VAI TRÒ CỦA TU SĨ PHẬT GIÁO Ở
XÃ HỘI ĐƯƠNG THỜI
Hội Thảo Quốc Tế
“Phật Giáo trong Thời Hiện Đại:
Cơ Hội & Thách Thức”
ngày 15 & 16/07/2006 tại Học
Viện Phật Giáo Việt
ĐĐ.TS. Thích
Quang Thạnh
A. LỜI MỞ ĐẦU
Thời hậu hiện đại là một minh
chứng cho sự phát triển tột đỉnh
trong lãnh vực khoa học kỹ thuật, nhưng
sự suy thoái về tư cách và đạo
đức cũng theo đó len lỏi vào. Quan
điểm này đã được học
giả nổi tiếng P.A. Payutto phát biểu rất
thuyết phục rằng:
Cùng
với sự tiến bộ kỹ thuật, đặc
biệt cái gọi là kỹ thuật cao
đề cập đến những thông tin liên
lạc, ngày càng nhiều những công cụ
làm việc mang lại hiệu quả vì tính
tham lam và lòng sân hận. Ngành kỹ
thuật đã trở thành tai sai của sự
tham lam và lòng căm hờn, sự tiến bộ
kỹ thuật trong hình thức phát triển
công nghiệp hầu như không giới hạn.
Ngành khoa học, công nghệ và sự
tiến bộ kỹ thuật thông tin liên lạc
thường ru ngũ con người vào trong sự
tiêu hũy, đần độn và say sưa
lơ đà hơn là sự phát triển
cá nhân hoặc sự quân bình cuộc
sống. Chúng được sử dụng như
những công cụ để mưu cầu mục
đích khát vọng, và với việc
làm như thế, khiến phát khởi lòng
sân hận vì sự ganh đua mà chúng
tạo ra.
Ngài cũng nhận
định với giọng nhấn mạnh và than
phiền rằng sự phát minh khoa học kỹ
thuật như những công cụ mưu cầu
mục đích khát vọng hơn là sự
phát triển nội tâm con người, và
rằng con người ở thế kỷ 20 gây ra
nhiều hành vi nguy hại làm ảnh hưởng
đến bản chất con người của thế
kỷ 21. Đó là một di sản của
những vấn đề nan giải mà con
người của thế kỷ 21 sẽ phải
đối phó. Trên thực tế, di
sản mà con người đề cập chính
là những vấn đề rất nghiêm
trọng về sự gia tăng dân số, sự
thoái hóa tài nguyên thiên nhiên
và sự khủng hoảng môi trường,
đang đe dọa nền tảng của sự sống
trên hành tinh này, như Ngài H. H. Dalai Lama
thứ 14 đã đề cập. Hay nói cách khác,
từ sự khủng hoảng đạo đức con
người, nó đưa đến những sự
việc trầm trọng như: sự khủng bố
và bạo động; chứng bệnh nan y và
nguy hiểm của HIV/AIDS; bệnh đồng tính
luyến ái; sự hờ hững về nhân
quyền và các loài sinh vật; … Tất
cả đều xuất phát từ ba phiền
não (tham, sân, si) của con người. Vì nhu
cầu danh lợi, địa vị xã hội,
tiền tài, vật chất, chức tước,
và nhiều sự mong muốn khác khau,… trong
cuộc sống hiện đại; con người
đã trở thành tay sai cho sự tham lam, sân
hận và si mê. Mặc dù, vị ấy
có thể chiến thắng và chinh phục
thiên nhiên bằng tất cả những loại
phát minh khoa học tiên tiến, nhưng vẫn
bị khuất phục và trói buột bởi
sự đau khổ của sanh, già, bệnh và
chết trừ khi vị ấy biết tôn trọng
và duy trì sự tu tập đạo đức
và nội tâm.
Đứng trước những tình huống hiện
nay, làm thế nào để đối phó
với cái gọi là những làn sóng
văn minh vật chất đang tấn công con
người từ nhiều phương diện khác
nhau? Làm thế nào để duy trì truyền
thống gia đình, nhân cách và trật
tự xã hội? Đề tài “Vai Trò
của Tu Sĩ Phật Giáo ở Xã Hội
Đương Thời” không chỉ mở ra
một tầm nhìn mới mẽ, năng động
và sáng tạo về hình ảnh người
tu sĩ Phật giáo trong thời đại mới,
với những phương tiện thiện xảo
về sự tu tập và tham gia xã hội,
mà còn đóng góp cho sự phát
triển xã hội, Phật giáo, Tăng
đoàn trong hiện tại và tương lai.
B. VAI
TRÒ CỦA TU SĨ PHẬT GIÁO TRONG THỜI
ĐẠI MỚI
Như chúng ta biết, ngoài việc xiển
dương Phật pháp đến số đông,
những vị tu sĩ Phật giáo với vai trò
năng động tích cực nhập thế bằng
những phương tiện thiện xảo, cần
phải tham gia và đóng một vai trò quan
trọng cần thiết trong việc xây dựng
nền văn minh lành mạnh qua nhiều phương
diện giáo dục, văn hóa, đạo
đức, từ thiện, và xã hội vì
an lạc hạnh phúc cho con người. Một quan
điểm tích cực và năng động
như thế được vị thiền sư D.T.
Suzuki diễn đạt rất thuyết phục
rằng:
Trong những
ngày nay, chùa chiền Phật giáo là
những trường học, bệnh viện, phòng
khám bệnh, trại mồ côi, nơi nương
tựa của những người già; và
những vị tu sĩ là những vị giáo
viên, y tá, bác sĩ, kỹ sư, người
quản lý nhà trọ miễn phí, những
người trồng trọt, những nhà thám
hiểm ở vùng hoang dã, …Khi cộng
đồng đang trong giai đoạn tiến triển ban
sơ, những người đệ tử Phật
là những nhà lãnh đạo trong mỗi
chiều hướng, và chính quyền tự
nhiên khuyến khích về hoạt động
của họ.
Thêm vào đó, Ngài Ajahn Tiradhammo Thera
đã tô điểm thêm một đoạn
phát biểu rất lập luận trong lời
nói đầu của ngài:
Một người đệ tử
Phật, đối với tôi không chỉ là
người nào đó đơn thuần nằm
lòng những thể thức đúng đắn
hoặc phải mặc đồng phục cần phải
có, mà còn là người sống một
đời sống hành thiện trên tinh thần
đúng với lẽ phải. Đây là toàn
bộ mục đích tối thượng về
lời dạy của đức Phật. Một nhà
hoạt động xã hội khi ấy là
người luôn sống với trí tuệ và
lòng từ trong khung cảnh xã hội; học
tập để chia sẻ kho tàng tâm linh vị
tha với tất cả chúng sanh.
Hai quan điểm này
không chỉ đủ để thuyết phục
những quan điểm khác, mà còn
đủ để khẳng định vai trò
tích cực và khéo léo của
người tu sĩ Phật giáo ngày nay. Theo quan
điểm của người viết, vai trò của
người tu sĩ Phật giáo lý tưởng
trong thời đại mới sẽ được
biểu lộ qua hai phương diện,
đó là phương diện đạo
đức và xã hội. Phương diện
đạo đức và trí tuệ thuộc
về tự lợi đề cập đến những
nhu cầu tu tập và phát triển đạo
đức cá nhân đối với người tu
sĩ Phật giáo. Phương diện xã hội
chính là tinh thần lợi tha liên quan
đến vai trò tham gia xã hội của
người tu sĩ với những phương tiện
thiện xảo. Vai trò này sẽ được
biểu hiện qua mỗi phong cách khác nhau
như sau:
1.
NHƯ LÀ
MỘT ‘BHIKKHU’
Khi đề cập đến
thuật ngữ ‘Bhikkhu’, nó
được dịch từ chữ Pāli với ý nghĩa
người được cứu tế, người
hành khất, người tu sĩ Phật giáo,
hoặc vị linh mục; và chữ Sanskṛit là ‘Bhikṣu’ với nghĩa là
vị ăn xin, người hành khất Phật
giáo, hay là vị tu sĩ. Theo nguyên từ, nó
được bắt nguồn từ gốc Sanskrit
là ‘bhikṣ’ có nghĩa là yêu cầu,
mong muốn, cầu xin điều gì, … Vì
vậy, nó có nghĩa là người xin
những nhu cầu cần thiết, đặc biệt xin
người khác; hoặc nói khác, nó
có nghĩa là người hành khất
tôn giáo.
Theo quan điểm Phật
giáo, đức Phật giải thích rất
ngắn gọn rằng một Tỳ kheo được
gọi chính thức với sự đầy
đủ giới hạnh (Pāli: Sīla; Skt: Śīla’) và trí tuệ
(Pāli: Paññā; Skt: Prajñā). Hay nói
rõ hơn, là một tu sĩ chân chính khi
vị ấy không những xa rời sự tham dục
và những trạng thái xấu ác, mà
còn thể nhập vào 4 trạng thái của
thiền định (Skt: Dhyānas; Pāli: Jhānas).
