Nội san
Hoằng Pháp số 12
Nội dung
Tụng Kinh Trì Chú Niệm Phật
Tâm Minh
Lời
thưa: Trong chương trình Phật Pháp của
Đoàn sinh cũng như Huynh trưởng có
nhiều đề tài mà ai nấy đều cho
là “khó” giảng dạy; xin đưa ra
vài ví dụ cụ thể như:
Lịch Sử đức Phật Thích Ca, khi nói
đến chuyện hoàng hậu Ma Gia sinh thái
tử Tất Đạt Đa ở nơi hông
trái, không phải như những bà mẹ bình
thường ở thế gian này.
Cõi
nước của đức Phật A Di Đà ở
phương Tây; ở đó, không khí
và cảnh vật rất thanh tịnh, đẹp
đẽ; ở đó có chim nói Pháp
rất hay; ai sinh qua đó sẽ tu thành
đạo quả. Muốn được sinh qua
đó phải nhất tâm niệm Phật A Di
Đà; người được đến cõi
này sẽ sinh ra trong một hoa sen, chứ không
phải sinh trong bào thai mẹ như bình
thường chúng ta thấy ở cõi Ta Bà.
Niệm
Phật, trì chú, tụng kinh cầu ở tha
lực của chư Phật, chư Bồ Tát. Những
mẫu chuyện tiền thân…v.v... và v.v...
Những
đề tài trên đây được
gọi khó dạy không phải vì
người Huynh trưởng chúng ta thiếu niềm
tin nhưng vì thế hệ trẻ hôm nay cái
gì cũng đòi “mắt thấy tai nghe”
mới cho là có lý; mặc dù họ
vẫn hiểu rằng mắt tai của con ngưòi
có khả năng rất hạn hẹp: những
màu sắc mà mắt ghi nhận được
không ngoài dải 7 màu: đỏ, cam,
vàng, xanh, lam, chàm, tím (lam = màu xanh
nước biển). Ngoài 2 giới hạn màu
đỏ và màu tím thì mắt ta
không thấy được nữa! Tai cũng vậy,
những âm thanh quá nhỏ, ví dụ nhỏ
hơn cả tiếng lá rơi, lỗ tai người
sẽ chịu thua ngay (nhưng con chó có thể
nghe được), hay những âm thanh quá lớn
cũng làm tai ta đau nhức.
Ngoài
ra, đôi khi còn có hiện tượng
chính bản thân người huynh trưởng
cũng không đồng ý về cầu nguyện
ở tha lực, về những chuyện thần thoại
trong lịch sử đức Phật. Đã nói
về tôn giáo tất nhiên phải nói
đến đức tin; mặc dù đức tin
ở mọi người có nhiều sắc thái
khác nhau, nên khi diễn đạt cũng sai
khác. Ở đây, chúng ta không bàn
đến cách hiểu, cách nhìn Kinh,
Chú… từ góc cạnh nào để
đưa đến kết luận nào…
chúng ta chỉ muốn giới thiệu với anh
chị em huynh trưởng một cách nhìn,
một lối suy nghĩ về những vấn đề
trên đây của một số huynh trưởng
trẻ, và họ đã tìm cách áp
dụng vào cuộc sống. Xin mời các bạn
tham dự buổi pháp đàm của 3 huynh
trưởng trẻ A, B và C, trao đổi với
nhau kinh nghiệm thực tập, về đề tài:
Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật
A: Kinh thực sự
có nghĩa là gì hở các bạn?
Và tụng Kinh để làm gì?
B: Kinh là những
lời dạy của đức Phật. Phương
pháp chủ yếu của Kinh là khiến ta thay
đổi cách nhìn, từ đó dẫn ta
tới sự thay đổi về nhân sinh quan và
vũ trụ quan. Tụng Kinh là đọc thành
tiếng, một mình hay tập thể, để
được nghe, được nhắc nhở về
những lời dạy đó, để thân
tâm được trong sạch, sáng suốt.
C: Tại sao tụng Kinh thì tâm được
trong sạch, sáng suốt?
