VẾT THƯƠNG TIỀN KIẾP
Thuý
Lâm Synh
Một buổi trưa,
ánh nắng vàng chan hòa trải trên cánh đồng lúa xanh mơn mởn
hai bên khúc đường mới nối từ phía nam Liên Sơn lên ngã ba
Thành. Chiếc xe đò Thuận Thành đang bon bon thì có hai xe
Jeep mui trần, chở đầy cảnh sát vừa mặc sắc phục, vừa xơ-vin
rượt theo. Khi vừa qua mặt, bằng loa khuếch đại cảnh sát ra
lệnh:
“Tấp vào lề,
tấp vào lề ngay”
Khi chiếc xe đò
dừng hẳn, các viên cảnh sát, tay cầm súng ngắn phóng xuống.
Họ cùng nhào lên xe đò một cách vội vã, làm như thể tội phạm
sẽ mọc cánh bay mất. Những gương mặt nghiêm trọng, gắn theo
những đôi mắt sát khí. Một cảnh sát viên hỏi:
“Trên xe nầy,
có ai tên Dậu... Trần Dậu?”
Trần Dậu tái
mặt như người trúng gió, ấp úng:
“Dạ! tờ..tờ..
tôi...”
Cảnh sát đưa
súng về hướng Trần Dậu ngoắc ra lệnh.
“Mời anh xuống
xe.”
Trần Dậu run
lên, dù chưa biết mình bị bắt về tội gì. Trong một thoáng
rất nhanh, anh nghĩ ngay đến tấm chứng chỉ hoãn dịch vì lý
do gia cảnh đang sử dụng - con một của gia đình có mẹ già
trên 60 tuổi. Giấy thì là giấy thật, do Phòng Trưng Binh
tiểu khu Quảng Nam cấp, được gia hạn mỗi năm. Chỉ có hoàn
cảnh Trần Dậu dĩ nhiên không phải là con một mà gia đình có
tới năm anh em trai, không mấy hòa thuận; khiến mỗi khi có
việc cãi cọ, to tiếng với nhau hàng xóm có kẻ xấu mồm còn
gọi là ngũ quỷ. Trần Dậu lạng quạng đi xuống xe, anh vấp
phải gói hành lý suýt té vì hai tay đã bị còng phía sau. Một
viên cảnh sát choàng tay vào nách đẩy Trần Dậu lên xe Jeep
đang nổ máy.
“Còn hành lý
của tôi nữa ạ” – Trần Dậu nói.
“Không mất đâu!”
– Viên cảnh sát lớn tiếng.
Một người trong
nhóm cảnh sát nói với lơ xe:
“Mầy leo lên
mui tìm hành lý cho ông nầy”
Lơ xe phóng lên
mui, đưa mắt về chiếc xe Jeep có Trần Dậu, hắn giơ cao cái
xách màu đỏ lên hỏi trổng:
“Phải xách nầy
không?”
“Không phải” –
Trần Dậu đáp.
Lơ xe càm ràm
một mình:
“Mẹ...cả đống
như thế nầy biết cái nào của thằng chả.”
Thấy loay hoay
mãi, Trần Dậu hướng mồm về cậu lơ xe nói lớn:
“Cái xách màu
xanh nước biển, bên ngoài có chữ trắng.”
“Cái nầy chứ
gì?”
“Đúng rồi“
Chuyền tay cho
cái xách Trần Dậu xuống đất. Viên cảnh sát vội vã mở dây
kéo, trong xách tay không thấy gì ngoài quần áo. Cảnh sát mò
tay vào các túi áo quần, họ lấy ra tất cả trong đó có gói
bạc ràng dây thun từ túi áo pilot mà Trần Dậu tin là Ngọc
Loan đã nhét vào xách cho anh trước khi đi. Viên cảnh sát
gục gật đầu như hài lòng với tang vật tìm thấy.
Trần Dậu sau đó
được đưa về ty cảnh sát Khánh Hòa để lấy khẩu cung và tạm
giam. Cuộc điều tra được phối hợp chặt chẽ giữa ba cơ quan
tư pháp cấp tỉnh, Quảng Nam - Bình Định và Khánh Hòa. Một
bản cáo trạng được thành lập. ‘Trong phòng nạn nhân, dấu tay
Trần Dậu được tìm thấy trên cuốn album có hình những ngôi
nhà. Tay nắm cánh cửa chính, vẫn thấy dấu tay in trên ấy”.