Người tu sĩ như thế đáng
được kính trọng và được
gọi là vi tu sĩ chân chính. Hơn nữa,
vị Tỳ kheo nên làm những công việc
đáng làm như sự tu tập về
đức tính tàm quý, về
thân-khẩu-ý hành thanh tịnh, về
mạng sống thanh tịnh, sự phòng hộ
các căn, sự tiết độ trong ăn
uống, sự chánh niệm và tỉnh giác; và phải
sống như hòn đảo của chính
mình, hãy nương tựa chính mình,
không nương tựa ai khác, … để
giải thoát mọi tham dục và phiền
não thông thường ở đời. Cuối
cùng, đức Phật kết
luận lời dạy của Ngài rằng một tu sĩ Phật giáo
hoàn hảo được đức Phật
đề cập với 8 đặc tính:
Khi nào,
này các Tỳ kheo, vị ấy có lòng
tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết
pháp, có sống với hội chúng, có vô
úy thuyết pháp cho hội chúng, với
bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm,
hiện tại lạc trú, chứng được
không khăn, chứng được không mệt
mõi, chứng được không phí sức,
do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện
tại, với thắng trí tự mình chứng
ngộ, chứng đạt và an trú vô
lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát;
như vậy, vị ấy được đầy
đủ chi phần ấy. Thành tựu 8 pháp
này, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo
được tịnh tín hoàn toàn và
được viên mãn về mọi phương
diện.
Noi theo quan điểm của
đức Phật, Ananda Guruge một
lần nữa đã biểu lộ vai trò của
người tu sĩ Phật giáo qua một lối
văn phong khác rằng bổn phận của người
tu sĩ có đức hạnh theo truyền thống
là nghiên cứu giáo pháp, chú tâm
vào những công việc hàng ngày liên
quan đến sự tôn thờ đức Phật,
phát triển lãnh vực tâm linh, vâng
giữ các điều luật về phẩm hạnh
và cuộc sống hoàn hảo, …Đó
là những nền tảng về đời sống
hoàn hảo của người tu sĩ.
2. NHƯ LÀ MỘT HÀNH
GIẢ
Với vai trò như
một hành giả Phật giáo trong thời
đại mới, vị ấy cần phải ứng
dụng và thực hành nguyên tắc tu tập
cơ bản một cách tích cực linh
động, đó là sự tu tập Tam Vô
Lậu Học (the Threefold
Higher Training)
Trước khi tu học Tam Vô
Lậu, người tu sĩ trong thời đại
mới nên duy trì đúng đắn tinh
thần vô ngã, vô chấp, thiện xão
và khéo léo trong khi thực hành pháp
và luật; và cần thấu triệt nghiêm
túc rằng lời dạy của đức Phật
và sự tu tập pháp luật giống như
chiếc bè đưa con người qua biển sanh
tử đến bờ giải thoát. Vì thế,
người hành giả không nên cố
chấp. Trong kinh Trung Bộ I, đức Phật
dạy: “Cũng vậy, này chư Tỳ kheo, Ta
thuyết pháp như chiếc bè để
vượt đưa qua, không phải để
nắm giữ lấy. Chư Tỳ kheo, các ông
cần hiểu ví dụ chiếc bè. Chánh
pháp còn phải bỏ huống nữa là phi
pháp”. Một
phương diện khác tu tập ứng dụng
thích hợp cho vị tu sĩ ngày nay chính
là tiến trình dần dần tu tập tâm
linh để đạt được trí và
thức hoàn toàn. Phương pháp này
được đức Phật minh họa bằng
ví dụ về đại dương như sau:
Ví như, này các Tỳ kheo,
biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần
tự thuận hướng, tuần tự sâu dần,
không có thình lình như một vực
thẳm. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, trong
Pháp và Luật này, các học pháp
là tuần tự, các quả dị thụ
là tuần tự, các con đường là
tuần tự, không có sự thể nhập
chánh trí thình lình.
Sau khi thấu triệt tinh thần tu tập như ở
trên, hành giả bắt đầu thực
hành nền tảng đầu tiên bằng sự
tu tập về Tam Vô lậu Học (the Threefold Higher
Training) bao gồm Giới- Định -Tuệ như sau:
a.
Sự tu tập về Giới (P: Sīla; S:
Śīla- Morality or Moral Conduct)
Trên phương diện tu tập, ‘Giới’
được dịch từ chữ Pāli
là Sīla mang ý nghĩa là
sự thực hành đạo đức, là
đặc tính tốt, là đạo đức
Phật giáo, và là mực thước về
đạo đức. Theo từ Sanskrit là Śīla được
đề cập như tư cách đạo
đức, là một trong 6 hay 10 Ba-la-mật (Skt:
Pāramitās); hoặc những quy tắc về
đạo đức (đối với Phật giáo,
có 5 quy tắc nền tảng hoặc những
điều luật về hạnh kiểm đạo
đức). Từ
định nghĩa trên, chúng ta có thể
kết luận rằng từ ‘Sīla, or Śīla’
được dùng để nhấn mạnh ý
nghĩa về tư cách và những quy tắc
đạo đức. Trong học thuyết Phật
giáo, các điều luật về đạo
đức đã đến với chúng ta từ
hình thức ban đầu với cái tên
Pāṭimokkha or Prātimokṣa (Giới bổn), (i.e. cơ
bản là sự liệt kê toàn bộ mực
thước về những điều luật, hay
được gọi là bổn phận), nó
được tập hợp lại từ những
điều luật khác nhau trong Tạng luật (Vinaya
Piṭaka), bao gồm
227 giới đối
với Tỳ kheo Tăng và 250 giới thuộc Tỳ
kheo ni,…
Khi đề cập về
Giới (Sīla or Śīla) trong Phật
giáo, con người trước hết cần
phải thấu triệt đúng đắn về
khái niệm của giới. Sự tuân thủ giới
là nhằm vào ý thức đạo
đức cá nhân để giải thoát con
người khỏi sự thống khổ của tham
sân si. Vì vậy, đức Phật đã
dùng phương tiện thiện xảo để
thiết lập các điều luật. Rõ
ràng rằng sự thực hành giới thì
không là gì cả; nó chỉ là
những phương tiện tạm thời để
giải thoát mọi phiền não khổ đau
của con người, là chiếc bè đưa
người qua biển khổ, và là chiếc cầu
bắt qua sông. Từ đây, chúng ta có
thể mạnh mẽ nói rằng sự thực
hành giới sẽ không còn hữu dụng
nữa nếu như con người nhổ bật
toàn bộ cội rễ phiền não và
khổ đau từ nội tâm của chính
mình.
Trong thời hậu hiện đại,
sự tu tập giới sẽ được những
hành giả Phật giáo tuân thủ với
thái độ tích cực và sáng tạo
tùy theo những tình huống và thời
đại khác nhau, đặc biệt trong thiên
niên kỷ thư ba này. Một phó từ nghi
vấn có lẽ được đặt tại
đây là tại sao? Như chúng ta biết,
là một con người, chúng ta dĩ nhiên được
nuôi nấng bởi hai loại thức ăn: (1)
thức ăn vật chất bao gồm gạo, sữa,
rau, đậu, mì, bắp… để nuôi
dưỡng thân vật chất cho chúng ta, và
(2) thức ăn tinh thần bao gồm những thú
tiêu khiển của cuộc đời như ca
hát, thể thao, bơi lội, đá banh,
tình yêu, … để thỏa mãn nhu
cầu cho chúng ta về mặt tinh thần.
Điều quan trọng là khi tiếp nhận
những thức ăn đó, chúng ta có
thấu triệt được hoàn toàn về
những kết quả tốt hay xấu từ hành vi
của chúng ta hay không? Có nghĩa là
chúng ta nên hiểu đúng đắn làm
thế nào để tiếp nhận hai loại
thức ăn này mà không bị bội
thực, không đưa đến kết quả
tồi tệ, và không có sự cấu uế
hay bất tịnh trong thâm tâm của mình.
Giống như một người đang khát
nước trên đường đi, vị ấy
tìm kiếm nước uống, sau khi uống xong,
vị ấy hết khát và tiếp tục đi
thẳng trên con đường mình đang đi
mà không có sự luyến tiếc hay say
đắm vì nước, không có sự
ràng buột và cấu uế trong thâm tâm.
Bằng việc làm như thế, vị ấy
đã thực hành đúng đắn,
thích hợp và năng động. Và sự
tuân thủ giới uyển chuyển như thế
được gọi là sự tu tập Giới theo
phương pháp uyển chuyển, thích hợp
và chuẩn mực.
Tương tự,
đối với giới của Tăng lữ, chúng
ta sẽ tìm hiểu thêm một vài ví
dụ điển hình liên quan đến giới
điều mà người đệ tử Phật
cần phải tu tập với thái độ
uyển chuyển và tích cực như vài
điều luật trong 10 giới như: không sát
sanh; không ca múa hát xướng; không dùng
giường cao tốt đẹp và rộng lớn;
không cất giữ vàng bạc châu báu,
không ăn phi thời; …. Có nghĩa
là làm thế nào người đệ
tử Phật xử sự và duy trì những
giới điều này khi một vài sinh vật
độc hại (như: muỗi độc, ruồi,
bò cạp, rắn độc…) gây ra những
bệnh truyền nhiễm, thương tích hoặc
đi đến cái chết đối với con
người (như dịch cúm gia cầm hiện nay);
hoặc khi vị ấy không có tiền để
chi phí cho việc học hành, xe cộ, các
cuộc họp ngoại giao quốc tế, hay xây
dựng chùa chiền, tự viện, trường
Phật học…; hoặc khi vị ấy
được mời tham gia trong các buổi hội
thảo quốc tế ở nước ngoài và
được bố trí ở tại khách
sạn sang trọng; hay khi các vị Tăng Ni sinh
trẻ ăn uống phi thời vì thời khóa
biểu học tập ở các trường
Đại học, học viện; … Đó
là một vài ví dụ tiêu biểu
đủ để cho chúng ta hiểu rằng sự
tu tập giới điều đối với Tăng
lữ ngày nay không nên giữ một thái
độ cố chấp, bảo thủ; mà
ngược lại họ cần phải ứng dụng và
thực hành sự tu tập đó với một
tinh thần uyển chuyển, đúng đắn,
sáng tạo và tích cực để thể
nhập vào những tình huống và hoàn
cảnh mới trong cuộc sống hiện đại.
