bàn.
Vậy tìm
Niết-bàn ở đâu?
“Ở trong
đạo-đức. Nếu sống luôn trong
đạo-đức, trong định-tâm, thì
dầu ở đông ở tây, ở nam ở bắc,
ở dưới Long-cung hay ở trên Thiên-cung,
bất luận chỗ nào, người sống trong
chánh-chân như thế tìm được
Niết-bàn”.
{
Cứ như trên thì Niết-bàn là
cái gì mà ngay đây mỗi chúng ta
có thể đạt được, miễn thực
hiện những điều kiện Phật dạy?
Vâng, quả đúng như thế. Về
điểm này, Bà Alexandra Daviđ, trong sách
“Le Modernisme Boudhiste et le Bouddhisme du Bouddha” có
viết :
“Niết-bàn là mục-đích,
là hải-cảng trú-ẩn, là sự an
nghỉ miên viễn. Hải-cảng ấy, bậc
A-la-hán đã đạt đến rồi; ngay
lúc còn sống, La-hán đã vượt
khỏi ngưỡngcửa cái thế giới bên
kia, rất cách biệt với những tri kiến
và quan-niệm của chúng ta, và tuy chúng
ta thấy Ngài cũng vẫn còn đi,
đứng, nằm, ngồi y như chúng ta và
giữa đám chúng ta , La-hán không
còn là người của thế-giới
chúng ta, là thế-giới của
vọng-tưởng và vô-thường. Ngài
sống trong Bất-biến, trong Bất-sinh, trong
Chân-thường. Ngài là cái
Bất-biến, Bất-sinh, Chân-thường”.
Tu-hành mà đạt đến kết-quả
này gọi là “đắc Niết-bàn
tại thế” hay “đắc hữu dư
Niết-bàn” hay nữa “đắc hữu
dư-y Niết-bàn”.
Kinh Bảo-Quật nói :
“Kim-cang tâm đoạn biến-dịch nhân
tận, nhi biến-dịch quả du-tồn, hữu dư
lụy, cố viết hữu dư”.
Cái nhân biến-dịch đã bị
tâm Kim-cang (trí huệ) chặt đứt, nhưng
cái quả biến dịch vẫn còn, nên
còn phải chịu một phần nợ-nần,
bó buộc nào, vì vậy nên gọi
là còn dư, chưa đứt. Nói một
cách khác, hữu-dư Niết-bàn là
kết-quả giải-thoát nội tâm
hoàn-toàn, nhưng về mặt thân xác
thì sự giải-thoát chưa được
hoàn-toàn hẳn, vì còn thân là còn
nợ-nần với cái sống ăn, sống
mặc, với già, với bệnh, với chết.
Cao hơn “Hữu-dư Niết bàn”
có “Vô-dư Niết-bàn” hay
“Vô-dư-y Niết-bàn”, là
“Vô sanh-tử chi nhân, diệc vô quả
dã”. Đó là kết-quả mà
Phật đã đạt đến vào một
đêm rằm tháng hai, cách nay trên 2500 năm.
Cái nhân sanh-tử trong tâm đã chết
mất từ lâu, rồi nay cái quả sanh-tử
của nhân tiền kiếp (thân) cũng bỏ
lại và sẽ tan-rã, thì còn
nợ-nần chỗ nào mà khòng bảo là
“Vô-dư”. Tóm lại, “Vô-dư
Niết-bàn” là Niết-bàn đạt
đến khi bỏ xác, là Giải-thoát
hoàn-toàn.
{
Nhưng dầu hoàn-toàn (Vô-dư) hay
chưa hoàn-toàn (Hữu-dư), Niết-bàn
chỉ có một thể, cũng như
đường chỉ có một vị là
ngọt, dầu đó là đường tán
hay đường phèn. Để chỉ cái
vị duy nhất ấy kinh-điển bảo
Niết-bàn có bốn đức (hay bốn
đặc-điểm: propriétés essentielles)
là: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nói cho
đúng, chính 4 cái đó là
Niết-bàn và ai thực chứng được,
ai thưởng thức được thì gọi
là “đắc Niết-bàn”.
Bốn đức này , chúng ta đã nghe
thấy trong những đoạn kinh đã dẫn
ở phía trước.
Sống trong, vì và bởi cảnh thế-gian
là sống trong biến-dịch, vô-thường,
cảnh-giới của vật-chất và
tình-cảm thấp-thỏi. Bỏ được
lối sống này mà sống được
đời sống nội tâm không biến-dịch,
là sống trong cái ngược với
vô-thường, tức là sống trong cái
Thường (Eternel). Sống trong Thường là
bất biến, nhưng không phải không tùy
duyên. Tùy duyên mà vẫn bất biến.