Tóm lại: Theo cuộc điều tra của cuộc cảnh sát Qui Nhơn và sở
tư pháp Bình Ðịnh, thì Trần Dậu là người cùng đi ăn khuya
với nạn nhân và cũng chính trong đêm ấy, Trần Dậu đã mưu sát
để cướp của. Xấp tiền 500 ngàn có đính một vết máu của nạn
nhân được lấy ra từ túi áo pilot Trần Dậu. Vì những tang vật
và dấu vềt tại hiện trường, Trần Dậu trước vành móng ngựa đã
không đường nào chối cãi. Ba tội trạng hi hữu là cái gai
trong mắt trung tá chánh án Phan Duy Toàn, năm phụ thẩm nhìn
nhau đều kết luận chính Trần Dậu là hung thủ. Bản án tử hình
đang treo lơ lửng chờ ngày đưa cuộc đời Trần Dậu xuống tận
đáy mồ.
Trong quân lao
Nha Trang, Trần Dậu được biết nơi đây có nhiều tay cô hồn
các đẳng – đàn anh giới giang hồ, đâm thuê, chém mướn; nhưng
có lẽ chẳng ai buồn tìm hiểu về gốc gác Trần Dậu. Một người
sinh trưởng ở làng nhỏ nằm ở ngoại ô thành phố Đà Nẵng, Trần
Dậu một thầu khoán có tài, năng động, bảnh trai. Không theo
hết chương trình cao đẳng sư phạm, bỏ học, la cà, chè chén,
đôi lúc còn gây phiền lòng cho 'hàng xóm cần sự yên tịnh
nghỉ ngơi'. Thế nhưng, sau khi bị bắt lính mấy năm, đào ngũ,
man khai công chứng thư, lấy vợ... Như chuột sa hũ nếp, vợ
Trần Dậu là con nhà giàu, nhan sắc dưới trung bình nên học
giỏi, thông minh. Của hồi môn đã tạo cho Trần Dậu một cơ
ngơi bề thế, anh đã biết cách xoay xở, để trở nên một thầu
khoán có tên tuổi sau những công trình xây cất. Mái ấm gia
đình Trần Dậu gồm hai đứa con; một trai, một gái và người vợ
ngoan, hiền, hết mực thương con, yêu chồng.
Một ngày mùa
thu chưa có chiếc lá vàng nào rụng năm 1973. Trần Dậu từ giã
vợ con để về Sài Gòn thầu xây cất một cây cầu bắc ngang sông
Biên Hòa trên Quốc Lộ Một; theo cáo thị đấu thầu của chính
phủ mà anh đã nhận trước đó. Ngọc Loan, vợ Trần Dậu ưu tư
đến bên chồng, thỏ thẻ:
“Không hiểu
tại sao, đêm qua em nằm mơ thấy anh trở về với mái tóc bạc
phếu, em lo quá!”
“Em lại đi tin
những chuyện nhảm nhí ấy rồi”
Mắt Ngọc Loan
chớp nhanh, hai giọt lệ lăn xuống.
“Quả tình em
rất lo.”
“Em an tâm. Ở
nhà trông coi các con chu đáo, nhớ tưới mấy chậu phong lan
cho đúng thời khóa biểu, xong việc anh về ngay. Nếu trúng
thầu, anh sẽ đưa em và các con về Sài Gòn hoặc Thủ Đức ở.
Sự lo âu vẫn
bám theo trí Ngọc Loan, nàng tiếp:
“Không những em
chiêm bao một lần mà sau khi tỉnh giấc, em thấy còn sớm quá
nên ngủ lại và vẫn thấy khi trở về, anh đưa tay dở mũ, đầu
tóc anh bạc không còn sợi nào đen nữa”.
“Thôi mà, hãy
xếp đồ vào xách tay cho anh.”
Ngọc Loan biết
không ngăn cản được chồng, những gì Trần Dậu quyết định
thường được coi là tối hậu. Nàng riu ríu vào trong xếp hành
trang cho chồng.
