TƯỞNG NIỆM
NGÀY SINH CỦA ĐỨC PHẬT
GIỮA
CƠN KHỦNG HOẢNG HIỆN NAY
Huỳnh Kim Quang
Trên
mặt hiện tượng và lịch sử, đức Phật chỉ đản sinh vào một
thời điểm, một nơi chốn nhất định nào đó trên thế giới này.
Thời điểm và nơi chốn ấy là vào năm 624 trước tây lịch tại
vương quốc Kapilavastu mà ngày nay là Nepal, phía tây bắc Ấn
Độ.
Trên
bình diện bản thể, Phật là tánh giác của tất cả hữu tình
chúng sinh. Vì vậy, bất cứ khi nào chúng sinh nghĩ về Phật
thì Phật thị hiện ở đó. Nói như vậy không có nghĩa là Phật
tính có sinh có diệt mà do tâm chúng sinh có sinh diệt nên
Phật có lúc hiện lúc ẩn. Do đó, người Phật tử thường nghĩ
nhớ đến Phật thì Phật thường có mặt với họ.
Thường ngày, con người nghĩ tưởng đến Phật qua nhiều cơ
duyên khác nhau, không ai giống ai. Có người thường ngày
hành trì niệm Phật, nên nhớ đến Phật thường xuyên. Có người
khi có dịp đến chùa hay gặp chư tăng, ni thì nhớ đến Phật.
Có người ban đêm, trong giấc mơ chẳng lành, sợ hãi, bỗng
nhiên tiềm thức nhớ Phật, niệm Phật, tỉnh giấc mới biết mình
bị ác mộng. Có người khi gặp hoàn cảnh đau khổ tột cùng
không biết làm gì để thoát khổ nên nghĩ nhớ đến Phật, niệm
Phật. Có người gặp lúc cực kỳ may mắn phước lộc tràn đầy
không biết làm sao cảm tạ bèn nghĩ đến ân đức của Phật, niệm
Phật. Nhiều, nhiều lắm, có vô số trường hợp nghĩ nhớ đến
Phật khác nhau tùy theo cơ duyên mỗi người.
Nhưng,
có một cơ duyên xảy ra hàng năm mà người Phật tử nào cũng
nghĩ nhớ đến Phật, đó là ngày đản sinh của ngài.
Năm
nay, ngày đản sinh của đức Phật đến trong bối cảnh bất an về
kinh tế lan rộng khắp toàn cầu. Các thông tin cho thấy tình
trạng thất nghiệp trên thế giới đang lên cao chưa từng có và
sẽ còn tiếp tục gia tăng. Liên Hiệp Quốc báo động chỉ trong
năm nay không thôi số người thất nghiệp trên thế giới sẽ lên
tới 40 triệu. Cộng chung với số người đang thất nghiệp, thế
giới hiện có khoảng 200 triệu người không có việc làm. Trong
số những người còn đang làm việc trên thế giới, có khoảng
20% chỉ kiếm được $1.25 đô la một ngày, và khoảng 40% người
lao động chỉ đem được về nhà $2 đô la một ngày. Tình trạng
này khiến gây nên nạn thiếu dinh dưỡng và đói khát triền
miên trên hành tinh này. Cơ quan Liên Hiệp Quốc phúc trình
cho biết trên thế giới hiện có 963 triệu người bị đói kinh
niên và mỗi ngày có khoảng 16,000 trẻ em chết vì đói và
thiếu dinh dưỡng.
Tác
động của cơn khủng hoảng kinh tế và tài chánh toàn cầu hiện
nay đã lan rộng khắp nơi và không chừa một quốc gia, một khu
vực nào trên thế giới, từ Mỹ Châu đến Âu Châu, từ Phi Châu
đến Á Châu. Không phải chỉ có những ai đang bị thất nghiệp
và làm ăn thua lỗ mới lo lắng, phiền muộn, những người đang
còn làm việc, những thương gia đang còn hoạt động cũng không
yên tâm, không biết ngày mai sẽ ra sao! Mọi người đều lo âu.
