TS Pháp
Luân 24
Ý Chí và Hành Động trong Phật
Giáo
Đạo Sinh
Tiến
trình hoạt động của một con
người thường được đánh
dấu bằng sự khởi đầu của ý
thức. (Ở đây, từ ngữ “ý
thức” bao hàm tất cả các tri giác
thuộc về mắt, tai, mũi, lưỡi và
thân.) Khi một ý thức như thế sinh
khởi sẽ kèm theo một số hoạt
động khác của tâm như cảm thọ,
khái niệm, ý chí, v.v...; trong đó ý
chí hay cetana, theo thuật ngữ Phật giáo
Ấn Độ, là nguồn gốc của ba loại
hoạt động của ý, ngữ và thân.
Chẳng hạn, khi chúng
ta biết rằng chúng ta đang nhìn thấy
một cái gì đó thì đồng
thời trong chúng ta sẽ sinh khởi một cảm
nhận, một ý tưởng, v.v..., và sau
cùng là ý muốn thực hiện một
hành động có liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến đối
tượng đó. Trong văn học Phật
giáo có những mô tả chi tiết khác
nhau về tiến trình này; tuy nhiên, nhìn
chung tất cả đều đồng ý: Nếu
không có ý thức về một đối
tượng bên ngoài hoặc bên trong thì
sẽ không có ý muốn thực hiện
hành động. Từ đó, chúng ta
rút ra được kết luận đầu
tiên là ba loại hoạt động điển
hình nói trên của con người đều
có liên quan đến ý thức và
đều xuất phát từ trạng thái
tâm gọi là cetana này. Luận Thành Duy
Thức mô tả tiến trình vận hành
của cetana qua ba giai đoạn: thẩm lự, quyết
định và phát động. Hai giai đoạn
đầu kích khởi hoạt động thuộc
về ý (ý nghiệp), giai đoạn còn
lại kích khởi hoạt động thuộc
về lời nói (ngữ nghiệp) và việc
làm (thân nghiệp). Từ đó, chúng ta
có thêm một kết luận khác: nếu
hoạt động của cetana kết thúc với
giai đoạn hai thì mặc dù ngữ nghiệp
và thân nghiệp chưa được biểu
hiện nhưng ý nghiệp đã được
lập thành.
Hai kết
luận trên có thể dùng làm tiền
đề thiết lập một nhận thức mới
trong sinh hoạt thường nhật của một
Phật tử.
Thứ
nhất, khi toàn bộ vận hành của cetana
đều tùy thuộc vào sự xuất hiện
đầu tiên của ý thức về một
đối tượng thì chúng ta có thể
gián tiếp điều động sự vận
hành của nó theo một chiều hướng
thuận lợi bằng cách trực tiếp chọn
lựa các điều kiện sinh khởi của
ý thức. Nói cách khác, nếu hạn
chế sự tiếp xúc với những đối
tượng có tác động xấu, chúng
ta sẽ giảm được số lượng
các trạng thái tâm xấu sinh khởi
kèm theo ý thức về đối tượng
đó. Đây là một trong những ý
nghĩa căn bản của một thuật ngữ
khác trong Phật giáo là samatha (chỉ).
Có nghĩa, chúng ta có thể tùy chọn
các loại đối tượng của ý
thức, tức những gì chúng ta nhìn
thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay biết.
Điều này hàm ý một nếp sống
và một môi trường sống thuận
lợi cho việc hạn chế các loại
đối tượng không thuận lợi của
ý thức.
Thứ hai,
khi cetana được xác định là
động cơ chính kích khởi ba hoạt
động của ý, ngữ và thân thì
đối tượng được nhận thức
không còn mang tính quyết định tuyệt
đối. Trái lại chúng ta có thể thay
đổi tác động của nó theo cách
chúng ta muốn nhờ vào tiến trình
vận hành của cetana. Bởi vì một
điều hiển nhiên là khi suy nghĩ thì
chúng ta không chỉ suy nghĩ mà còn
biết rằng mình đang suy nghĩ về cái
gì đó. Đây là một trong những
ý nghĩa căn bản của một thuật
ngữ khác trong Phật giáo là vipaśyana
(quán).
Thứ ba,
khi hai giai đoạn thẩm lự và quyết
định của cetana là điều kiện kích
khởi ý nghiệp thì mặc dù suy nghĩ
của chúng ta chưa được biểu lộ
bằng lời nói hay việc làm nhưng nó
đã hình thành một loại nghiệp
thiện hoặc bất thiện nào đó trong
chúng ta. Đây chính là nền tảng cho
các nhận xét của chúng ta về giá
trị đích thực của một hành
động. Có nghĩa, trong trường hợp
lời nói hoặc việc làm không phù
hợp với ý nghĩ thì cái sau sẽ
được chọn làm nền tảng chính
cho một đánh giá đúng về một
hành động chứ không phải hai cái
trước.