Đây chính là ý nghĩa tích cực
về sự thực hành giới luật của
Phật giáo ngày nay.
b.
Sự tu tập Định (Samàdhi)
Thuật ngữ Sanskrit and Pāli
‘Samādhi’ được bắt nguồn gốc
từ ‘dhā’ nghĩa
là ‘đặt, để’ cùng
với tiếp đầu ngữ ‘sam’ và
tiểu từ nhấn mạnh ‘ā’. Nó
có nghĩa là ‘đặt lại với
nhau’. Nghĩa bóng của từ
‘Samādhi’ được dùng trong Thánh
điển Pàli Phật giáo với ý
nghĩa là Định hay Thiền định (concentration or
meditation) Tương tự, Samādhi có nghĩa
‘buột vào nhau, hợp lại hoặc kết
hợp với.’ Một sự
giải thích rõ ràng hơn về từ
Samādhi được bắt nguồn gốc từ dhā
và cùng tiếp đầu ngữ với sam
và ā (sam + ā + dhā) do đó mang
nghĩa ‘Định’ (concentration). Nó
là một trạng thái chăm chú, bình
tĩnh và tập trung của tâm và
định mà nó đi kèm với lối
sống thiện là điều kiện cần
thiết để đạt được trí
tuệ và giải thoát. Thêm vào
đó, nhiều học giả khác đã
đưa ra lời giải thích về Samādhi
rằng nó là sự nhất tâm, là
sự tập trung của tâm về một đối
tượng để loại trừ toàn bộ
tất cả những cái khác.
Theo
truyền thống, người ta có thể hiểu
lời dạy của đức Phật về
Định mà người tu sĩ Phật giáo
cần tu tập là loại trừ năm triền
cái (Skt. & Pāli: Nīvaraṇās) trong bản
thân bằng thiền định, xa rời tham dục
và từ bỏ tính khí bất thiện;
vị ấy tuần tự chứng và trú
vào Sơ thiền (the first dhyāna), Nhị thiền
(the second dhyāna), Tam thiền (the third dhyāna), và Tứ
thiền (the fourth dhyāna) Tâm vị
ấy trở nên tịch tĩnh, nhất tâm.
Sự chuyên chú như thế gọi là
‘Định hoàn hảo’
Trên thực tế,
xuyên qua những khái niệm về Định,
người đệ tử Phật cần thấu
triệt rằng sự tu tập thiền định
không có nghĩa là ngồi im bất
động trong khi thiền, mà phải
được biểu lộ qua những công việc
và lối sống hàng ngày để
thích nghi với những tình huống xã
hội hiện nay. Có nghĩa là vị ấy tu
tập thiền định bằng cách luôn duy
trì trạng thái chánh niệm và tỉnh
giác trong khi đi, đứng, nằm, ngồi,
nói, ăn uống, ngủ nghĩ, lái xe, học
tập, tắm rữa, đọc sách, … Nói
chung, tất cả những công việc và sự
tu tập hàng ngày được dẫn dắt
bởi sự chánh niệm và tỉnh giác.
Từ quan điểm trên, chúng ta có thể
suy luận rằng khi một hành giả đang
lái xe hoặc bất kỳ loại xe tải nào,
vị ấy luôn giữ chánh niệm, tỉnh
giác và luôn ý thức nghiêm chỉnh
khi đang lái xe, không có sự sao lãng
và thờ ơ, không đưa đến kết
quả bất lợi, và luôn an toàn, …
việc lái xe như thế được gọi
là thiền trong khi lái xe. Cũng vậy, những
công việc và sự tu tập hàng ngày
khác cũng đều tương tự. Đây
chính là ý nghĩa tu tập Định
của Phật giáo mộït cách tích
cực và năng động trong thời hậu
hiện đại.
c. Sự tu tập Tuệ (Pañña or Prajña)
Thuật ngữ Prajña (Skt.) or Pañña (Pāli)
được bắt nguồn gốc từ
‘jña’ (sự hiểu
biết) khi tiếp đầu ngữ ‘pra’
được thêm vào để mang ý
nghĩa là ‘trí tuệ, sự hiểu
biết, sự nhận thức đúng đắn,
sự nhận ra, cách phán xét, sự thấu
triệt, sự hiểu biết về trực giác,
…’
Trong các bộ kinh
thuộc truyền thống Nikāya, chúng ta có
thể nhận thấy lời dạy của đức
Phật về Prajña hay Pañña (Pāli) rằng
vị nào nhận biết như thật về sự
tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt,
sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu
chỗ xuất xứ, vị ấy sẽ có một
sự hiểu biết vượt ngoài những
điều trên. Mặt khác,
đức Phật nhấn mạnh rằng người
đệ tử Phật không chỉ thấu triệt
hoàn toàn về nguồn gốc Duyên Khởi
(Skt: Pratāya-samutpāda; Pāli: Paticca-samuppāda;
the Law of Dependent Origination) bắt nguồn từ vô minh
và tham ái, mà còn thấu hiểu
đúng đắn về con đường chơn
chánh đưa đến sự tận diệt
hoàn toàn các khổ uẩn bằng cách
làm mất dần hoàn toàn tham ái và
đoạn diệt vô minh.
Ngày nay, bước
vào thiên niên kỷ thứ ba, người
đệ tử Phật tu tập trí tuệ bằng
cách thực hành chánh kiến và
chánh tư duy. Có nghĩa rằng vị ấy
cần thấu triệt hoàn toàn lời dạy
của đức Phật bao gồm Kinh (Discourses-
Sūtra), Luật (Disciplines-Vinaya) và Luận (Super
Doctrine-AbhiDhamma) để ứng dụng đúng
đắn vào sự tu tập tâm; truyền
bá giáo pháp tùy theo căn cơ trình
độ của con người; thấu suốt triệt
để về Lý Nhơn Quả (the theory of Cause
and Effect) đưa đến kết quả thiện
ác từ hành động, về Lý Duyên
Khởi (the theory of Dependent Origination) bắt nguồn từ
vô minh và tham dục của toàn bộ khổ
uẩn, và đối với Tứ Đế (the Four
Noble Truths) cũng như Bát Chánh Đạo (the
Eightfold Path) đưa đến sự đoạn
diệt hoàn toàn các khổ uẩn,
đạt đến Niết bàn, giải thoát
và giác ngộ tối thượng. Ý
nghĩa về Tuệ như thế được gọi
là sự tu tập Tuệ với nghĩa đúng
đắn và thích hợp.
Nói chung, trong
mối liên hệ mật thiết về Tam Vô
Lậu Học, chúng ta có thể nhận thấy rằng Giới -
Định - Tuệ được phối hợp
chặt chẽ và tác động hỗ
tương với nhau trên tiến trình tu tập
giải thoát giác ngộ. Chính vì
vậy, đức Phật đã khẳng định
quan điểm này trong Kinh Trường Bộ:
Đây
là Giới, đây là Định, đây
là Tuệ. Định cùng tu với Giới
sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi
ích lớn. Tuệ cùng tu với Định
sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi
ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ
đưa đến giải thoát hoàn toàn
các món lậu hoặc, tức là dục
lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Từ ý
nghĩa trên, chúng ta có thể khẳng
định mạnh mẽ rằng Giới-Định- Tuệ
được xem như kiềng ba chân, vì
nếu thiếu một trong ba thì nó không
thể đứng vững vàng trên mặt
đất được. Sự tu tập Tam Vô
lậu cũng vậy. Nếu sự tuân thủ
Giới mà không có sự hiện hữu
của Định và Tuệ, nó trở thành
sự tuân thủ giới một cách cố
chấp. Và sự tuân thủ Định và
Tuệ cũng như vậy. Quan điểm này
đã được chuẩn y qua lời dạy
đầy súc tích của đức Phật
như sau:
Giới,
định và trí tuệ – Với ai khéo
tu tập,
Vị ấy
vượt qua khỏi – Thế lực của Ác
ma,
Và chói sáng rực sáng – Như
mặt trời chói sáng.
