Vô
lượng nghĩa là một nghĩa
Minh
Đức N.Trinh-Tuấn
Tammydan mến.
Mấy
hôm nay nghe nói Tammydan được thầy Phước Tịnh giảng dạy
kinh Duy Ma Cật. Chú biết Tammydan rất vui và thấy hạnh
phúc khi nghe Pháp. Nên sau khi nghe đã đến gặp Thầy
giảng sư để xin thầy giảng thêm về 12 nguyện của đức
Qúan-Thế Âm, mà Tammydan rất hâm mộ và kính ngưỡng. Vui
tin Phật, vui nghe Pháp, vui gặp Tăng thân. Ba cái hạnh
phúc này là vô lượng và vô giá. Không thể so sánh với
một cảm xúc nào để hiểu được. Bởi vì đây là sự sống đích
thật mà mình tiếp xúc trực tiếp không thể suy lường bằng
ngôn từ và suy nghĩ.
Mười hai nguyện là hòa nhập vào chúng sanh để giải
thoát. Vì vậy đó là cái cảm ứng của một sinh thể và
nguyện lực của đức bồ tát Quán Thế-Âm. Đó là một cảm ứng
không ngừng lại ở một con người, mà còn đi vào tất cả
mọi sinh thể. Khi một sanh thể phát tiếng kêu của mình
thì đức Quán Thế Âm chính là nguyện cảm ứng của tiếng
kêu mà tìm đến và hòa nhập với sinh thể. Vì vậy, ngay
trong tiếng kêu đã có đức Quán Thế Âm, vì trước khi có
tiếng kêu trầm thống khổ đau của chúng sanh thì đã có
đức Quán -Thế Âm. Do đó tiếng kêu trầm thống của khổ đau
nào thì cũng có đức Quán thế Âm tìm đến. Ngay trong
tiếng kêu trầm thống của sinh thể đã có mặt đức Quán Thế
Âm rồi đó. Có lắng nghe thì mới nghe. Mình phải nghe
chính tiếng kêu của mình thì mình mới nghe được Đức Quán
thế Âm đang có mặt trong tiếng kêu của mình. Như vậy
trong tiếng kêu mình đã hiểu được sự cảm ứng mà người
ngoài không thể nghe được. Nguyện chỉ nói là mừoi hai
nguyện, nhưng hạnh của nguyện thì có vô lượng hạnh, vì
có bao nhiêu chúng sanh thì có bao nhiêu hạnh của đức
Quán Thế Âm. Vì vậy khi đức Quán Thế Âm tìm đến tiếng
kêu trầm thống của chúng sanh, thì có vô lượng nghĩa, do
có vô lượng chúng sanh. Vô lượng nghĩa nhưng chỉ một.
Cái một đó là lòng Đại Bi. Trong tâm đại bi của bồ tát
thì có tất cả chúng sanh cùng cảm ứng trong nhau.
Có một lần, chú đi vào một nhà thờ Công Giáo để
tham dự buổi sinh hoạt của người khuyết tật, nơi đây có
những người khuyết tật đang sanh sống bằng nghề bán vé
số. Có người nói rằng : Khi tôi bán vé số ế quá, gần đến
giờ phải trả vé mà bán không đựơc, tôi run quá nên vào
trước tượng thánh của nhà thờ để cầu nguyện cho bán được
vé số, nhưng cầu nguyện rất thống thiết mà vé số vẫn
không bán được. Không bán được, nhưng tôi vẫn không dám
không tin là không có Thánh nghe tiếng cầu nguyện của
tôi. Một người phụ nữ trung niên bị khuyết tật phải ngồi
xe lắc tay để đi bán vé số, cô này bị run và co giật cả
tay chân, nhưng rất vui vẻ. Cô phát biểu trãi nghiệm của
cô rằng : Tôi thì lúc nào tôi cũng tin có Chúa ở cùng
tôi, vì vậy khi tôi đi bán vé số thì Chúa cũng đi bán
cùng tôi. Tôi bán ế hay bán được, thì cũng có Chúa ở
cùng tôi. Khi tôi đau bệnh, khi tôi phơi nắng và dầm mưa
thì Chúa vẫn ở cùng tôi. Vì vậy, trong sợ hải hay trong
khó khăn , thì Chúa vẫn ở cùng tôi... Niềm tin của cô
này đã giữ gìn cho cô trong mọi lúc hạnh phúc và khổ đau.
