Văn hoá phi vật thể phật giáo ở
chùa Việt - Quan Âm Bồ Tát và
Thích Ca sơ sinh (Số 4/2003)
21.04.2006 - 16:40
|
|
|
Tượng Hậu, Đan Phượng. Ảnh: VH |
Luật Di sản
văn hoá có quy định: Di sản văn
hoá phi vật thể là sản phẩm tinh
thần có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học được lưu giữ, lưu
truyền bằng nhiều hình thức bao gồm
tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn
học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn
truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối
sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết
về nghề thủ công truyền thống, tri
thức về y, dược học cổ truyền,
về văn hoá ẩm thực, về trang phục
truyền thống dân tộc và tri thức dân
gian khác.
|
Chú thích: |
Đạo Phật là một cấu thành
quan trọng của văn hoá dân tộc Việt
Trong các biểu tượng đó, cái
hằng thường đập vào mắt và
tâm trí con người trực tiếp nhất
là các loại tượng phật. Thần
điện Phật giáo ở các chùa
Việt là sự dung hợp của đạo
Phật, đạo Lão, đạo Bà la môn
và tín ngưỡng dân gian. Ở đây
xin đề cập trước hết đến
các loại tượng Phật giáo, còn
tượng các tôn giáo khác sẽ xin
bàn đến một dịp khác.
Trong hệ tượng Phật giáo ở chùa
thì phổ biến nhất, ngoài các
tượng Tam Thế, A Di Đà, Phật Thích
Ca, Di Lặc, là tượng Quan Âm và Phật
sơ sinh. Hai loại tượng này tạo nên
một đặc trưng đậm nét của di
sản văn hoá phi vật thể của chùa
Việt. Hầu như không có chùa nào
là không có tượng Quan Âm. Và,
tượng Phật sơ sinh ở chùa Việt
được thể hiện hoàn toàn khác
với các tượng đồng loại ở
các nước Phật giáo khác.
Quan Âm có xuất xứ từ Avalokitesvara
Ấn Độ, có nghĩa là Đấng
(Thiên Tôn) nhìn xuống trần gian (do ishvara
chữ Phạn có nghĩa là Đấng) hoặc
là Đấng (Thiên Tôn) nghe được
lời ca thán của trần gian (do svara chữ
Phạn là âm thanh). Đạo Phật lấy
hình tượng Avalokitesvara làm biểu
tượng của Từ Bi (xót thương các
khổ nạn của chúng sinh mà ra sức
cứu độ chúng sinh).
Thư tịch Trung Quốc cho biết việc tín
ngưỡng phụng thờ Quan Âm đã có
từ thời Lưỡng Tấn (265-420 sau CN), phát
triển mạnh thời Nam-Bắc triều (420-589) và
tương truyền là đã có
tượng Quan Thế Âm Bồ Tát ở Ngũ
Đài Sơn vào thời Ngũ Đại
(907-960). Rồi sau đó Phổ Đà Sơn (1
đảo trong quần đảo Châu Sơn, Trung
Quốc) trở thành Đạo tràng thuyết
pháp của Quan Âm Bồ Tát và phát
triển thành một trong tứ đại danh sơn
Phật giáo Trung Quốc, cùng với Ngũ Đài
Sơn (Đạo tràng của Bồ Tát Văn
Thù), Nga My Sơn (Đạo tràng của Bồ
Tát Phổ Hiền), Cửu Hoa Sơn (Đạo
tràng của Bồ Tát Địa Tạng) (1).
Ở Trung Quốc, cho đến đầu thời
Tống, Quan Âm vẫn được miêu tả
là nam giới (hình tượng Quan Âm trong
động Đôn Hoàng, thời Đường,
vẫn được thể hiện có râu
mép). Từ thời Tống trở về sau, hình
tượng Quan Âm mang “dáng vẻ của
một nữ sĩ Trung Quốc cổ đại”
(Nghiệp Lộ Hoa, sđd) và loại tượng
này được phổ biến rất rộng
rãi. Từ thời Đường (thế kỷ 7
trở đi), dưới ảnh hưởng của
Mật Tông, việc lễ bái thờ phụng Quan
Âm được kết hợp với một số
mật chú (đà la ni) làm nảy sinh ra hệ
Lục Quan Âm gồm Thánh Quan Âm, Thiên
Thủ Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập
Nhất Điện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan
Âm và Như Ý Luân Quan Âm (Nghiệp
Lộ Hoa, sđd).