Ngoài việc tu tập Tam
Vô Lậu Học, một hành giả Phật
giáo trong thiên niên kỷ thứ ba cần
nên trao dồi tích cực và ứng dụng
khéo léo thêm về pháp môn Tứ
Nhiếp Pháp (Four Means of
Attraction - Saṃgraha-vastu) bao gồm bố thí (gift-giving, dāna),
ái ngữ (kindly speech, piyavaca or priyavacana), lợi
hành (beneficial actions, arthacaryā or atthacariyā)
và đồng sự (sympathy, samanatthatā or
samānārthatā); Ngũ Minh (Fivefold Learning
- Pañcavidyā) bao gồm y phương minh (medical
science, cikitsāvidya), công xảo minh (professional
skillfulness, śilpakarmasthānavidya), nhân minh (logic,
hetuvidya), thanh minh (phonetics and languages, sabdavidya), nội
minh (buddhist studies, adhyātmavidya); các bộ
môn khoa học hiện đại liên hệ
đến Phật giáo (như là: các tôn
giáo thế giới, khoa học xã hội,
thông tin và những phương tiện liên
lạc và mạng lưới internet hiện
đại…) để phục vụ cho
công việc hoằng pháp vì lợi ích
và an lạc hạnh phúc cho tất cả
chúng sanh, cho cuộc sống nhân loại và
cho xã hội ngày nay.
3. NHƯ LÀ NHÀ
TRUYỀN GIÁO
Theo quan điểm của người viết, vai
trò tham gia xã hội và hoằng pháp
độ sanh của một nhà truyền bá
Phật giáo trong thời hiện đại
được gói gọn trong hai phương
diện, đó là (1) truyền thừa Phật
pháp tùy theo căn cơ của thính giả và
(2) tham gia xã hội dựa trên tinh thần
tùy duyên bất biến, như sau:
a. Truyền
thừa Phật pháp tùy theo căn cơ của
thính giả
Đới với một nhà
truyền bá Phật giáo, đức Phật
xác định rõ ràng rằng nếu Tỳ
kheo thuyết pháp và thực hành pháp
yếm ly, ly tham, đoạn diệt già và
chết, như vậy đủ để được
gọi là Tỳ kheo thuyết pháp. Lại nữa,
trong khi thuyết pháp, người truyền giáo
chỉ nói lời khéo nói, không nói
lời vụng nói; chỉ nói lời đúng
pháp, không nói lời phi pháp; chỉ
nói lời khả ái, không nói lời phi
khả ái; chỉ nói lời đúng sự
thật, không nói lời không đúng
sự thật. Hơn nữa,
người truyền giáo khuyến khích những
người khác không chỉ tu tập và
nói phù hợp với lễ giáo, mà còn
đưa ra những quan điểm hợp theo chánh
pháp. Quan điểm này được
đức Phật răn dạy vị Tỳ kheo nên
thành tựu ba pháp (1) khuyến khích các
thân nghiệp tùy thuận, (2) khuyến khích
các ngữ nghiệp tùy thuận, và (3)
khuyến khích các ý nghiệp tùy
thuận. Thành tựu với ba pháp này,
một vị Tỳ kheo có danh tiếng, sống
đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc
cho đa số, lợi ích cho đa số, đem
lại hạnh phúc, an lạc cho chư thiên
và loài người. Đặc
biệt, đức Phật nhấn mạnh về phẩm
chất của vị truyền giáo rằng một
nhà truyền giáo cần phải liễu giải
nghĩa và liễu giải pháp, và
người nghe pháp cũng vậy. Cả
người dạy và người nghe đều
phải liễu giải nghĩa và pháp.
Đó là ba phẩm chất làm nền tảng
đối với người giảng dạy giáo
pháp cho người khác.
Ngày nay, một nhà
truyền bá Phật giáo khi muốn hoằng
pháp theo căn cơ của thính giả, cần
phải thông thạo về tâm lý học
và xã hội học. Vì sao? Vì tâm
lý học sẽ giúp vị ấy hiểu rõ
về những đặc tính tư tưởng
của con người và bản chất cũng
như cư xử tâm lý của mỗi cá
nhân trong xã hội hầu ứng dụng giáo
lý thích hợp vào trình độ căn
cơ của thính giả. Xã hội học
sẽ giúp vị ấy hiểu được
những mối quan hệ giữa con người sống
trong quần thể, đặc biệt là trong xã
hội công nghiệp. Từ đó, khi hoằng
pháp, vị ấy có thể ứng xử
đúng mức đối với nhiều tầng
lớp khác nhau trong xã hội. Chúng ta có
thể đưa ra vài ví dụ thực tế
và tiêu biểu rằng khi thuyết giáo cho những
thính giả có tính khí năng
động, sáng tạo và thẳng thắn,
một nhà truyền bá Phật giáo sẽ
thuyết giáo với lời nói năng
động, sáng tạo và thẳng thắn;
với người có bản tính lịch
thiệp và phóng khoáng, vị ấy sẽ
thuyết giảng với lời nói lịch sự
và cởi mở; với người khó tính
và ít nói, vị ấy sẽ dùng
lời nói súc tích và hợp lý;
với những đối tượng lãng mạn
và dễ xúc cảm, vị ấy sẽ cư
xử một cách nhẹ nhàng, tử tế
và văn hoa; với người trí thức,
vị ấy sẽ dùng lời nói trí
thức và gia giáo; hoặc với những
người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau
như bác sĩ, kỹ sư, công nhân,
nhân viên, quan chức, nhà khoa học, nhà
triết học, nhà tâm lý, sinh viên,
học giả, thi sĩ, nhà văn,…, lời
thuyết giảng của vị ấy sẽ tương
xứng với kiến thức, nghề nghiệp và vị
trí của họ trong xã hội. Với một
lối thuyết giảng khéo léo như thế,
người truyền bá Phật giáo không
những sẽ thành công trong vai trò và nhiệm
vụ tôn giáo, mà còn thích hợp
cả trình độ căn cơ của thính
giả và tinh thần truyền bá Phật
giáo năng động bằng những phương
tiện thiện xảo ngày nay.
b. Tham gia xã hội dựa trên tinh thần tùy duyên bất biến
Ngay tại đây, một câu
hỏi rất hợp lý và thực tiễn
được đặt ra rằng muốn làm
vơi đi nỗi đau khổ về tinh thần
của con người và sự khủng hoảng
xã hội hiện nay, một nhà truyền bá
Phật giáo trong thời đại mới cần
phải làm gì và bằng cách nào
để thực hiện vai trò tham gia xã hội
của mình?
Trở về thời của đức Phật, bản
thân Ngài, với vai trò là một vị
Đạo sư cũng như một nhà truyền
bá với những phương tiện thiện
xảo phục vụ xã hội trong suốt 45 năm,
Ngài chưa từng ruồng bỏ xã hội;
ngược lại, chính Ngài lại tham gia
nhiều lãnh vực chính trị, xã hội,
văn hóa khác nhau mà vẫn không thay
đổi bản chất Phật của mình với
mục đích duy nhất là ‘vì an
lạc hạnh phúc số đông, vì
lòng thương tưởng cho đời, vì
sự lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho
Chư thiên và loài người.’ Ngài
không chỉ hướng dẫn các hàng vua
chúa làm thế nào mang lại cuộc
sống sung túc và hạnh phúc cho bá
tánh; mà còn khuyến khích và chỉ
dạy con người làm thế nào để
biểu hiện những phong cách và thái
độ tốt đẹp với nhau trong lề lối
đạo đức đúng đắn, đặc
biệt trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con
cái, chồng và vợ, chủ và tớ,
và bạn bè với nhau…
Bước vào ngưỡng
cửa thiên niên kỷ thứ ba, một nhà
truyền bá Phật giáo của thế hệ
trẻ hậu tấn, ngoài việc noi gương tham
gia xã hội khéo léo của đức
Phật và chư vị tiền bối lỗi lạc
Phật giáo, cần thực hiện tích cực
vai trò thiết thực của mình qua hai
phương diện chủ yếu: xã hội và
kinh tế với những phương tiện thiện
xảo như sau:
b1. Phương
diện xã hội
Để đối diện với
những vấn đề khủng hoảng xã hội
hiện nay như: môi trường sinh thái,
bệnh dịch HIV/AIDS, bệnh đồng tính
luyến ái, nạn mại dâm, chiến tranh,
bạo động và khủng bố, tình
yêu, tình dục và hôn nhân…;
một nhà truyền bá Phật giáo không
những nắm bắt thấu đáo về các
tình huống xã hội và tính khí
con người hiện nay, mà còn thực hiện
khéo léo làm thế nào để
giãm bớt nỗi khổ đau và khủng
hoảng xã hội. Ở đây, chúng ta
sẽ nghiên cứu và thảo luận vài
trường hợp tiêu biểu liên quan
đến từng vấn đề sau đây:
Với môi trường sinh thái, đặc
biệt về những thảm họa về ô
nhiễm không khí, một nhà truyền bá
Phật giáo một mặt giải thích súc
tích và hợp lý cho con người về
giá trị và tầm quan trọng thực tế
môi trường sinh thái; khuyến khích
họ biết tôn trọng, bảo vệ và duy
trì mạng sống của nhân loại, các
loài thuẹc vật, động vật và
thiên nhiên; và mặt khác kết hợp
với họ trồng cây gây rừng, tôn
trọng, bảo vệ tất cả các loài
thực vật và động vật, giữ gìn
không khí và nguồn nước trong sạch và
không ô nhiễm, … Một hành động
khéo léo như thế sẽ làm giãm
bớt sự đau khổ tinh thần cho con người
và sự khủng hoảng môi trường sinh
thái.
Với bệnh dịch HIV/AIDS, người
truyền bá lý tưởng trước hết
cần thấu hiểu rõ ràng về ý
nghĩa và nguyên nhân bệnh dịch HIV/AIDS.
