|
|
VỀ
NHỮNG MINH HỌA TỪ THIỀN UYỂN TẬP ANH
Tác giả:
Tuệ Sỹ
Ngày gửi:
28/02/2006
Trích : Đàm
thoại Phật Pháp
Kể
từ khi được Ông Trần văn Giáp t́nh cờ
phát hiện từ đống giấy vụn của
một gánh hàng vụn phế thải, sau đó
được công bố bởi trường Viễn
đông Bác cổ,[1] Thiền uyển tập anh trở thành
tư liệu cơ sở cho các khảo cứu về
lịch sử Phật giáo Việt nam từ khởi nguyên
cho đến thế kỷ 13, cũng như các sinh
hoạt chính trị, xă hội, tôn giáo nước ta trong
suốt thời gian Bắc thuộc. Công tŕnh của ông
Trần Văn Giáp dựa trên tập sử Thiền này
được thực hiện khá công phu, nhưng do
thiếu nhiều tư liệu tham khảo, đối
chiếu để xử lư văn bản, do đó ông
đă không tránh khỏi một số sai lầm. Những
sai lầm ấy được lặp lại trong hầu
hết các quyển sử Phật giáo Việt nam tiếp
theo sau ông.
Trong năm
1973, Lê Mạnh Thát trong khi đi sưu khảo các tự
viện ở miền Nam đă phát hiện thêm các dị
bản của Thiền uyển tập anh.[2] Y cứ trên
các phát hiện mới, công tác xử lư văn bản
được thực hiện với rất nhiều
tư liệu liên hệ trong nền văn hiến
đồ sộ của Phật giáo Trung quốc, cũng
như trong kho tàng lịch sử Viêt nam, từ dă sử
đến chính sử, những truyền kỳ. Một
bản dịch tương đối hoàn chỉnh của
Thiền uyển tập anh được công bố, cung
cấp nhiều dữ liệu quan trọng khả dĩ
bổ sung, và đồng thời cải chính, những
điều được ghi chép bởi các chính sử
của Việt nam mà các tác giả của chúng phần
lớn dựa trên những thông tin đầy thành kiến
và xuyên tạc của sử liệu Trung quốc
đối với sự h́nh thành ư thức dân tộc
cũng như sự phát triển chính trị xă hội của
nước ta. Bản dịch san định do Lê Mạnh
Thát thực hiện này nhanh chóng trở thành văn bản
cơ sở cho nhiều khảo cứu lịch sử theo
sau nó. Một bản dịch Anh ngữ cũng đă
được thực hiện bởi Cuong Tu Nguyên, Zen in
Medieval Vietnam. A Study and translation of the Thiền Uyển
Tập Anh, xuất bản năm 1997, bởi ban tu thư
Viện Đại học
Thiền
uyển tập anh theo thể loại là một tác phẩm
thiền sử. Về h́nh thức, nó tương tợ
cách viết Cảnh đức Truyền đăng lục
của Đạo Nguyên (Tống, 1004). Thế nhưng,
Truyền đăng lục của Đạo Nguyên
thuần túy là một thiền sử, kư tải sự phát
triển của Thiền tông từ khởi thủy của
Phật giáo; trong khi đó Thiền uyển tập anh ngoài
sự kư tải các truyền thừa và phát triển các ḍng
thiền Việt nam, nó c̣n phản ánh khá rơ nét bối
cảnh xă hội Việt nam mà trường độ
thời gian kéo dài trên dưới mười thế
kỷ. Bài kệ thị tịch của Khuông Việt
(930-1011) sau đây có thể cho chúng ta thấy khá rơ nét
về điều này. Trước khi chết, Sư
truyền kệ lại cho Đa Bảo rằng:
Mộc trung nguyên hữu
hỏa,
Hữu hỏa hỏa hoàn sanh.
Nhược vị mộc vô
hỏa,
Toản toại hà do manh.[4]
Bản
dịch Pháp của Philippe Langlet:
A l’origine, le feu est dans le bois,
Le feu originel renaît sans cesse.