Thí-dụ: đến giờ phải ăn là
ăn (tùy duyên), nhưng không để
cái ăn làm xao-động lòng mình
(bất biến). Trước cảnh đau-khổ
của người khác, lòng không bị
kích-thích như thế tình (bất biến),
nhưng hết sức giúp-đỡ (tùy
duyên). Được như thế gọi là
Thường.
Tâm không bồn-chồn, lo muốn
nóng-nảy, gọi là an. Có an là có
vui (Lạc), cái vui khác thường, vì
không cần có mồi mới sanh vui. Người
muốn tiền mà không được tiền,
không vui, như cá muốn ăn mà không
gặp mồi, không sướng. Vậy cái vui
sướng của thế-nhân là cái vui
sướng cảm thấy khi lòng ham muốn ,
thèm khát, được thỏa-mãn. Cái
Lạc của người giải-thoát là
cái vui hồn-nhiên, phát xuất từ chỗ
không tham, không cầu gì cả. Đó
là cái mội nước tự nó phun lên,
mà không cần có máy bơm. Vậy
là một cái vui bất chấp ngoại cảnh,
hoàn toàn giải-thoát mọi
kích-thích, cái vui “bí-mật”
mỉm cười của Phật. Được như
thế gọi là Lạc.
Thế-nhân ai là người không sống
cho ta và vì ta, cho và vì cái ta nhỏ
mọn (tiểu-ngã)? Đó là lối
sống ích-kỷ. Bỏ lối sóng đó
mà sống vì người, vì tất cả,
là sống cho cái Ta to (Đại-ngã).
Gọi Đại-ngã vì là toàn thể
những cái “ta” nhỏ góp lại.
Vậy sống vị-tha là sống cho
Đại-ngã, hay Ngã, sống như cái
sống của nước đại-dương.
không sống chật hẹp của nước
biển đựng trong chai. Được như thế
gọi là Ngã.
Sống theo thế-tình, thế-tục, là
sống trong ô-nhiễm. Càng đi xa trên con
đường ấy là càng lún chân
trên bãi lầy của phiền-não,
nghiệp-chướng do tham, sân, si, tài, sắc,
danh, lợi, thực, thùy tạo ra. Bỏ lối
sống ấy mà sống một lối sống
hoàn-toàn trong sạch, lòng không dính
một bụi nhơ thế-sự, được như
vậy gọi là Tịnh.
Tất cả những cái Lạc, Ngã, Tịnh
vừa nói đều do chỗ “tùy duyên
bất biến, bất biến mà tùy
duyên” mà có.
Ai thực-hiện được tất cả bốn
đức ấy thì được gọi là
“đắc hay nhập Niết-Bàn”.
{
Để kết-luận, xin lập lại rằng
Niết-bàn chỉ là một danh-từ dùng
để chỉ một cái gì mà ngũ quan
không nhận được, ý-thức không
tưởng-tượng được nhưng có
và có một cách chân-thật đối
với ai đã thực-chứng, thực-nghiệm
được nó. Nhưng xin đừng hiểu
là muốn có Niết-bàn phải đi
tìm nó. Càng tìm nó, nó lại
càng xa, vì có tìm là tâm còn
tham mnốn, mà còn tham muốn là trái
với Tịnh, với Lạc, với Ngã. Cũng
đừng tưởng tới nó, vì có
tưởng là tại có muốn, mà như
thế thì cũng sai rồi.
Cứ ăn ở, cứ sống như Phật
dạy, trong Thường, Lạc, Ngã, Tịnh,
rồi Niết-bàn tự-nhiên sẽ đến
và chừng ấy chúng ta sẽ biết
Niết-bàn là gì. Đừng tưởng
đọc sách rồi biết Ba-lê. Phải
đến Ba-lê mới biết Ba-lê là
gì. Cũng đừng nghe người nói
nước mát rồi tưỏng là đã
biết cái mát của nưởc. Muốn
biết rõ, hãy uống nước. Ngoài ra
là ức tưởng, là lấy bóng làm
hình.
Cũng
đừng tưởng Niết-bàn rất xa
chúng ta. Không. Niết-bàn rất gần
chúng ta, chúng ta cọ vai sát cánh với
nó hàng phút. Nhưng chúng ta chưa
bắt tay với nó được, chỉ vì
chúng ta chưa bước qua khỏi làn ranh
phân cách cái giả với cái chân,
vì chúng ta chưa thoát khỏi chứng
mù mắt đang căng một tấm màng
đen dày chặt giữa cái sống rộng
bao-la và cái thấy bó rọ trong ranh giới
của cái hình dáng và tên-tuổi
(danh sắc) mà mỗi giờ phút làm
biến đổi và chúng ta lầm tưởng
là “Ta”./.
Chú
thích: (1) Tứ đại: đất, nước,
gió, lửa, bốn yếu-tố vật-chất.
WP: Mỹ
Hồ