TUỆ
TRUNG THƯỢNG SĨ
KẺ RONG CHƠI GIỮA SỐNG VÀ
CHẾT
Thích
Phước An
I( Trích
từ : THƯ VIỆN HOA SEN )
Tại sao
lại phải từ chối sự bao la của bể
cả, để chấp nhận thế giới hoang vu heo
hút của núi
rừng.
Quốc
vương đức trạch khoan như hải,
Tùy phận
ta ta thủy thảo xuân.
Nghĩa :
Ơn
đức quốc vương như bể cả.
Nhưng
xin cứ tùy phận với chút ít cỏ nước
mùa xuân.
Con
đường đi lên, bao giờ cũng chông
chênh và đầy hiểm nguy. Người đi
phải tự mình vượt qua biết bao là
núi non, đồi đỉnh, thì mới uống
được ngụm nước đầu nguồn.
Và chỉ tại nơi đó thôi, con
người mới được hoàn toàn
tự do ngắm cỏ nước mùa xuân :
PHÓNG NGƯU
Ngẫu hứng
Quy sơn đắc đệ lân
Hoang vu cam
tác mục ngưu nhân
Quốc
vương đức trạch khoan như hải
Tùy phận
ta ta thủy thảo xuân.
Nghĩa :
Quy
Sơn xóm nọ bỗng quay về
Ơn đức
Quốc vương như bể cả
Riêng vui
cỏ suối với hoa ngàn.
Ðỗ văn Hỷ dịch. (Thơ Văn Lý Trần II.
NXB. KHXH. tr. 238)
Các sử
liệu còn để lại, cho chúng ta biết
rất ít về cuộc đời và con
người của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngay
cả việc một số người viết,
đã lầm lẫn từ người anh cả,
xuống làm con của Hưng Ðạo Vương
Trần Quốc Tuấn, chỉ chừng ấy thôi,
cũng khiến cho con người của ông, vốn
đã độc đáo, lại càng
độc đáo hơn nữa đối với
chúng ta.
Có lẽ,
cũng như đa số các Vương hầu
thân tín khác của nhà Trần, Ông
cũng đã từng trực tiếp tham gia các
cuộc kháng chiến đánh đuổi quân
Nguyên xâm lược. Nhưng khi chiến thắng
rồi, nghĩa là đất nước trở
lại thanh bình, thì hành tung của ông
không được nhắc đến nữa.
Ðây
là một sự thiếu sót tư liệu
bình thường? Hay là, chúng ta nên
xếp Tuệ Trung Thượng Sĩ vào đội
ngũ của những con người ngoại lệ?
Những con người đi và muốn xóa
sạch vết chân của chính mình?
Khi một
dân tộc hay một cá nhân quá khát
khao đi tìm thanh bình cho đời sống
nội tâm của mình, thì chắc chắn
vấn đề lịch sử không bao giờ
được họ bận tâm đến.
Như Ấn
Ðộ chẳng hạn, có một nền văn minh
lớn nhất vào thời cổ, vậy mà
không có một sử gia cỡ Tư Mã
Thiên (Trung Quốc) Hérodote Thucydie (Hi Lạp)
Plutarque hay Tacite (La Mã), vì họ chỉ muốn
giải thoát thân phận bi thảm của
chính họ ra khỏi ngục tù của thời
gian thôi. Ðối tượng suy tư của họ
cũng cao ngất như dãy Hi-Mã-Lạp-Sơn
quanh năm bao phủ đầy tuyết trắng kia.
Và Lão
tử của Trung Hoa nữa, vì khinh bỉ tư
cách đê tiện của một số quan
lại và xã hội mình đang sống,
nên đã quyết tâm đi ẩn dật.
Nếu không có Doãn Hỉ, thì chúng
ta đã không có bộ Ðạo Ðức
Kinh. Ðây là sự cống hiến lớn lao
vào nền văn minh triết của nhân loại.
Nhưng
điều khôi hài là, những kẻ xem
lịch sử như một trò đùa
đó, thì chính họ lại đóng
một vai trò lớn lao trong sự phát triển
của lịch sử tư tưởng con người.
Chúng ta
có thể tưởng tượng được
như thế này : thế giới sẽ đen
tối biết là bao, nếu xưa kia, không
có những con người dám từ bỏ
những thú vui vật dục tầm thường,
đi vào rừng sâu, để tìm kiếm
một thú vui khác, một thú vui mà chung
cục, sẽ không gây tai hại và chết
chóc cho bất cứ ai trên đời này.