B: Tại vì Kinh dạy ta
nhìn từ chân lý bất biến, nhìn
theo cái nhìn của Phật. Xin lấy một
ví dụ: từ lâu chúng ta quen nhìn
mọi sự vật, hiện tượng theo cái ưa-ghét,
lấy-bỏ của mình, như: chim bồ câu
đẹp, cú mèo xấu, mùa Xuân ấm
tốt, mùa Đông lạnh xấu, thích vui, ghét
buồn v.v... Phật dạy (Kinh dạy), chúng ta
phải nhìn mọi sự vật hiện tượng
“như- nó-” (as-it-is) với tâm bình
đẳng; không thêm thắt, không khởi tâm
ưa ghét hay mong cầu. Như vậy thì tâm
mình thanh tịnh, sáng suốt, không bị
ô nhiễm vì tham muốn hay ghét bỏ.
Mà thay đổi cái nhìn tức là thay
đổi cách sống, cách suy nghĩ, v.v...
một sự thay đổi rất cơ bản
đối với người mới tu như chúng
ta. Do đó, tụng Kinh cũng là một
cách học Phật Pháp thực hành, cũng
thuộc về một nghệ thuật sống sao cho
tâm được thanh tịnh.
A: Thật là hay đó! Nhưng mà nhân
sinh quan là gì? Vũ trụ quan là gì?
B: À, xin lỗi, nếu
dịch ra tiếng Anh là bạn hiểu ngay. Nhân
sinh quan Phật giáo chẳng hạn, là quan
điểm của Phật giáo về con người,
về đời sống con người, v.v... còn
vũ trụ quan là quan điểm về thế
giới, về vũ trụ, về sự hình
thành và tan rã của nó. (Nhân sinh quan
của Phật giáo = Opinion of Buddhism about human life;
vũ trụ quan của Phật giáo = Opinion of Buddhism
about the Universe)
C: Và đức Phật dạy ta những gì
về nhân sinh quan và vũ trụ quan?
Nghĩa là Kinh đã dạy những gì?
B: Kinh dạy con người là một tập hợp
của 5 uẩn: sắc uẩn (body), thọ uẩn
(feelings), tưởng uẩn (perception), hành uẩn
(mental formation) và thức uẩn (consciousnous). Như
vậy, sắc uẩn là Thân và 4 uẩn
còn lại là Tâm. Vì vậy, thân này
không chắc thật, sống chết vô
thường; tâm cũng vậy, luôn luôn
biến đổi, dao động, khi ma khi Phật,
không đáng tin cậy !
A: Hay ghê! Hèn
gì hôm bữa đọc bài Kinh gì
mà có câu “Thân như bọt
nước, do gió thổi mà thành; niềm
vui nỗi khổ của chúng sanh cũng thế,
có rồi không. Tưởng thì như
ánh nắng nơi cánh đồng xa kia, nhìn
thì đẹp nhưng đến nơi có khi
nắng đã tắt”, v.v... mình không
hiểu gì cả, nay nghe B nhắc lại lời
dạy của đức Phật về 5 uẩn một
cách rõ ràng ngắn gọn, thật là
dễ hiểu.
B: Cảm ơn! Vậy là
chúng ta đã nắm được ý
nghĩa Kinh là gì và đọc tụng Kinh
được lợi ích gì rồi phải
không?
C: Phải rồi, nãy giờ chúng ta chưa
tụng Kinh mà vẫn thấy rất rõ diệu
dụng của Kinh rồi đó, phải không
các bạn?
A: Đồng ý, chúng
ta có thể đi qua phần thứ hai là
Chú rồi. Chú là gì? Trì Chú
là gì? Và tại sao ta cần phải trì
Chú?
B: Chú, tiếng Sanskrit
là Dharani, chúng ta thường gọi theo Tàu
dịch là Đà La Ni, hay chân ngôn (Mantra).
C: Chú nói đầy đủ là thần
chú, là một câu hay một nhóm âm...
có sức mạnh thần bí (theo Phật
giáo Mật Tông).
B: Đúng, thần chú chứa đựng sức
mạnh đặc biệt của vũ trụ hoặc
biểu hiện của một khía cạnh nào
đó của Phật tánh; đây cũng
là một phương tiện trợ giúp tâm
thức của hành giả.
A: Nghe nói đọc
thần chú là gây được rung
động cùng tần số (frequency) với thần
linh phải không?
