Tuy but (2003)

Tuy but (2003)

đoá hoa ban mai

 

LƯU LY

 

Lần đầu tiên đến nhận nhiệm sở, tôi chân ướt chân ráo tập làm quen với môi trường mới. Hồi còn là sinh viên, tự do tự tại, muốn làm gì thì làm, không thích chịu sự gò bó. Có công việc rồi, tôi phải khác. Từ bề ngoài cho tới bên trong.

Trước sở làm của tôi có một ngôi chùa. Chùa nhỏ thôi, nhưng đông lắm. Vì cạnh bên có một cái chợ to đùng. Lao xao, ồn ào suốt cả ngày. Tôi không thích chỗ nhốn nháo, ầm ĩ. Bởi vậy, ý định ghé qua chùa chơi phải bỏ mặc từ những ngày đầu đến đây. Sở làm của tôi là một ngôi trường con con. Bé tí tẹo. Bé đến nỗi nhìn lướt qua là thấy cái trường thu nhỏ vào con mắt.

Học sinh ra vào cũng ồn ào không kém. Từ những ngày đầu ấy, tôi thở dài ngán ngẩm. Nhưng phải chiều theo công việc của mình, dù trăm ngàn lần không muốn. Lên lớp, nhìn học trò, tôi thất vọng tràn trề. Chúng nhếch nhác, cáu bẩn vô kể. Đếm trên đầu ngón tay được vài đứa sáng sủa. Còn lại, tôi không dám hình dung thêm nữa. Đã vậy, chúng toàn là dân nhập cư, theo diện “đoàn tụ gia đình”. Cha mẹ vào Sài Gòn kiếm sống chẳng lẽ bỏ chúng ngoài quê ? Thế là kéo theo nếp sống địa phương, nếp sống thôn dã. Cái nghĩ đơn giản : học để biết đọc chữ, biết làm tính đặng ra buôn bán sau này. Vô tình nó làm giảm đi ý nghĩa đích thực của việc học. Học trò tôi, chúng được hiểu như thế, từ trong mái gia đình.

Vỡ mộng ngay từ ban đầu đến nhận sở làm. Tôi đâm ra chán ngán công việc của mình. Thành ra, bao công sức đổ dồn vào học tập, rồi ra trường, rồi đến nhận nhiệm sở là chốt cuối cùng phải đành “gãy gánh” sao ? Nói thế chứ tôi phải ráng gồng mình.

Nhưng cuộc sống có nhiều nghịch lý buộc chúng ta phải đối diện. Đối diện để giải quyết chứ không trốn tránh hay bỏ mặc. Tôi tạm xa màu áo Lam vì công việc bộn bề. Công việc ngập đầu của một giáo viên đã cột chặt đôi chân tôi. Nhìn các em học sinh, tôi nhớ da diết các em Oanh Vũ. Nhớ Gia Đình, nơi tôi đã gắn bó hơn mười hai năm nay. Nhiều kỷ niệm dưới mái chùa luôn hiện về trong tôi. Đôi khi, sau một tiết dạy, tôi ngồi thẩn thờ, nhìn ra sân trường, ôn lại nhiều chuyện xưa. Cho đến khi lớp học xôn xao mới kéo tôi trở lại thực tại.

Khoé mắt tôi dường như xa xăm thêm. Người ta thường bảo, đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Nếu bạn nhìn vào mắt của một ai đó mà đọc được nỗi niềm, bạn và người ấy sẽ càng hiểu nhau hơn. Lòng thương và sự tin cậy sẽ trỗi dậy hun đúc cho trái tim bạn. Tôi thử nhìn vào những đôi mắt tròn xoe của các em học trò. Chúng đều ngây thơ, hồn nhiên, dẫu bề ngoài có khoác một vóc dáng nghèo túng đi nữa. Nhìn chúng vui đùa, tôi càng thương sâu hơn. Nhìn vào những ánh mắt mở tròn dõi theo lời giảng của tôi, tôi càng tăng thêm sức hy vọng vào bản thân mình, vào công việc. Từ những nông nổi trong nghĩ suy khi về nhận nhiệm sở, tôi dần bỏ đi khoảng cách với học trò mình. Tôi loé lên ý nghĩ : sao mình không xem các em là Oanh Vũ ?

Tôi thử đem vài phương pháp sinh hoạt Gia Đình ứng dụng thêm vào việc dạy học. Những đôi mắt trong sáng kia ánh lên nhiều niềm vui. Tôi thầm cảm ơn màu áo Lam đã cho mình nhiều kỹ năng sống và hoạt động. Mỗi buổi chiều đến lớp, tôi cứ liên tưởng là những buổi chiều chủ nhật mình đến chùa. Đám học trò ùa lại, chúng cúi đầu chào và cười với tôi thật rạng rỡ. Tôi lại đứng trên bục giảng với niềm tin mới. Tôi luôn tâm niệm rằng phải luôn làm mới những gì đã cũ. Em hôm nay sẽ mới hơn em hôm qua. Bạn ngày mai sẽ không còn là bạn hôm nay. Làm mới không phải là xoá sạch những gì đã qua. Nếu không, chúng ta không còn kỷ niệm, không còn quá khứ. Làm mới tức là chúng ta nhìn một khía cạnh khác từ một đối tượng hay từ một sự việc.

Như thế, tôi luôn có bốn mươi lăm học trò mới mẻ. Lỗi lầm của chúng mắc phải từ hôm trước, hôm sau tôi mỉm cười quên mất. Tôi lại thấy học trò luôn trắng trong như tờ giấy mới, dù chúng phá phách và hiếu động không chịu nổi.