Dường
như, nền văn minh của thế giới hiện
tại quá lạnh lùng, lạnh lùng
đến độ gần như tàn nhẫn.
Có lẽ chính vì thế mà những con
người của Thế giới ngày hôm nay,
đang khát khao hơn bao giờ hết, một
chút thi vị của người Ðông Phương
xa xưa.
Không còn
nghi ngờ gì nữa, Tuệ Trung Thượng Sĩ
thuộc vào đội ngũ của những con
người ngoại lệ ấy.
Trong bài Dưỡng Chân
(nuôi dưỡng chân tánh). Ông đã
từ chối tham dự vào trò chơi của con
người trên sân khấu cuộc đời,
và chỉ chấp nhận nhập cuộc vào
trò chơi lớn lao hơn-trò chơi cùng tạo
vật trong vũ trụ.
DƯỠNG CHÂN
Suy táp
hình hài khởi túc vân
Phi quan lão
hạc tị kê quần
Thiên
thanh vạn thúy mê hương quốc
Hải giác
thiên đầu thị dưỡng chân.
Nghĩa :
NUÔI
DƯỠNG CHÂN TÁNH
Hình hài
suy yếu đâu phải là chuyện đáng
bàn
Cũng không
phải chuyện chim hạc lánh đàn gà
Nghìn màu xanh, muôn
vẻ thúy tràn ngập làng nước
Góc bể
bên trời là nơi nuôi dưỡng chân
tánh của ta.
Ðỗ Văn
Hỷ dịch. (S.Ð.D. tr 226)
Tại nơi
góc bể chân trời ấy-Con người
có thể dong thuyền ra khơi, say sưa ngây
ngất với một mùa thu vừa chớm dậy
và lắng nghe niềm im lặng của đất
trời mênh mông :
GIANG HỒ
TỰ THÍCH
Tiều đỉnh trường
giang đãng dạng phù
Du dương trạo bát
quá than đầu
Nhất thanh hà xứ tân
lai nhạn
Trắc giác thu phong biến
thập châu.
Nghĩa :
VUI THÍCH GIANG
HỒ
Sông dài, thuyền nhỏ
nổi lênh đênh
Cất mái chèo qua
đoạn thác ghềnh
Một tiếng nhạn trời
đâu vẳng đến
Gió thu như đã
dậy mênh mông.
Ðào Phương Bình dịch (S.Ð.D.tr
244)
Dường
như có một nỗi khát khao về tự do
và cái đẹp cứ trào vọt ra từ
cõi thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ.
Chỉ có cái đề được chọn là
: Vui thích giang hồ (giang hồ tự thích)
thôi, cũng đã nói lên hết tất
cả nỗi khát khao ấy. Nhưng những ai dám
cùng với Tuệ Trung Thượng Sĩ
“Cất mái chèo qua đoạn thác
ghềnh” để đến được bến
bờ của tự do ấy?
Dĩ nhiên,
chỉ những người đã nhận chân
được rằng, cuộc đời mà hiện
mình đang sống đây, chẳng có một
ý nghĩa gì cả, nhưng chỉ lặp đi
lặp lại trong nhàm chán và vô vị.
Bởi vậy, đã đến lúc phải
từ bỏ mà lên đường tìm
kiếm một hương vị khác cho cuộc
đời.
Còn những
người sống chỉ biết hưởng thụ,
lúc nào cũng chờ có dịp tốt
là kiếm quyền lợi về cho bản thân mình,
những người trong một bài thơ Tuệ
Trung Thượng Sĩ đã gọi là bọn
“Cháy đầu bỏng trán” (Tiêu
đầu lạn ngạch), những người như
vậy làm sao biết đến chân trời
đó-Vì chân trời ấy, chỉ
để cho những con người xuất chúng,
những con người đầy nghị lực
bước đi mà thôi :
CHIẾU THÂN
Tiêu
đầu lạn ngạch bị kim bào
Ngũ thất
niên gian thị xưởng tào
Túng
đã siêu quần kiêm bạt tụy
Nhất hồi
phóng hạ nhất hồi cao.
Nghĩa :
SOI MÌNH
Cháy
đầu bỏng trán, thì được
mặc áo bào vàng
Còn mình
năm bảy năm nay vẫn ở nơi xay giã
Nếu là
bậc siêu quần xuất chúng
Thì cứ
một lần hạ xuống lại một lần lên cao.