S’il n’y a pas de feu dans le bois,
Comment pourrait-on en faire jaillir en
le frottant?
[minh họa 49a]
Rơ ràng
đây là một bài thơ ngắn mang ẩn dụ siêu h́nh.
Nhưng nếu chúng ta nh́n nó từ vị trí lịch sử
của Khuông Việt trong liên hệ với các thế
hệ đi trước kể từ Định Không
trưởng lăo (730-808); với các Thiền sư
đồng thời như Pháp Thuận (925-990), cũng
như thế hệ tiếp nối theo sau là Vạn
Hạnh (?-1025), ngoài lớp vỏ tư duy siêu h́nh, bài
thơ cho thấy sự tiếp nối ḍng chảy liên
tục và trưởng thành của ư thức dân tộc và
một Nhà nước tự chủ.[5] Nó mang nội dung
gần như đồng nhất với các dự ngôn hay
sấm kư của Pháp Thuận và Vạn Hạnh về
sự xuất hiện của một nhân vật mà, qua
dự ngôn của Pháp Thuận,
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao
binh.[6]
Theo đó,
một thời thịnh trị sẽ đến với
đất nước sau nhiều thế kỷ bị
đô hộ và nô dịch.
Trong
phần tiểu sử tác giả, Philippe Langlet không bỏ
sót một chi tiết trong cuộc đời của Khuông
Việt, mặc dù theo một cách nh́n đó chỉ là
một câu chuyện hoang đường có vẻ không giúp
ǵ cho sự lănh hội bài thơ được dẫn
dịch của Giáo sư Philippe Langlet, cũng như minh
họa của Dominique De Miscault. Thiền uyển tập anh
chép, có lần Khuông Việt chiêm bao thấy Tỳ-sa-môn Thiên
vương (Vaiśravaṇa) xuất
hiện và tự giới thiệu sứ mạng của
ḿnh rằng được Thiên đế (Śakra devendra)
sai đến để bảo vệ quốc giới ngơ
hầu khiến cho Phật pháp được thịnh
hành. Sáng hôm sau, do theo giấc mộng, Sư vào núi t́m và
thấy một cây to.
Từ cây
bông gạo mà Trưởng lăo La Quư (852-936) trồng
trước chùa Châu minh,[7] qua cây cổ thụ của Khuông
Việt vừa đề cập, cho đến cây bông
gạo của Sư Vạn Hạnh bị sét đánh,[8] nó
là chuổi liên tục dự ngôn về sự xuất hiện
của Lư Thái Tổ. Sự kiện đó hoặc là sự
thật lịch sử, hay chỉ là hư cấu của ai
đó muốn minh giải một biến cố xă hội
hay một tín điều tôn giáo, thế nhưng ảnh
hưởng quần chúng của nó vẫn có thể
được t́m thấy rơ nét không chỉ trong Thiền
uyển tập anh, mà c̣n trong các truyền kỳ và kư
tải của các sử quan triều đ́nh.
Chúng ta
trở lại bài thơ của Khuông Việt với minh
họa của De Miscault.