Ở miền Bắc Việt Nam pho tượng Quan
Âm sớm nhất được biết đến
hiện nay là pho Quan Âm Nam Hải ở chùa
Cung Kiệm (Hưng Phúc Tự, Bắc Ninh) có
niên đại 1449. (Tuy rằng từ thời Lý
đã có nhắc tới tượng Quan Âm,
song không còn di vật để lại). Rồi
từ đó cho đến thế kỷ XIX nhiều
tượng Quan Âm tiêu biểu khác
được phát hiện ở nhiều chùa
miền Bắc, được gọi là Quan Âm
Nam Hải (còn gọi là Quan Âm Thiên
Thủ Thiên Nhãn hoặc Quan Âm Chuẩn
đề), như ở chùa Phẩm (Động
Ngọ, Hải Dương, 1582), chùa Bối Khê
(Thanh Oai, Hà Tây), chùa Đa Tốn (Gia Lâm,
Hà Nội), chùa Thượng Trưng (Vĩnh
Lạc, Vĩnh Phú) đều có niên
đại vào thế kỷ XVI..., chùa Bút
Tháp (Bắc Ninh), chùa Tam Sơn (Bắc Ninh)
vào thế kỷ XVII, chùa Mễ Sở (Hưng
Yên), chùa Tây Phương (Hà Tây)
vào thế kỷ XVIII... hoặc là Quan Âm
Toạ Sơn, như ở chùa Đại Trà
(Hải Phòng) thế kỷ XVI, chùa Tiêu
Sơn (Bắc Ninh), chùa Tam Sơn (Bắc Ninh) vào
thế kỷ XVII, chùa Đa Tốn (Hà Nội)
vào thế kỷ XVII, chùa Cả, chùa Nhạ
Phú, chùa Dương Liễu (Hà Tây)
vào thế kỷ XIX. Và, một dạng rất
đặc biệt là Quan Âm Tống Tử mà
dân gian quen gọi là Quan Âm Thị Kính,
ở chùa Tây Phương và các chùa
khác thuộc thế kỷ XVIII (2). Quan Âm Tống Tử
hoà nhập với Quan Âm Thị Kính lại
là một sáng tạo độc đáo
nữa của văn hoá Phật giáo Việt.
Từ thế kỷ XVII trở đi, Quan Âm
còn xuât hiện trong bộ Di Đà Tam Tôn
(A Di Đà, Quan Âm Bồ Tát, Đại
Thế Chí Bồ Tát) như ở chùa
Thầy, chùa Bắc Lãm (Hà Tây) vào
thế kỷ XVII, chùa Tây Phương (Hà
Tây), chùa Phúc Khánh (Hà Nội)
vào thế kỷ XVIII, và phổ biến trong
các chùa thế kỷ XIX(3).
Như vậy các tượng Quan Âm riêng
lẻ xuất hiện ở Việt
Như Ý Luân Quan Âm ở Trung Quốc
thường được thể hiện ở tư
thế ngồi một chân xếp bằng, một
chân gập gối chống lên hay duỗi thẳng
xuống, một tay cầm bảo châu một tay
chống xuống án minh sơn có nghĩa là
làm cho lòng tin của chúng sinh không dao động.
Pho tượng Quan Âm Toạ Sơn ở chùa Tam
Sơn có dáng dấp tương tự. Ở
đây, tay Quan Âm không cầm bảo châu mà
là do một nam nhân ở bên cạnh dâng
lên.
Đáng chú ý trong các loại
tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa
Việt là Quan Âm Chuẩn Đề. Chuẩn
đề vẫn được hiểu là một
pháp ấn (mudra) được thể hiện
bằng hai bàn tay chắp vào nhau đưa
lên trước ngực, 2 ngón tay giữa dựng
thẳng (tạo thành mũi nhọn của vajra –
kim cương), các ngón còn lại đan
vào nhau và quặp xuống, 2 ngón cái
hoặc chắp dính vào nhau hoặc đan
chéo nhau và gập lại. Thực ra Chuẩn
đề có nghĩa là Tịnh Khiết,
tượng quan Âm Chuẩn Đề ở Trung
Quốc cũng không thấy pháp ấn này
(xem Nghiệp Lộ Hoa, sdđ).
Pháp ấn này gọi là Uttarabodhi, có
nghĩa là Tối thượng Bồ đề
(Uttara, rốt cùng, tối thượng; bodhi, bồ
đề), và là biểu hiện đặc
trưng của Vairocana (Đại Nhật Như Lai,
vị thần chủ của Ngũ Đại Phật
và cũng là của Mật Tông). Pháp
ấn này chỉ mới thấy xuất hiện
ở pho Thiên Thủ Thiên Nhãn chùa Bối
Khê (thế kỷ XVI), chùa Tam Sơn (thế
kỷ XVII) chùa Mễ Sở, chùa Tây Phương
(thế kỷ XIX). Pháp ấn này thường
đi đôi với câu chú: Om Ma Ni Pad Me Hum,
là một câu chú quan trọng nhất của
Mật Tông (4).