B: Phải rồi! Vì Đà La Ni còn
được coi là “tổng trì”,
nghĩa là thâu nhiếp tất cả trong một
câu kinh ngắn mang sức mạnh siêu nhiên.
Ngoài ra, trong ba cửa: thân, miệng, ý
thì Mantra thuộc về miệng và tác
động thông qua luồng âm thanh rung động
do sự tụng niệm Mantra phát sinh. Hành
giả luôn luôn vừa đọc Mantra, vừa
quán tưởng một đối tượng và
tay giữ một “ấn”. Theo Mật Tông
Tây Tạng, chức năng của các Mantra
tùy theo thứ bậc (cao thấp khác nhau);
người trì chú có thể thấy
các linh ảnh, có thể tránh những tai
hoạ sắp xảy ra, v.v... người ta thường
dùng chữ “không thể nghĩ bàn” để
chỉ về những diệu dụng của sự
trì tụng thần chú.
A: Các bạn chưa
định nghĩa “Trì chú” là
gì?
B: Trì là nắm
giữ một các chắc chắn; Trì chú
là niệm Chú một cách tinh tấn, và
đúng cách như sau:
Lúc đọc Mantra, đừng quá gấp
rút; đừng quá chậm rãi; đọc
đừng quá to tiếng; đừng quá thì
thầm; không phải lúc nói năng; không
để bị loạn động.
C: Đúng rồi
đó, mà bạn B này, bạn hay dùng
chữ “hành giả” là ai vậy?
A: Là người thực
hành thiền định, thực hành Phật
Pháp, người tu tập như chúng ta
đây, phải không?
B: Phải rồi, đạo Phật là đạo
để thực hành, không phải để
thảo luận suông, nên Phật tử chân
chính là người biết đem những
giáo lý của đức Phật dạy ra
thực hành, ta có thể thực hành bất
cứ pháp môn nào (Phật có tới 8
vạn 4 ngàn pháp môn!) cũng đều
được gọi là “hành giả”
để phân biệt với “học giả”
là những người chỉ nghiên cứu
đạo Phật, viết về đạo Phật
nhưng có thể không phải là Phật
tử và không thực hành giáo lý
Phật đà.
C: Cảm ơn bạn, vậy
bây giờ ta trở lại vấn đề đi, sau
khi biết Chú là gì, trì Chú là
gì rồi, ta hãy trả lời câu hỏi
“Vì sao phải trì Chú?” đi ! B:
Chú có công năng phi thường như
vậy, nên nếu hành giả thành tâm
trì Chú thì sẽ thấy được
hiệu lực ngay và nhiều lợi lạc không
thể tưởng tượng được (nói
cách khác là “không thể nghĩ
bàn”).
A: Các Bạn có thể
nói sơ ý nghĩa của các Chú
mà anh chị em mình thường đọc
tụng như chú Đại Bi, chú Vãng sanh,
chú Lăng Nghiêm, chú Chuẩn Đề,
chú Cát Tường, chú Thất Phật
diệt tội, v.v... hay không?
C: Mình chỉ biết sơ ý nghĩa chú
Đại Bi là do mình được đọc
“Đà La Ni xuất tượng”, trong
đó giải thích rằng cứ mỗi âm
hoặc mỗi nhóm âm đều là một
danh hiệu Phật, Bồ Tát, chư Long Thần
Hộ Pháp, Quỷ thần, hay Càn Thát
Bà, v.v... đại ý là tất cả
những vị đó đều hứa bảo
hộ, che chở, giúp đỡ cho hành giả
được thân tâm an lạc, tai nạn
tiêu trừ để có thể tinh tấn tu
hành đạo giải thoát. Nhưng mà
nhớ là họ chỉ bảo hộ mình
làm việc Đạo, lợi ích cho mình
và cho mọi người, chứ còn nếu
làm việc hại người thì họ
không giúp !!
Bạn B chắc còn biết ý nghĩa các
Chú khác, nói choJ Jđâu
đó nha! chúng
mình nghe đi !
