![]()
![]()
![]()
Vẻ Đẹp của Ngôn Ngữ Miền
Tác Phẩm Bình Nguyên Lộc
Trần Kiêm Đoàn
Nguồn : Art2All.net
Khi nhắc đến những nhà văn cận
đại tiêu biểu miền Nam, các nhà
nghiên cứu văn học Việt Nam có thể
có những nhận định không đồng
nhất với nhau về phương pháp luận,
về cách phân chia những khuynh hướng
và trào lưu văn học; nhưng không ai
có thể phủ nhận được ba cây
bút tiêu biều cho ngôn ngữ miên Nam:
Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc và
Sơn Nam.
Năm 1960, khi còn là một học sinh trung
học, lần đầu tiên tôi được
đọc một truyện dài của Bình
Nguyên Lộc, đó là tác phẩm
Đò Dọc. Ở Huế thuở đó,
không hiểu tại sao tìm cho ra một cuốn
truyện như Đò Dọc thật khó.
Không rõ nguyên nhân vì Huế nghèo
không đủ sức buôn bán sách phương
xahay vì ngôn ngữ văn chương đậm
sắc thái đồng quê miền Nam chưa
hấp dẫn độc giả xứ nầy. Đến
khi tìm đọc được tác phẩm
nầy, phản ứng tâm lý tức thời sau
khi đọc truyện dài Đò Dọc là
tôi không cảm thấy có ấn tượng
mạnh như mình dự ước.
Trong việc thưởng ngoạn văn chương
và nghệ thuật, ấn tuợng sơ khởi
thường nặng tính chủ quan và cảm
tính. Cảm tưởng đầu tiên của
tôi bị chi phối do một phần ảnh
hưởng tâm lý khi tôi tự vẽ vời
ra một sự kết cấu éo le, gay cấn đi
song đôi với cách diễn đạt hết
sức là lâm li, bi tráng... “cần
phải có” trong một tác phẩm thời
danh. Đây là mong muốn thường tình
đối với một tác phẩm được
giới văn bút thường nhắc đến.
Một nỗi ám ảnh khác, là do tôi
đã đọc khá nhiều tác phẩm
tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn.
Trong đó, tác phẩm đã được
những cây bút mang đậm bản sắc
miền Bắc như Nhất Linh, Khái Hưng,
Hoàng Đạo... xây dựng nội dung và
nhân vật trên sự xung đột quyết
liệt và mâu thuẫn gay gắt, dẫn tới
hệ lụy đầy mâu thuẫn và chua cay
giữa hai quan niệm sống cũ và mới.
Đặc biệt là hình thức đối
thoại “chan chát”, cay co, sắc lẻm
của nhiều nhân vật trong truyện. Trái
lại, trong Đò Dọc từ kết cấu
nội dung, đến ngôn từ đối thoại
đều thuần hậu, gần gũi và nhẹ
nhàng như nếp sống chơn chất của
người dân miền Nam.
Nếu không có cái nghiệp đi chấm
thi tại Sài gòn thì có lẽ sự
hiểu biết của tôi về nhà văn
Bình Nguyên Lộc là những gì giới
hạn trong cảm nghĩ đầu tiên của
tôi khi đọc tác phẩm Đò Dọc
và một số truyện ngắn của ông
đăng rải rác trên các báo sau
đó. Một lần chấm thi tú tài
tại Sàigòn tôi đã cho điểm
bài luận văn của một thí sinh 19/20. Với
điểm số tối đa nầy, bài thi, theo
nguyên tắc trường thi thời đó,
phải được đem ra hội đồng
duyệt xét lại và giám khảo của
bài thi phải chịu trách nhiệm trình
bày để bảo vệ cho sự đánh
giá của mình. Tôi đã đem hết
khả năng ngôn ngữ (rất Huế) của
mình để thuyết phục hội đồng
giám khảo về những nét ưu tú
trội bật của bài thi. Tôi không bực
mình lắm khi điểm hội đồng còn
lại 17.5/20, nhưng cảm thấy bị thương
tổn khi một đồng nghiệp từ miền
Hậu giang vỗ vai tôi và “khen” rằng:
"Tôi nghe anh nói hùng hồn và rất
hay, nhưng anh nói cái giọng 'ngoải' làm
tôi không hiểu anh nói gì cả!"