Nỗi lo bên trong được gia thêm với hoàn cảnh bất an bên
ngoài xã hội sẽ làm cho cuộc sống con người trở nên đầy bất
trắc và đau khổ.
Chưa
hết, lòng tham lam, thù hận và si mê của con người khiến họ
có những ý tưởng, ngôn ngữ và hành động làm tổn hại nghiêm
trọng đến những người chung quanh, đến cả nhân loại. Trong
số những tác động gây đau khổ cho nhân quần xã hội mà con
người đã và đang chứng kiến có nạn cuồng tín và kỳ thị tôn
giáo, nạn độc tài và tham nhũng của các cơ chế chính trị ở
cấp quốc gia, nạn đầu cơ tích trữ trong giới thương nghiệp,
nạn buôn bán người trong và ngoài lãnh thổ của nhiều nước,
nạn bạo hành trong gia đình và ngoài xã hội, nạn phe phái,
chủ nghĩa và ý thức hệ kéo dài hàng nhiều thập niên qua
nhiều lãnh địa quốc gia, nạn chà đạp lên quyền sống và quyền
làm người của kẻ khác, nạn tham vọng bá quyền xâm chiếm biên
cương đất đai và lãnh hải của lân bang, v.v…
Còn
nữa, trong cuộc cạnh tranh sinh tồn, để đáp ứng với những
nhu cầu phát triển về mặt dân số cũng như về mặt tiến bộ
trong các lãnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và quân sự,
con người bất chấp đến hậu quả đã không ngừng khai thác đất
đai, dầu mỏ, đào phá rừng, săn bắn thú rừng và đánh bắt các
loài cá, chế tạo vũ khí nguyên tử, hóa học và vi trùng. Kết
quả là trái đất ngày càng cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên
nhiên, khí thải nhà kính gây thay đổi trầm trọng khí hậu
toàn cầu khiến thiên tai xảy ra thường xuyên, mực nước biển
dâng cao xâm thực đất sinh sống, nạn sa mạc hóa ngày càng
lan rộng, nhiều loại thú rừng và cá đã và đang trên đà diệt
chủng, mối đe dọa thường trực đối với sinh mạng con người vì
các loại vũ khí độc hại, v.v…
Tất
cả những tác hại vừa nêu trên không phải là ảo ảnh mơ hồ mà
là các hiện tượng có thật đã và đang xảy ra hàng ngày trên
thế giới này. Vì vậy, đó không phải là những sản phẩm tưởng
tượng của người viết cố ý bôi đen hình ảnh của thế giới hay
tô đậm nét bi quan, tiêu cực về cuộc đời. Đó là sự thật. Sự
thật về khổ mà đức Phật đã từng dạy trong những bài Pháp lúc
Ngài còn tại thế.
Sống
trong bối cảnh xã hội và cuộc đời như vậy, người Phật tử,
khi tưởng niệm ngày đản sinh của đức Phật, có thể chiêm
nghiệm được điều gì để mang lại lợi lạc cho mình và cho
người hầu giải thoát một phần nào những khổ đau trầm thống
đang đè nặng lên thân phận con người?
Trước
hết, mọi người Phật tử đều biết rằng đức Phật ra đời vì để
giải khổ cho mình và cho chúng sinh. Chính vì vậy, trong
suốt gần năm mươi năm, đức Phật đã không ngừng vân du đó đây
để chỉ dạy con đường giác ngộ và giải thoát. Trong phương
thức giáo hóa, đức Phật luôn luôn dựa trên thực trạng của xã
hội, căn cơ hoàn cảnh của mỗi người mà đưa ra các phương
thức diệt khổ và sống an lạc không những trong đời này mà
còn trong những đời sau. Vì lẽ đó, đức Phật không đề cập đến
những vấn đề siêu hình và thuần lý mà ngài dạy con người
quán chiếu vào thực tại để nhận chân sự thật, dù sự thật
mang bất cứ vóc dáng nào, rồi từ đó chấm dứt các nguyên nhân
gây ra phiền não và khổ đau để đạt đến an lạc và giải
thoát.