Mộc sinh
hỏa, à l’origine, le feu est dans le bois, nguyên thủy, lửa
vốn ẩn tàng trong gỗ. Ngọn lửa ấy vốn
hiền ḥa, hài ḥa trong nguyên lư ngũ hành sanh khắc;
nhưng khi nó bừng cháy để làm nên lịch sử
văn minh nhân loại, th́ nó cũng có cơ trở thành thảm
họa. Qua ống kính của nghệ sĩ tạo h́nh,
Dominique De Miscault, ngọn lửa ấy không bốc
thẳng lên theo chiều thuận lư của Dịch lư
phương Đông, mà nó quằn quại trong từng
sớ gỗ dưới một góc nh́n minh họa; nó
chợt được thấy như bùng cháy từ
hỏa ngục, từ một mùa hỏa ngục của
Rimbaud: Une Saison en Enfer. Nó bốc cháy từ tổ tiên
người Gaulois, thiêu rụi những đồng cỏ,
lột da dă thú, rồi lần bước lịch sử
theo dấu chân của đoàn quân viễn chinh qua những
ngă đường của châu Âu: J’ai de mes ancetres gaulois… Les
Gaulois étaient les écorcheurs de bêtes, les brûleurs d’herbes les plus ineptes
de leur temps… [9]
Tuy dấu
chân của Rimbaud tiếp nối tổ tiên Gaulois lần
bước xuống tận châu Phi chứ không lần
về phương Đông châu Á, nhưng người
thưởng ngoạn ngôn ngữ và minh họa của các
tác giả Pháp, từ di ngôn, mà cũng là dự ngôn, của
Khuông Việt trước khi chết, muốn nh́n nó
ngắm từ một ḍng chảy thuần khiết trong
nền văn học Pháp qua h́nh thái biểu hiện
nhức nhối của ngôn ngữ đang nói lên nỗi
niềm khổ lụy hiện sinh. Đó cũng là góc nh́n
mà chúng tôi mượn tạm của nhà thơ Bùi Giáng trong
một bức thư gởi Réné Char, những ḍng chữ
được viết từ băo tố chiến tranh
đang tàn phá một đất nước, sát hại
một dân tộc: Nous pensons … à vous, Monsieur René Char, et aussi à
un courant discernable de pureté dans la litterature française … à travers
l’expression déchirante du malheur, oui, nous pensons à tout cela, en un temps
où l’ouragan s’abat sur notre pays et meurtrit notre peuple.[10]
Người
thưởng ngoạn như vậy có thể đang
cố ư chọn một điểm đứng và một
thời điểm để nh́n không theo cùng một
hướng của nhà nghệ sỹ tạo h́nh, nhưng
trong không gian và từ thể tính của tồn tại th́
ưu tư khắc khoải về lẽ sống nhân sinh
và chiêm nghịêm những điều kỳ diệu trong
sự vận hành của thế giới vẫn âm vang
một sự đồng cảm, mà chúng ta đọc
thấy trong phần giới thiệu bởi De Miscault: Le
mélange d’angoisse et d’admiration devant le mystère du monde a été vécu par
toutes les civilisations… Nous pensons en trouver un example dans les écrits
Các tác
giả của Un livre des moines Bouddhistes đang t́m vào các
thơ văn của các Thiền sư đời Lư; không
phải bằng những tư biện triết học,
không phải bằng những tư duy siêu h́nh, mà bằng
ngôn ngữ h́nh ảnh, t́m kiếm và ch́m lắng trong
một thế giới tĩnh lặng, vô ngôn, ở đó
thực tại tối hậu là khoảng chân không thăm
thẳm: la vacuité fondamentale de toute chose et même de l’ultime
réalité.[12]
Thực tại tối hậu
là ǵ? Qu’est-ce que c’est? Đó là một câu hỏi rất thông
thường trong giao tiếp hằng ngày; nhưng lại
là câu hỏi muốn vén bức màn kỳ ảo của
thời gian để nh́n sâu vào tính thể tồn tại.