B: Chú Vãng sanh có hiệu lực giúp
hành giả sám hối chân thật, để
tội chướng, nghiệp chướng
được tiêu trừ tận gốc rễ,
sớm ngày vãng sanh về cõi Tây
phương Cực lạc. Chú Lăng Nghiêm
thì giúp hành giả trí tuệ tăng
trưởng, vượt thắng những chướng ma
bên ngoài và cả bên trong lòng
mình để thân tâm an lạc, không
bị ràng buộc vướng bận vào ái
dục. Nhớ trong Kinh Lăng Nghiêm, lúc ngài
A Nan gặp nạn Ma Đăng Già, đức
Thế Tôn sai Ngài Văn Thù đem thần
chú đi cứu A Nan, không biết có phải
là thần chú này không. Chú Chuẩn
Đề được xem là thần Chú
diệt trừ tà ma, quỷ quái, v.v... không
chỉ bên ngoài mà còn những thứ ma
dễ sợ nhất, khó trừ nhất, vẫn
là năm mươi mấy thứ ma ở ngay trong
tâm mình: ma lười biếng, ma ngã mạn,
ma đố kỵ, ma sân hận, ma si mê, v.v...
(đức Phật đã giảng rõ ràng
trong Kinh Lăng Nghiêm). Chú Cát Tường
có hiệu lực giúp thân tâm an lạc,
tai nạn tiêu trừ hay tránh xa, ngày
đêm an lành gặp mọi điều may
mắn. Còn chú “Thất Phật diệt
tội chân ngôn” là thần chú
gồm tên bảy vị Pháp vương có
công năng giúp hành giả trong việc
diệt trừ tội lỗi trong nhiều đời
nhiều kiếp do vô minh gây ra. Ngoài ra,
có nhiều chân ngôn như chân ngôn
của Bồ Tát Quán Thế Âm “Om Mani
Padme Hum” (chúng ta thường nghe Tàu phiên
âm “Án Mani Bát Di Hồng” đó).
Thần chú này chỉ có 6 âm nhưng
có công năng diệt trừ 6 cảm giác
độc hại, đã kéo chúng sanh
vào 6 nẻo luân hồi; làm trong sạch
hoá (purify) tâm ta; 6 độc đó là:
tham, sân, si, ngã mạn, đố kỵ, ái
dục. Thần chú có năng lực chuyển
hoá chúng trở về trạng thái thanh
tịnh ban đầu của chúng.
A: Thiệt là hay quá !
Thế các bạn có kinh nghiệm gì trong
việc trì Chú không? Kể cho chúng
mình cùng nghe đi !
C: Mình thấy
trì Chú giúp mình có định
lực mạnh hơn rất rõ. Nhờ chú
tâm cao độ để đừng “ăn”
mất chữ, đừng nhầm lẫn đoạn trên
với đoạn dưới, v.v... mình dần
dần luyện được sự nhất tâm; khi
trì Chú, mình không nhớ nghĩ những
chuyện đời thường. Nói cách
khác, tâm mình không “bay nhảy”
như khỉ, như vượn được nữa.
B: Ngoài ra, có nhiều
khi trì chú giúp mình vượt qua
những trở ngại (về tâm) một cách
đáng ngạc nhiên; hồi đó mình
bắt chước đức Thế Tôn rải
tâm Từ ra cho mọi loài chúng sanh; bắt
đầu bằng cách rải tâm Từ
đến những người thân, bà con,
bạn bè..., nhưng mình gặp chướng
ngại khi nghĩ đến những người
“dễ ghét” ! Mình cảm thấy rất
xấu hổ khi biết nguyên nhân của
chướng ngại này; nhưng mình vẫn
thực tập. Cho đến một hôm mình
thấy “đối tượng” đó
không còn “dễ ghét” nữa và
tâm mình bằng lòng rải tâm Từ
đến đối tượng; từ đó,
mình cảm thấy rất rõ diệu dụng
của Kinh, Chú, cũng như diệu dụng của
sự thực hành tụng Kinh, niệm Phật,
trì Chú đó các bạn ạ.
Đến nay mình cảm thấy rất hạnh
phúc là mình đã tiến bộ,
mình không còn thấy ai “dễ
ghét” hết, hay nói cách khác
mình có thể “yêu thương tất
cả”. Tất nhiên là ở mức
độ thấp nhất, cho nên mình còn
phải tu tập nhiều nhiều.