Chuyến xe đò
Thuận Thành chật ních hành khách khởi hành rất sớm. Trần Dậu
định sẽ nghỉ qua đêm tại Qui Nhơn nên chỉ mua vé đến đó. Lâu
lắm rồi, từ khi bỏ cao đẳng sư phạm, trở về quê, vào lính,
anh chưa hề trở lại nơi đây. Trần Dậu định bụng, thể nào khi
đến Qui nhơn, anh cũng rủ vài người bạn cũ đi thưởng thức
lại những món ăn bình dân, vốn một thời đã lôi kéo đám học
sinh xa nhà. Anh nhớ bánh xèo Tăng Bạt Hổ, bún bò Bà Cam,
quán cơm Bà Lâm Huế, Cafe Tùng, đặc biệt nhất là quán Chè Sư
Phạm - nơi có cô Quý, chủ quán với cái răng khểnh thật cao
ngạo đã một thời làm anh mê tít thò lò.
Chiến trường
bắc Bình Định lúc bấy giờ bắt đầu sôi động mạnh. Quãng đường
Sa Huỳnh, Tam Quan, Bồng Sơn lở lói và nguy hiểm vì mìn nổ
mỗi ngày. Xe đò thường thường bò theo những vết bánh xe nhà
binh chạy mở đường trước. Sau gần cả ngày lúc mau lúc chậm,
Trần Dậu tới bến Qui Nhơn trời đã tối, anh ta kêu xích lô
chở thẳng đến khách sạn Thái Bình. Sau khi tắm rửa, Trần
Dậu thấy đói nên xuống đường kiếm gì ăn khuya trước khi đi
ngủ.
Tại tiệm phở,
Trần Dậu lại được làm quen với Lê Quốc Lâm, một tay thầu
khoán khác đang hành nghề tại Hội An. Trần Dậu được biết Lâm
đã đi cùng chuyến xe đò từ Đà Nẵng vào, lại cùng ở chung
khách sạn, đối diện phòng Trần Dậu. Hai người mới quen, ngồi
trao đổi với nhau về kinh nghiệm làm ăn cho đến khi quán phở
đóng cửa. Họ cùng trở về khách sạn. Lâm mời Trần Dậu vào
phòng, cho xem hình chụp những công trình đã hoàn tất, và
một số công trình đang thực hiện. Sau đó Trần Dậu chia tay
về phòng. Ðường xa mệt mỏi, Trần Dậu liệng mình lên giường
là ngáy khò. Ngày hôm sau, Trần Dậu đón xích lô đi thăm mấy
người bạn cũ. Họ mừng rỡ sau nhiều năm không gặp, không thư
từ. Nhưng rồi nỗi buồn dấy lên khi Trần Dậu biết được một số
bạn hữu sống ở Qui Nhơn vào quân ngũ và tử trận. Chiến tranh
đã tàn phá dữ dội cả hai miền đất nước, biết bao người ra
đi, đi mãi, không về. Buồn vui nào cũng qua, Trần Dậu chia
tay các bạn, về lại khách sạn để sáng hôm sau lên đường sớm
về Sài gòn.
Tiếng kêu khô
khan đâu đó của bản lề cửa sắt kéo Trần Dậu về thực tại. Bản
án của Tòa Quân Sự vùng II đã kết tội trạng giết người cướp
của mà Trần Dậu không hề biết đến. Hơn ai hết, anh biết mình
bị hàm oan, nhưng không thể chối cãi bởi tang vật nằm trong
xách tay của mình. Có một điều anh không hiểu được là xấp
tiền Ngọc Loan nhét thêm vào xách tay cho anh, anh lấy bọc
vào túi áo pilot lại có vết máu khô là thế nào? Tại Qui Nhơn
anh không hề có ân oán giang hồ với ai, thì tại sao lại có
người muốn hãm hại.
Sau khi nghe
tin chồng bị bắt, dù chưa rõ nguyên do nào, Ngọc Loan tức
tốc dẫn hai con vào quân lao Nha Trang để thăm và tìm hiểu
sự thật. Nơi đây, Ngọc Loan được biết, sở dĩ Trần Dậu bị
chuyển từ Tòa Sơ Thẩm Khánh Hòa qua Tòa Án Quân Sự Vùng II
vì Trần Dậu là một quân nhân đào ngũ. Không bỏ cuộc, Ngọc
Loan đưa đến phòng tạm giam một luật sư tài giỏi của thành
phố Nha Trang mà nàng đã tìm hiểu mấy ngày nay. Sau khi trao
đổi với thân chủ và nghiên cứu tình huống, luật sư Bùi Văn
Thụ lắc đầu, ông chép miệng nói với Ngọc Loan:
“Tôi chỉ có
thể cố gắng, trường hợp ông nhà, tôi không lấy gì bảo đảm.