Ðỗ Văn
Hỷ dịch. (S.Ð.D. tr
240)
Có
nên xem hai câu :
Túng
đã siêu quần kiêm bạt tụy
Nhất hồi
phóng hạ nhất hồi cao
Như là
kinh Nhật Tụng, mà ta phải trì tụng
mỗi ngày để xem có còn sợ
hãi sự thất bại trước cuộc
đời nữa không?
II Khi ta nhìn
một đóa hoa đang nở rộ, hay thỉnh
thoảng đứng trên đồi cao nhìn
vạt nắng mong manh cuối cùng của buổi
chiều tà. Những lúc như vậy,
dường như tâm hồn ta như có một
nỗi bất an. Vì có lẽ, ta trực nhận
được rằng, cái đẹp này rất
mong manh, thoáng chốc, và chẳng bao lâu
nữa, nó sẽ tan biến ngay lập tức. Như vậy,
con người nên đi tìm cái đẹp
ở đâu? Nơi nào mới không có
sự tàn phai?
Là một
nhà thơ của Phật giáo Thiền Tông,
Tuệ Trung Thượng Sĩ khuyên ta nên
trở về tìm kiếm cái đẹp ngay
bên trong, chứ đừng tìm bên ngoài.
Nếu ngày nào ta vẫn cứ tiếp tục
lang thang đi tìm bên ngoài, thì ngày
đó ta vẫn chỉ gặp toàn thất
vọng và đau khổ mà thôi.
Trong ta có
một suối nguồn sâu thẳm, nếu ta biết
khai phá một cách kiên trì, thì
một lúc nào đó, hàng vạn
đóa hoa sẽ bừng nở lên giữa
mùa xuân bất tận :
THỊ HỌC
Học giả
phân phân bất nại hà
Ðô
tương linh đích khổ tương ma
Báo quân
hưu ỷ tha môn hộ
Nhất
điểm xuân quang xứ xứ hoa.
Nghĩa :
GỢI
BẢO NGƯỜI HỌC ÐẠO
Học
đạo mênh mông ai có hay
Gạch đen
mài gạch, nhọc nhằn thay!
Cửa người
anh hãy thôi nương tựa
Một ánh
xuân về hoa đó đây!
Ðỗ
Văn Hỷ dịch (S.Ð.D.tr 233)
Nhưng không
phải Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ là
một nhà thơ ngồi tưởng tượng ra
cái đẹp đó rồi viết thành thơ
đâu, nhưng Người còn là một
hành giả nữa, nghĩa là đã từng
trực nhận cái đẹp vời vợi
đó, bằng chính kinh nghiệm bản thân
mình:
NGẨU TÁC
Ðường
trung đoạn tọa tịch vô ngôn
Nhàn khẩn
Côn luân nhất lũ yên.
Nghĩa :
CHỢT
HỨNG LÀM THƠ
Ngồi ngay
ngắm giữa nhà lặng lẽ không nói
Thảnh thơi
nhìn một tia khói trên núi Côn
luân
Huệ Chi
dịch (S.Ð.D. tr
233)
Ngồi thảnh
thơi nhìn một tia khói trên núi Côn
luân là gì? Có phải chính
đó là giây phút mà nói theo
thuật ngữ của Thiền là ngộ (Satori)
đó không? Giây phút đó rất
quan trọng, vì nó làm sụp đổ
tất cả trật tự cũ, và cánh cửa
vô hạn đã được mở tung :
THOÁT THỂ
Phiên thân
nhất trịch xuất phần lung
Vạn vật
đô lô nhập nhãn không
Tam giới mang
mang tâm liễu liễu
Nguyệt hoa
Tây một nhật thăngÐông.
Nghĩa :
THOÁT
ÐỜI
Vương
mình một cái vượt ra khỏi lồng
Muôn việc
đều như trò chơi, vào mắt cũng thành
hư không
Tam giới
mênh mông cõi lòng sang rõ
Bóng trăng
chìm xuống phương Tây, mặt trời
mọc ở phương Ðông.
Ðào
Phương Bình dịch (S.Ð.D.tr.243)
III. Thiền, cần thực
nghiệm, có nghĩa là ta phải nắm bắt
thực tại trong đôi bàn tay trần của
mình nên từ chối vai trò của văn
tự “Giáo ngoại biệt truyền, bất
lập văn tự”.