Nhìn
nhận sự thật là bước đầu tiên và cũng là cuối cùng cần phải
thực hiện nếu muốn diệt khổ. Trong sự thật này bao hàm bốn
dạng thức nền tảng: sự thật về khổ, sự thật về nguyên nhân
gây ra khổ, sự thật về trạng thái hết khổ sau khi thực
nghiệm sự thật về con đường diệt khổ. Bốn sự thật này vốn
nằm trong luật tắc nhân quả và duyên khởi mà bất cứ người
nào cũng có thể nhận biết vì nó phù hợp với các hiện tượng
xảy ra thường trực trong đời sống, trong vũ trụ, và vì nó là
các nguyên lý nhận thức phổ quát mà con người vốn có.
Trong
ý nghĩa đó, người Phật tử có thể ứng dụng các sự thật này
vào trong đời sống hiện thực hằng ngày để giảm trừ khổ đau.
Bây giờ xin đi sâu vào các chi tiết ứng dụng lời Phật dạy để
học làm sao sống bình thản và an lạc giữa cuộc đời phiền
tạp.
Phiền
não, buồn phiền, phiền nhiễu, bất xứng ý, không vừa lòng,
bất mãn, khổ đau, v.v… là những hiện tượng xảy ra thường
xuyên trong đời sống con người, dù con người ở giai tầng, ở
bối cảnh xã hội nào, hay dù con người sống ở thời đại nào,
thậm chí dù con người ở lớp tuổi nào. Đây là sự thật. Nếu
chúng ta không thừa nhận, hay nếu chúng ta tìm cánh lẩn
tránh nó thì vấn đề sẽ càng nhiêu khê và phiền phức hơn.
Chính vì tìm cách tránh né khổ đau, con người lại càng cảm
thấy mình bị áp lực, bị vây hãm, bị tấn công mạnh hơn bởi
khổ đau. Tại sao? Bởi vì thái độ không nhìn nhận sự thật khổ
đau là hành vi, là nguyên nhân tạo ra khổ đau khác. Khi con
người tránh né khổ đau, họ sẽ không có cơ hội để trui luyện
khả năng đối đầu với khổ đau, nhưng họ lại không có cách nào
hữu hiệu để diệt sạch khổ đau, cho nên khổ đau vẫn tiếp tục
xuất hiện, và họ lại càng cảm thấy bị quấy rầy vì khổ đau.
Giống như, một người đang làm việc trong một công ty mà công
ty này đang gặp phải khó khăn về tài chánh, không biết sẽ
phải sa thải một số công nhân vào lúc nào. Người đó mỗi ngày
đến sở làm đều nghĩ và lo lắng về chuyện có thể mình sẽ bị
cho nghỉ việc. Chuyện cho nghỉ việc thì chưa đến, mà cũng có
thể là sẽ không đến với cá nhân người đó, nhưng anh/chị này
vẫn cứ lo, lo rồi sợ, sợ rồi muốn trốn tránh chuyện mình sẽ
bị sa thải, cho nên mỗi ngày đều mong là mình sẽ không phải
là người bị cho nghỉ việc. Tâm trạng này cứ đeo đuổi người
đó mãi, không biết bao giờ mới chấm dứt, trừ phi công ty
tuyên bố rằng sẽ không cho ai nghỉ việc cả, nhưng thực tế
công ty không thể chắc là có thể vượt qua được khó khăn hay
không mà dám tuyên bố như vậy. Ở đây cái khổ của người đó là
không nhìn nhận vào sự thật. Sự thật gì? Sự thật là hiện tại
công ty vẫn chưa sa thải anh/chị này. Sự thật là đến khi
công ty có quyết định sa thải thì anh/chị này cũng không có
cách nào để trốn tránh. Sống trong lo sợ như vậy, người công
nhân đó sẽ không thể tìm được an lạc trong đời sống hằng
ngày.