“Luật sư ráng
giúp nhà tôi, tốn kém ra sao, ông cho tôi biết, tiền nong
không thành vấn đề, tôi nghĩ chồng tôi không thể là kẻ giết
người.”
Luật sư Bùi Văn
Thụ gật đầu chào nghi can, bắt tay Ngọc Loan, ông khuyên bà
về nhà chờ ngày ra tòa.
Quả nhiên danh
bất hư truyền. Không biết bằng cách nào, ở giờ phút cuối
cùng trong phiên xử, bên phía nạn nhân không có luật sư biện
hộ, không ai chống án, chỉ có công tố viên mà thôi. Với kinh
nghiệm cả nửa cuộc đời trong nghề luật sư, Bùi Văn Thụ xem
các công tố viên không phải là đối thủ. Tài biện hộ của ông
không phải chỉ nổi tiếng ở Nha Trang mà còn vang danh khắp
Miền nam Việt Nam thời bấy giờ. Tội danh được thành lập, từ
bản án tử hình xuống còn 25 năm tù giam. Trong đó có bao gồm
các tội danh khác - man khai hộ tịch, quân nhân đào ngũ, sử
dụng công chứng thư giã v.v...
Quân Lao Nha
Trang bỗng nhiên được cắt ổ khóa. Tù nhân tháo chạy tán loạn
như ong vỡ tổ. Trần Dậu ngơ ngác hay tin thành phố đang bỏ
ngõ mời đón địch quân tiến chiếm. “Lạ nhỉ. Quân đội hùng
mạnh như thế, vũ khí tối tân như thế mà bỏ chạy trước khi
giặc tới là thế nào?” – Trần Dậu tự hỏi như vậy. Thôi thì
“vận nước đã đến rồi”. Đối với Trần Dậu thì đây là một điều
may, bản án 25 năm mới thi hành hơn một năm. Lúc đầu Trần
Dậu định bụng về quê tìm vợ và con, nhưng một cuộc nam tiến
vĩ đại, những tuần lễ cuối tháng tư năm 1975 tại miền Trung
là đường một chiều, tìm chiếc xe chạy ngược ra là chuyện
lông rùa, sừng thỏ.
Thế rồi Trần
Dậu cũng chạy theo đám tù binh từ Quân Lao Nha Trang, đi bộ
suốt đêm với hành trình ngót 60 cây số tới Đá Bạc Cam Ranh.
Nơi đây, anh lại cũng theo sự lèo lái của các tay tổ băng
Năm Vĩnh, lấy ghe dân chài chạy ra chiếc tàu hàng Pioneer
Contender do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mướn đang neo ngoài khơi
đón người tỵ nạn dự trù đưa vào Vũng Tàu.
Thế nhưng, vì
lý do an ninh, tàu Pioneer Contender và tất cả các tàu từ
miền trung về không được cập bến Vũng Tàu mà trực chỉ đảo
Phú Quốc theo lệnh của chính phủ Trần Thiện Khiêm. Vào trại
tạm cư Phú quốc, Trần Dậu ra sức tìm manh mối người thân.
Loa phóng thanh của trại ra rả cả ngày, những tụ điểm giấy
dán kín mít. Có người may mắn tìm được thân nhân, mặt mày
rạng rỡ, có người xuýt xoa thở vắn than dài, mặt hốc hác
buồn xo như hoàn cảnh Trần Dậu.
Nhưng chịu đựng
không được bao lâu, Trần Dậu nhớ vợ con, chàng chui ra khỏi
trại tạm cư An Thới, qua Dương Đông mướn tàu máy để về Rạch
Giá. Lặn lội về tới Sài Gòn thì đã nghe tình hình chiến sự
càng phức tạp. Cộng quân đã vây hãm thủ đô, những chống trả
lấy lệ của Sài Gòn không đủ cản ngăn được khí thế tiến quân
của bắc phương. Chính phủ Dương Văn Minh phải ra một thông
cáo thừa thãi “Yêu cầu những người Mỹ phục vụ trong cơ quan
DAO (Defence Attached Office) phải lập tức ra khỏi lãnh thổ
Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 24 giờ”. Thật ra, người Mỹ đã
có ý rút ra khỏi cuộc chiến từ thỏa ước 27 tháng 1 năm 1973.