Sau đêm dài, đoá hoa nở. Đoá hoa ban mai đẹp lắm. Những lần được về quê, tôi thường tìm kiếm những đoá hoa còn ướt đẫm sương để thưởng thức vẻ đẹp đó. Tôi đọc đâu đó, thầy Nhất Hạnh có kể về thi sĩ Quách Thoại. Ông nhà thơ này một bữa kia vô tình nhìn thấy một bông hoa nở, chợt ông giật mình vì nét đẹp tuyệt vời của nó. Nó quyến rũ, thuyết phục ông bằng một ngôn ngữ nào đó, ông không hình dung được. Thi sĩ chỉ phản ứng lại bằng một cái chắp tay và cúi lạy. Tâm ông hoà quyện vào vẻ đẹp của đoá hoa. Đoá hoa rạng ngời ấy cũng là tâm ông.

Vô tình tôi được biết, trong những học trò của tôi, có một em là Oanh Vũ, hàng tuần vẫn lên chùa sinh hoạt. Tâm trí tôi như bừng dậy nỗi khát khao được trở lại với Gia Đình. Nhưng, tôi phải “để dành” nỗi khao khát ấy trong ý nghĩ thôi. Công việc cứ cuốn tôi theo.

Những bài hát tôi tập cho các em luôn là những giây phút hạnh phúc nhất của cả thầy lẫn trò. Sự tiếc rẻ vẫn thường hiện lên khi tôi cắt ngang giờ tập hát để trở lại bài học dở dang. Tôi đổi một chút phương pháp. Dạy những bài học yêu thương mà mình học được dưới mái chùa cho học sinh. Dĩ nhiên phải “muối mắm” cho nó khác đi về hình thức. Tôi thích giờ dạy học lịch sử. Chương trình lớp Bốn có môn lịch sử rất hay. Học sinh được học sử Việt từ thời kỳ nguyên thuỷ đến triều Nguyễn.

Tận dụng hết khả năng có được, tôi say sưa với những bài dạy lịch sử. Thích nhất là học đến triều đại Lý – Trần. Hai triều đại hưng thịnh nhất và cũng là hai triều đại thuần từ nhất. Triều đại mà lòng dân hợp nhất về một mối. Người lãnh đạo đã lèo lái đất nước trong những thời kỳ khó khăn bằng những hành động thấm đẫm chất liệu Phật giáo. Học trò thêm nhiều phen há hốc mồm khi được nghe kể những câu chuyện lịch sử giữ nước bền vững đầy chất hùng tráng mãnh liệt nhưng chứa đựng tính nhân văn sâu sắc.

Sau các bài học ấy, thầy trò chúng tôi mệt lã vì sự nhiệt tình từ hai phía. Chúng tôi lại trở về với những bài ca quen thuộc. Cùng cất cao tiếng hát để bôi xoá đi nhiều khoảng cách. Từ xưa, thời nhà Trần, sau các cuộc thiết triều, vua quan quần thần lại nắm tay nhau hát ca. Đây là nét đặc thù chỉ có trong nền quân chủ Việt Nam, đặc biệt là triều đại Lý – Trần mà không một nền quân chủ nào trên thế giới có được. Khoảng cách vua – tôi không hiện hữu. Chỉ có chăng là sự có mặt của những con người tha thiết tình thương yêu mà khoảng cách giữa họ được mặc định như tình cảm thân thuộc của gia đình. Như người cha với người con, người ông với người cháu, như người anh với người em, v.v…

Tôi cũng cảm nhận được mối quan hệ không khoảng cách của mình với học trò. Vì học sinh đã thấm nhuần ý nghĩa cũng như hiện thực từ các bài học lịch sử. Tôi khuyên nhủ các em hãy sống vì nhau, hãy thương yêu nhau. Giá trị cuộc sống chỉ thật sự có được là khi con người hết lòng cho nhau không nghĩ suy, tính toán. Bài học từ một vị vua nhà Trần lo lắng từng miếng ăn giấc ngủ cho dân, ông còn băn khoăn thương cảm cho cả những người tù thiếu mặc ấm vào mỗi mùa đông giá rét. Thật cảm động biết bao trước tấm lòng từ bi của một bậc thiên tử.

Những đoá hoa còn nhiều lắm trong cuộc đời này, bên cạnh những rác rưởi của xã hội. Nhưng không có rác làm sao có hoa ? Hay ngược lại ! Đoá hoa còn thơm tho hương sắc khi chúng được trưng bày ở nơi trang trọng nào đấy, phút chốc trở thành rác rồi bị vất bỏ khi đã héo úa, phai tàn. Không có rác thì cái gì nuôi lớn những đoá hoa ? Thế thì, rác và hoa là một.

Đoá hoa rạng ngời vào ban mai bao nhiêu thì xế chiều cũng phải lụi tàn để sang một ngày mới lại tung nở sáng chói. Đó là sự chuyển hoá của vũ trụ. Và con người là một tiểu vũ trụ trong bao la cùng khắp của vũ trụ rộng lớn.

Các em tôi, hay các em của bạn cũng thế. Một loài hoa ban mai tuyệt trần. Chúng tươi nở ngát hương, nhận lấy những tinh ba của một con người ban sơ bước vào cuộc đời thênh thang phía trước. Dẫu bề ngoài có làm chúng ta ngần ngại, thì bạn ơi, hãy đứng bên cạnh tôi ngắm nhìn thật sâu để thấy được những đoá hoa điểm tô cho cuộc đời, cho xã hội hôm nay và mai sau. (Vu Lan PL.2547 – 2003