Trong
trường hợp trên, nỗi lo sợ làm cho người đó khổ đau. Nỗi lo
sợ xảy ra là khi một điều gì đó chưa thật sự đến, có nghĩa
là đó chỉ là một sự kiện không thật trong hiện tại, nó chỉ
là một sản phẩm do con người thêu dệt ra. Điều này đã được
đức Phật dạy trong Tâm Kinh Bát Nhã là “điên đảo mộng
tưởng.” Một người biết nhìn nhận sự thật sẽ không mộng
tưởng. Như người công nhân nói trên, nếu biết nhìn nhận sự
thật thì sẽ không có chuyện phải lo lắng mỗi ngày về một sự
kiện chưa xảy ra hay có thể chẳng bao giờ xảy ra đối với
người đó. Cái khổ ở đây là do mộng tưởng, không phải do hiện
thực.
Tất
nhiên có người sẽ nói rằng, thực tế cuộc sống của con người
không thể nào không lo: lo cho tương lai của mình, của gia
đình, của con cái. Nếu không lo thì làm sao xây dựng được sự
nghiệp, làm sao làm ăn phát triển, làm sao kiếm tiền để mua
nhà, mua xe, v.v…? Như trường hợp người công nhân ở trên,
làm sao có thể không lo?
Đúng
vậy, đã là con người sinh ra trên đời này làm sao sống mà
không lo. Nhưng, người Phật tử cần nhận thức rõ sự khác biệt
giữa sự kiện lo và sự kiện bị cái lo làm khổ não.
Cụ
thể như trường hợp người công nhân ở trên. Trước tình trạng
công ty có thể sa thải công nhân, không có bất cứ người thợ
nào làm việc trong công ty đó mà không lo. Nhưng người công
nhân trong công ty đó có thể lo được tới đâu và biết lo tới
đâu thì dừng lại. Thứ nhất, người công nhân nên biết rằng
cái lo của mình không giúp ích được gì cho việc mình không
bị mất việc hay cho việc công ty không bị làm ăn lỗ lã. Thứ
hai, trong vai trò là một thành viên trong công ty, người
công nhân trước tình trạng khó khăn như vậy cần phải chia xẻ
sự khó khăn của công ty mà mình đang làm việc, cần phải làm
cho tốt vai trò và trách nhiệm của mình. Thứ ba, có thể suy
nghĩ đến những giải pháp mà mình sẽ thực hiện nếu công ty
cho mình nghỉ việc như suy nghĩ đến việc làm thích hợp với
khả năng và hoàn cảnh của mình để có thể đi xin việc. Thứ
tư, không tự mình mang cái bao phục lo lắng, phiền muộn đi
theo mình. Tất cả những gì cần suy nghĩ thì chỉ suy nghĩ
trong khoảng thời gian đủ và thích hợp cho sự kiện, rồi sau
đó dừng lại, không để cho sự kiện ấy làm cho mình phải lo
lắng, buồn phiền.
Có
người cho rằng, nói thì dễ, làm mới là khó!
Quả
thật là vậy. Nói thì ai cũng có thể nói được, nhưng làm thì
không dễ mấy người thành công. Tuy nhiên, thành công cũng có
nhiều mức độ sai biệt, không phải chỉ có một lằn mức cuối
cùng. Đi được một bước so với lúc chưa đi đã là thành công.
Sống bớt khổ hơn trong quá khứ một đôi phần đã là thành
công. Muốn dừng lại những lo lắng không để cho nó làm khổ
mình, người Phật tử có thể áp dụng 3 điều mà đức Phật thường
dạy trong các kinh, đó là an nhẫn, trí tuệ và từ bi.