Trên
bình diện tuyệt đối, cứu cánh
giải thoát trong Phật giáo được
mô tả như một tình trạng xuất
phát từ sự nhìn thấy tính chất
thật sự, hay thực tướng của tất
cả các đối tượng của nhận
thức. Khi đã nhìn thấy được
bản chất đích thực của mọi hiện
tượng vật lý cũng như tâm lý,
Phật tử sẽ không còn bị trói
buộc bởi chính những nhận thức sai
lầm của mình về chúng. Vì thế,
có khi Phật tử được gợi ý
là hãy "thu thúc lục căn"
để có thể tập trung toàn bộ nỗ
lực vào việc quán sát các hiện
tượng vật lý và tâm lý đang xảy
ra có liên quan đến các hoạt
động của chính mình. Vì lẽ
đó, ngoài việc tập chú vào
các hoạt động của thân và tâm
Phật tử không cần phải có những
nỗ lực nào khác, ngay cả việc học
hỏi hay đọc tụng kinh điển. Đây
là một sự tu tập lý tưởng vì
nó có thể giúp hạn chế sự
phân tán của tâm thức do tác
động của nhiều đối tượng
cùng lúc, đồng thời huy động
được tất cả năng lực nội tại
trong một khoảng thời gian nhất định
nào đó; và vì thế nó cũng
có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối
với không ít Phật tử, nhất là
các Phật tử có khả năng quán
sát cao. Tuy nhiên, trong thực tế những nỗ
lực theo hướng trên chỉ dành cho một
số ít người “may mắn”; tức
những người có đủ thời gian để
theo đuổi những khóa tu đều đặn,
dài ngày dưới sự dẫn dắt của
một vị thầy có kinh nghiệm. Vì thế,
đối với hầu hết chúng ta - những
người phải thực hiện sự tu tập
của mình ngay trong việc mưu sinh hàng
ngày - một sự thực hành như thế
không bảo đảm một kết quả chắc
chắn bởi vì cuộc sống của
chúng ta hầu như không cho chúng ta các
điều kiện cần và đủ; và
vì sự vận hành của tâm thức
chúng ta không đơn giản như chúng ta
tưởng. Theo các luận sư Abhidharma, nhận
thức là một tiến trình phức tạp
và luôn tiếp diễn trong tương quan với
các trạng thái khác nhau của tâm
thức. Khi chúng ta nhìn thấy cái gì
đó và đồng thời biết rằng
chúng ta đang nhìn thấy nó thì
cái biết này chỉ xảy ra trong chính
chúng ta. Và vì đối tượng
được nhìn thấy không thể
“nhảy” vào trong đầu chúng ta cho
nên những gì chúng ta “biết”
về nó chỉ là một hình ảnh,
một mô tả nào đó. Khi một
hình ảnh như thế được ghi nhận
thì các hoạt động khác của tâm
thức sẽ lần lượt sinh khởi trong
tương quan với hình ảnh này. Chúng
ta sẽ có một cảm nhận, một ý
tưởng, một sự ưa thích hay chán
ghét,v.v... nào đó sinh khởi kèm theo
hình ảnh này; và rồi chúng ta sẽ
tiếp tục có ý thức về chính
những cảm giác, những tên gọi, những
ý tưởng, những đam mê, v.v... này;
và cứ như thế với sự sinh khởi
kế tiếp của ý thức chúng ta lại tiếp
tục có sự xuất hiện của các
cảm giác, ý tưởng, tên gọi
khác, v.v... Như vậy, tiến trình hoạt
động của tâm thức có thể
được xem như một chuỗi tương
tục các trạng thái tâm khác nhau
và tác động lẫn nhau. Trong chuỗi
vận hành này, một số hoạt động
của tâm thường hay sinh khởi và vì
thế chiếm một phần lớn đời sống
tâm lý của chúng ta. Đó là
các cảm giác (vedana), ý tưởng (saṃjñā)
và ý muốn (cetana). Khi nhìn thấy một
cái gì đó mà chúng ta thích
thì chúng ta sẽ có một cảm giác
vui thú, chúng ta sẽ nghĩ nhiều về
nó và muốn duy trì cảm giác
đó; bởi vì chúng ta nghĩ những
trạng thái như thế càng kéo dài
bao nhiêu thì chúng ta sẽ được an
lạc bấy nhiêu. Nếu nhìn từ quan
điểm của Phật giáo về toàn bộ
cơ cấu tâm thức của một con
người, thì đây có thể xem như một
trạng thái bệnh hoạn. Phật giáo
không tìm kiếm một sự an lạc
đặt nền tảng trên các cảm
giác; bởi vì, giống như tất cả
các trạng thái tâm khác, nó không
phải là một hoạt động độc
lập và thường hằng.