Còn cái anh kêu cầu mà không được thì phải khổ với cái
cầu mà không được, muốn mà không thỏa mãn. Anh ta nghĩ
cái điều mình muốn nhỏ bé quá, mà Chúa cũng không
cho,nhưng vì sợ hải và kính tin Chúa nên Anh vẫn cầu
nguyện, nhưng hình như không có nguyện cầu nào của anh
được thỏa mãn. Như vậy thì anh nghĩ rằng :Chúa đến trần
gian để trừ cái khổ và cứu nạn cho loài người mà chúa đã
dựng nên, nhưng anh cầu xin mà không được thỏa mãn. Như
vậy , chúng ta là người đứng ngoài cái đầu suy lường của
anh này, chúng ta thấy rằng anh tưởng đến Chúa như hình
ảnh mà anh đã tạo nên, cho nên chúa của anh, chỉ là đối
tượng mà anh mong muốn sẽ thỏa mãn cho anh những ước
vọng do chính anh khát cầu . Trong khi niềm tin của cô
gái kia thì tin rằng Chúa là Chúa trên cao, đã tạo dựng
nên cô, cô là tạo vật của chúa, nên Chúa lúc nào cũng
phải ở cùng cô như mẹ ở cùng con. Vì vậy cô tin rằng khi
cô đau khổ và hạnh phúc thì Chúa vẫn luôn ở cùng cô.
Như vậy ,qua trãi nghiệm của hai người khuyết tật
này , tôi cảm nhận rằng, niềm tin là cái mà họ sẽ nhận
lấy kết quả của nó. Theo quy luật nhân quả thì có Nhân
thì có Quả là tất nhiên. Chúa trong đầu của Anh này và
Chị kia đều có kết quả mà họ đã tưởng về Chúa. Còn sự
thật khách quan và hiển nhiên thì như nào ? Cầu nguyện
và đối tượng bị Cầu nguyện là như thế nào? Điều này phải
nhìn vào thực tế hiển nhiên mà xác nhận.
Như vậy, Nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm từ đâu mà
có ? Nếu chúng sanh không có thì làm gì có nguyện của Bồ
tát. Bồ tát do chúng sanh mà khởi nguyện. Nhưng chúng
sanh là ai ? Chúng sanh luân hồi trong đủ mọi dạng sanh
tử biến hoại, có đó rồi mất đó. Nếu nhìn một sinh thể
theo một dạng một chủng tử {tức là hạt giống, một cái
nhân ] như vậy chúng ta thấy rằng chủng tử này là dị
thục quả, bởi vì cái nhân đưa đến quả khác thời thì khác
tướng và khác dụng. Ví như quả xoài khi còn sống thì
khác với quả xoài khi đã chín. Gạo khi chưa thành cơm
thì khác với gạo khi còn là hạt thóc. Gạo đã thành com
thì không thể trở thành hạt thóc để gieo trồng thành lúa.
Trong tư tưởng của người muốn ăn trộm, đã có
sẳn một tên ăn trộm nằm ngủ trong tư tưởng, nếu nó không
chết đi trong tư tưởng thì sẽ theo duyên mà sanh khởi ra
trong hành động là một tên ăn trộm khi có cơ hội.
Nhân quả thì có khác thời và đồng thời. Vừa ăn
trộm thì đã ở tù ngay. Nhưng có khi ăn trộm mà phải đợi
thời gian sau mới ở tù.
Nguyện là một chủng tử thì phải có nhân và quả,
Mà nhân quả thì vừa đồng thời mà cũng vừa khác thời.
Chủng tử này của Bồ tát thì có Tâm Đại Bi là tình
thương rộng lớn. Nếu chúng sanh trong cơn khổ nạn mà có
tiếng kêu phát khởi của lòng thương xót với tha nhân thì
tiếng kêu đó cùng một cảm ứng với bồ tát Quán-Thế-Âm. Do
đó có người niệm Quán Thế Âm thì luôn có cảm ứng, còn có
người thì chẳng có kết quả gì, giống như anh bán vé số
cầu Thánh cho anh bán được vé số. Cái cô gái KT thì có
tình thương làm bản tâm của cô, nên chúa của cô và cô là
tình thương mẹ con. Tôi nghĩ rằng danh từ miêu tả nào
cũng không qua sự thật hiển nhiên. Nhân quả theo quy
luật duyên sanh thì không thể suy lường nếu không trãi
nghiệm trong thực tế.