A: Chết, chúng mình
còn một phần nữa, đó là
“niệm Phật”. Pháp môn này
thì mình cũng hiểu và thực hành
hằng ngày; mình nói các bạn nghe
thử có phải không nha! Niệm Phật
là tưởng nhớ đến Phật, hình
dung tướng mạo trang nghiêm của Phật,
các đức hạnh của Ngài (từ bi,
trí tuệ, tinh tấn, thanh tịnh, hỷ xả)
để noi theo gương sáng của Ngài và
làm hiển hiện vị Phật ở trong tâm ta
(Phật tánh) một ngày gần đây.
C: Đúng rồi đó, niệm Phật cũng
giúp ta thanh lọc tư tưởng: Trong khi niệm
Phật, nhớ nghĩ đến danh hiệu của
Ngài ta không còn để tâm “niệm
ma” nữa (ma là ma trong chính nội tâm
mình, ma tham sân, ma si mê, ma ngã mạn, ma
đố kỵ, ma ích kỷ, v.v... là những
“con ma” đáng ghê sợ nhất).
Các bạn thường niệm danh hiệu các
đức Phật hay các vị Bồ Tát
nào?
B: Niệm danh hiệu
đức Phật hay Bồ Tát nào cũng
được; điều cần thiết là
phải thành tâm, chú tâm theo dõi
từng chữ, từng âm trong câu niệm; ví
dụ “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật” hay “Nam Mô Đại Bi Quán
Thế Âm Bồ Tát”, v.v... Lúc niệm
danh hiệu Đức Bổn Sư, hành giả
quán hạnh tinh tấn của Ngài, lúc
niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm,
ta chiêm ngưỡng hạnh từ bi của Ngài
và cố gắng noi theo; người tu pháp
môn Tịnh Độ thì niệm danh hiệu
đức Phật A Di Đà cầu vãng sanh;
người muốn mong cầu thoát khỏi một
căn bệnh hiểm nghèo thì cầu đức
Dược Sư, cũng có người muốn
niệm danh hiệu đức Phật Di Lặc, v.v...
một cách tổng quát, chúng ta có
thể niệm hồng danh của bất cứ vị
Phật hay vị Bồ Tát nào, chỉ cần
phải nhất tâm niệm Phật, đừng
để cho tâm khởi lên một ý niệm
gì ngoài câu niệm Phật.
A: Điều này mới thật là khó
đó !
C: Tất nhiên rồi
! Có như vậy thì 3 nghiệp (thân,
miệng, ý) mới không còn tác hại
người khác, nghĩa là 3 nghiệp được
thuần thiện, thuần lành.
B: Nhưng thật không
phải dễ đâu nha! Sử dụng 3 nghiệp sao
cho đạt đến chỗ “bất hại”
(không có khả năng làm hại ai cả)
thì đó đúng là một nghệ
thuật sống cao thượng đáng khâm
phục.
A: Bạn có thể
nhắc lại cho mình biết tại sao cần
phải niệm Phật không?
B: Niệm Phật là
nhớ nghĩ đến hạnh lành của chư
Phật và chư Bồ Tát, là
“cột” cái tâm lại nơi tiếng
niệm Phật, không để nó chạy lang
thang như con trâu chạy lung tung đạp nhằm
lúa mạ của người ta, đem đến
khổ đau phiền não cho mình và cho
người. Như vậy, mình luôn sống trong
chân lý, tâm mình an trú trong chân
lý, nghĩa là mình có an lạc và
làm cho mọi người chung quanh đều an
lạc.
C: Vậy là cả 3 thứ tụng Kinh, trì
Chú và niệm Phật đều giúp
hành giả phát triển định lực
cả phải không?
B: Đúng thế, ngoài ra tụng Kinh, trì
Chú và niệm Phật còn giúp ta thanh
tịnh tâm ý, cho ta những kinh nghiệm quý
báu về nội tâm của mình. Chúng ta
không thể nào hiểu được những
điều này nếu chúng ta không thực
hành.
C: Phải rồi, không
những thực hành các pháp môn này,
mà ta còn phải thực hành những lời
Phật dạy trong Kinh nữa đó nha! Nếu
không, thì chúng ta sẽ biến thành
những con vẹt đó !
A: Chí lý, chí
lý ! Chúc các bạn thực tập tốt
bài học này, còn bây giờ phải
chấm dứt ngang đây vì đã hết
giờ rồi ! Xin chào, và tạm biệt nha!
B và C: Tạm biệt !