Tuệ
Sỹ, Thơ Và Con Đường Trung Đạo
[20/04/2006 - Tác giả: admin1
-
Nguyên Siêu
18.04.2006
Nguôồn :

H́nh: Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ
Những năm tháng dùi
mài kinh điển trong các tự viện để thể
nhập Phật học huyền vi, u hiển, một
thời nào đó đă lầu thông giáo lư cao siêu giải
thoát, hướng thân lập mệnh trên con
đường giác ngộ, để rồi
hôm nay là thành quả hiển nhiên có
được tận cùng tâm hồn sâu thẳm mà Thầy
đang phô diễn như ư nghĩa cao siêu của
Đại Bi Tâm.
I. Nhà Phật Học Uyên Bác
Qua các công tŕnh sưu
khảo, trước tác, dịch thuật, nghiên cứu
Phật Pháp được xem như hạnh nguyện
độ sinh, thiết tha v́ sự b́nh yên và an lạc cho
con người, Thầy đă gia công đóng góp nền
văn hóa, học thuật Phật Giáo nước nhà:
a. Tác Dịch Phẩm:
- Bộ A Hàm
- Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết
- Truyện Pháp Cú
- Tuyển Tập Nikya A Hàm
- Thiền Luận Tập II & III
- Tứ Phần Luật Giới Bổn
- Yết Ma Yếu Chỉ
- Phật Học Bách Khoa Từ Điển
- Tinh Hoa Triết Học Phật Giáo
- Thiền và Bát Nhă
- Vô Môn Quan
- Thiền Quán Cương Yếu
- Thắng Man Giảng Luận
- Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn
Mộng v.v...
b. Các Luận Đề Phật Giáo:
- Tánh Không Luận là ǵ?
- Sự Hủy Diệt Của Một Trào Lưu Tư
Tưởng.
- Dẫn Vào Thế Giới Văn Học Phật Giáo
- Quan Niệm Về Sự Kết Yếu Trong Tác Phẩm
Đại Thừa
- Tư Tưởng Phật Giáo Đối Diện Với
Hư Vô
- Trung Quán và Vấn Đề Thực Thể
- Hiện Tượng Học Là Ǵ?
- Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán
- Tư Tưởng Là Ǵ?
- Khái Niệm Về Số Trong Kinh Dịch
- Giá Trị Đối Chiếu Trong Những Tương
Quan Văn Hóa
- Cơ Cấu Ngôn Ngữ của Michel Foucault.
- Những Cuộc Vận Động Của Phật Giáo
Việt Nam Cuối Đời Nhà Đường.
- Kinh Dịch và Phật Học Trung Hoa v.v...
Một tư
tưởng uyên bác được lư giải qua các phạm
trù Kinh Luật Luận và Triết lư Đông Tây
được giới thiệu một cách tổng quát
ở trên là hạt mầm đủ nhân duyên để nảy
nở và dâng tặng cho đời.
Qua Luận Đề
Tánh Không Luận Là Ǵ? Thầy đă mượn lời nói
của Heidegger:
“Aus der Erfahrung des Denkens.”
“Có thể vay
mượn những lời nói như vậy để
khởi đầu cho sự chờ đợi tiếng
vọng đáp ứng của những ǵ đó đang
ẩn ḿnh trong bóng tối. Những lời nói vay
mượn ấy không nhất thiết phải đồng
thanh với những điều sắp đáp ứng.
Sự tựu thành của những đáp ứng này sẽ
không xuất hiện trong những tiếng động náo
nhiệt. Đây là sự tựu thành của một cơn
mưa như thác lũ, khi con bướm mùa hè đă
chịu khép lại những đôi cánh mỏng để
lắng nghe trong thầm lặng hơi thở của
cỏ nội. Chờ đợi kiên tŕ và dừng lại
trong sự bế tắc của một thời chỉ có
ánh sáng vĩnh cửu của mặt trời. Kiên tŕ và
dừng lại để chờ đợi trong sự
bế tắc là liều lĩnh kư thác ḿnh cho một
cuộc chơi ngoạn mục của thiên diễn, là
liều lĩnh đứng lại giữa ḍng thác
đổ của vạn hữu.”