Cái giáo lý không hai của kinh Duy Ma Cật, cho
thấy sự bình đẳng cúng dường của Ngài cư sỹ Duy Ma Cật
là không thể suy lường bằng cái đối đãi của óc phân biệt
ta và người. Cư sỹ cúng dường cho Đức Phật Nan Thắng Như
Lai và người ăn mày hèn hạ nhất của thành phố nơi ông
sống, là bình đẳng không sai biệt.
Nơi kinh chúng ta thấy cái cao quý tột cùng và
cái nhỏ nhoi tầm thường nhất cũng không hai. Ngài Xá Lợi
Phật trí tuệ đệ nhất, nhưng khi vào căn nhà trống không
và bé nhỏ của ông bệnh nhân cư sỹ này, cũng thấy cái khó
khăn khi đến giờ ăn mà chẳng biết lấy gì để ăn. Cái nhà
nhỏ xíu thì làm sao có chổ ngồi cho đại chúng đông vô
lượng như lúc bấy giờ, có chổ ngồi. Phải chịu bị quở là
đến đây vì chổ ngồi và miếng ăn hay là vì PHÁP.
Ngài phải buộc lòng nói là đến đây là vì Pháp, nhưng
lòng vẫn không thể
không nghi ngại cho thực tế là miếng ăn và chổ ngồi. Cái
lớn lao và cái bé nhỏ là không hai. Cái trí tuệ cao
tuyệt đỉnh và chén cơm với chổ ngồi là không hai. Thực
tế và tri kiến là không hai. Cảm niệm tiếp xúc được thì
phải đến và thấy chứ không phải là tin hay không tin.
Giáo lý không hai chẳng phải là cái suy lường của ảo
tưởng. Hảy đến và thấy mới hiểu thế nào là bất nhị pháp
môn. Tin và không tin là vấn đề của người ở ngoài cửa.
Vào nhà của Duy Ma Cật thì chỉ có thấy và sống chứ không
phải là lý luận
Có một nhóm thanh niên ưu tú và đầy sức sống của
tuổi trẻ, tìm đến Phật hỏi rằng : Ai cũng nói đây là
chơn lý, đây là sự thật, đây là đúng , là phải và phải
nên sống như thế này hay như thế khác.....NHư vậy thì
phải tin ai ? Thế nào là sự thật ? Thế nào là lẽ phải?,...
Đức Phật trả lời rằng : Tất cả các câu hỏỉ đều nổi
lên từ các tuyên bố đó. Nhưng các ông đừng nên tin, chỉ
vì đó là điều có hàng triệu triệu người tin. Các ông
đừng nên tin , chỉ vì đó là do kinh điển để lại , hoặc
do truyền thống lâu đời truyền lại. Đừng nên tin bởi vì
đó là lời của thánh nhân dạy, cũng đừng tin vì đó là lời
của Phật nói. Bởi vì tin là cái mà mình không thấy và
không biết. Mình chỉ nên tin khi mình thấy đây là điều
đem lại an lành cho mình và cho người, đem lại an lành
cho cả hai. Mình phải tin khi thấy rõ nhân quả thật sự
là thiện lành và vô hại. Chỉ khi nào mình thấy biết bằng
cái biết thật sự của mình sống, bằng nhân quả hiển nhiên.
Sự thật mà mình phải sống và hiểu biết mới là niềm tin
có thật. Sự thật do tuyên truyền của người khác thì cần
phải đến và xem để hiểu, chứ không thể tin qua sự tuyên
truyền.
Một người chủ trại hòm mà mong cho mình đắt hàng,
như vậy là mong cho có nhiều người chết. Nếu mình bán vé
số, mà mong cho vé số bán được nhiều, thì phải có nhiều
người thua bạc, mua vé số thì có khác gì cờ bạc. Tuy
nhiên, nếu không có trại hòm thì làm sao có hòm cho
người chết. Nếu không đi bán vé số thì lấy đâu ra tiền
để nuôi thân. Một cô gái giang hồ phải chết với căn bệnh
Sida, thì điều đó không có nghĩa là trách nhiệm của cá
nhân cô gái. Cá nhân của cô gái không làm thành cái nghề
của cô và căn bệnh của cô. Một tay bợm nhậu, hay một
con nghiên ma túy, đang giảy chết trên giường bệnh. Cái
chết đó cũng không do một cá nhân mà gây nên. Trách
nhiệm và hậu quả hoàn toàn không thể chỉ là cá nhân. Vì
vậy nhân và quả là mối tương quan và tương duyên rất mật
thiết.