Đó là bệnh nhiễm vi rút thiếu
hụt hệ thống miễn dịch con người (HIV:
Human Immunodeficiency Virus) gây ra hội chứng liệt
kháng thể (AIDS: Acquired Immune Deficiency Syndrome) qua
ba đường truyền chính: quan hệ sinh
lý với người bị nhiễm; truyền
máu của người bị nhiễm; và
người mẹ bị nhiễm đang mang thai. Kế
đến, vị ấy kết hợp với những
đoàn thể xã hội thành lập và
tham gia vào việc tuyên truyền cho mọi
người về cách ngăn ngừa bệnh
dịch HIV/AIDS; theo dõi chăm sóc thuốc men
kỹ lưỡng, chăm sóc những bệnh
nhân bị nhiễm HIV/AIDS ở giai đoạn
cuối; ủng hộ những bệnh nhân mới bị
nhiễm HIV/AIDS bằng cách đào tạo
hướng nghiệp, khuyên nhũ họ theo tâm
lý, hướng dẫn phương pháp thiền
định của Phật giáo một cách
có hiệu quả và có lợi, tạo ra
những thú tiêu khiển lành mạnh và
các môn thể thao ưa thích (như: bóng
đá, bơi lội, cầu lông, võ
thuật, …), … hầu làm cho họ tăng
thêm sức đề kháng mạnh mẽ. Việc làm
như thế không chỉ làm giãm đi
bệnh dịch HIV/AIDS mà còn giãm đi
những tai họa cho xã hội.
Đối với nạn mại
dâm và bệnh
đồng tính luyến ái, đó
là những vấn đề vô cùng phức
tạp nhưng rất tế nhị gây nhiều
cuộc tranh luận và sự giải thích từ
những quan điểm của các nhà học
giả nổi tiếng, đặc biệt là bệnh
đồng tính luyến ái. Đối với
nạn mại dâm, nó chính là nguyên
nhân chủ chốt dẫn đến bệnh dịch HIV/AIDS
từ việc quan hệ tình dục con người,
và dẫn đến tai họa cho xã hội.
Để tháo gỡ tế nhị về những
vấn đề phức tạp này, một nhà
truyền bá Phật giáo cần cư xử
tốt với họ bằng những phương tiện
thiện xảo của mình như: đối với
những người đồng tính luyến ái,
vị ấy thực hiện vai trò tích cực
bằng cách khuyên răn và hướng
dẫn chuyên nghiệp về tâm lý sống,
về giá trị của một con người
đúng đắn, về những hậu quả tai
hại từ những hành vi không hợp lý
và không tự nhiên của con người;
khêu gợi dần dần dục tình của
họ bằng cách khuyến khích và tạo
điều kiện thuận lợi về sự quan
hệ với người khác giới tính
từng bước một; khuyến khích những
môn thể thao và những thú vui lành
mạnh cũng như chuyển đổi liệu
pháp tâm lý hoóc môn và diện
mạo cơ thể bên ngoài của họ
để thích hợp với tâm lý giới
tính thật sự của họ. Với những
người mại dâm, vị ấy hướng
dẫn khóa học đào tạo hướng
nghiệp đặc biệt cho họ, tìm cho họ
những công việc đúng đắn và
thích hợp, và dùng những lời
khuyên chuyên nghiệp về tâm lý sống,
về giá trị của một con người
đúng đắn, về những hậu quả tai
hại từ những hành vi không hợp lý
và không tự nhiên của con
người…Một vai trò sáng tạo và
khéo léo như thế sẽ làm mất
dần về nhũng vấn đề nan giải của
xã hội ngày nay.
Về vấn đề chiến tranh, bạo động
và khủng bố, người truyền bá
Phật giáo đầu tiên trao đổi với
họ bằng những lời giải thích
đầy thuyết phục và những bằng
chứng thực tế về những thiệt hại
trầm trọng cho con người và xã hội
từ những hành vi chiến tranh, bạo
động và khủng bố; sau đó khuyến
khích và hướng dẫn họ một
cách khéo léo thực hành tinh thần
bất bạo động của Phật giáo (non-violence - ahiṃsā) bằng cách tu tập
lòng từ và sự đồng cảm vì
hòa bình, hạnh phúc và an lạc
thật sự cho mình và cho tất cả
chúng sanh. Thật sự, chính việc thực
hành bất bạo động này không
những hàn gắn lại vết thương
chiến tranh, xung dột và bạo động cũng
như làm giãm đi tất cả những tai
họa cho con người và xã hội; mà
còn xây dựng một xã hội hòa
bình và lành mạnh, cũng như thắt
chặt nguyên tắc quý trọng về sự
bình đẳng, hữu nghị và tự do.
Tình dục, tình yêu
và hôn nhân là ba vấn đề quan
trọng và cần thiết đối với cuộc
sống chúng sanh nói chung và con người
nói riêng, đặc biệt về cuộc
sống hôn nhân; ngược lại, ba điểm
này cũng có thể làm cho con người
đau khổ và bất hạnh trong nhiều phương
diện trừ khi họ thấu triệt hoàn
toàn và thực hiện đúng đắn
những vấn đề này với một thái
độ tử tế và lịch thiệp.
Trước khi thực hiện vai trò và nhiệm
vụ tôn giáo của mình, người
truyền bá Phật giáo không chỉ thấu
hiểu triệt để về bản chất tâm
lý của họ mà còn duy trì quan
điểm cởi mở hầu truyền đạt
và hướng dẫn kiến thức về những
vấn đề này cho con người. Đối
với tình dục, nó đóng một vai
trò quan trọng và then chốt trong việc duy
trì và phát triển lâu dài về
tình yêu và cuộc sống hôn nhân con
người. Tuy nhiên, tình dục có thể
là một đầy tớ tốt và cũng
có thể là một ông chủ bất
lợi. Nếu con người sử dụng tình
dục điều độ với lý do chính
đáng, tình dục sẽ trở thành
một đày tớ tốt; ngược lại
nó là một ông chủ có hại.
Vì thế, người truyền bá không
chỉ cung cấp nền giáo dục đúng
đắn và kiến thức chuyên môn về
kỹ thuật và thực hành sinh lý với
một phương pháp có hiệu quả và
chuẩn mực thích hợp đối với
đạo đức con người và cuộc
sống xã hội; mà còn hướng dẫn
họ làm thế nào tiết độ tình
dục của mình hầu có được
một thân thể và tinh thần khỏe mạnh.
Tương tự tình yêu và hôn nhân
cũng vậy. Đối với vấn đề
tình yêu, nó cũng có thể là
một liều thuốc bổ nhất hay trở thành
liều thuốc độc và thuốc phiện nguy
hiểm nhất khi chứng bệnh tâm thần của
họ đang tái phát, và cũng có
thể là một nguồn nước tinh khiết
và mát mẽ hay trở thành một nguồn
cung cấp nước ô nhiễm và có
hại khi con người đang khao khát nước.
Tất cả tùy thuộc vào lý trí,
sự hiểu biết, việc làm và thái
độ về những hành vi ý thức hay
không ý thức của con người. Do
đó, một nhà truyền bá lý
tưởng cần hướng dẫn đúng
đắn về tình yêu cho họ tùy theo
tuổi tác, căn cơ, phong cách và sự
hiểu biết… Vị ấy hướng dẫn
họ làm thế nào tạo mối liên
hệ tình yêu lâu dài bằng thái
độ lịch sự và nhã nhặn, sự
hiểu biết lẫn nhau, sự tôn trọng và
thông cảm lẫn nhau; chia sẽ cho nhau trong lúc
khó khăn và hạnh phúc; xây dựng cho
nhau khi có lỗi lầm; … Sự hướng
dẫn khéo léo về tình yêu của
vị ấy sẽ làm con người thỏa
mãn và thành công trong một tình
yêu đầy ý nghĩa. Tóm lại,
tình dục và tình yêu là nhu cầu
quan trọng và không thể thiếu đối
với cuộc sống con người đời thường.