Tôi nóng mặt, nhưng sau đó cũng
xuề xoà để nghe một lời khuyên,
lúc đó tôi không hiểu có chí
tình không, nhưng phải qua mấy chục
năm sau mới thấy rằng chí lý: "
Nếu bạn muốn biết người miền Nam
nói năng như thế nào thì cứ
đọc văn của Sơn Nam, Bình Nguyên
Lộc. Văn các ông ấy viết rặt
tiếng miền Nam." Nếu “văn tức là
người” như Buffon đã viết thì
văn là hoa của ngôn ngữ và ngôn
ngữ là sản phẩm của con người
và cuộc sống. Chính con người miền
Ngôn ngữ của Bình Nguyên Lộc là
ngôn ngữ đặc trưng của văn
chương và cuộc sống của miền
Nếu phải chọn lựa giữa tính
chính xác và quy ước của một
nhà ngữ học và sự phản ánh trung
thực lối nói xuề xòa, tùy nghi của
những nhân vật miền Nam điển hình,
thì nhà văn Bình Nguyên Lộc
đã thắng nhà ngữ học cùng
tên. Đọc trong “Lột Trần Việt
Ngư”õ, một tác phẩm khảo cứu công
phu về nguồn gốc và sự biến âm
và biến thái ngôn ngữ Việt Nam dày
trên 600 trang của Bình Nguyên Lộc,
người đọc sẽ thấy ông là
một nhà ngữ học khảo chứng. Ông
đã cơm đùm gạo bới, ngậm
ngãi tìm trầm để tiến sâu vào
các buôn, các bản của các nhóm
dân tộc thiểu số Việt
Sự uyên bác ngôn ngữ của Bình
Nguyên Lộc, cuối cùng, cũng phải
nhường bước cho lối nói
“đất lề quê thói” của
những nhân vật miền Nam quê ông thôi.
Như ông vẫn thường dùng chung từ
“thơ” cho cả hai cụm từ “bài
thơ” và “bức thơ”;
“ơn”, “nhơn”, “chơn”,
“đờn”... thay cho “ân”,
“nhân”, “chân”, “đàn”...
như thường thấy ở các câu chuyện
hàng ngày trong đời sống miền Nam.
Cũng là một nét tiêu biểu cho phong
cách tiếng nói miền
Một số các tác giả biên khảo
về văn chương, như Cao Huy Khanh, cho rằng
sự “xen kẻ” nầy là do ông
Bình Nguyên Lộc “không một mảy may
bận tâm đến việc gạn lọc, trau
chuốt hay cải tiến hình thức và kỹ
thuật của tác phẩm...”. Thậm chí
văn chương sáng tạo của ông còn
bị xu hướng biên khảo lấn áp
nữa. Đọc các tác phẩm của
Bình Nguyên Lộc sáng tác trong những
thập niên 1940, 1950 và 1980, tôi không
thấy sự thiếu nhất quán hay bất cần
kỹ thuật sáng tác văn chương như
Cao Huy Khanh nhận định. Có chăng là
Bình Nguyên Lộc, trong một số đoạn
của các truyện thiên về đồng
quê và bút ký, đã đưa văn
nói của người bình dân miền
Trước và sau năm 1975, có dịp về
những tỉnh miền Nam xa tắp, uống rượu
đế “xỉn oắt cần câu” với
mắm thái dà rau hay cá lóc nướng
trui với những anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm... quanh
năm chỉ có mấy chiếc quần cộc thay ra
thay vào, nhưng hiếu khách hơn cả
Mạnh Thường Quân, tôi mới dần
dà học được chút đỉnh
tiếng nói thật sự của miền
Qua bao nhiêu bước ngoặt thăng trầm của
cuộc sống, hôm nay đọc lại văn
Bình Nguyên Lộc trong Tuyển Tập Bình
Nguyên Lộc vừa do An Tiêm xuất bản
còn nóng hổi năm 1999, tôi vẫn còn
nghe “vang điệu vọng xưa”.
oOo
Một chiều tháng ba, có mưa mùa
Xuân lất phất hơn mười năm
trước, tại một căn phòng mướn
độc thân của chung cư toàn người
Đại Hàn trên đường Kieffer,
thành phố Sacramento, tiểu bang California, có tin
báo là “ Nhà văn Bình Nguyên
Lộc mất rồi!” Ai đã từng ở
vào tâm trạng sống tha hương mới
hiểu được nỗi xót xa của những
người văn nghệ nghe tin một nhà văn,
một nhà thơ, một nghệ sĩ gốc
gác quê hương mình vừa mói ra
đi.
Ngày tiễn đưa nhà văn Bình
Nguyên Lộc ra nghĩa trang “Bãi Cỏ
Hoàng Hôn” (Sunset Lawn) tại thành phố