|
Vần
điệu” của đức tin
Thể
Như
Từ thuở hồng hoang,
lúc mới chớm tách ra khỏi thế giới của con thú,
con người có một bước đột biến nổi trội về
ý thức. Ý thức về cái ta và thế giới chung quanh.
Những ý niệm ta và không phải ta dù thô thiển đến
đâu cũng đã giúp cho con người giả từ cái thế giới
thuần bản năng của con thú. Sấm chớp làm cho con thú
sợ hãi, nhưng sợ hãi rồi thôi. Sấm chớp làm cho
con người sợ hãi, nhưng sợ hãi rồi tưởng tượng:
Phải có ai đó!!! Có một sức mạnh kinh hồn... nóng
bỏng!!! Một nhát rìu mà đánh toạc cả một ngọn cây
to lớn kia... Một tia lửa làm nát bét và cháy xém
cả một con hưu đang chạy. Chắc chắn đó phải là một
án, một quỷ dữ. Thế là con người nguyên thuỷ bắt
đầu một niềm tin vào thần quỷ. Một đức tin ấu
trĩ có nguồn gốc là sợ hãi và tưởng tượng.
.
Khi đức tin mang vần điệu của sợ hãi và tưởng tượng
phát triển đủ mạnh và đủ chi tiết, con người thêu
dệt thành hai thế giới: Thế giới con người ở mặt
đất và thế giới thần thánh ma quỷ ở trên cao hay
lẫn khuất đâu đó. Song song, con người tìm cách lý
giải tất cả mọi sự kiện, mọi hiện tượng, mà
con người mắt thấy, tai nghe và thân thể cảm nhận
được: từ trăng sao, ngày đêm, núi sông, cây cỏ... đến
chuyện bệnh tật, chết chóc, ôn dịch, động đất,
núi lữa, gió mưa... Quá trình này khiến cho chức năng
suy tư kèm theo tưởng tượng của con người phát triển.
Con người bắt đầu biết nối kết những sự kiện
lại với nhau theo một trật tự nào đó: Sự giận dữ
của thần thánh được nối kết với sấm chớp,
bão tố. Sự vui vẽ của thần thánh được nối kết
với mưa thuận gió hòa. Tình thương yêu của thần
thánh được nối kết với sự khoẻ mạnh của con người.
Sự thù ghét của thần thánh được nối kết với
bệnh tật, ốm đau. Đức tin từ đây thường đi kèm
với lý lẽ và sự liên tưởng.
.
Dạng đức tin mang vần điệu của lý lẽ và sự liên
tưởng phát triển đến một mức độ nào đó thì
dạng thực nghiệm tiền sử của tôn giáo xuất hiện.
Đó là vu thuật và cầu cúng tự phát. Tất cả những
sắc thái đức tin được đề cập ở trên chẳng những
không đối nghịch và triệt tiêu lẫn nhau mà còn hòa
quyện với nhau và phát triển. Phát triển đến một
mức độ nào đó thì tổ chức phôi thai của tôn
giáo tín ngưỡng xuất hiện, song hành đan xen, có khi
xung đột, có khi hòa nhập với tổ chức xã hội.
Đây là dạng đức tin mang vần điệu của tổ chức
và quyền lực.
.
Những hiệu quả, lợi ích mà tổ chức tôn giáo
tín ngưỡng đem lại làm phong phú hơn cho cuộc sống vốn
tẻ nhạt thời sơ khai, tạo cho con người một dạng
tình cảm tôn giáo. Dạng tình cảm này rộng lớn hơn,
vượt qua khỏi biên giới của gia đình, của dòng họ
và của bộ tộc, tạo nên một sức mạnh sinh tồn đáng
kể dựa trên tín thống kết của tình cảm tôn giáo.
Như vậy, tình cảm tôn giáo góp phần ổn định xã hội,
đánh bại những bộ tộc thiếu đoàn kết để mở
mang lãnh thổ và phát triển vững mạnh. Những hiệu
quả và lợi ích tích cực như vận cho con người
càng khẳng quyết hơn nữa đức tin tôn giáo tín ngưỡng
của mình. Từ đó, những thiết chế tôn giáo tín ngưỡng
càng lúc càng vững chắc và đầy quyền lực; có
những lúc trở thành sơ cứng, nặng nề. Và, hậu
quả là tiêu cực xuất hiện: mê tín và tai hại hơn nữa
là cuồng tín. (Thật ra mê tín và cuồng tín không
phải là ‘đặc sản’ của tôn giáo mà của bất cứ
một niềm tin nào không có từ bi và trí tuệ soi
sáng, kể cả niềm tin vào khoa học. Và thật ra cuồng
tín không đến nỗi tai hại khủng khiếp nếu không
có người lợi dụng nó.)
.
Thiện và ác, tốt và xấu là hai phạm trù đối đải
bất khả phân ly của cuộc sống con người. Con người
vì thế mà sử dụng tôn giáo tín ngưỡng theo hai
phạm trù đó. Một mặt là làm cho phong phú, ổn định
và thăng hoa cuộc sống của con người. Mặt khác là
khai thác khía cạnh mê tín để trục lợi và khai
thác mặt cuồng tín để kích động bạo lực. Từ
trong bản chất đạo Phật đã có chủ trương rất rõ
về tôn giáo tín ngưỡng. Đây là một sợi chỉ đỏ
độc đáo trong suốt chiều dài lịch sử của dòng tư
tưởng Phật giáo và được khẳng định lần đầu
tiên bằng bài kinh Bhaddiya thuộc Tăng Chi Bộ: “Này
Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin
vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng
truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình;
chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có
tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có
tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì
phát xuất từ nơi có uy quyền... Nhưng này Bhaddiya khi
nào ông tự mình biết rõ như sau: Các pháp này là bất
thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị
người trí quở trách; các pháp này, nếu thực hiện
và chấp nhận đưa đến bất hạnh, đau khổ, thời
này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng... Nhưng này Bhaddiya
khi nào ông tự mình biết rõ như sau: Các pháp này
là thiện, các pháp này là không có tội, các pháp
này được người trí tán thán; các pháp này nếu
được thực hiện, được chấp nhận đưa đến
hạnh phúc, an lạc, thời này Bhaddiya, Ông hãy chứng đạt
và an trú...”[1]
.
Như vậy, đạo Phật đã vượt
lên khỏi tất cả những đức tin trên: Đức tin mang vần
điệu của sợ hãi và tưởng tượng; đức tin mang vần
điệu của lý lẽ và liên tưởng; đức tin mang vần
điệu của tổ chức và quyền lực. Hơn nữa đạo Phật
đã hình thành nên một dạng đức tin mang sắc thái
trí tuệ và từ bi. Tuy nhiên, những nhà truyền bá đạo
Phật không thể không tùy duyên vận dụng sắc màu và
vần điệu đa dạng của đức tin, đồng thời luôn luôn
nhất quán, trung thành với niềm tin chân chính của
mình.
Bài Tháng
Chín
- Biên tập: Cư sĩ
Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày
: Diệu Tịnh | Sửa văn bản
tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com
|
|