An
nhẫn là hạnh tối thắng của chư Phật. An nhẫn là thọ nhận mọi
chướng duyên và khổ nạn với tâm bình lặng, giống như mặt đất
thọ nhận tất cả mọi vật, mọi cấu uế của trần gian. An nhẫn
còn là sự lãnh thọ trạng huống giải thoát siêu việt của niết
bàn tịch tịnh với tâm rỗng lặng bình yên. Không tu tập hạnh
an nhẫn, người Phật tử thật khó có thể tìm được cuộc sống an
lạc ngay trong đời này. Nếu cái gì xảy ra chung quanh mình
cũng thấy không xứng ý thì làm sao có được một giây phút
bình lặng để an lạc?
Nhưng, thực hành hạnh an nhẫn cần có trí tuệ làm thắng
duyên. Trí tuệ quán chiếu các pháp là vô thường, khổ, không
và vô ngã. Các pháp từ tâm thức đến vật chất, từ vi trần đến
sơn hà đại địa đều biến dịch không ngừng nghỉ, dù là một sát
na vi tế. Vận hành biến dịch nhanh đến mức con mắt phàm phu
chỉ thấy những gì đã biến hoại bề ngoài mà không cảm nhận
được những đổi thay nhỏ nhiệm đang xảy ra bên trong. Vô
thường biến hoại cho nên khổ. Khổ là trạng thái tâm thức
không nắm bắt được điều gì như thật vĩnh viễn mà chỉ giả tạo
trong sát na. Khổ còn là tâm trạng sợ hãi bị mất mát những
gì mình cố chấp. Từ đó cho thấy các pháp vốn không có tự
tánh, là Không. Không cho nên không có chủ thể, không có tự
ngã, là vô ngã. Nhờ thường trực quán chiếu như vậy, người
Phật tử sẽ từ từ xả bỏ bớt sự cố chấp đối với các pháp, đối
với tự ngã. Đó là cách để buông xả những lo lắng, phiền
muộn, vì với tâm không chấp trước vào pháp thì lo lắng phiền
muộn không có chỗ để bám víu.
Tuy
nhiên, nhờ trí tuệ để buông xả phiền muộn là con đường huệ
giải thoát, ngoài con đường này ra còn có con đường tâm giải
thoát nữa, đó là con đường vận dụng từ bi. Sống bằng tâm từ
bi là sống biết suy nghĩ, biết nhìn xuống, biết quan tâm đến
cuộc sống của người khác. Hãy suy nghĩ rằng trên thế gian
này không phải chỉ có một mình mình là khổ, mà còn có hàng
triệu, hàng tỉ người, và hàng vô lượng vô số chúng sinh đang
sống trong khổ nạn gấp trăm ngàn lần hơn mình. Chúng ta
không có cơm ăn, không có áo mặc, không có nước sạch để
uống, không có thuốc men để trị bệnh ư? Nhưng trên thực tế
có hàng triệu người đang không có cơm ăn, không có áo mặc,
không có nước sạch để uống, không có thuốc men để trị bệnh.
Khi suy nghĩ đến khổ nạn của người khác chúng ta sẽ thấy cái
khổ của mình không đáng vào đâu. Nếu người công nhân trong
trường hợp đã nói ở trên có thể suy nghĩ được như vậy thì sẽ
thấy rằng cho dù mình bị thất nghiệp cũng chưa phải là khổ
nạn bi thảm nhất trên đời này. Nghĩ được vậy, người công
nhân đó chắc chắn sẽ bớt lo lắng, bớt phiền muộn, bớt khổ
não.
Mấy
điều thực nghiệm vừa nêu trên chủ yếu là nhắm đến mục đích
tự giải khổ cho mình. Mặc dù, khi một người bớt khổ cũng có
thể mang đến hoàn cảnh bớt khổ cho người khác chung quanh,
nhưng đó vẫn là ý nghĩa tự lợi. Người Phật tử tưởng niệm
ngày đản sinh của đức Phật còn tưởng niệm đến công hạnh lợi
tha vô biên của ngài. Do vậy chúng ta cũng phải noi gương
hạnh lợi tha đó bằng cách suy nghĩ đến phương thức đóng góp
nhiều hơn theo khả năng và hoàn cảnh của mình cho sự giải
khổ của cộng đồng xã hội.