Thỏa ước nầy VNCH coi như hoàn toàn thất thế, chiến cụ chỉ
được thay thế khi bị hư hỏng hoàn toàn (piece by piece
program). Và với làn sóng phản chiến cao độ của nhân dân,
quốc hội Mỹ không thuận chi thêm 300 triệu, khiến VNCH rơi
nhanh xuống triền như viên đá cuội.
Khi Miền Nam
hoàn toàn đổi chủ, giao thông còn khó khăn, thế mà Trần Dậu
vẫn tìm về tới Đà Nẵng. Xa xa, ngôi biệt thự ẩn hiện dưới
cơn nắng như đổ lửa mùa hè; mồ hôi, bụi đường đã làm cho
chiếc áo trắng trên người Trần Dậu trở nên màu huyết, toát
mùi chua loét. ‘Về mái nhà xưa’ nay đã biến thành văn phòng
hành chánh lâm thời xã. Hỏi thăm láng giềng, người ta cho
biết Ngọc Loan cùng hai con đã đi đâu từ tháng ba không hề
trở lại. Trần Dậu uể oải lội bộ về thăm mẹ, và người anh kế,
hai anh em tay bắt mặt mừng, nhưng người anh thở dài xụi
mặt:
“Nghe chú mầy ở
tù, mấy anh em định làm một chuyến vào thăm, nhưng hẹn mãi
vì hoàn cảnh đứa nào cũng gặp khó khăn. Thím cũng tệ, nó có
cho ai hay đâu. Cho đến khi bà già ngã bệnh, thím mới nói
thì lúc đó đi lại đã khó khăn rồi. Má cũng mãn phần chôn kế
bên mộ ông già.”
Trần Dậu đến
thắp nhang trước bàn thờ mẹ, cùng các anh đi viếng mộ phần.
Sau bữa cơm thanh đạm, Trần Dậu chia tay các anh, chàng
quyết định lao cuộc đời vào nơi vô định. Thật ra chuyến xuôi
nam lần nầy, Trần Dậu hoàn toàn không biết chủ đích.
Khi xe đi ngang
ngã ba Phú Tài, anh chợt nhớ đến Qui Nhơn, nhớ rất rõ việc
mình bị hàm oan giết người. Tại sao lại có những oan khiên
như thế? Thủ phạm là ai? Luật công bằng đang nằm ở đâu?
Nhưng giá như miền nam không đổi chủ thì Trần Dậu có lẽ phải
ngồi bóc thêm hơn 23 cuốn lịch. Với anh thì đây là dịp may
hiếm có, nhưng may mắn đó không đánh đổi hoàn cảnh khi được
tự do về đến nhà mà vợ con không tìm thấy. Nhất là vợ anh,
Ngọc Loan có thể còn nghĩ anh là kẻ giết người. Bằng chứng
là khi Ngọc Loan vào thăm nuôi, những giải thích của Trần
Dậu đã không hề tìm được sự thông cảm nào trên gương mặt của
nàng mà trái lại trong đôi mắt ấy vẫn toát ra vẻ nghi ngờ,
khinh miệt. Đó chính là động cơ thúc đẩy anh la cà nơi thành
phố mới đổi tên để hi vọng một ngày nào đó tìm được vợ và
con và một lời giải thích.
Ngày ngày đạp
xích lô, ăn uống qua loa ngoài đường, đêm về Trần Dậu tá túc
tại chùa Thiên Sơn ở quận Bình Thạnh. Thầy Thích Tâm Tựu trụ
trì ngôi chùa thỉnh thoảng lại có khóa giảng kinh, pháp cho
thính chúng. Cả ngày đạp xe mỏi mệt, khi về Trần Dậu chỉ có
đủ giờ tắm rửa và leo lên giường. Thế nhưng chỗ nằm của Trần
Dậu lại sát vách với chánh điện nên lâu dần tai chàng cũng
nghe được lời kinh tiếng kệ, những gì thầy giảng; do đó cũng
xâm nhập ít nhiều. Dần dần, Trần Dậu tìm ra sự an lạc trong
tinh thần. So với trước kia anh không hề để tâm đến tôn
giáo, quan niệm lễ lạy, thờ cúng theo Trần Dậu là một cái gì
phảng phất mê tín.