Nói hơi dông dài về các pho
tượng Quan Âm là chỉ muốn nhấn
mạnh đến một đặc trưng của
các tượng Quan Âm trong chùa Việt
là thuộc về hệ Mật Tông. Chủ
nhân tạo tác các pho tượng này
ắt hẳn cũng đã thấm đượm một
tâm thức Mật Tông và muốn truyền
đạt tâm thức đó qua tác phẩm
của mình cho các tín đồ phật
tử đến lễ chùa. Hơn thế chúng
ta hẳn cũng cần thấu hiểu tâm thức
đó để có ý thức và
phương án giữ gìn bảo vệ thoả
đáng cái di sản phi vật thể đó
trong ý nghĩa văn hoá đích thực
của nó.
Nếu như hệ tượng Quan Âm Bồ
Tát ở chùa Việt là một biểu
hiện độc đáo của văn hoá
vật thể Phật giáo Việt, không thấy
có ở những nước Phật giáo trong khu
vực như Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma vốn
theo Theravada không tôn thờ Quan Âm, thì
hệ tượng Phật sơ sinh ở chùa
Việt cũng là một đặc thù trong
thần điện Phật giáo Việt.
Hầu như ai cũng biết chuyện kể về
buổi ra đời của Đức Phật.
Tương truyền hoàng hậu Maya khi “trở
dạ”, tay vịn vào cây vô ưu mà
sinh ra Đức Phật. Người vừa sinh ra
liền có 9 con rồng phun nước thơm
xuống để tắm cho Phật, hai vị thiên
đế là Đế Thích và Phạm
Thiên và các thiên thần tiên nữ
đến dâng hoa ca múa chào mừng. Vừa
xuất hiện trên trần thế, người
liền bước đi 7 bước, dưới
chân mỗi bước nở ra một bông sen.
Rồi đưa tay trái chỉ lên trời, tay
phải chỉ xuống đất mà nói:
Thiên thượng thiên hạ duy ngã
độc tôn. Có những cách hiểu
khác nhau về câu nói này, xin sẽ
bàn đến vào dịp khác. Ở
đây xin nói đến cách thể hiện
Đức Phật lúc mới hạ thế (sơ
sinh).
Tất cả các nước theo Phật giáo
khi thể hiện Thích Ca sơ sinh đều dựng
lên hình tượng một em bé mình
trần mặc váy ngắn (hoặc khố) hoặc
khoác áo chùng, chân đang bước
dẫm lên bông sen nở, một tay chỉ lên
trời một tay chỉ xuống đất. Ở
Chùa Việt, trong buổi đầu thế kỷ XVI
Thích Ca sơ sinh cũng được thể
hiện mộc mạc như vậy, thậm chí em
bé còn để truồng nữa (chùa
Hưng Long, thế kỷ XVI), nhưng cũng ngay sau
đó, tượng Thích Ca sơ sinh
được thể hiện trang trọng hơn với
đủ 9 con rồng phun nước, Đế thích
và Phạm Thiên và các thiên thần
tiên nữ đến dâng hoa ca múa chào
mừng, lấy cây vô ưu làm bối
cảnh, y như huyền thoại kể lại (chùa
Keo, thế kỷ XVII). Và từ đó loại
tượng này được gọi là Toà
Cửu Long. Tên gọi (Toà) đã nói
lên lòng tín ngưỡng của con
người. Song điều đáng lưu ý
ở đây là 9 con rồng phun nước.
Có thể suy nghĩ được chăng,
đó là thể hiện lòng cầu mong
của người làm ruộng được mưa
thuận gió hoà để bước vào
một vụ mùa phong đăng hoà cốc.
Phật ra đời vào tháng tư (5), là
kỳ nắng hạn thiếu nước cho ruộng
đồng. Phật ra đời là một Đấng
Cứu tinh. Phật sẽ đem lại mưa móc cho
ruộng đồng, cây cỏ ở hạ giới.
Các Thiên Vương (Đế Thích, Phạm
Thiên) tuân mệnh. Các thiên long thực
hiện.
Xét cho cùng thì cái lõi của
mọi tín ngưỡng, tôn giáo đều
nằm trong cái TÂM hướng về cái
THIÊNG của con người. Đạo Phật
cũng không ở ngoài phạm trù
đó. Cái tâm là có khác nhau
giữa mỗi con người, mỗi tộc người,
mỗi dân tộc, dẫn đến những cách
thể hiện khác nhau trong tín ngưỡng,
tôn giáo, song lại gặp nhau trong cái
thiêng của cuộc sống của mỗi con người
và của xã hội. Tìm hiểu giá
trị phi vật thể của văn hoá Phật
giáo qua các hệ tượng, không chỉ
tượng Phật giáo mà cả các hệ
tượng của các tín ngưỡng, tôn
giáo khác, trong chùa Việt là một
cách tiếp cận hữu ích để tỏ
tường hơn về bản sắc văn hoá
dân tộc vậy.
Cao Xuân Phổ
M5 (Theo Tạp chí Di Sản số
4/2003 )
Trích trong: Văn hoá Phương
Đông