Nếu tình dục mà thiếu đi vị
ngọt của tình yêu, nó chỉ là
một cảm giác trống vắng; ngược
lại, tình yêu mà không có sự
hiện hữu của tình dục, nó trở
thành một tình yêu vô vị. Chúng ta
có thể nói nghiêm túc rằng tình
dục và tình yêu giống như một
người có đủ hai chân trong hình
dáng tự nhiên của con người. Nếu
thiếu một trong hai, dáng vẽ vị ấy
trông có vẽ không được tự
nhiên. Hôn nhân chính là kết quả
cuối cùng của một tình yêu
đúng đắn mà con người khao khát
muốn có được. Ý nghĩa và
cách cư xử của nó tương tự
như tình yêu nhưng thêm vai trò
trách nhiệm của họ đối với cuộc
sống và hạnh phúc lứa đôi,
đối với cha mẹ chồng hoặc cha mẹ
vợ, … Trong tình huống này, một
nhà truyền bá Phật giáo cần dùng
những lời khuyên chân thành cho đôi
vợ chồng mới cưới bằng cách
hướng dẫn họ làm thế nào để
cư xử, tôn trọng, thông cảm, và
có trách nhiệm với nhau theo năm cách
mà đức Phật đã chỉ dạy trong
kinh Trường Bộ; làm thế
nào tiết độ tình dục một cách
hợp lý hầu làm cho thân và tâm
dễ chịu, hoặc sức khoẻ và tinh thần
tráng kiện,…; làm thế nào chia sẽ
và xây dựng cho nhau những lỗi lầm
để trở thành con người hoàn hảo;…
cuộc hôn nhân đầy ý nghĩa như
thế gọi là cuộc nhân hạnh phúc
hoàn mỹ.
b2. Phương diện kinh tế
Song song với phương
diện xã hội, kinh tế cũng đóng
một phần then chốt trong vai trò tôn giáo
của nhà truyền bá Phật giáo. Thông
thường, hầu hết cuộc sống tu hành
tôn giáo của các vị tu sĩ Phật
giáo được duy trì vững chắc nhờ
vào sự ủng hộ và cúng dường
vật chất của các vị Phật tử
với bốn nhu cầu cần thiết của một tu
sĩ như: quần áo, thức ăn, nệm
lót và thuốc men. Mặt khác, đời
sống tu sĩ tùy thuộc vào việc khất
thực từ sự cúng dường của những
tín đồ Phật tử. Vì vậy, cuốc
sống lâu dài của họ sẽ không
được duy trì trừ khi có sự ủng
hộ và cúng dường của những
tín đồ Phật tử, thậm chí bản
thân họ tùy thuộc vào nhiều
phương diện cuộc sống, đặc biệt
trong sự giao thiệp và cư xử.
Ngày
nay, một nhà truyền bá Phật giáo
một mặt nên giảm bớt việc tùy
thuộc vào sự khất thực từ các
tín đồ Phật tử và mặt khác
nên tự làm kinh tế để duy trì
đời sống tôn giáo của mình với
nhiều phương thức khác nhau: trồng
trọt rau quả; cày ruộng trồng lúa;
làm đậu hũ, sữa đậu nành
và bột mì;…làm nhang; ấn hành
kinh sách Phật giáo; làm các vật
phẩm cho việc thờ phượng; … Vai trò
kinh tế khéo léo như thế không chỉ
cung cấp và ủng hộ điều kiện
vật chất cho nhà truyền bá Phật
giáo thực hiện thành công nhiệm vụ
tham gia xã hội cả hai phương diện xã
hội và giáo dục, mà còn tạo ra
cho vị ấy có đủ tài sản
để duy trì cuộc sống tôn giáo
lâu dài và vững chắc.
C. CONCLUSION
Nhìn chung, qua những quan
điểm tích cực và mới mẽ
được đề cập ở phần trên,
chúng ta nhận thấy giá trị của một
tu sĩ Phật giáo lý tưởng ở
thiên niên kỷ thứ ba được biểu
hiện qua hai phương diện đạo đức
và xã hội. Phương diện đạo
đức thuộc về ý nghĩa ‘tự
lợi’ đề cập về những yêu cầu
tu tập và phát triển đạo đức
cá nhân của một tu sĩ Phật giáo
lý tưởng (vai trò như là một
Bhikkhu, một hành giả). Phương diện
xã hội chính là tinh thần ‘lợi
tha’ liên quan đến vai trò tham gia xã
hội của một tu sĩ lý tưởng vời
những phương tiện thiện xảo (vai trò
như là một nhà truyền bá). Dựa
trên hai phương diện này, vị ấy
có khả năng thực hiện khéo léo vai
trò tôn giáo của mình về sự tu
tập và truyền bá Phật pháp cho số
đông, có khả năng ứng dụng giáo
pháp một cách linh hoạt và sáng
tạo vào việc tham gia xã hội vì an
lạc và hạnh phúc cho con người.
Hình ảnh một vị tu sĩ Phật giáo
lý tưởng như thế không chỉ mở ra
một đạo lộ mới cho thế hệ trẻ tu
sĩ Phật giáo ở tương lai trong vai trò
và nhiệm vụ tôn giáo thích hợp
với quan điểm Phật giáo ngày nay,
mà còn đóng góp cho sự nghiệp phát
triển đạo đức và giáo dục con
người trong bất kỳ tình huống xã
hội nào trong thiên niên kỷ thứ ba.
THƯ MỤC THAM KHẢO
A. KINH
Kinh Trường Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), Vol. I, & II, TPHCM:
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Kinh Tăng Chi Bộ,
Thích Minh Châu (dịch),Vol. I II, III & IV, TPHCM:
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Kinh Trung Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), Vol. I, II & III TPHCM:
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Kinh Tương Ưng Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), Vol. I, II, III & V, TPHCM:
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Kinh Tiểu Bộ,
Thích Minh Châu (dịch),Vol. I, TPHCM:
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
The Sacred Books of the East,
T. W. Rhys Davids
& Hermann Oldenberg (trans.), F. Max Müller (ed.), Vol. 13, Delhi:
Motilal Banarsidass Publishers, 1996.
B. SÁCH
Ajahn Chah,
Food for the Heart,
Ananda Guruge
(ed.)
Return to Righteousness,
Bapat, P. V. (ed.),
2500 Years of Buddhism,
Barua,
D. K.,
An Analytical Study of Four Nikāyas,
Barua,
Dipak
K.,
An Analytical Study of Four Nikāyas,
Buddhaghosa,
B. (au) &
Ñānamoli
(trans.),
The Path of Purification,
Conze, E. (trans.
& ed.), The Large
Sutra on Perfect Wisdom,
Conze, E.,
Buddhist Thought in
Copleston, R.
S.,
Buddhism Primitive and Present in
Dutt,
N.,
Early Monastic Buddhism,
Fowler,
M.,
Buddhism: Beliefs and Practices, Brighton & Portland:
Geoffrey DeGraff
(Thanissaro
Bhikkhu),
The Wings to
Gethin, R.,
The Foundations of Buddhism,
Goldstein,
J.,
Insight Meditation: The Practice of Freedom,
H.H. The Dalai Lama,
The
Way to Freedom, Dharmshala: The Library of
H.H.Dalai Lama (au.)
&
Ramanan, R.
(compiler), The
Heart of Compassion,
Jones, K.,
The Social Face of Buddhism: A Approach
to Political and Social Activism,
Joshi, L. M. & et.al.,
Buddhism,
Karunyakara,
L.,
Modernisation of Buddhism: Contribution of Ambedkar and Dalai Lama XIV,
Kern, H.,
Manual of Indian Buddhism,
King, B. M.,
Human Sexuality Today,
Kirthisinghe, B.
P.(ed.), Buddhism
and Science,
Kyabgon, T.,
The Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice,
Lamotte, E. (author)
&
Boin, S. W.
(trans.),
History of Indian Buddhism, Louvain-le-Neuve: Institut Orientaliste de
I’Universite’ Catholique de Louvain, 1988
Lester, R.C.,
Theravada Buddhism in
Malik,
I. L.,
Dalai Lamas of
Mittal, M. P. (compiled), Buddha
and Early Buddhism, Vol. 1,
Morgan, K.W. (ed.),
The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists,
Ñāṇamoli Thera
(trans.), The
Pāṭimokkha: The Rule for Buddhist Monks,
Narasu, P.
L.,
The Essence of
Pachow,
W.,
A Comparative Study of the Pratimokṣa,
Pandit, M. L.,
Buddhism in Perspective,
U Aggacitta
(trans.);
Wheeler, K.
(ed.),
In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha,
Phra Sunthorn
Plamintr, Basic
Buddhism
Piburn, S.
(comp.& ed.), The Dalai
Lama—A Policy of Kindness,
Piyadassi, M.,
The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi,
Rahula, W.,
What the Buddha Taught,
Rinchen, G. S.
(au.) &
Sonam, R. (trans.&
ed.), The Six
Perfections,
Roscoe,
G.,
The Triple Gem: An Introduction to Buddhism,
Saddhatissa, H.,
Buddhist Ethics,
Saint-Hilaire,
J.B.,
The Buddha and His Religion,
Santina, P.
D.,
The Tree of Enlightenment,
Silva, de
L.,
Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka,
Singh,
Sanghasen,
A Study of the Sphuṭārthā Śrīghanācārasaṅraha Ṭīkā,
Sivaraksa, S.
(Hon.ed.), Socially
Engaged Buddhism for the New Millennium,
Sivaraksa, S.,
& et.al (ed.),
Buddhist Perception for Desirable Societies in the Future,
Snelling, J.,
Buddhism: An Introductory Guide to the Buddhist Tradition, Shaftesbury,
Suzuki,
D.T.,
Essay in Zen Buddhism, Third Series,
Tachibana,
S.,
The Ethics of Buddhism,
Thich Nhat Hanh,
The Heart of the Buddha’s Teaching,
Warder, A.K.,
Indian Buddhism,
Williams,
P.,
Buddhist Thought: A Complete Introduction
to the Indian Tradition,
C. TỰ
ĐIỂN & BÁCH KHOA TỰ ĐIỂN
Pali-English
Dictionary, Rhys Davids, T.W. & William Stede (ed.),
Phật Học Từ Điển (Buddhist
Dictionary), Đoàn Trung Còn, TPHCM: Nhà
xuất bản TPHCM, Vol. II, 1997.
