VAI TR̉ TÁC
NHÂN CỦA NHỮNG CƯ SĨ THỜI ĐẠI
Thích Viên Lư
I. Chân thực tại
Mọi nhận thức và đánh giá một cách chân xác
về bất cứ phạm trù nào, trên căn bản,
điều kiện tiên quyết cần có đó là trí
tuệ thực chứng, thiếu yếu tố thiết
cốt này, mọi đánh giá và nhận thức sẽ
trở thành lệch lạc và là đầu mối cho
những hành tác bất thiện đầy mông muội.
Trên phạm trù của lư tánh tuyệt đối, mọi
đánh giá về chân thực tại dù vô t́nh hay hữu ư
chỉ là cách làm méo mó thực tại, nó sẽ không chỉ
đưa dẫn đến những hệ quả sai lệch
mà c̣n tạo ra vô số nguy hiểm liên hệ mật
thiết đến nhân quả ba th́. Cũng trên
phương diện này, mọi ngôn ngữ đều
trở thành hư ngôn và bất lực v́ tự thân ngữ
ngôn vốn giả danh, không đủ khả năng chuyên
tải, biểu đạt thật tại siêu việt
bởi lẽ, Thật Tướng của các pháp chính là Vô
Tướng và, Thật Tánh của các pháp đích thực là
Không Tánh nên, từ hệ luận này, không có ǵ đáng
để chúng ta bận tâm suy nghĩ v́, Không, Vô Tác, Vô
Nguyện là Tam Giải Thoát Môn mà bất cứ ai muốn
đạt đến cứu cánh giải thoát cần
liễu đạt, thể nghiệm. Biện chứng phi
và siêu biện chứng ở đây sẽ lập tức
biến thành luận lư thuần lư nguy hiểm, đẩy
bước chân của những Cư sỹ bước
đi bằng những bước khập khễnh,
loạng choạng và cuối cùng buôn tuột v́ không
đủ lực vượt lên những ngữ nghĩa
đầy ngữ nghĩa đến độ vô nghĩa
nếu bất cứ ai đó đă đánh mất khả
năng thể chứng đạo lư Tánh Không.
II. Lộ tŕnh thể hiện Bồ tát hạnh
Tuy nhiên, trên lộ tŕnh của Bồ tát hạnh th́, không
hạnh nào mà chẳng hành, không nguyện nào mà chẳng tác.
“Yểm ly sanh tử, cầu chứng niết bàn” (1) là tâm
nguyện của những “tiêu nha bại chủng” (2) và,
không nhàm chán sanh tử, chẳng thủ chứng niết bàn
là tâm hạnh của những bậc thiện nhân, trí
giả; bởi v́, “Tuyệt học vô vi nhàn đạo
nhân, bất trừ vọng tưởng bất cầu chân,
vô minh thật tánh tức Phật tánh, huyễn hóa không thân
tức pháp thân” (3) và cũng bởi v́ “ Thật tế
lư địa bất thọ nhất trần, vạn
thiện môn trung, bất xă nhất pháp” (4) Có thâm nhập
được yếu lư này, người Cư sỹ
mới hội đủ nội lực cần có
để tiếp tục đi tới dù đó là đi vào
địa ngục với tâm nguyện cứu độ
muôn loài. Có triệt ngộ đạo lư Tánh Không th́ mới
thể nghiệm thật tại siêu việt, mới thoát ly
mọi buộc ràng về ngă và pháp chấp, mới
đủ năng lực để tịnh Phật
quốc độ, thành tựu chúng sanh.
Đă từ rất lâu, trữ lượng chất xám to
lớn của đại khối Cư sỹ Việt Nam
vẫn chưa được lượng giá và khai
dụng đúng mức trong công cuộc hoằng truyền
chánh pháp, phục vụ dân tộc. Trên một phương
diện nào đó, trữ lượng chất xám này bị
phân tán mỏng và tồn đọng dưới những
dạng thể thù đặc làm hạn chế sự phát
triển cần thiết đối với sứ mệnh
và lư tưởng của Bồ tát đạo. Câu hỏi
được cẩn trọng đặt ra ở đây
là, phải chăng khai dụng trữ lượng chất
xám đúng mức trong đại khối Cư sỹ
tại gia là một trong những công tác trọng yếu
hàng đầu mà Đại Hội cần đặc biệt
quan tâm nhằm hoạch định sách lược cụ
thể?