Những lúc không
có khách, Trần Dậu thường đẩy chiếc xích lô đến dưới bóng
của tàng cây bàng, nằm trên ghế đọc những bài kinh đơn giản,
ngắn mà chàng mượn trong tủ sách nhà chùa. Đặc biệt quyển
sách nhỏ “Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời” đã làm cho Trần Dậu thay
đổi tư duy. Té ra đạo Phật nó len lỏi trong công việc hàng
ngày, nó tìm ẩn trong sinh hoạt bình thường như đi, đứng,
nằm, ngồi, nói năng, suy nghĩ...Tâm an lạc thường gắn liền
với lòng vị tha. Thân an lạc đi đôi với sự hạn chế đua đòi,
tập buông xả... Đang nằm lim dim, Trần Dậu giật bắn người
choàng tỉnh, một ông khách hơ hải, máu chảy thấm xuống ướt
hai ống quần, xuống tới bàn chân.
“Đi bệnh viện
hả?”- Trần Dậu hỏi.
“Ừ, ông chở tôi
tới bệnh viện để may vết thương, đ.m. nó lụi tui bằng cây
sắt, đau quá...”
“Lên xe mau đi,
máu me ra ướt nhẹp, coi chừng ông qua đời bây giờ.”
Sực nhớ tới
bệnh viện Nguyễn Văn Học, Trần Dậu rướn người đạp thục mạng
đưa nạn nhân đến đó. Đẩy thẳng xích lô vào sân, leo xuống,
thấy người kia quẹo đầu qua một bên, làm Trần Dậu hốt hoảng
kêu:
“Ông ơi! Ông có
sao không?”
Không nghe trả
lời, Trần Dậu choàng tay sau lưng ôm xốc người kia chạy vào
đặt ngồi trên chiếc ghế ở phòng cấp cứu, gọi lớn:
“Có bác sĩ
không, mau ra cứu người“
Từ trong phòng
nào đó có tiếng vọng.
“Chờ chút”
“Người ta sắp
chết, còn chờ”
Đến lượt cô y
tá há mồm:
“Sao vậy?”
“Bị đâm”
Cô y tá phóng
vô trong rồi đẩy ra chiếc giường có bánh xe. Cô ra dấu cho
Trần Dậu ôm nạn nhân đặt lên giường. Đoạn cô đẩy vào phòng
cấp cứu có kéo tấm màn vải màu xanh lơ. Trong phòng cấp cứu,
hai vị bác sĩ và mấy người y tá loay hoay làm việc. Nghe nói
không có tiền trước hoặc biết không có tiền, bệnh viện không
chịu cứu, có lẽ chỉ đúng một phần. Có tiếng vọng ra ‘Ông
nầy không băng bó, chắc tiêu’
Khoảng gần nửa
giờ sau, Trần Dậu thấy nạn nhân được chuyền nước và đẩy đi.
Khi ngang chỗ Trần Dậu ngồi, cô y tá lúc nãy ghé tai Trần
Dậu:
“Đưa người nhà
ông đi chụp hình, bác sĩ nói thận có thể bị thương”
Trần Dậu ngồi
thừ người nhìn theo, bụng đang đói cồn cào vì từ sáng đến
giờ anh chỉ có gói xôi lót dạ. Trần Dậu đang nhón người đứng
dậy định chạy ra ngoài kiếm gì ăn thì một vị bác sĩ ngoắt
anh đến hỏi:
“Anh máu gì?”
“Không nhớ rõ”
– Trần Dậu nhún vai trả lời.
Bác sĩ nói:
Anh phải giúp
người nhà anh, hai quả thận anh ấy bị nát bấy, không chữa
được.
“Bao nhiêu
tiền?” – Trần Dậu hỏi.
“Tiền không
giải quyết gì được, anh phải cho một trái thận”
Trần Dậu như
người trúng gió, ấp úng hỏi một câu vô nghĩa:
“Rồi tôi còn
sống không?”
Vị bác sĩ mỉm
cười đáp:
“Con người chỉ
cần một trái thận là đủ, nếu anh đồng ý cho đi một trái thì
chúng tôi xét nghiệm xem máu anh có cùng loại với người nhà
anh hay không và dĩ nhiên cũng phải biết anh có mắc bệnh gì
không đã.”
Sau vài giây
suy nghĩ, Tiếng nói trầm ấm của thầy Tâm Tựu chợt vọng về
trong trí Trần Dậu ‘Làm được việc gì cho người khác cứ làm,
đừng bao giờ hỏi người đó là ai, đừng mong cầu sự trả công
vì, mong như thế mất đi ý nghĩa bố thí’.