Bằng
cách nào? Cách thì có nhiều như đức Phật đã dạy trong các
Kinh điển, nhưng ở đây xin nêu ra 4 phương thức tượng trưng:
bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
Trong
thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay, bố thí là hành động
thiết thực nhất để góp phần giải khổ cho mình, cho người và
cho cộng đồng xã hội. Bố thí tức là cúng dường, ban cho,
hiến tặng, cung cấp, tài trợ miễn phí. Bố thí như vậy có 3
cách: tiền bạc, của cải; giáo pháp của Phật; và tinh thần an
nhẫn không sợ hãi. Nhưng bố thí còn có thể thực hiện qua
phương thức khác nữa, đó là không đầu cơ tích trữ, không
tham ô nhũng lạm. Trong lúc mọi người đều lo lắng về tình
trạng tài chánh và kinh tế ngày càng khó khăn, cho nên ai
cũng dè dặt trong việc mở rộng lòng thực hành bố thí, thì sự
phát tâm hiến tặng mới cần thiết hơn bao giờ hết.
Ái
ngữ không có nghĩa là nói cho được lòng người khác để thủ
lợi về mình mà là nói điều như thật, điều xây dựng bằng ngôn
ngữ qua cách nói làm cho người nghe chịu nghe, lắng nghe,
suy nghĩ và làm theo trong chiều hướng cải ác tùng thiện.
Trong lúc nhiều người lo lắng, buồn phiền về các vấn đề nhà
cửa bị tịch thu, công ăn việc làm không còn hay bị đe dọa
mất việc, tài chánh gia đình thêm khó khăn, tương lai mù mịt,
một lời khuyên bằng ái ngữ, một cuộc tâm tình dung chứa nội
dung của Chánh pháp giải khổ của Phật là điều cần thiết mà
người Phật tử có thể làm được cho những người chung quanh
mình.
Trong
thời buổi khủng hoảng nhiều mặt của thế giới ngày nay, người
Phật tử noi gương đức Phật không làm bất cứ hành động nào
gây tổn hại cho người khác. Người Phật tử, như đức Phật đã
dạy, cần suy nghĩ, nói và hành động không thể chì vì lợi ích
cho riêng cá nhân mình mà còn vì lợi lạc cho nhiều người
chung quanh, cho cộng đồng xã hội. Một hành động dù mang
danh là thiện nhưng chỉ nhắm đến lợi ích cho riêng mình bất
chấp đến người khác thì cũng không thể là việc thiện đúng
nghĩa. Lợi hành là cách sống được thể hiện từ nhận thức mối
tương quan, tương duyên không thể tách rời giữa cá nhân với
cá nhân, giữa cá nhân với xã hội.
Phương cách tích cực nhất để góp phần xây dựng xã hội chính
là dấn thân vào trong các môi trường sinh hoạt của xã hội mà
đạo Phật gọi là đồng sự, nghĩa là cùng làm việc, cùng sinh
hoạt với nhau để từ đó giúp ích cho nhau. Khi cùng tham gia
trong một môi trường hoạt động chúng ta mới có thể dễ dàng
cảm thông và đề ra các giải pháp xây dựng hữu hiệu để giúp
người bạn đồng hành. Chẳng hạn, cùng làm chung một công ty,
cùng có nguy cơ cho nghỉ việc, người ta sẽ có nhiều tác động
hữu hiệu hơn bất cứ ai đối với đồng nghiệp để giúp an nhẫn,
bớt lo lắng và ít khổ.
Cách
tốt nhất để tưởng niệm ngày đản sinh của đức Phật và báo đáp
thâm ân giáo hóa của ngài là mỗi người Phật tử áp dụng chánh
pháp cho mình và người trong cuộc sống để cùng nhau giải trừ
khổ đau và kiến tạo hòa bình an lạc. Đó cũng chính là phương
thức hữu dụng để góp phần duy trì Phật Pháp tại nhân gian.