Vậy, yếu tính của tồn tại, của cái
đang được ném ra đó, là cái ǵ? Thiền sư
Ngộ Ấn (1020-1088) nói: Diệu tính hư vô bất khả
phan. Yếu tính ấy, cái l’essence de l’être ấy, là cái
trống không mà nhận thức không thể nắm bắt,
mặc dù bản chất của ư thức là luôn luôn
vươn đến nắm bắt đối
tượng. Ở đây, Philippe Langlet không phiên giải
diệu tính trong bài thơ của Ngộ Ấn như là
yếu tính của tồn tại, mà hiểu nó là bản
chất hay tự tính huyền nhiệm:
La mystérieuse
nature du vide est inaccessible, …
La mystérieuse
nature đó có thể một thiên nhiên kỳ diệu,
được sáng tạo từ huyền nhiệm của
Thượng đế; mà Thượng đế th́ siêu
việt mọi tạo vật: Dieu transcende toute créature
(Catéchisme). Vậy, câu hỏi về thân phận con
người được nêu lên từ tư duy chiêm
nghiệm về bản tính huyền nhiệm này, như De
Miscault đă dẫn từ Pascal: Qu’est-ce que l’homme dans la
nature? Ta là ai, con người là cái ǵ, trong thể giới
này, trong bản tính huyền nhiệm của tồn tại
này? Câu hỏi xuất phát từ hai hướng Đông Tây
bất đồng, như trong cảm hứng để
thử trả lời, ta có thể t́m thấy sự
đồng cảm giữa Ngộ Ấn và Pascal. Với
Ngộ Ấn, con người không là ǵ cả, v́ tự tính
của nó không là ǵ cả. H́nh ảnh của cái không là ǵ
cả ấy là đóa hoa sen c̣n thắm đượm
sương mai trong ḷ lửa đang rực cháy. Trống
không, vô nghĩa, nhưng ngời sáng: tồn tại chỉ
có thể chiêm nghiệm trong mối quan hệ biện
chứng được kết cấu bằng những mâu
thuẫn nội tại. [minh họa 53a]
Trả lời của Pascal
cũng âm vang đồng điệu. Ta không là ǵ cả.
Tất cả mọi tạo vật đều từ
hư vô mà ra, tồn tại bao la ngang tầm vô hạn:
Toutes choses sont sorties du néant et portées jusqu’à l’infini. Con
người là tồn tại vô thể, là hư vô nếu
được nh́n từ vô hạn. Trong vô hạn, nó không
là ǵ cả. Trong cái không là ǵ cả, nó là tất cả. Con
người là một trung gian giữa không là ǵ cả và là
tất cả: Un néant à l’égard de l’infini, un tout à l’égard du néant,
un milieu entre rien et tout. Đồng điệu hay
đồng cảm này cũng được chia sẻ
bởi một Thiền sư khác: Từ Đạo
Hạnh (?- 1117), được chuyển tải qua ngôn
ngữ Pháp:
Existence. Le moindre grain de poussière existe.
Vide. Tout est vide
Existence et vide, c’est comme la lune
dans l’eau.
Ne vous attachez pas à l’existence ni à
l’idée du vide.
Tồn
tại và không tồn tại, có và không, hữu thể và
hư vô, chứa vô biên trong hạt cát, nắm vô hạn
giữa ḷng tay; thể tính hư vô bừng sáng thành hoa sen
trong biển lửa; đó là những tư duy và phát
biểu mang tính phản lư; đồng thời đó
cũng là sử tính của một dân tộc
được hiện tượng hóa trong chuỗi mâu
thuẫn biện chứng của hiện thực lịch
sử.
Ở
đây, sử gia và nhà nghệ sỹ tạo h́nh, bằng
ngôn ngữ của mâu thuẫn biện chứng và bằng
h́nh ảnh được thấy thường nhật
để phản chiếu sinh hoạt tầm
thường mà luôn luôn biến động của
đời sống thường nhật. Những cảm
hứng từ các h́nh ảnh này trong nhiều trường
hợp dẫn người thưởng ngoạn
đến những ư tưởng đầy bất
ngờ, vừa thống nhất vừa xung đột
giữa những cái nh́n mà ta quen nói là khác biệt Đông
Tây, khác biệt thời đại. Một trường
họp có thể dẫn ra ở đây là bài thơ của
Không Lộ, và h́nh ảnh minh họa. Trong bài thơ này, ngôn
ngữ Pháp đi rất gần với tiết nhịp
của âm vận tiếng Việt, mặc dù dịch
giả không cố diễn dịch nó theo tiết nhịp
thơ của ngôn ngữ Pháp:
Sur dix mille lieues le fleuve limpide, sur
dix mille lieues le ciel.
Un village avec des mûriers, un village avec
des fumées.
Le vieux pêcheur s’est endormi, personne ne
l’applelle.