“Được, tôi đồng
ý, các ông cứ lấy máu tôi mà xét”
Bác sĩ ra lệnh
cho y tá dẫn Trần Dậu đến phòng thí nghiệm. Sau khi lấy mấy
ống máu đem đi. Trần Dậu nghĩ lại sự quyết định vội vã của
mình, anh muốn chạy theo xin hủy bỏ, nhưng đít anh vẫn như
có keo không chịu rời khỏi ghế, tư tưởng lúc nầy giằng co dữ
dội. Mấy phút sau, y tá trở lại cho hay Trần Dậu có loại máu
O, cùng loại với nạn nhân. Trần Dậu nhắm mắt ‘âu đó cũng là
dịp đầu tiên trong đời anh làm phúc giúp người’.
Thế là hai cuộc
giải phẫu xảy ra cùng lúc. Một toán bác sĩ giỏi trước năm 75
của bệnh viện Vì Dân được điều động đến trợ giúp. Một trái
thận của Trần Dậu được cắt sẵn sàn thay vào vị trí sau khi
hai trái thận hư của nạn nhân vứt đi. Trước khi đánh thuốc
mê, Trần Dậu không quên nhờ y tá báo về chùa cho thầy Tâm
Tựu hay là anh ta không về được vì phải ở bệnh viện săn sóc
một người bạn, đồng thời nhờ nhân viên bảo vệ bệnh viện đẩy
chiếc xích lô vào trong cất giùm.
Ánh nắng ban
mai sáng trưng đã lùa vào phòng, hai chiếc giường kê sát
nhau chỉ cách một người đi. Cô y tá chừng 20 tuổi, mặc
blouse trắng đến bên giường hỏi:
“Các anh có
người nuôi không? Hôm qua nay chẳng thấy ai vào thăm?”
Trần Dậu lắc
đầu, nói giọng yếu ớt:
“Tôi thì không
có ai nuôi, không biết anh ấy có ai không?”
“Hai người là
bạn nhau mà, sao không biết!”
“Ảnh bị thương,
máu me đầy người, tôi đạp xích lô chở ảnh vào bệnh viện, ảnh
bị nát hai trái thận, bác sĩ đề nghị tôi cho bớt một trái,
tôi đồng ý.”
Cô y tá đưa tay
đỡ ngực buột miệng:
“Mô Phật, hai
người không quen biết nhau, sao ông lại tử tế quá vậy”
“Tôi không
biết” – Trần Dậu nhún vai.
“Bệnh viện phí
ai chịu?”
Thay vì trả
lời, Trần Dậu hỏi lại cô y tá:
“Bệnh viện phí
có đắt lắm không cô?”
Người kia nãy
giờ nghe tất cả, thuốc mê giảm dần tác dụng. Anh ta cảm động
vô cùng bởi nghĩa cử cao đẹp của anh phu xích lô, người đã
ra tay cứu anh thoát chết.
Khi y tá ra
khỏi phòng, người nhận thận nói:
“Anh ơi! Tôi
Trương Vịnh, anh là ân nhân đã cứu tôi thoát chết, anh cho
tôi trái thận, suốt đời nầy tôi nguyện làm bất cứ điều gì để
tạ ơn anh”.
“Anh làm gì mà
người ta lụi anh như thế?”
“Tôi bán chiếc
xe gắn máy triệu hai, tụi nó vừa xem thẻ chủ quyền, thử xe
và cướp luôn không chồng tiền. Tôi rượt theo đòi lại, hai
thằng khác trong hẻm nhào ra đánh tôi. Một thằng dùng cây
sắt có đầu nhọn lụi vào người tôi lủng ruột, đau quá tôi
chạy tới cầu cứu với anh, rồi sau đó xỉu luôn, đâu còn biết
gì.’
Không biết thật
hư, Trần Dậu nói đưa theo:
“Ở đời, đôi lúc
tai bay họa gởi. Nhiều khi gió mình đã gieo từ lúc nào, bây
giờ bão nó đến đành phải gặt.”
“Anh đang đi tu
phải không?”
“Tu mẹ gì được,
tá túc bên hiên chùa, nghe mấy thầy giảng, nhai lại vài điều
cho có mùi tương chao.”