Để đóng góp vào tiến tŕnh xây dựng, phát
triển và ổn cố hàng ngũ Cư sỹ tại gia,
chúng tôi xin đề nghị một số ư kiến sau:
III. Bảy đề xuất về nhiệm vụ
người Cư sĩ trong phạm trù tục đế
1. Để trở thành người Cư sỹ đúng
nghĩa, bản thân người ấy phải thọ tam
qui và tŕ cấm giới ít nhất là năm giới căn
bản của người Phật tử và tốt nhất
là phát tâm thọ Bồ Tát giới đồng thời tham
gia các buổi Bố Tát (5) tại những phương
sở thuận tiện. Không ngừng tu luyện để
tự thành tựu và thành tựu cho người, tránh xa thái
độ tiêu cực, khép kín nửa vời và các khuynh
hướng cực đoan một chiều v́ nó tác
động xấu và làm hạng chế công tác hoằng pháp
lợi sanh; đồng lúc cần làm tṛn bổn phận
của một Cư sỹ đối với hàng ngũ
xuất gia và là những công dân mẫu mực có phẩm giá
cao; tuy nhiên, phải liễu triệt giáo pháp trong khi ứng
dụng tinh tủy giáo pháp vào đời sống thực
tế nhằm tránh t́nh trạng đi hỏng chân v́ đă
không ít Phật tử hiểu giáo pháp “sắc tức
thị không, không tức thị sắc” (6) cách sai lệch
và vô t́nh biến ḿnh thành nạn nhân của nghèo khổ
bệnh hoạn, v́ nghèo khó bệnh hoạn không là nhân
tố giúp ta đạt được sự chứng
ngộ. Nếu nghèo khó là nhân tố để chứng
ngộ th́ những người homeless trên các hè phố
của của những trung tâm thủ đô là những
người mà chúng ta cần phải thờ kính
đảnh lễ như đảnh lễ những
bậc thánh giả chí thượng. Chúng ta nên nhớ
rằng, ở vào thời đại mà phần lớn
mọi công tác đều cần đến tài vật,
thiếu phương tiện thiết yếu này, tất
nhiên, sự hạn chế ở một vài phương
diện nào đó đối với đà phát triển chung
là một sự kiện tất hữu; tuy nhiên, chúng ta nên
hiểu rằng, “tri túc thiểu dục” (7) là lời
dạy cao quư mà mỗi một chúng ta cần tôn trọng và
ứng dụng.
2. Tinh tấn tu học giáo pháp trong mọi t́nh huống
cả trong trường họp hiểm nguy nhất
đối với tánh mạng, v́ chỉ có giáo pháp và
sống trong chánh pháp mới giúp người Phật tử
tồn tại như sự tồn tại đích thực
và làm cho chánh pháp xương minh.
3. Không ngừng tài bồi đức tin đối với
Tam bảo, v́ chỉ có đức tin thuần chánh mới
giúp ta có đủ nội lực vượt qua mọi
thách đố dù đó là thách đố lớn lao nhất
xuất phát từ bất cứ đâu, ở bất
kỳ thời đại nào, có như thế người
Cư sỹ mới nỗ lực hơn trong vai tṛ hộ
tŕ Tam bảo, bảo vệ chánh pháp.
4. Dấn thân đi vào mọi phương xứ, năng
động, phương tiện quyền xảo hành
hoạt nhằm mang lại sự lợi ích lâu dài cho sinh
loại. Dấn thân nhưng đừng để bị
vong thân, thay v́ vong thân hăy là hóa thân trong mọi h́nh thái và
quốc độ. Người tiêu biểu cho giới tri
thức là người đi đầu trong mọi giai
từng lănh đạo, người lănh đạo đúng
nghĩa là người dám nh́n thẳng vào sự thật,
đối đầu với khó khăn, trực diện
với khổ đau, thử thách. Can đảm nh́n
thẳng vào sự thật, tạo ra những thay
đổi cần thiết nhưng không bị bứng
khỏi gốc rễ truyền thống. Trách nhiệm
của lănh đạo là giải quyết những nan
đề bằng những giải pháp khả thể
được soi sáng bởi tuệ giác siêu việt,
giải quyết với tiêu đích làm an lạc cho hết
thảy muôn loài chứ không v́ ḷng tư kỷ vụ
lợi. Tất nhiên không xoay lưng với nỗi khổ
của đồng đạo, đồng bào nhất là
những cao Tăng thạc đức đă tận
hiến đời ḿnh cho đạo pháp và dân tộc
như Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang,
Xử Lư Thường Vụ Viện Tăng Thống và Ḥa
Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng
Viện Hóa Đạo cũng như rất nhiều giáo
phẩm Tăng Ni Phật tử khác đă và đang
đấu tranh để Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất được phục hoạt và cho
con người Việt Nam được hành sử
quyền con người một cách công b́nh, dân chủ.
5. Chú trọng đến phẩm chất cán bộ
hoằng pháp thay v́ chỉ khuếch đại số lượng.