Có
nghĩa, vì sinh khởi kèm theo ý thức
và chịu sự tác động của các
trạng thái tâm khác cho nên không bao
giờ chúng ta có thể duy trì cũng như
đáp ứng được các đòi
hỏi của cảm giác. Về các ý
tưởng cũng thế. Chúng là những
biểu tượng, những mô tả về một
thực tại nào đó; thế nhưng
chúng ta lại thường đồng nhất chúng
với tự thân thực tại. Chẳng hạn khi
được học về vô ngã, giải
thoát, v.v..., chúng ta sẽ có một số
kiến thức hay khái niệm nào đó
về những điều này; và những
khái niệm này chỉ là những chỉ
dẫn về một thực tại có tên gọi
là “vô ngã” hay “giải thoát”
chứ không dính líu gì đến sự
chấp ngã hay sự trói buộc bởi phiền
não và vô minh của chúng ta cả. Vì
chỉ là những khái niệm cho nên
chúng chỉ xuất hiện những khi chúng ta
có ý thức về những gì tương
tợ như thế. Cho dù chúng ta có tìm
cách duy trì các loại ý tưởng như
thế trong đầu thì đó cũng chỉ
là một hình thức “tự kỷ ám
thị” nào đó; bởi vì dù
chúng có xuất hiện hay không thì
sự chấp ngã và trói buộc của
chúng ta vẫn liên tục vận hành theo
cách của chúng. Theo luận Câu Xá,
có một trạng thái tâm thường
xuyên vận hành và tác động
đến các hoạt động khác của
tâm thức, gọi là satkāyadṛṣṭi (hữu
thân kiến), tức sự đeo bám của
chúng ta đối với toàn bộ cơ cấu
tồn tại của chính chúng ta. Sự đeo
bám này là một trạng thái tâm (saṃskāra)
nằm ngoài tầm với của ý thức
và âm thầm điều động xu
hướng vận hành của tất cả các
trạng thái tâm khác. Nó chính là
cha đẻ của cái thường gọi là
chấp ngã (ātmagrāha) và là nguồn
gốc của mọi thứ phiền não. Trong kinh Di
Giáo, đức Phật đã ví trạng
thái tâm này như loài rắn độc
đang ẩn náu trong tâm chúng ta, như
loài bò cạp đang ngủ yên trong nhà
chúng ta. Vì thế, đối với Phật
giáo chừng nào chưa loại bỏ
được một sự đeo bám như thế
thì mọi tìm kiếm một sự an lạc
nào đó bằng các cảm giác hoặc
các ý tưởng chỉ là một hành
động mù quáng bởi vì những
hành động như thế chỉ tiếp tục
nuôi dưỡng và tăng trưởng sự
đeo bám này chứ không thể làm suy
yếu hay dứt bỏ nó.
Với
những gì được trình bày ở
trên về cách thế tồn tại và
vận hành của dòng tâm thức chúng
ta, một vấn đề dần dần sáng tỏ
ở đây: đó là nơi quy hướng
mọi nỗ lực của chúng ta trong tiến
trình đạt đến một sự chuyển
đổi tâm thức toàn diện. Thay vì mãi
mê tìm kiếm các cảm thọ hoặc
náu mình trong các ảo tưởng chúng
ta sẽ dồn mọi nỗ lực vào việc
loại bỏ cái chướng ngại đang âm
thầm điều động mọi hoạt động
của tâm thức chúng ta bằng chính
những hoạt động cụ thể của ý
chí, ngôn ngữ và việc làm.
Khi một
người Phật tử được đề
nghị hãy nên bắt đầu đời
sống đạo của mình bằng việc quy y Tam
bảo thì đó không phải là sự
nô lệ vào một thế lực tâm linh hay
siêu hình nào đó. Nếu xét
trên cơ cấu vận hành tâm thức
của một con người bình thường
thì hành động trên là biểu
hiện tất yếu của một nhận thức
đúng về chính mình và thế
giới:
- Nếu
thừa nhận duḥkha (khổ) là một phạm
trù không chỉ bao hàm những gì
thuộc về cảm giác mà còn chính
là sự biến hoại và biến dịch
thì chỉ có giáo pháp nhà Phật
mới có thể giúp con người thoát
khỏi cái khổ này.