Trương Vịnh kéo
tấm chăn đắp phủ mặt vì hình như hắn đang bị sốt, giọng nói
run run:
“Có thể đúng
như thế anh ạ. Từ năm 74 cho đến nay, đời tôi luôn luôn bị
ám ảnh bởi hành động sát nhân. Dù tôi sống ngoài vòng pháp
luật, nhưng lương tâm tôi không phút nào yên ổn. Tôi cố đi
tìm người đã lãnh án thế cho tôi để chuộc lại tội lỗi và
giải oan cho người đó.”
“Chuyện đã mười
năm, hơi đâu anh bận tâm”
“Đồng ý là
chuyện cũ, nhưng việc đổ oan cho người ta lòng tôi không
chịu được.”
“Anh có biết
người đó hiện ở đâu không?”
“Trước năm
1975, nghe anh ấy bị tù, nhưng sau đó 'quân cách mạng' mở
thả hết tù, anh ấy đi về đâu không biết.”
“Làm sao anh có
thể đổ tội cho người khác dễ dàng như vậy mà cảnh sát không
điều tra được.”
“Câu chuyện dài
dòng lắm. Lùi lại mười năm trước, chuyện tôi còn nhớ rõ như
in thế nầy. Lúc ấy tôi còn trẻ, lại cần tiền để cung phụng
cô bạn gái vốn là một ca sĩ. Từ Hội An, tôi theo dõi một nhà
thầu khoán mới rút tiền ra từ Việt Nam Thương Tín. Trên xe
đò, tôi ngồi sát bên hắn nhưng không làm gì được. Hắn vào
trọ tại phòng 216 khách sạn Thái Bình ở Qui Nhơn. Khi hắn
xuống đường ăn tối, tôi vào văn phòng quản lý giả làm người
mướn bỏ quên bóp giấy tờ bên trong. Người quản lý cho thằng
bé lên mở cửa. Vào trong tôi tròng đôi găng tay, ra sức lục
lạo trong tủ áo, dưới nệm giường nhưng chẳng thấy tiền nong
đâu. Tôi đoán ông ấy đang giữ tiền trong người nên nấp dưới
gầm giường chờ về. Khi hắn về, không thay đồ ngủ, hắn gieo
người lên giường một lát là ngáy khò. Đến khuya, tôi nhẹ
nhàng trườn mình ra, định uy hiếp lấy ít tiền, không ngờ hắn
chống cự mãnh liệt, tôi hoảng quá đâm túi bụi, hắn ngã quỵ
xuống sàn. Khóa trái cửa bước ra, tôi nghe tiếng động ở
những phòng cuối dãy, lại thấy cửa phòng đối diện chỉ khép
hờ tôi nghiêng mình lẻn vào. Ánh đèn ngủ mờ mờ, nhưng vẫn đủ
sáng để cho tôi nhét xấp bạc lẻ vào túi xách tay. Tôi tính
lẻn ra về, nhưng cửa chính khách sạn đã khóa, tôi đi ngược
lên phía hành lang ngồi run lập cập chờ qua đêm. Thấy trời
hừng sáng, dưới lề đường, tiếng chổi lao công quét sột soạt,
tôi lặng lẽ ra bến xe, đi tài nhất về lại Hội An. Ngồi trên
xe, tôi hí hửng vì đã thực hiện việc dự định nhưng cùng lúc
tôi rất hối hận vì sợ ông ấy chết luôn.”
Trần Dậu không
đủ can đảm nghe hết những câu cuối của Trương Vịnh, hai tai
anh lùng bùng, vết thương nơi bụng đau lên, dường như nó
đang bắt đầu rướm máu; anh cố ngồi dậy để nhào qua bóp cổ
tên vô lại. Mặt Trần Dậu nóng bừng như lửa đốt, gan sôi lên,
cổ họng nghẹn cứng, anh tung chăn xoay người toan ngồi dậy,
vết thương một lần nữa bỗng đau nhéo lên từng hồi như cố ghì
thân hình anh lại. Cùng lúc đó tai anh lại nghe vọng về âm
thanh của Thầy Tâm Tựu ‘Nhân quả là một định luật bất
biến, cái quả ta nhận hôm nay có thể là nhân đã tạo từ kiếp
nào. Người không rõ luật nhân quả sẽ dễ dàng gây nên nên tội
ác’. Trần Dậu bàng hoàng, mồ hôi tuôn ra như tắm, anh
nhìn qua giường bên cạnh, Trương Vịnh nằm phủ đầu bằng tấm
ra trắng úa màu như một tử thi, tiếng rên khe khẽ của hắn
vang lên.
Thủy
Lâm Synh