đoá hoa ban mai
LƯU LY
Lần đầu tiên đến
nhận nhiệm sở, tôi chân ướt chân
ráo tập làm quen với môi trường
mới. Hồi còn là sinh
viên, tự do tự tại, muốn làm gì
thì làm, không thích chịu sự gò
bó. Có công việc rồi,
tôi phải khác. Từ bề
ngoài cho tới bên trong.
Trước sở làm của tôi
có một ngôi chùa. Chùa nhỏ thôi, nhưng
đông lắm. Vì cạnh
bên có một cái chợ to đùng. Lao xao, ồn ào suốt cả ngày.
Tôi không thích chỗ nhốn
nháo, ầm ĩ. Bởi vậy, ý định
ghé qua chùa chơi phải bỏ mặc từ
những ngày đầu đến đây.
Sở làm của tôi là một ngôi
trường con con. Bé tí tẹo. Bé
đến nỗi nhìn lướt qua là thấy
cái trường thu nhỏ vào
con mắt.
Học sinh ra vào cũng ồn ào
không kém. Từ
những ngày đầu ấy, tôi thở dài
ngán ngẩm. Nhưng phải chiều theo công việc của mình, dù
trăm ngàn lần không muốn. Lên
lớp, nhìn học trò, tôi thất vọng
tràn trề. Chúng nhếch
nhác, cáu bẩn vô kể. Đếm
trên đầu ngón tay
được vài đứa sáng sủa.
Còn lại, tôi không dám hình dung
thêm nữa. Đã vậy, chúng toàn
là dân nhập cư, theo
diện “đoàn tụ gia đình”. Cha
mẹ vào Sài Gòn kiếm sống chẳng
lẽ bỏ chúng ngoài quê ?
Thế là kéo theo nếp
sống địa phương, nếp sống thôn
dã. Cái nghĩ đơn giản :
học để biết đọc chữ, biết
làm tính đặng ra buôn bán sau này.
Vô tình nó làm giảm đi
ý nghĩa đích thực của việc học.
Học trò tôi, chúng
được hiểu như thế, từ trong mái
gia đình.
Vỡ mộng ngay từ ban đầu
đến nhận sở làm. Tôi
đâm ra chán ngán công việc của
mình. Thành ra, bao công sức đổ
dồn vào học tập, rồi ra trường,
rồi đến nhận nhiệm sở là chốt
cuối cùng phải đành “gãy
gánh” sao ? Nói thế
chứ tôi phải ráng gồng mình.
Nhưng cuộc sống có nhiều
nghịch lý buộc chúng ta phải đối
diện. Đối diện
để giải quyết chứ không trốn
tránh hay bỏ mặc. Tôi tạm xa
màu áo Lam vì công việc bộn bề.
Công việc ngập đầu của
một giáo viên đã cột chặt
đôi chân tôi. Nhìn
các em học sinh, tôi nhớ da diết các em
Oanh Vũ. Nhớ Gia Đình, nơi tôi đã
gắn bó hơn mười hai năm nay. Nhiều kỷ niệm dưới mái
chùa luôn hiện về trong tôi. Đôi khi, sau một tiết dạy, tôi
ngồi thẩn thờ, nhìn ra sân trường,
ôn lại nhiều chuyện xưa. Cho
đến khi lớp học xôn xao mới kéo
tôi trở lại thực tại.
Khoé mắt tôi dường như xa
xăm thêm. Người
ta thường bảo, đôi mắt là cửa
sổ tâm hồn. Nếu bạn
nhìn vào mắt của một ai đó
mà đọc được nỗi niềm, bạn
và người ấy sẽ càng hiểu nhau
hơn. Lòng thương và sự tin cậy
sẽ trỗi dậy hun đúc cho trái tim bạn. Tôi thử
nhìn vào những đôi mắt tròn xoe
của các em học trò. Chúng
đều ngây thơ, hồn nhiên, dẫu bề
ngoài có khoác một vóc dáng
nghèo túng đi nữa. Nhìn
chúng vui đùa, tôi càng thương
sâu hơn. Nhìn vào những ánh
mắt mở tròn dõi theo
lời giảng của tôi, tôi càng tăng
thêm sức hy vọng vào bản thân mình,
vào công việc. Từ những
nông nổi trong nghĩ suy khi về nhận nhiệm
sở, tôi dần bỏ đi khoảng cách
với học trò mình. Tôi loé
lên ý nghĩ : sao mình
không xem các em là Oanh Vũ ?