Nhưng vì
là một nhà thơ và tư tưởng gia
của Thiền, nên Tuệ Trung Thượng Sĩ
vẫn phải sử dụng đến phương
tiện của ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ
có một giới hạn nhất định của
nó trong việc diễn đạt thực tại.
Có một bài thơ
hơi khó hiểu, nhưng ta cũng có thể
đoán được rằng,... Tuệ Trung
Thượng Sĩ đã rất phân vân khi
ông phải phát
triển cái mà đáng lý ra nên im
lặng :
ÐỀ TỊNH XÁ
Ðạp trước quan
đầu vị sát na
Tung hoành
phóng ngữ trát già dà
Niên lai
bút chảy vô đoan thậm
Tam giới
Như Lai bất nại hà.
Nghĩa :
ÐỀ
TỊNH XÁ
Dẫm chân
tới đầu cổng chùa chưa được
giây lát
Buông lời
dọc ngang viết nên bài kệ
Năm gần
đây, ngòi bút bỗng trở nên hờ
hững
Như Lai ở ba giới cũng
chả biết là thế nào!
Ðỗ Văn Hỷ dịch (S.Ð.D.tr.239)
Thế nhưng đã
để lại văn tự, thì tất nhiên
phải có giải thích mà giải thích
thì phải có sai lạc, đó là
chuyện bình thường. Nhưng có những
trường hợp mà ta bị bắt buộc
phải nghĩ là đã có cố ý
giải thích sai lạc.
Chẳng hạn,
gần đây có một số bài viết cho
rằng, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã chủ
trương không cần ngồi Thiền, cũng
chẳng cần niệm Phật, vì đã có
thơ trích để chứng minh cho lý luận
trên :
Tự thị
quyện thời tâm tự tức
Bất quan
nhiếp niệm bất quan thiền,
Nghĩa :
Khi
nào mỏi mệt thì tâm tự tắt
Chẳng cần
niệm Phật, chẳng ngồi Thiền
(S.Ð.D.
tr.233)
Hay táo bạo hơn, bát
bỏ hẳn việc trì giới và nhẫn
nhục :
Trì giới
kiêm nhẫn nhục
Chiêu tội
bất chiêu phước
Dục tri vô
tội phước
Phi trì
giới nhẫn nhục.
Nghĩa :
Trì
giới và nhẫn nhục
Chỉ chuốc
tội chứ không chuốc phước
Muốn biết
không tội phước
Thì
đừng trì giới nhẫn nhục
(S.Ð.D.tr.
290)
Chúng ta
phải hiểu rằng, đây là ngôn ngữ
của người đã đứng trên
đỉnh núi cao. Nhưng chúng ta, những
người còn ở dưới chân núi,
mà vẫn cố ý lặp lại như vậy,
thì đó chỉ là đại ngôn
mà thôi, và nên biết rằng, phá
chấp nhiều khi cũng rất nguy hiểm, nó
dễ bị lợi dụng để biện minh cho
hành động “bậy bạ” của
mình vậy. Tuệ Trung Thượng Sĩ đã
rất ý thức được điều nguy
hại này, nên khi đọc cho Trần Nhân
Tông nghe xong bài kệ ấy, Người
đã cẩn thận căn dặn :
... Vật thị phi nhân
(Chớ có bảo cho
người không ra gì!)
Như vậy,
chỉ có nhân cách của con người
mới chứng minh cho lời nói của mình
là đúng hay sai? Nhân cách của Tuệ
Trung Thượng Sĩ như thế nào? Có
phải nhân cách đó đã làm
chấn động tâm hồn của Trần Nhân
Tông không? Cái gì đã khiến
ông phải thốt lên :
... Ngã
tri Thượng Sĩ môn phong cao tiếu.
(Vì vậy,
ta biết môn phong của Thượng Sĩ thật
là siêu việt)
Tại sao
một ông vua đã từng ăn chay từ
hồi còn nhỏ, vậy mà phải ca ngợi
một người đang ăn thịt cá là
“Siêu việt” . Có lẽ, đây là
điều chúng ta nên suy nghĩ vậy.
IV.
Nhất khúc
vô sinh xướng liễu thì
Ðảm hoành tất lật
cố hương quy
Nghĩa :
Vừa
lúc “Vô sinh” dứt khúc ca
Cầm ngang
ống sáo lại quê nhà.