Đây chính là thái
độ nghịch thường của thế nhân mà:
“Không chịu tiệm
tiến từng bước vững chắc, như
những đợt nhảy của con chim hồng: nhảy
bên bờ nước, nhảy đến tảng đá,
nhảy trên đất cạn, nhảy trên cành cây, nhảy
lên g̣ cao và cuối cùng bay trong thương khung để lông
cánh làm đẹp cho bầu trời.”
Và sau nữa, Tánh Không
Luận Là Ǵ?
“Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép
lại đôi cánh và đong đưa theo cơn gió của
cỏ nội hoa ngàn.”
Hay một định nghĩa khác:
“Trong
tư tưởng, mọi sự trở thành cô liêu và
lững thững”
Ấy là triết lư của
Tánh Không được nói bằng ngôn ngữ của
Thầy. Nhưng chưa đủ, đấy chỉ là
một vài ngôn ngữ tiêu biểu. Một đôi cảm xúc
đột biến trong ḍng suy tư để hiện
khởi triết lư Tánh Không qua từng cụm từ rơi
rụng mà không mất, như hiện hữu, vĩnh
hằng, Tánh Không duyên hợp. Giở sang luận
đề: “Sự hủy diệt của một trào lưu
tư tưởng”, chúng ta thấy khởi đi bằng
hai câu thơ của thi sĩ Bùi Giáng:
“Xin chào giữa bước chân ra
Chết từ sơ
ngộ màu hoa, trên ngàn”
Và để từ
đó Thầy dựng lên khung trời Tánh Không: “Từ trong
ḷng Tánh Không Luận đi ra, người ta thử thay
đổi các b́nh diện biểu lộ của nó, rồi
qua những ǵ sẽ đạt được trong lănh
vực suy lư cũng như trong lănh vực sinh hoạt
thực tế, luôn luôn có những tiếng nói nghe ra như
những cơn gió th́ thào giữa các sa mạc của hư
vô. Ư nghĩa của một cứu cánh nào đó – suy lư hay
đời sống – như một ngôi sao trên bầu
trời sa mạc. Danh tướng phân biệt, nghĩa và
vô nghĩa, nguyên tắc và các nguyên tắc: những dấu
hiệu c̣n sót lại và c̣n măi, sau những cơn gió nóng
bức và lạnh buốt của hư vô đă từng
đi qua và đă từng hủy diệt tất cả.
Đó là sự hủy diệt của một trào lưu
tư tưởng, từ trong Tánh Không Luận đi ra.”
Đây là phạm trù
của Triết lư, tư tưởng, luận học,
Thầy đă biểu tỏ con đường lịch
nghiệm như cánh chim bằng giữa trời mênh mông vô tận,
cho ta những ư vị tuyệt cùng của tri thức không
lời hay tuyệt đỉnh của ngôn luận trong
văn học Thiền được diễn đạt
bằng h́nh ảnh của non Lô: “Lô Sơn hùng vĩ, phiêu
bồng, nhưng u uẩn. Ḷng núi giấu kín những tâm
sự ngàn năm không nói; ḷng núi ủ kín những cuộc
đời trầm mặc, những tấm thân gầy khô
như hạc, như trúc, những tâm hồn nguội
lạnh như tro tàn mùa đông. Núi âm thầm, cho gió ngàn gào
thét, cho mây trời vần vũ, và cho những ḍng thác
từ trên tuyệt đỉnh cao mù đổ ào xuống.”