Để cụ thể hóa cách thiết thực sự
kiện này, cần mở ra những khóa huấn luyện
nhằm đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng tŕnh
độ tri thức của người Cư sỹ trên
nhiều mặt chuyên môn, đây là một nhu cầu cấp
thiết vừa phát huy tác dụng nội lực vừa
đáp ứng công tác Phật sự có khả năng
bảo đảm tính lâu dài vừa cung ứng tính kế
thừa siêu xuất, ưu thắng và thù ứng với
từng thời kỳ lịch sử.
6. Đại khối cư sỹ trên dưới ḥa
họp, đoàn kết một ḷng, cùng nhau chung lo việc
lớn. Đặt quyền lợi dân tộc, tổ
quốc, đạo pháp và sự sinh tồn của Giáo
Hội lên trên cá nhân, đoàn, nhóm; tất cả đều
cho và v́ đại cuộc, gác lại mọi quan kiến
dị biệt, bất đồng, t́m mẫu số chung,
bảo lưu những sai biệt, cho nhau và v́ nhau,
tương kính, tương thuận, tương tức,
tương tại để lợi ích cho đạo
lẫn đời.
7. Trên mặt thực tế:
a/ Thiết lập các cơ quan truyền thông, khai dụng
triệt để ngành tin học hiện đại
để hoằng truyền chánh pháp mà đối
tượng đệ nhất quan trọng là gần 80
triệu đồng bào tại quốc nội.
b/ Nỗ lực góp phần giải trừ quốc nạn
và pháp nạn, xây dựng xứ sở tự do, dân chủ
và phồn vinh ( hộ quốc, hộ dân, hộ tŕ chánh pháp
là trách nhiệm của giới tại gia Cư sỹ).
c/ Tiếp tay với hàng ngũ Tăng già, đào tạo
Tăng tài nắm nối mạng mạch chánh pháp. Giúp
đỡ kiến tạo, trùng hưng những Tự
viện có chiều dài lịch sử, có nội dung tu
học nồng phú, đích thực và hữu dụng.
d/ Thiết lập ngân sách, hỗ trợ mạnh mẽ các
sứ giả như lai có đủ phẩm hạnh
đến tận những thôn làng xa xôi hẻo lánh, nghèo
khổ, thiếu phương tiện v.v... để
hoằng pháp; giúp Giáo Hội quy hoạch, phân bổ họp
lư nhân sự hoằng pháp tại khắp địa
phương, v́ hiện nay rất nhiều nơi hẻo
lánh nhất là vùng thôn quê, rừng núi v.v... đang thiếu
nhân sự hoằng pháp một cách trầm trọng, trong khi
tại một số thành phố lớn, số
lượng Tăng Ni bị dư thừa thậm chí không
biết Phật sự chi để thi thiết.
e/ Mọi Phật sự lớn nhỏ cần có tiêu
thức, định hướng, kế hoạch,
đề án thực tiễn, khả thể xuyên qua quá tŕnh
nghiên cứu khoa học khách quan; đánh giá và cân nhắc
thận trọng mọi nan đề và đề ra
những giải pháp thù thắng nhằm hạn chế
tối đa mọi khiếm khuyết, tổn thất làm
xoi ṃn đức tin thuần khiết của người
Phật tử và nhiều đối tượng khác
cũng như xiển phát được nội lực
ưu thắng của giáo pháp tối thượng.
f/ Rút tỉa, học hỏi kinh nghiệm quá khứ,
hướng đến tương lai, kết họp có
tổ chức; cơ chế, hệ thống, đoàn
ngũ hóa lực lượng Cư sỹ thành một
lực lượng hộ quốc, hộ pháp vững
mạnh, có lư tưởng cao, tạo động lực
năng động cho những xiển phát đa dạng,
hiệu ứng và mang tính lịch sử.
g/ Mỡ những trung tâm giáo dục tuổi trẻ, nhà dưỡng
lăo, cô kư nhi viện, nhà thương kể cả những
cơ sở danh thương nghiệp v.v... nếu cần
trong khả năng có thể để một mặt vừa
giúp đỡ thiết thực những thành phần
cần giúp, mặt khác tạo công ăn việc làm cho
những đồng đạo thiếu may mắn.
h/ Thiết lập quỷ tương tế, yểm
trợ hữu hiệu chư Tôn Đức, Cư sỹ
xả thân v́ đạo bị lao lư, bệnh tật, nghèo
khó và gia đ́nh họ nếu họ gặp phải
chướng cảnh nghịch duyên, không đủ
điều kiện sinh tồn và tiếp tục Phật
sự trong những môi trường đầy ép bức
thiếu tự do, nhân quyền và dân chủ.
i/ Giới thiệu những tài năng trợ thủ Giáo
Hội đắc lực trong những lănh vực chuyên
ngành và tạo cơ hội thuận tiện để
những tài năng sáng tạo, vươn tới.
k/ Mở rộng phạm vi hoạt động đến
những cộng đồng quốc gia Phật giáo
bạn, tạo thế liên hoàn chặt chẽ nhằm
hỗ trợ hữu hiệu lẫn nhau trong những
Phật sự trọng yếu mang tính toàn.