Tôi thử đem vài phương
pháp sinh hoạt Gia Đình ứng dụng
thêm vào việc dạy học. Những đôi mắt trong sáng kia ánh lên nhiều niềm vui. Tôi thầm cảm ơn màu áo Lam
đã cho mình nhiều kỹ năng sống
và hoạt động. Mỗi
buổi chiều đến lớp, tôi cứ liên
tưởng là những buổi chiều chủ
nhật mình đến chùa. Đám
học trò ùa lại, chúng cúi
đầu chào và cười với tôi
thật rạng rỡ. Tôi lại
đứng trên bục giảng với niềm tin
mới. Tôi luôn tâm niệm
rằng phải luôn làm mới những gì
đã cũ. Em hôm nay sẽ
mới hơn em hôm qua. Bạn
ngày mai sẽ không còn là bạn hôm
nay. Làm mới không phải
là xoá sạch những gì đã qua.
Nếu không, chúng ta không còn
kỷ niệm, không còn quá khứ.
Làm mới tức là chúng ta nhìn một
khía cạnh khác từ một đối
tượng hay từ một sự việc.
Như thế, tôi luôn có bốn
mươi lăm học trò mới mẻ. Lỗi lầm của chúng
mắc phải từ hôm trước, hôm sau
tôi mỉm cười quên mất. Tôi lại thấy học trò luôn
trắng trong như tờ giấy mới, dù
chúng phá phách và hiếu động
không chịu nổi.
Sau đêm dài, đoá hoa nở. Đoá
hoa ban mai đẹp lắm. Những lần
được về quê, tôi thường tìm
kiếm những đoá hoa còn ướt
đẫm sương để thưởng thức
vẻ đẹp đó. Tôi đọc đâu
đó, thầy Nhất Hạnh có kể về
thi sĩ Quách Thoại. Ông nhà thơ này
một bữa kia vô tình nhìn thấy một
bông hoa nở, chợt ông giật mình vì
nét đẹp tuyệt vời của nó. Nó
quyến rũ, thuyết phục ông bằng một
ngôn ngữ nào đó, ông không
hình dung được. Thi sĩ chỉ phản
ứng lại bằng một cái chắp tay và
cúi lạy. Tâm ông hoà quyện vào
vẻ đẹp của đoá hoa. Đoá hoa
rạng ngời ấy cũng là tâm ông.
Vô tình tôi
được biết, trong những học trò
của tôi, có một em là Oanh Vũ, hàng
tuần vẫn lên chùa sinh hoạt. Tâm
trí tôi như bừng dậy nỗi khát khao
được trở lại với Gia Đình. Nhưng,
tôi phải “để dành” nỗi khao
khát ấy trong ý nghĩ thôi. Công việc
cứ cuốn tôi theo.
Những bài hát tôi
tập cho các em luôn là những giây
phút hạnh phúc nhất của cả thầy
lẫn trò. Sự tiếc rẻ vẫn thường
hiện lên khi tôi cắt ngang giờ tập
hát để trở lại bài học dở
dang. Tôi đổi một chút phương
pháp. Dạy những bài học yêu
thương mà mình học được
dưới mái chùa cho học sinh. Dĩ nhiên
phải “muối mắm” cho nó khác đi
về hình thức. Tôi thích giờ dạy
học lịch sử. Chương trình lớp
Bốn có môn lịch sử rất hay. Học sinh
được học sử Việt từ thời kỳ
nguyên thuỷ đến triều Nguyễn.