Như một nhà
Thiền học, tâm cảnh duyên thông, sự sự vô
ngại để thừa tiếp bản thể của
sự vật, Thầy đă ḥa đồng cái tâm liễu
tri với sự tướng duyên khởi, mà tạo
dựng h́nh hài của thế tục đế, qua sự
tồn sinh của sóng biếc sương mù, qua vách đá
và màu xanh rừng núi. Nhưng h́nh hài của thế tục
đế như một công án của Thiền, vẽ ra con
đường đại ngộ, cho ai nhận chân
được tâm cảnh câu không, nhơn pháp vô ngă: “Từ
thế kỷ này đến thế kỷ khác, trên ḍng
lịch sử trường mộng của nhân sinh
đổ ầm xuống; có những cuộc thi gan tuế
nguyệt diễn ra trong lạnh lùng, cô tịch. Ngày và
đêm, đày đọa h́nh hài và tâm năo, đứng chơ
vơ, kinh đảm hăi hùng, trên chiếc cầu
độc mộc bắc ngang qua ghềnh sanh tử.”
Thẩm thấu của
Thiền là vô ngôn mà sự chứng ngộ của Thiền
là tuyệt dứt h́nh tướng, nhưng duyên và
tướng cũng là phương tiện để thiền
sinh thấy được bản lai diện mục
của ḿnh. Qua lời giới thiệu dịch phẩm Vô
Môn Quan, Thầy đă nâng tiếng cười và tiếng
thét của các Thiền sư lên như là mấu chốt làm
phá tung cánh cửa giác ngộ mà ngàn đời bị
đóng kín. Tiếng cười sang sảng, tiếng thét
đinh tai, tiếng bổng chan chát là thành tố nhiệm
màu cho một thế giới tâm linh bùng vỡ.
“Một thời xa xưa
tại pháp đường của các Thiền viện,
người ta nghe sang sảng những tiếng
cười và tiếng thét. Bao nhiêu lời lẽ luận
bàn khúc chiết được gửi trả về cho
dải sa mạc trên miền Cao Á, nơi đă từng ghi
dấu cuộc hành tŕnh khổ nhục của những tâm
hồn khát khao tuyệt đối. Nơi đây, sa mạc
vẫn cứ thiên thu cô tịch trong cơn gió bức bách
của hư vô. Lẽ sống và lẽ chết vẫn măi
măi bồng bềnh trôi trên hư ảo. Tâm hồn miệt
mài nóng cháy, nhưng không cháy tan nổi những giấc
mộng hăi hùng của hư vô và hủy diệt. Rồi
một ngày mai kia khi thời cơ đến, tiếng
cười và thét trỗi lên làm đảo lộn cả
nếp sống b́nh sinh.”
Đó là chân ngôn của
Thiền được diễn tả qua phạm trù
của tự tính linh giác.
Nơi đây nói lên giá
trị Phật Học nghiêm túc, bằng ngôn ngữ
Triết học, Triết gia Phạm Công Thiện đă
gọi Thầy là: “Vị Thiền sư lỗi lạc
nhất, thông minh nhất, uyên bác nhất, trong sạch
nhất của Việt Nam hiện nay.” Và để
giải thích cho những thắc mắc về câu trên,
Triết gia Phạm Công Thiện viết tiếp: “Chỉ
có những kẻ bỏ trọn cả đời ḿnh
lặng lẽ sống chết với cái gọi là “Bồ
Đề Tâm” hay “phát Bồ Đề Tâm” th́ may ra mới
trực nhận đâu đó khí phách và thần dụng
bảng lảng của “nghịch hành thiền”.
Cũng trong giá trị
của nhà Phật Học, Giáo sư Nguyễn Minh Cần
đă nói lên nỗi xúc động của ḿnh: “Nghĩ
đến Thầy, nghĩ đến một tài năng
của đất nước, một niềm tự hào
của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật Học uyên
bác.” Và ông đă dẫn lời nói của học giả
Đào Duy Anh: “Thầy là viên ngọc quư của Phật Giáo
và Việt
II. Tư Tưởng Và Hành Động Của Kẻ
Sĩ Trước Thời Đại.