Sanskrit-Enghlish
Dictionary, Williams, Monier. M. (ed.),
The Buddhists
Encyclopaedia of Buddhism, Kapoor, S. (ed.), Vol. I,
II, IV & V,
The Encyclopaedia of Buddhism, G. P. Malalasekera (ed.), Vol. III, (1971, rep. 1999); W.G. Weeraratne & Jotiya Dhirasekera (ed.), Vol. IV (1979, rep. 1989), W.G.
Weeraratne (Editor-in-Chief), Vol. V, (1990, rep. 2000),
The Encyclopaedia of
Religion, Mircea Eliade (ed.), Vol. 11,
Từ
Điển Phật Học Hán-Việt (Chinese-Vietnam
Buddhist Dictionary), Kim Cương
Tử (chủ biên), Hà Nội: Phân Viện
Nghiên Cứu Phật Học, Vol I, 1992.
E. TRANG WEB
www.buddhismtoday.com
Bài tham luận của P. A. Payutto, Buddhist Solutions for
the 21st Century (Các Giải Pháp của
Phật Giáo đối với Thế Kỷ 21),
đọc tại Nghị Viện Tôn giáo Thế
Giới ở Chicago, 1994, có giá trị tại
trang Web: www.buddhismtoday.com/index/ sociology.htm.
Như trên, có giá trị tại trang Web:
www.buddhismtoday.com/index/sociology.htm
Bài diễn văn của Ngài His Holiness The XIV
Dalai Lama of Tibet, Human Rights and Universal Responsibility (Nhân
Quyền và Trách Nhiệm Toàn Cầu), June
15, 1993, đọc tại Hội Thảo Quốc Tế
Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền ở Vienna-Úc,
có giá trị tại trang Web www.buddhismtoday.com/index/sociology.htm
D.T. Suzuki, Essay in Zen Buddhism, quyển III,
Trích từ ‘Lời tựa
của Venerable Ajahn Tiradhammo Thera’, trong Ken Jones, The
Social Face of Buddhism: An Approach to Political and Social Activism,
T. W. Rhys Davids & William Stede (ed.), Pali-English Dictionary,
1997: 504
M. Monier-Williams (ed.), Sanskrit-Enghlish Dictionary, 1999: 756.
A. G. S. Kariyawasam, ‘Bhikkhu’ (Tỳ Kheo), trong G. P.
Malalasekera (ed.), The Encyclopaedia of Buddhism, quyển III,
1999: 36; John C. Holt, ‘Buddhist Priesthood’ (Tăng Lữ
Phật Giáo), trong Mircea Eliade (ed.), The Encyclopaedia of
Religion, quyển 11, 1987: 542. Xem thêm trang 542ff.
Kinh Trường Bộ I.222f. Xem thêm ‘Sīla’(giới) trang
15ff-122ff; A. K. Warder, Indian Buddhism, 2000: 173.
Kinh Trường Bộ I.222f. Xem thêm ‘Wisdom’ trang 154f; M. Anesaki,
‘Ethics and Morality’, trong Subodh Kapoor (ed.), The Buddhists
Encyclopaedia of Buddhism, quyển II, 2001: 525ff.
Kinh Trường Bộ I.184f; II.353f-382f. Xem thêm Kinh
Tương Ưng Bộ III.83 & V.240f.
Ananda Guruge (ed.), Return to Righteousness, 1991: 223.
Kinh Trung Bộ I.307f.. Xem thêm ‘Ẩn dụ
chiếc Bè’ trong Mahathera Piyadassi, The Spectrum of
Buddhism: Writings of Piyadassi, 1991: 225f; Paul Williams, Buddhist
Thought: A Complete Introduction to the Indian Tradition, 2000: 38ff;
Rupert Gethin, The Foundations of Buddhism, 1998: 71f.
Kinh Tiểu Bộ I.214f; Walpola Rahula, What the Buddha
Taught, 1996: 45ff.
Như trên, Pali-English Dictionary, 1997:712.
Như trên, Sanskrit-Enghlish Dictionary, 1999: 1079.
Xem thêm ý nghĩa về
‘Pratimokṣa’ trong W. Pachow, A
Comparative Study of the Pratimokṣa, 2000: 4ff; Peter Harvey, An
Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, 1990: 224f.
Xem thêm trong T. W. Rhys Davids & H. Oldenberg (trans.); F. Max
Muller (ed.), The Sacred of Books of the East, Vol. 13, 1996: 3ff; E. Lamotte (author) & Sara Webb-Boin
(trans.), History of Indian Buddhism, 1988: 54f; S. Tachibana, The
Ethics of Buddhism, 1986: 80ff; Nalinaksha Dutt, Early Monastic Buddhism,
1981: 152; Ñāṇamoli Thera (trans.), The Pāṭimokkha: The Rule for Buddhist Monks, 1992: 66ff; Lynn de Silva, Buddhism: Beliefs and
Practices in Sri Lanka, 1980: 148. Xem thêm
các điều luật của Tỳ kheo ở A.
G. S. Kariyawasam, ‘Bhikkhu’ (Tỳ kheo), trong G. P.
Malalasekera (ed.), The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. III, 1999: 36;
Gerald Roscoe, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism, 1994: 123ff;
như trên, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and
Practices, 1990: 225ff; Robert C. Lester, Theravada Buddhism in
Southeast Asia, 1973: 50ff; như trên, The Foundation of
Buddhism, 1998: 89ff.
Xem thêm con số về các điều luật
Pratimokṣa (Giới bổn)
của Tỳ kheo ni với nhiều quan điểm
khác nhau, như trên, A Comparative Study of the Pratimokṣa,
2000: 4ff; như trên, An Introduction to Buddhism: Teachings,
History and Practices, 1990: 225; như trên, The Foundation of
Buddhism, 1998: 89ff.
Xem thêm ‘10 giới’ trong The
Sacred of Books of the East, Vol. 13, 1996:211;
H. Kern, Manual of Indian Buddhism, 1996: 70; Sanghasen Singh, A
Study of the Sphuṭārthā
Śrīghanācārasaṅraha
Ṭīkā,
1983: 15ff-138ff; H. Saddhātissa, Buddhist
Ethics, 1997: 59ff; như trên., History of Indian
Buddhism, 1988:42-54; như trên, The Ethics of Buddhism,
1986: 76f; P. Lakshmi Narasu, The Essence of Buddhism, 1999: 39ff;
Shanti Bhikshu Shastri, ‘Buddhist Ethics and Social Ideas’, trong
L.M. Joshi & et.al, Buddhism, 1999: 44f; như trên, Theravada
Buddhism in Southeast Asia, 1973: 50; như trên, The Foundations of Buddhism, 1998: 87ff; Dipak Kumar Barua, An Analytical Study of Four
Nikāyas, 2003: 128f. Xem
thêm Pātimokkha (Giới bổn) của C.A.F. Rhys Davids,
‘Pātimokkha’, như trên, The
Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. IV, 2001: 1062f-1066ff-1109ff;
Reginald Stephen Copleston, Buddhism Primitive and Present in Magadha and in
Ceylon, 1994: 119ff; như
trên, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism, 1994:
123ff.
Georg Feuerstein, ‘Samādhi’, in Mircea Eliade (ed.), The
Encyclopaedia of Religion, Vol. 13, 1987, 32
Như trên, Sanskrit-Enghlish
Dictionary, 1999, p. 1159.
Như trên, Pali-English
Dictionary, 1997, p. 685.
Như trên, The Buddha and His Teachings,1997, p. 305.
Năm Triền Cái (Nīvaraṇas) là
: (1) tham dục (sensual desires- kāmacchanda); (2) sân hận (ill will-
vyāpāda); (3) hôn trầm
và thụy miên (sloth and torpor - thīna-middha); (4) trạo hối (restlssness and worry
- uddhacca-kukkucca); and (5)
hoài nghi (doubts, vicikicchā). Xem chi tiết trong Mahāthera Nārada, The Buddha and
His Teachings: 317ff; Sayadaw U Pandita (author); U Aggacitta (trans.); Kate
Wheeler (ed.), In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha, 1993:
187ff; như trên, An Introduction to Buddhism: Teachings, History
and Practices, 1990: 249f; như trên, The Spectrum of
Buddhism: Writings of Piyadassi: 214ff-250ff (Addendum IV); Joseph
Goldstein, Insight Meditation: The Practice of Freedom, 1994: 57f;
như trên, The Essence of Buddhism: An Introduction to Its
Philosophy and Practice: 25f.
Kinh Trường Bộ I, Vol. I: 139ff-301ff-318f-358f-369f-379f; Kinh Trung
Bộ, Vol. I: 609ff-403f-589f - Vol. II: 25-223-464; Vol.
III:32-112f-272ff-304f-350f; Kinh T ương Ưng
Bộ, Vol.V: 21f-310-459f; Kinh Tăng Chi Bộ, Vol. I:
292f - Vol. II: 224-339ff-502 - Vol. III: 524 - Vol. IV:
184f. Xem thêm ‘Tứ Thiền’ như trên, History
of Indian Buddhism: 43; B. Buddhaghosa (author);
Ñānamoli (trans.), The Path of Purification, 1991: 136ff; Kenneth W. Morgan
(ed.), The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists,1997:148f; U. Aung Thein, ‘Buddhist Meditation
and Bioscience’ trong Buddhadasa P. Kirthisinghe (ed.), Buddhism
and Science, 1999: 58f; J.