Ðỗ Văn Hỷ
dịch (S.Ð.D.tr. 231)
Ðó
là lời hát ca của người vừa
tìm lại được tự do nơi quê
nhà.Nhưng con người ấy, vẫn phải
tiếp tục sống như bao nhiêu người
thường tình khác trên thế gian này.
Bởi vậy nên :
Khỏa quốc
hân nhiên tiện thoát y
Lễ phi vô
dã, tục tùy nghi.
Nghĩa :
Ðến
xứ cởi trần cứ vui vẻ mà bỏ
áo
Không phải
là quên lễ, chỉ tùy theo thói tục
mà thôi.
Nhưng
điều quan trọng nhất trong thái độ
chấp nhận đời sống, mà bên
ngoài có vẻ như tầm thường ấy
vẫn là, cũng chỉ vì tình thương
vô hạn đối với người đồng
loại mà thôi.
Trong
suốt bài thơ “Vật bất năng
dung”, ta nghe ra được nỗi đau khổ
vô cùng của Tuệ Trung Thượng Sĩ.
Ông đau khổ, không phải cho chính
mình, mà đau khổ vì biết
được rằng, mình đang gánh lên
vai tất cả sự ngu xuẩn của con người :
Kim xuyên
chốc ấu vi huyền đắc
Minh kính manh
nhân tác cái chi
Ngọc tháp
nhập cầm ngưu bất chính
Hoa trang anh
lạc tượng hà tri
Hu ta nhất
khúc huyền trung diệu
Hợp bã
hoàng kim chú Tử Kỳ.
Nghĩa :
Chiếc
thoa vàng đối với bà già đầu hói
chỉ là chiếc móc để treo.
Tấm
gương sáng đối với người mù
chỉ là cái nắp để đựng
chén.
Dẫu tiếng
ngọc nhập vào đàn cầm thì
trâu cũng chẳng thèm nghe.
Bông hoa
có trang sức thêm chuỗi ngọc thì voi cũng
không biết đến.
Than ôi!
Một khúc mầu nhiệm trong huyền vi.
Nên đem
vàng mà đúc Tử Kỳ
(S.Ð.D. tr. 257)
Nhưng không
phải vì thế mà thối lui, trái lại
con người càng vô minh bao nhiêu, thì
sứ mạng cứu vớt con người lại càng
phải được nung nấu bấy nhiêu. Vì
vậy, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã tham gia
và xông trận, Ông đã xuống
núi với Thiền trượng trong tay :
TRỤ TRƯỢNG TỬ
Nhật nhật
trượng trì tại chưởng trung
Hốt nhiên
như hổ hựu như long
Niêm lai
khước khủng sơn hà toái
Trác khởi
hoàn phương nhật nguyệt lung
Tam xích song
lâm hà xứ hữu
Lục hoàn
Ðịa Tạng khoái nan phùng
Túng
nhiêu thế đạo kỳ khu thậm
Bất nại
tòng tiền bột tốt ông.
Nghĩa :
CHIẾC
GẬY
Ngày lại
ngày qua tay vững gậy
Thoắt nhanh
như cọp dẽo như rồng
Vung lên,
sông núi e tan nát
Dựng dậy,
trời trăng sợ mịt mùng
Ba thước
song lâm tìm mỏi mắt
Sáu vòng
Ðịa Tạng kiếm hoài công
Dẫu cho
đường tục chông gai mấy
Lão chẳng
như xưa bước ngại ngùng
Huệ Chi dịch (S.Ð.D.tr. 266)
Tuệ Trung
Thượng Sĩ kêu gọi con người
trước tiên, hãy đạp vỡ bức
tường ngăn cách với thế giới bên
ngoài. Từ lâu ta cứ nghĩ rằng, hiện
tượng bên ngoài chẳng có liên quan
gì với chính ta cả, chính ý nghĩ
đó thôi, cũng đã làm cho ta cảm
thấy cô độc trước vũ trụ vô
biên kia.
Nhưng
không, tất cả những gì được
thể hiện bên ngoài chỉ là sự
phóng hiện từ bên trong của chúng ta. Ta
nghĩ như thế nào, thì vũ trụ và
thế giới mà ta đang sống cũng sẽ
như thế.
THỊ ÐỒ
Niệm khởi,
tâm tâm khởi
Tâm vong,
niệm niệm vong
Dục tri
đoan đích ý
Thạch hổ
giảo kim đương
Thiên
địa do đàn chỉ
Sơn xuyên
đẳng thấu thanh
Tạm thời
phong vũ động
Kê
hướng ngũ canh minh.