Trong thực thể
của cuộc sống, Thầy không khác chi với mọi
người, nếu có sự khác biệt th́ cái khác đó là
tư tưởng và hành động. Chính tư
tưởng và hành động diệu thường này mà
Thầy đă sống một cách trọn vẹn trong cái
nhân sinh quan của Thầy. Thầy sống bằng cảm
nghĩ thuần hậu và việc làm chân chánh cho một quê
hương giống ṇi, dù gặp bao nghiệt ngă của
thời đại.
Tư tưởng và hành
động này đă được diễn đạt qua
lời nói khẳng khái của Thầy trước bạo
lực: “Không ai có quyền kết án tôi, th́ cũng không ai có
quyền ân xá tôi.” Một tinh thần khí khái bất
khuất, Thầy đă thể hiện tinh thần nhà
Phật là Bi Trí Dũng, v́ ḷng từ bi ban vui cứu khổ
mà Thầy ḥa ḿnh nhận chịu cái khổ trong nỗi
khổ của con người, để được
phần nào ban cái vui cho thiên hạ. Bản án tử h́nh là
một nỗi khổ, nhưng dưới cái nh́n của
ḷng từ bi th́ nỗi khổ không cơm ăn, không áo
mặc, không giáo dục học đường, không tâm linh
tôn giáo, không đạo đức gia phong và không tự do
tự chủ của hơn 80 triệu đồng bào
vẫn là nỗi khổ to lớn hơn. V́ vậy, mà
ngồi trong tù, Thầy vẫn điềm tĩnh
để làm bài thơ tù bằng tâm thành kính tự tại.
Bằng tấm ḷng xót thương khi nghĩ đến
cuộc đời nhiều đau thương nước
mắt, con người đang bị ch́m ngập trong
cảnh bể dâu:
Cúng Dường
Phụng thử ngục tù phạn
Cúng dường Tối Thắng Tôn
Thế gian trường huyết hận
Bỉnh bát lệ vô ngôn
Hai tay dâng bát cơm tù
Cúng dường Tối
Thắng Đại Từ Thế Tôn
Cơi trần máu hận trào
tuôn
Tay bưng b́nh bát lặng
thầm lệ rơi
(Cúng
Dường – Ngục Trung Mị Ngữ)
Thầy đă ḥa ḿnh
trong nỗi đau của kiếp người để
cùng chia sẻ nỗi đau ấy với cộng
đồng chúng sinh, v́ công hạnh của Bồ Tát là
cứu độ chúng sinh. Nhưng bằng trí tuệ siêu
việt và đức tính đại hùng, đại
lực, là cái Dũng của nhà Phật th́ Thầy không tùng
phục trước bạo quyền và chẳng có bạo
quyền sắt thép nào giam hăm được Thầy:
Trách Lung
Trách lung do tự tại
Tản bộ nhược nhàn du
Tiếu thoại độc cảnh hưởng
Không tiêu vĩnh nhật sầu
Lồng Chật
Trong lồng chật hẹp mà thanh thản
Đi tới đi lui thật nhàn tản
Cười cười nói nói chỉ ḿnh nghe
Cũng trôi qua ngày tù bất tận.
(Trách Lung – Ngục Trung Mị Ngữ)
Cái tâm đă liễu tri
vô sự, thiểu dục tri túc, thiểu cầu an lạc
mà Thầy đă tạo dựng cho đời sống
của một tù nhân. Nhưng chính cái tâm ấy th́ không có
một nhà tù nào có thể giam giữ được
Thầy, dù có mang h́nh tướng của một
người tù, cái tâm ấy vẫn tự tại như
niềm vui của thiền định qua bài Biệt
Cấm Pḥng:
Ngă cư không xứ nhất trùng thiên
Ngă giới hư vô chân cá thiền
Vô vật vô nhơn vô thậm sự
Tọa quan thiên nữ tán hoa miên
Xà Lim
Ta ở Trời không vô biên xứ
Cảnh giới hư vô thật rất thiền
Không vật, không người, không lắm chuyện
Ngồi xem hoa rải bởi chư Tiên.