Tận dụng hết khả
năng có được, tôi say sưa với
những bài dạy lịch sử. Thích nhất là học đến
triều đại Lý – Trần. Hai triều
đại hưng thịnh nhất và cũng là
hai triều đại thuần từ nhất. Triều đại mà lòng dân
hợp nhất về một mối. Người
lãnh đạo đã lèo lái đất
nước trong những thời kỳ khó khăn
bằng những hành động thấm đẫm
chất liệu Phật giáo. Học
trò thêm nhiều phen há hốc mồm khi
được nghe kể những câu chuyện
lịch sử giữ nước bền vững
đầy chất hùng tráng mãnh liệt
nhưng chứa đựng tính nhân văn sâu
sắc.
Sau các bài học ấy, thầy trò
chúng tôi mệt lã vì sự nhiệt
tình từ hai phía. Chúng
tôi lại trở về với những bài ca quen
thuộc. Cùng cất cao tiếng
hát để bôi xoá đi nhiều khoảng
cách. Từ xưa, thời nhà Trần, sau
các cuộc thiết triều, vua quan quần thần
lại nắm tay nhau hát ca. Đây là nét
đặc thù chỉ có trong nền quân
chủ Việt Nam, đặc biệt là triều
đại Lý – Trần mà không một
nền quân chủ nào trên thế giới
có được. Khoảng cách vua
– tôi không hiện hữu. Chỉ có
chăng là sự có mặt của những con
người tha thiết tình thương yêu
mà khoảng cách giữa họ được
mặc định như tình cảm thân thuộc
của gia đình. Như người cha với
người con, người ông với người
cháu, như người anh với người em,
v.v…
Tôi cũng cảm nhận
được mối quan hệ không khoảng
cách của mình với học trò. Vì học sinh đã
thấm nhuần ý nghĩa cũng như hiện
thực từ các bài học lịch sử.
Tôi khuyên nhủ các em hãy
sống vì nhau, hãy thương yêu nhau.
Giá trị cuộc sống chỉ thật sự
có được là khi con người hết
lòng cho nhau không nghĩ suy, tính toán.
Bài học từ một vị vua nhà Trần lo
lắng từng miếng ăn giấc
ngủ cho dân, ông còn băn khoăn
thương cảm cho cả những người tù
thiếu mặc ấm vào mỗi mùa đông
giá rét. Thật cảm động
biết bao trước tấm lòng từ bi của
một bậc thiên tử.
Những đoá hoa còn nhiều
lắm trong cuộc đời này, bên cạnh
những rác rưởi của xã hội. Nhưng không có rác làm sao
có hoa ? Hay ngược lại ! Đoá hoa còn thơm tho hương sắc khi chúng
được trưng bày ở nơi trang trọng
nào đấy, phút chốc trở thành
rác rồi bị vất bỏ khi đã héo
úa, phai tàn. Không có rác thì
cái gì nuôi lớn những đoá hoa ? Thế thì, rác
và hoa là một.
Đoá hoa rạng ngời vào ban mai bao
nhiêu thì xế chiều cũng phải lụi
tàn để sang một ngày mới lại tung nở sáng chói. Đó
là sự chuyển hoá của vũ trụ.
Và con người là một tiểu vũ trụ
trong bao la cùng khắp của vũ trụ rộng
lớn.
Các em tôi, hay các em của
bạn cũng thế. Một loài hoa ban mai tuyệt
trần. Chúng tươi nở ngát hương,
nhận lấy những tinh ba của một con
người ban sơ bước vào cuộc
đời thênh thang phía trước. Dẫu
bề ngoài có làm chúng ta ngần
ngại, thì bạn ơi, hãy đứng bên
cạnh tôi ngắm nhìn thật sâu để
thấy được những đoá hoa điểm
tô cho cuộc đời, cho xã hội hôm nay
và mai sau. (Vu Lan
PL.2547 – 2003