Nghĩa :
GỢI
BẢO HỌC TRÒ.
Một ý
nghĩ nổi lên, thì mọi tâm nổi
lên
Một tâm
quên đi, thì mọi ý nghĩ quên đi
Muốn biết
nghĩa đích thực
Hổ
đá cắn dê vàng
Trời
đất chỉ như búng ngón tay
Non sông
chỉ bằng một tiếng dặng hắng
Tạm thời gió
mưa rung chuyển
Gà
gáy lúc canh năm.
Huệ Chi dịch (S.Ð.D.tr.245)
Sau khi đã
giải phóng được ý niệm đó
rồi, thì thiên nhiên không còn lạnh
lùng và xa lạ trước cái nhìn
của ta nữa, và vũ trụ vạn vật
bỗng như được hồi sinh lại,
đẹp vô cùng :
TỰ ÐỀ
Thu quang hữu bút mạc
hình dung
Khích mục sơn hà
xứ xứ đồng
Nhất phái Tào khê
hàn trạm trạm
Thiên nhiên Hùng nhĩ
bích tùng tùng
Ðăng lung chàng phá Kim
cương quyển
Lộ
trụ hồn thôn lật cức bong
Dục thức cá trung đoan
đích ý
Tân la dạ bán nhật
đầu hồng
Nghĩa :
TỰ
ÐỀ
Ánh sáng mùa thu,
không bút nào hình dung được
Ngước nhìn non sông
nơi nào cũng một vẻ
Một dòng suối Tào
khê lạnh ngăn ngắt
Nghìn năm núi Hùng
nhĩ vẫn xanh lớp lớp
Ðèn lồng đập
vỡ vòng kim cương
Cột trần nuốt trọn
tấm phên gai góc
Muốn biết cái ý
xác thực trong đó
Nữa đêm ở Tân la,
mặt trời đã ửng đỏ
Huệ Chi dịch (S.Ð.D.tr 267)
Và sau
cùng, con người phải nhận ra rằng,
mọi hiện tượng của thế gian, cứ
thế tiếp tục trôi chảy
không
ngừng, sự tồn tại và hủy diệt
của mọi sự vật và của chính ta
nữa cũng nằm trong dòng sông vô tận
ấy :
AN ÐỊNH
THỜI TIẾT
Sinh tử do lai
bãi vấn trình
Nhân duyên
thời tiết tự nhiên thành
Sơn vân
dã hữu xuất sơn thế
Giản thủy
chung vô đầu giản thanh
Tuế tuế
hoa tùy tam nguyệt tiếu
Triêu
triêu kê hướng ngũ canh minh
A thùy
hội đắc nương sinh diện
Thủy tín
nhân thiên tổng giả danh
Nghĩa :
THỜI TIẾT
YÊN ÐỊNH
Thôi
đừng hỏi lai lịch về con đường
sống chết làm gì,
Thời tiết
của “nhân duyên” cứ thế tự
nó hình thành
Mây núi
đã có cái thế bay ra khỏi núi
Nước
suối không tiếng nào không phải là
tiếng nước gieo vào lòng suối.
Hàng năm
hoa vẫn nở vào tháng ba
Sáng sớm,
gà vẫn gáy vào canh năm
Ai là
người hiểu được mặt người
mẹ
Mới tin
rằng người và trời đều là
giả danh.
Ðỗ Văn Hỷ dịch (S.Ð.D.tr 246)
Vậy thì,
tại sao ta phải sợ sống chết nhỉ?
Trong bài : Sanh tử nhàn
nhi dĩ (Sống chết chỉ là nhàn mà
thôi!), Tuệ Trung Thượng Sĩ cho rằng,
chỉ có người ngu mới sợ sống
chết, còn kẻ trí, tức là
người đã “ấn định
được thời tiết” rồi, thì xem
sống và chết chẳng là gì cả,
mà cũng chỉ là một dịp để cho
ta tiếp tục cuộc rong chơi, chỉ có
vậy thôi :
Ngu nhơn
điên đảo bố sinh tử
Trí giả
đạt quan nhàn nhi dĩ.
Nghĩa :
Người
ngu điên đảo sợ sống chết
Bậc trí có
cái nhìn thông đạt, xem
sống chết
chỉ là lẽ thường mà thôi.
(S.Ð.D.tr 283)