Passé midi il se réveille, la neige a rempli
sa barque. [minh họa 54a]
Toàn thể
bài dịch Pháp c̣n phảng phất phong vận b́nh dị
của đồng quê Việt nam cũng như sinh hoạt
của nó. Trong khi đó, trong nguyên văn Hán của bài
thơ, do âm luật nghiêm túc của Đường thi,
mọi thứ trở nên trang trọng. Ngư ông trong nguyên
văn Hán mang phong thái tiêu dao của một ẩn sĩ.
Ngư ông trong bản dịch Pháp là một người dân
quê trong cảnh đồng quê bận rộn nhưng an
nhàn. Ngư ông trong minh họa mang dáng vẻ của một
con người sinh họat trong xă hội văn minh công nghiệp
đến từ phương Tây, đang vẩy tay chào
đón hoặc tiễn đưa, đứng giữa ḷng
sông trong lớp bụi mờ ẩn hiện h́nh ảnh
được minh họa từ câu thơ của Ngộ
Ấn: liên phát lô trung thấp vị can, La fleur de lotus eclose
dans un four est éternellement fraîche. Minh họa như thế là
nối liền quá khứ với hiện tại, một
quá khứ lịch sử đầy bi kịch đă hay
đang đi vào quên lăng, với hiện tại của
một xă hội đang biến chuyển để chào
đón hoàng hôn rực rỡ của trời Tây, La Crépuscule
de l’Occident (Spengler).
H́nh ảnh
ngư ông trong minh họa t́nh cờ khiến chúng ta nhớ
lại bóng dáng của Bùi Giáng đang đi giữa phố
phường hoa lệ
H́nh ảnh một Simone Weil
nhỏ thó, gầy ṃn, một tâm hồn nhạy bén
trước khốn cùng của những con người
khốn khổ, một ư chí ngoan cường, bướng
bỉnh của một cô giáo trẻ; h́nh ảnh ấy không
chỉ là biểu tượng cho sự trổi dậy
của tầng lớp yếu ớt trong bối cảnh xă
hội hùng cường, phú thịnh của phương
Tây; h́nh ảnh ấy một thời đă làm xao xuyến
tuổi trẻ Viêt nam lớn lên giữa khói lửa,
đang lắng nghe âm vang từ nhịp đập của
trái tim mang chứng tích đầy thương tích của
lịch sử văn minh, âm vang từ những suối
nguồn xa xôi mang những ước nguyện nhân bản
đến cho các dân tộc, đặt vấn đề
cho những con người đang bị bứt ĺa
truyền thống.
Khi một
tâm hồn bị bứt ĺa truyền thống, nó như
một con thuyền lơ lửng trôi xuôi theo định
hướng mù khơi ngoài phương trời vô
định; trôi ngang qua bà mẹ đang đứng
sững quay lưng hờ hững với con thuyền,
đang dơi mắt t́m vào bến bờ của quá khứ,
của cây đa bến cũ, con đ̣ năm xưa mà nay
đă vắng, đă mất. Thế nhưng, trong thể
tính uyên nguyên của ḍng sông lịch sử, mảnh trăng
treo từ trên đỉnh Lăng-già đang tỏa ánh sáng
trầm tịch trong khoảng không vô tận, cho con thuyền
định hướng ra biển khơi:
…Dans le grand
calme du clair de lune sur la montagne de Lanka,
Devant le vide
pour un bateau qui s’avance en pleine mer,…
[minh họa
56a]
Minh họa
này từ bài thơ của Tăng thống Huệ Sinh (?-
1076), thế hệ tiếp nối Thiền sư Vạn
Hạnh, vốn là minh giải triết học cho vua Lư Thái
Tông, ngẫu nhiên phản chiếu tâm t́nh lịch sử
trải dài suốt gần mười thế kỷ, qua
những minh họa mà chúng ta biết được
cảm hứng một phần từ tín điều
Catéchisme như được nói rơ trong bài giới
thiệu do Dominique De Miscault.