Barthélemy Saint-Hilaire, The Buddha and His Religion, 1997: 142f; như trên, An Introduction to
Buddhism: Teachings, History and Practices: 250ff; Edward Conze
(trans. & ed.), The Large Sutra on Perfect Wisdom, 1990: 157f; như trên, Indian Buddhism:
90f; Nalinaksha Dutt, ‘The Buddhist Meditation’, trong Mahendra P.
Mittal (compiled), Buddha and Early Buddhism, Vol. 1, 2002: 194ff; L.M.
Joshi, ‘Buddhist Meditation and Mysticism’, như trên, Buddhism:
62f; như trên, Theravada Buddhism in Southeast Asia: 36f; Opcit.,
Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian Tradition: 55;
như trên, The Foundation of Buddhism: 184f.
Xem thêm về
‘Định’ (Samādhi -Meditation or Concentration) trong
The Vajra Regent Wu-Tsen, ‘Meditation’, như trên, The
Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. II: 926ff; Jotiya Dhirasekera,
‘Meditation’, trong W.G. Weeraratne & Jotiya Dhirasekera (ed.),
The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. IV, 1989: 206; Georg Feuerstein,
‘Samādhi’, như trên, The Encyclopaedia of
Religion, Vol. 13: 32f; như trên, History of Indian Buddhism:
42ff; như trên, The Path of
Purification: 85ff; như
trên, The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists:
144ff; như trên, The Buddha and His Teachings: 305ff;
như trên, Early Monastic Buddhism: 159ff; như
trên, In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha:
13ff-150ff; Moti Lal Pandit, Buddhism in Perspective, 2001: 82ff; Thich Nhat Hanh, The Heart of the
Buddha’s Teaching, 1998: 209f; His Holiness The Dalai Lama, The
Way to Freedom, 2000: 173ff; Phra Sunthorn Plamintr, Basic Buddhism
Course, 1999: 129ff-133ff; Ajahn Chah, Food for the Heart, 1999:
47ff; Geoffrey DeGraff (Thanissaro Bhikkhu), The Wings to Awakening,
1999: 223ff; như trên, The
Essence of Buddhism: 138ff; Peter Della Santina, The Tree of
Enlightenment, 1999: 56ff; Sidney Piburn
(comp. & ed.), The Dalai Lama—A Policy of Kindness, 2002:
69ff; L.M. Joshi, ‘Buddhist Meditation and Mysticism’, như
trên, Buddhism: 56ff; như trên, Buddhism: Beliefs
and Practices: 70ff; như trên, The Spectrum of Buddhism:
Writings of Piyadassi: 189ff; như trên, What the Buddha
Taught: 67ff; John Snelling, Buddhism: An Introductory Guide to the
Buddhist Tradition, 2000: 62ff; như trên, The Foundation of
Buddhism: 174ff; Dipak Kumar Barua,
An Analytical Study of Four Nikāyas, 2003: 142ff; Traleg Kyabgon, The
Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice, 2001: 23ff-58ff; Geshe Sonam Rinchen (author);
Ruth Sonam (trans. & ed.), The Six Perfections, 1998: 81ff.
Như trên, Pali-English Dictionary:
390; Như trên, Sanskrit-Enghlish Dictionary: 659.
Kinh Tương Ưng Bộ II.11ff-14f-29-33ff-43-48-51ff-56-78ff-82ff-83f-84f-104ff-142ff.
Xem thêm ‘Lý Duyên Khởi’ trong Kinh
Tiểu Bộ I.115f-116f; Kenneth K. Inada, ‘Buddhist
Observance’, như trên, The Buddhists Encyclopaedia of
Buddhism, Vol. I: 239f; Bhikkhu Khantipalo, ‘Wheel of Life’,
như trên, The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V,
2001: 1479ff; như trên, History of Indian Buddhism: 36ff;
như trên, The Path of Purification: 539ff; như trên, The Path of the
Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists: 154; như trên, The
Buddha and His Religion: 134ff; như trên, The Buddha and His
Teachings: 240ff; như trên, An Introduction to Buddhism:
Teachings, History and Practices: 54ff; Edward Conze, Buddhist Thought
in India, 2002: 144ff; như trên, The Heart of the
Buddha’s Teaching, 1998: 221ff; như trên, The Tree of
Enlightenment: 96ff; như trên, Buddhist Ethics: 16ff;
như trên, Theravada Buddhism in Southeast Asia: 29ff;
như trên, The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi:
137ff; Lella Karunyakara, Modernisation of Buddhism: Contribution of
Ambedkar and Dalai Lama XIV, 2002: 74ff;
như trên, Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian
Tradition: 62ff; như trên, The Foundation of Buddhism:
141f; như trên, Return to Righteousness: 299ff; như
trên, The Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and
Practice: 73ff; K. Rama, Buddhism: A World Religion, 1999: 16f.
Xem thêm ‘Tuệ’ (Paññā -Wisdom) trong
P. D. Premasiri, ‘Ethics’, như trên, The
Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V: 152; Tadeusz Skorupski,
‘Prajñā’, như trên, The Encyclopaedia of
Religion, Vol. 11: 477ff; như trên, History of Indian
Buddhism: 44ff; như trên, The Path
of Purification: 435ff; như
trên, The Buddha and His Teachings: 320ff-353f; như
trên, The Heart of the Buddha’s Teaching: 210ff; như
trên, The Way to Freedom: 179ff; như trên, The Tree
of Enlightenment: 65ff; như trên, An Analytical Study of Four Nikāyas: 159ff; như trên, The Essence of
Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice: 69ff; như
trên, The Six Perfections: 95ff.
Kinh Trường Bộ I. 559-617-621f.
Kinh Tiểu Bộ I.364. Xem thêm ‘Tam Vô
Lậu Học’ trong Kinh Tăng Chi Bộ.I.415ff-435ff;
P. D. Premasiri, ‘Ethics’, như trên, The
Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V: 150ff; như trên, History
of Indian Buddhism: 42ff; như trên, The Triple Gem: An
Introduction to Buddhism: 8ff-12ff-21ff; B. Saṃgharakshita, ‘Buddhism in the
Modern World: Cultural and Political Implications’, trong P.V.
Bapat (ed.), 2500 Years of Buddhism, 1997: 389f; H.H. Dalai Lama (au.);
Ramanan, R. (compiler), The Heart of Compassion, 2001: 110ff; như
trên, What the Buddha Taught: 46ff; như trên, Buddhist
Ethics: 40ff; như trên, The Spectrum of Buddhism: Writings of
Piyadassi: 204ff; Merv Fowler, Buddhism: Beliefs and Practices,
1999: 58ff; như trên, An Analytical
Study of Four Nikāyas: 121ff; Inder
L. Malik, Dalai Lamas of Tibet, 1984:
154ff.
Xem thêm trong Kinh Trường Bộ II .546f;
Alan Senauke, ‘The Bodhisattva’s Four Methods for Steering Any
Vehicle’, trong Sulak Sivaraksa (Hon.ed.), Socially Engaged Buddhism
for the New Millennium, Bangkok: Sathirakoses–Nagapradipa Foundation
& Foundation For Children, 1999: 114ff.
Xem thêm trong Kim Cương Tử (chủ biên), Từ
Điển Phật Học Hán-Việt, quyển I,
1992: 915f; Đoàn Trung Còn, Phật Học Từ
Điển, quyển II, 1997: 401f.
Kinh Tương Ưng Bộ II.38f. Xem thêm trong Kinh
Tương Ưng Bộ IV.234f.
Kinh Tiểu Bộ I.605f; Kinh Tương Ưng
Bộ I.415
Kinh Trường Bộ II.541ff; như trên, The Buddha and
His Teachings: 348ff; như trên, The Triple Gem: An
Introduction to Buddhism: 159ff; như trên, An Introduction to
Buddhism: Teachings, History and Practices: 213f; như trên, Indian
Buddhism: 178f; Hema Goonatilake, ‘Women and Family in
Buddhism’, trong Sulak Sivaraksa & et.al (ed.), Buddhist
Perception for Desirable Societies in the Future, 1993: 227f; như trên, Buddhist Ethics :
97ff; như trên, Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka:
132f; như trên, What the Buddha Taught: 78ff-119ff.
Xem thêm ‘HIV Infection and AID’ trong Bruce M. King, Human
Sexuality Today, 2002: 114ff.
Như sách đã dẫn ở trên, trang 116ff.
Như sách đã dẫn ở trên, trang
120ff-123ff.
Xem thêm ‘Prostitution’, như sách đã
dẫn ở trên, trang 459ff.
Xem thêm ‘Sexual Problems among Homosexuals’ như
sách đã dẫn ở trên, trang 395.
Xem thêm ‘Love and relationships’ như sách
đã dẫn ở trên, trang 347ff.
Xem thêm trong Kinh Trường
Bộ II.543; như trên, The
Buddha and His Teachings: 349; như
trên, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism: 161f; như trên, An
Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices: 214; như trên, Indian
Buddhism: 179f; Hema Goonatilake,
‘Women and Family in Buddhism’, như trên, Buddhist
Perception for Desirable Societies in the Future: 228; như trên, Buddhist Ethics: 99ff; như trên, Buddhism:
Beliefs and Practices in Sri Lanka: 132;
như trên, What the Buddha Taught: 79-123.
http://www.buddhismtoday.com/viet/dien/tusi_duongthoi.htm