- Giải
thoát khỏi cái khổ như thế là
hệ quả của một tiến trình chuyển
hóa triệt để của tâm thức theo
những đề nghị đặc thù của
Phật giáo.
- Một
tiến trình như thế không bao giờ có
thể thực hiện chỉ bằng vào những
nỗ lực đơn phương của một
Phật tử trong cơ cấu tồn tại của
một “thủ ngũ uẩn” như thế.
Trái lại, đó là sự liên khởi
giữa các nỗ lực của tự thân
và những hỗ trợ của chư Phật,
Chánh pháp và các vị Thánh tăng.
Chỉ
với sự liên kết chắc chắn như
thế, Phật tử mới có thể bắt
đầu đời sống tu tập chân chánh
của mình bằng sự tấn công trực
diện và bền bỉ vào chính sào
huyệt của mọi phiền não và vô minh.
Đối với Phật tử, đó là
những nỗ lực đầu tiên thực hiện
năm loại hành động cụ thể hay
còn gọi là năm giới ngay trong đời
sống thường nhật.
Nếu
xét theo tiến trình vận hành của
tâm thức thì hành động thực
hiện năm giới không mang tính đạo
đức thuần túy như nhiều người
thường nghĩ. Khi chưa đoạn trừ
được hữu thân kiến thì cái
gọi là “đạo đức” có
thể có tác dụng ngược lại. Nó
chỉ làm tăng thêm sự đeo bám
của người Phật tử vào một cơ
cấu đang cần phải chuyển đổi của
chính mình. Vì thế thọ nhận và
thực hành năm giới không nhắm
đến hình thành một nhân cách
đạo đức mà là làm yếu
liệt sự đeo bám vào một nhân
cách như thế. Chẳng hạn khi phát
nguyện không sát sinh thì người Phật
tử không chỉ quyết định không
làm tổn hại đến chúng sinh khác
mà còn từ chối tăng trưởng thân
xác mình bằng chính máu thịt của
chúng sinh khác. Đối với các hành
động còn lại cũng như thế: chúng
đều có tác dụng hỗ trợ Phật
tử chặn đứng sự tích lũy cho bản
thân, sự thỏa mãn các cảm giác
bệnh hoạn, sự đắm chìm trong các
ảo tưởng về mình cũng như
người khác, và sự mê muội
được tạo ra bởi các chất kích
thích.
Khi
được thực hiện với một nhận
thức như thế, năm giới không còn mang
tính chất thưởng - phạt, phước -
tội mà chúng đã trở thành
những điều kiện tích cực trong việc
thúc đẩy Phật tử càng ngày
càng tiến nhanh hơn trong nỗ lực tu tập
của mình. Bởi vì một điều hiển
nhiên là Phật tử càng ngày sẽ
cảm thấy càng “nhẹ” dần đi khi
trút bỏ được những gánh nặng
mà mình đã ôm ấp bấy lâu.
Nếu có cái gì đó gọi là
“pháp lạc” trong đời sống của
một Phật tử thì có lẽ đây
mới đúng là ý nghĩa chân
chánh của từ ngữ này vì nó
rất gần với ý nghĩa đầu tiên
của Niết-bàn, một trạng thái xả
bỏ và tĩnh lặng tuyệt đối. Khi
“hữu thân kiến” không còn
được liên tục nuôi dưỡng
bằng những ảo giác và ảo tưởng
về một sự tăng trưởng nào
đó của tự thân thì tác
động của chính nó đối với
các trạng thái tâm khác, nhất là
đối với sự vận hành của cetana,
cũng sẽ dần dần trở nên yếu
liệt. Một khi không còn bị thúc
đẩy mạnh mẽ bởi loại tà kiến
như thế, cetana sẽ là động cơ tốt
của ý, ngữ và thân. Đây là
những chuyển đổi đầu tiên Phật
tử có thể cảm nhận được
mà không sợ bị rơi vào ảo
giác về một thành tựu nào đó
vì cái “sở đắc” ở
đây không gì khác hơn một cái
dấu trừ to tướng nhưng lại là
điều kiện cần thiết để người
Phật tử chuẩn bị khai thác các năng
lực thuận lợi khác của chính mình
trong việc thực hiện những hành động
tích cực hơn tiếp theo.