Cái nguyện của Bồ tát không thề rời chúng sanh
mà có. Mười Hai Nguyện của Quán Thế Âm là tìm đến âm
thanh của chúng sanh mà giải nạn và cứu khổ. Nhưng
nguyện của Bồ tát và Khổ của chúng sanh là không hai.
Nếu là hai thì chẳng dính dáng gì với nhau. Nhưng nếu là
một thì cũng không có bồ tát và nổi khổ của chúng sanh.
Không phải là một mà cũng không phải là khác nên gọi là
không hai. Hiểu được pháp không hai của ngài Duy Ma Cật
thì cũng hiểu được mười hai nguyện của Bồ tát Quán thế
Âm. Hiểu được chính mình là một chúng sanh thì cũng hiểu
được Nguyện của Bồ Tát. Bởi vì bồ tát không buông bỏ
chúng sanh. Chúng sanh bệnh thì Bồ tát bệnh. Chúng sanh
không bệnh thì bồ tát cũng không bệnh. Biệt danh của
chúng sanh là Tham , Sân, Si, Mạn và Nghi. Đi tìm và nắm
bắt thực tướng của Tham , Sân, Si, Mạn và Nghi thì không
nắm bắt được thực thể của nó. Bởi vậy, tìm một cái để
nắm bắt cho được thì không thể được. Bởi vì Nhân Quả
sanh diệt và biến dị. Các quả đều dị thục, khi chín thì
khác với lúc chưa chín. Gạo thì khác với cơm, trẻ thì
khác với già, mỗi mỗi tướng trạng đều luôn biến dị trong
từ sát na nhỏ nhiệm của thời gian. Một chủng tử phải
chịu sự chi phối của sáu chiều của cuộc sống. Ba chiều
của thời gian là quá khứ, hiện tai và tương lai không
ngừng nghĩ. Cái chủng tử trong hiện tại lại chịu chi
phối bởi thế giới ba chiều trong hiện tại là chiều cao ,
chiều sâu và chiều rộng. Sự hiện diên của một sinh thể
hay một hạt lúa thì đều phải có cái thế giới đang cưu
mang nó. Từ mặt trời trên cao cho đến các sinh vật chung
quanh đều có tác động tương quan tương duyên với sinh
thể, theo ba chiều cao , sâu và rộng. Chủng tử không
phải là cái đơn lẻ không liên quan gì với chung quanh.
Không hề có cái biệt nghiêp nào mà không có cộng nghiệp
trong đó. Không có cái cộng nghiệp nào mà không tác động
đến biệt nghiệp. Hiểu được sáu chiều của cuộc sống của
một chủng tử thì phải hiểu sinh thể là một chúng sanh.
Chúng sanh này không thể rời thế giới cộng nghiệp mà tồn
tại. Vì vậy bồ tát không có bệnh mà vì chúng sanh mà
bệnh. Nguyên của Bồ Tát cũng từ chúng sanh mà phát khởi.
Chúng sanh vắng lặng thì bồ tát mới vắng lặng. Chính vì
vậy mà nguyện của Đia Tạng Bồ tát không bao giờ tận.
Nguyện của Bồ tát Quán thế-Âm cũng chẳng bao giờ dừng
nghĩ khi chúng sanh còn khổ đau. Nếu nắm bắt được khổ
đau của chúng sanh thì Nguyện của Bồ Tát cũng không còn.
Đây là cái diệu nghĩa của Phật tử khi phát nguyên rằng :
Hư không hữu tận ngã nguyện vô cùng, tình dữ vô tình
đồng viên chủng trí.
Hư Không dù không còn nửa, thì nguyện của tôi vẫn
còn. Bởi vì Hữu tình và vô tình đều là [chủng tử] hạt
giống của Trí tuệ.
Cái cảm niệm của chú, khi nghe tammydan muốn nghe
thầy giảng 12 nguyện của đức Quán Thế Âm, nên sẻ chia
đôi chút như vậy. Mong sẽ có dịp nói nhiều hơn vì thời
giờ có hạn không cho phép nói lắm lời.
Mến
chào tammydan