Suy nghĩ
từ những ḍng ngôn ngữ Pháp chuyển tải
những tư duy uẩn khúc của tư tưởng,
như những mặt gương khi mờ khi tỏ,
phản chiếu mấy đoạn đường quanh co
khi thăng khi trầm của lịch sử; chiêm quan những
h́nh ảnh minh họa cấu h́nh bằng phương
tiện kỹ thuật hiện đại mà thể tính là
những nguyên lư, những công thức cứng đọng,
khô cằn của lư trí hướng ngoại và chinh
phục; người đọc và người xem
để cho tâm hồn ḿnh di động bất
thường giữa những cảm hứng ngẫu nhiên,
hoặc trần thuật tiên cảm; từ đó quay nh́n
lại những đoạn lịch sử đă qua,
trải dài suốt trên hoặc dưởi mười thế
kỷ; những lộ tŕnh riêng biệt, với những
định hướng và định mệnh khác biệt,
ở hai phương trời cách biệt; những con
đường lịch sử ấy có khi được
thấy song song, có khi đối nghịch dẫn
đến sông núi ngửa nghiêng, đảo lộn, áp
bức, đọa đày, chiến tranh, giết chóc; có khi ḥa
quyện trong nỗi đau thương chung của thân
phận con người. Nhưng dù ở bên này hải
đảo, hay bên kia đại dương, mà trong cơi
tịch mặc vô ngôn, trong thế giới mặc nhiên vô
hạn, với những điều nói được và
không nói được, những h́nh ảnh kư họa
được hay không kư họa được, giữa
người và người, giữa các dân tộc dị
biệt, trong các truyền thống và văn minh tương
phản, vẫn c̣n ẩn tàng trong tận đáy sâu, trong
rung cảm đồng điệu của những trái tim
nhân hậu. Chúng tôi muốn nói, từ những chuyển
tải bằng ngôn ngữ Pháp thực hiện bởi Giáo
sư Philippe Langlet, từ những minh họa bằng
kỹ xảo của lư trí tư biện phương Tây
bởi nghệ sĩ tạo h́nh Dominique De Miscault, chúng ta
thử t́m lại dấu vết tâm tư của tiền
nhân, thử nh́n lại chính ḿnh từ đôi mắt của
những người khác, để tự khẳng
định chính ḿnh trong những cơn lóc thời
đại.
Xin cảm
ơn các tác giả đă đến với chúng ta trong
đồng cảm nhân loại, cùng chia sẻ những giá
trị phổ quát giữa những truyền thống
dị biệt.
Chú
thích:
[1]
Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en
[2] Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo
Việt nam, tập 3, NXB TP Hồ Chí Minh, 2002.
[3] Philippe Langlet, Un livre des moines Bouddhistes; Les Editions Aquilon,
Paris, 2005.
[4] Lê Mạnh Thát, Tổng tập 3, tr. 203: Trong cây vốn có
lửa/ Có lửa, lửa mới bừng/ Nếu bảo
cây không lửa/ Cọ xát do đâu bùng.
[5] Tuệ Sỹ, Những cuộc vận đông của Phật
giáo Việt nam dưới triều đại nhà
Đường, Tạp chí Tư tưởng, Viện
Đại học Vạn Hạnh, 1972.
[6] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam,
tập 2, tr. 498. NXB TP Hồ Chí Minh, 2001.
[7] Lê Mạnh Thát, Tổng tập 3, tr. 284: “(La Quư di chúc)
Ở chùa Châu minh ta có trồng cây bông gạo để
trấn chỗ, biết đời sau ắt có kẻ
hưng vương ra đời…”
[8] Đại Việt sử kư toàn thư, tờ 31a7: sét
đánh cây bông gạo làng Diên uẩn, Cổ pháp, để
lại hàng chữ: Thọ căn niểu niểu, mộc
biểu thanh thanh, ḥa đao mộc lạc, thập bát
tử thành. Theo chiết tự, bài thơ tiên đoán nhà Lê
mất, họ Lư lên thay.
[9] Arthur Rimbaud, Oeuvres, p. 196: Mauvais sang (Une Saison en Enfer).
Pocket, Paris 2005.
[10] Bùi Giáng, Lettre à René Char, Dialogue, Lá bối,
[11] Un livre des moines Bouddhistes: Introduction.
[12] Ibid.