Có
thể có người sẽ cho rằng việc qui y
Tam bảo và thực hành năm giới của
một Phật tử theo cách trên quá thụ
động, bởi vì người ta khó có
thể tìm thấy một tác động cụ
thể nào đó trong những hoạt
động như thế đối với tự thân
cũng như cộng đồng xung quanh. Đây
là một nhận xét không chính xác mặc
dù những gì nó mô tả đều
đúng. Khi chưa đủ sức để tạo
ra một sự chuyển hóa đúng pháp
đối với tự thân cũng như
người khác thì im lặng và thụ
động là hình thức tích cực
nhất của người Phật tử khi họ từ
chối góp phần vào việc làm xáo
trộn thêm tự thân và thế giới
bằng những tham vọng vô minh của chính
mình.
Trên
bình diện quy ước, dĩ nhiên người
ta khó có thể chấp nhận một con số
không lại được xem như là thành
tựu đầu tiên trong những nỗ lực
của một con người. Nhưng chúng ta nên
nhớ rằng Phật giáo là những gợi
ý về một sự chuyển đổi cơ
cấu tồn tại chúng ta chứ không phải
là một món hàng cần tiếp thị.
Thật không may mắn khi chúng ta đang phải
sống trong một thời kỳ mà sự quảng
cáo và mua bán hàng hóa đang
càng ngày càng chiếm ngự hầu hết
đời sống thường nhật của chúng
ta. Trước tình cảnh đó, có
người - nhất là những người đang
phải sống nhờ vào Phật
giáo―sợ rằng cuộc sống của
mình có thể bị ảnh hưởng nếu
như Phật giáo trở thành một mặt
hàng lỗi thời, ế ẩm. Vì thế
mà họ thường ra sức quảng cáo cho
Phật giáo, thậm chí còn cố gán
cho Phật giáo nhiều loại “chất
lượng” mà Phật giáo vốn chẳng
có. Chúng ta nên nhớ rằng Phật
giáo tồn tại là vì con người.
Một ngày nào đó, nếu con người
không còn đủ sức áp dụng những
gì đức Phật giảng dạy để
thăng hoa đời sống của chính mình
mà đành phải lặng chết trong bóng
tối của vô minh và phiền não, thì
đó cũng là lúc Phật giáo biến
mất khỏi cộng đồng loài người.
Sự thật này nói lên điều gì?
Nếu chúng ta biết tri ân Phật giáo
và biết rõ Phật giáo là
phương cách giải quyết hữu hiệu nhất
trước sự điên loạn của con
người thời đại thì chúng ta
hãy nên thành thật với chính mình
trước tiên. Chúng ta có thật sự xem
Phật pháp như là dòng nước
đối với những người đang chết
khát trên sa mạc hay chỉ là một sản
phẩm loại sang trong số quá nhiều hàng
hóa đang được tích tập chung quanh
chúng ta? Khi chướng ngại vô minh và
phiền não chưa được quét sạch
trong tâm tưởng chúng ta thì “ái
ngữ” chỉ là ỷ ngữ, “an
lạc” chỉ là chiếc bóng của
khổ đau, “tỉnh giác” chỉ là
bộ mặt của sợ hãi, v.v... Chúng ta không
phải mất thì giờ vào những công
việc vô bổ như đi hô hào
“chấn hưng Phật giáo,” “canh
tân Phật giáo”, v.v... Tự thân Phật
giáo không mong đợi con người thời
đại chúng ta làm việc đó. Giá
trị của nó đã được khẳng
định từ lâu trong lịch sử văn minh
nhân loại. Và sứ mệnh của những
người biết tri ân Phật giáo là
nỗ lực thể hiện nội dung đặc
thù của nó bằng những thành tựu
thật sự trong quá trình tu chứng chứ
không phải bằng hành động “diệt
chủng” nó bằng cách biến thể
nó để thỏa mãn những đòi
hỏi vô minh của chính chúng ta. Trong
lịch sử phát triển của Phật giáo,
kể từ khi cuộc vận động của Phật
giáo Đại thừa thành công trong việc
lôi kéo được cốt tủy của
Phật giáo ra khỏi cái vỏ bọc của
triết học kinh viện thì mọi lo sợ về
một viễn ảnh suy tàn nào đó
được xem như đã kết thúc.
Phật giáo không còn là cái cần
phải “đánh bóng” hay “làm
mới” bởi vì nó đã trở
thành sức sống của hàng triệu triệu
người không chỉ ở Á châu mà
đã ở nhiều nơi khác nhau trên thế
giới. Như vậy, chúng ta sẽ phải làm
gì để tri ân đức Phật?