(Ngục Trung Mị Ngữ)
Một tư
tưởng bất khuất, một hành động kiêu
hùng mà từ thủa xa xưa đă có bao anh hùng dân tộc,
một Trần B́nh Trọng nghĩa khí ngất trời,
chết vinh hơn sống nhục: “Ta thà làm quỷ
nước Nam c̣n hơn làm vương đất Bắc.”
Nhưng, “anh hùng tử chứ khí hùng nào tử”, oai danh Ngài
vẫn vang lừng với những trang sử nước
nhà qua bao thế kỷ.
Cũng với cái
nghĩa khí của người xưa mà không ai có thể
giam hăm được tâm thức tỉnh lặng của
Thầy:
Tự Vấn
Vấn dư hà cố tọa lao lung?
Dư chỉ khinh yên bán ngục khung
Tâm cảnh tương tŕ kinh lữ mộng
Cố giao già tỏa diện hư ngung
Tự Hỏi
Hỏi ḿnh sao phải ngồi tù?
Bảo rằng làn khói giam từ trong lao
Cảnh tâm trong mộng khiếp sao
Lời xưa đă dạy ngẩng cao nh́n trời.
(Ngục Trung Mị Ngữ)
Ḍng máu anh hùng bất
khuất con Lạc cháu Hồng dựng nước, giữ
nước, tự ngàn xưa vẫn luân lưu
trường tồn trong ḍng máu dân Việt, đă
vượt qua bao nhiêu thác ghềnh băo tố đánh
đuổi các đoàn quân xâm lược ra khỏi bờ
cơi để tạo dựng non sông, ḍng máu đó đă
hiện tướng trên thân người con nước Việt,
mà nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đă diễn tả
trong bài Đêm Sâu:
“Tuệ Sỹ ngồi
đó, chiếc bóng sậy gầy. Sững như một
ngọn gió. Đôi mắt tṛn to, long lanh. Măi long lanh với
miệng cười. Như Niêm Hoa Vi Tiếu... Trông ông
khỏe hơn mấy năm trước thật, lúc
mới ra tù được một tháng. Ngày ấy,
đầu ông như đóng trốc, da bọc sát sọ,
mường tượng như Thế thân Thiền sư
Vũ Khắc Minh, không ngồi kiết già nhập
đại định ở chùa Đậu nữa, mà
đi lại, mà nói cười, nhập vào cơn huyễn
mộng.
Nay da đầu đă
nhuận thắm, những vết chốc ghẻ biến
mất, nhưng cái ót sọ ông vẫn nhô ra quá khổ
với thân ḿnh. Quá khổ đối với thế tục.
Chắc nó phải cứng, khiến bạo quyền lui
lại.”
Tư tưởng
của Thầy luôn đề khởi quan điểm
sống đúng trên phạm trù của con người.
Sống có ích cho tha nhân, dẫu chỉ là một lời nói
hay một hành động. Thầy đă thể hiện
một nhân sinh quan thiết yếu cho chính bản thân ḿnh.
V́ thế, Thầy luôn luôn t́m ṭi học hỏi, sưu
khảo, làm việc để tự thăng tiến
bản thân và giúp mọi người cùng đạt
đến chân thiện mỹ bằng ư hướng chân
chính. Thầy hằng quan tâm đến những thế
hệ kế thừa, tầng lớp quan trọng của
tương lai dân tộc, đạo pháp. Tầng lớp này
phải được đào tạo, giáo huấn kỹ
lưỡng, được tiếp nhận những
tiến bộ khoa học, chuyển hóa ư thức để
tài bồi xây dựng một quê hương giàu đẹp.