IV. Bản địa của người Cư sĩ
Một Cư sỹ Duy Ma Cật, Cấp Cô Độc, A
Dục Vương ở thời xa xưa, một Lư Công
Uẩn, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trăi, Thiều Chiểu, Lê
Đ́nh Thám v.v... ở thời cận và hiện đại
đă viết nên những trang sử vàng son của Phật
giáo và trở thành biểu tượng của những
biểu tượng rực sáng bất hủ không bị
xoi ṃn bởi thời gian, đồng lúc mở ra nhiều
triển vọng tươi sáng đầy tin tưởng
đối với sứ mệnh mang ánh sáng chân lư của
đức Phật lưu bố mọi chốn nơi.
Lấy khát vọng của người làm khát vọng
của ḿnh, lấy khổ đau của người làm
khổ đau của ḿnh, lấy sự tồn tại, an
lạc, thành tựu của người làm sự tồn
tại, an lạc, thành tựu của ḿnh là bản hoài
của người Phật tử chân chính. Bằng vào
bản hoài lợi tha xă kỷ ấy, người Phật
tử là những công tŕnh sư có khả năng kiến
trúc và đáp ứng mọi nhu cầu trong mọi hoàn
cảnh thế thời, hiện thực lư tưởng
tịnh độ hóa nhân gian và giải thoát con người
ra khỏi mọi khổ đau bức năo.
Cao quư thay tâm nguyện và h́nh ảnh siêu phàm bạc tục
của những bậc đại Cư sỹ cư
trần bất nhiễm, lợi lạc quần sanh.
Cầu chúc Đại Hội thành công như nguyện, hành
như lai sứ, tác như lai sự (8)
Thích Viên Lư
Chú thích:
(1) Nhàm chán xa ĺa sanh tử, cầu chứng đắc quả
vị niết bàn.
(2) Trong Kinh Pháp Hoa đức Phật dùng câu “tiêu nha bại
chủng” để quở những người mang tâm trí
thấp hẹp làm hủy hoại mầm giống Phật.
(3) Bậc đạo nhân có tâm thức an lạc nhàn tại
là bậc đă học đến chổ chí cực rốt
ráo không c̣n ǵ để học, với những đạo
nhân như thế th́ không c̣n vọng tưởng nào
để trừ bỏ, không có chân lư nào để t́m
cầu, bởi v́ liễu triệt được rằng
thật tánh của vô minh chính là Phật tánh và xác thân
huyễn hóa không thật chính thị là pháp thân bất sanh
bất diệt, ư nói người thể nhập giáo pháp
bất nhị và đạt lư vô sanh, là người
vượt ngoài mọi phạm trù đối đải
bỡi nhị hoặc đa nguyên, là bậc cư trần
lạc đạo, sống ngay giữa nhân gian đầy
khổ đau tục lụy nhưng không bị tục
lụy khổ đau chi phối, ngược lại ngay
trong cơi đời dẫy đầy uế trược
chuyển hóa vô minh sanh tử thành cứu cánh giải thoát
thanh tịnh niết bàn v́ Phật, Tâm, Chúng sanh vốn
cũng chỉ do Tâm. (Chứng Đạo Ca của Đại
Sư Huyền Giác).
(4) Trên b́nh diện đế lư chân thật th́ không thủ
chấp một măy bụi trần nhưng với
phương tiện thiện xăo th́ không có một việc
thiện nhỏ nào mà không tận lực thi thiết,
hoạt dụng mầu nhiệm không thể nghĩ
lường, tùy duyên hóa độ là công hạnh sâu dày
bất khả tư ngh́ của bậc Bồ tát.
(5) Lễ tụng giới dành cho những người
đă phát tâm thọ giới.
(6) Lư Bất Nhị Tánh Không: Sắc chính là Không, không chính là
sắc trong Tâm Kinh Bát Nhă.
(7) Phật dạy người tu hành luôn kiềm chế,
kiểm soát các giác quan và thực hành hạnh ít muốn
biết đủ để tránh bệnh tham dục.
(8) Thực hành sứ mệnh hoằng hóa của đức
Như Lai, làm những viêc mà đức Như Lai đă
từ bi thi thiết.