Lịch sử nước nhà có oanh liệt, hào hùng, hay
bạc nhược lạc hậu là do trách nhiệm
của những người lănh đạo dân tộc.
Đề khởi cho một hướng đi và trao
truyền ḍng tư tưởng giác ngộ, Thầy đă
tâm sự với thế hệ trẻ: “Các con hăy tự hào,
với niềm tự hào trong trắng và vô tư của
tuổi trẻ, từ thời điểm cột mốc
này, đă một lần và măi măi đứng thẳng trên
đôi chân của chính ḿnh, bằng đôi mắt trí tuệ
và hùng lực mà nh́n thẳng mà không khiếp sợ vào
quyền lực xấu ác của thế gian, tự
định hướng đi cho bản thân để làm
những việc cần làm cho chính ḿnh và cho mọi
người.”
Đứng trước
một đất nước mà mọi giá trị
đạo đức bị băng hoại, tŕnh
độ hiểu biết, kiến thức lỗi thời
lạc hậu. Đời sống túng cùng, quẫn bách
chỉ biết t́m cầu phương kế sinh nhai càng
khiến cho quê hương khó có cơ hội phát triển.
Thầy thường suy tư để t́m phương
cách đóng góp như thế nào cho ích nước lợi
dân, làm bằng cả nhiệt tâm chân chính để
“giữ vững con thuyền đạo pháp trong ḷng dân
tộc”, cũng như để có một xă hội lành
mạnh, mang nhiều phong thái đặc thù đẹp
đẽ, mà không để lôi cuốn theo những phù
phiếm của thế tục. Thầy đă nhắn
nhủ với thế hệ kế thừa:
“Nhẫn nhịn
đời nhưng không để cho quyền lực
đen tối của đời sai sử. Tùy thuận
thế gian, nhưng không tự đánh ch́m trong ṿng xoáy ô
trược của thế gian. Các con hăy tự rèn luyện
cho ḿnh một tín tâm bất hoại; một đức tính
dũng mănh vô úy; nỗ lực tự huân tập trí tuệ
bằng văn, tư, tu để nh́n rơ sự
tướng chân ngụy, để thấy và biết rơ
ḿnh đang ở đâu, đang đi về đâu; không
nhắm mắt phóng càn theo cỗ xe lộng lẫy bên ngoài
nhưng rệu ră bên trong, đang lao xuống dốc dài
không định hướng.”
Thầy đă
hướng dẫn tư tưởng cho các thế hệ
sau v́ bản thân của Thầy đă kinh qua những sóng
gió cuộc đời, những năm dài lao lung trong chốn
ngục tù. Bằng tinh thần vô úy, bằng hành dộng
dũng cảm của Bồ Tát Đại Thế Chí,
bằng phát nguyện độ tận chúng sinh nơi
địa ngục của Bồ Tát Địa Tạng và
bằng lời thành khẩn của Tôn Giả A Nan phụng
thỉnh Đức Thế Tôn từ bi chứng minh cho con,
đời ác năm trược con xin nguyện
bước chân vào trước. Thầy mang hành trạng
của một Bồ Tát v́ đời mà độ sinh, nên
Thầy không màng đến an nguy của bản thân. Không
khiếp sợ trước bạo lực hung tàn của
chế độ. Thầy đi ra từ nơi thai
tạng của Bồ Tát, để trú ngụ chốn
lầm than, nơi cơ cực mà chia sẻ, đồng cảm
với nỗi đau thương của dân tộc, qua bài
viết “Một Khía Cạnh Của Vấn Đề Nhân
Quyền Tại Việt Nam – Tham Nhũng Một Quốc
Nạn”
“Hoàn cảnh đất
nước Việt Nam như thế cho nên dân ta phải
chịu quá nhiều đau thương và tủi nhục.
Đối với giới trí thức nói riêng, mà xă hội
Việt Nam truyền thống rất tôn trọng,
điều tủi nhục lớn nhất là họ không
thể thay những người dân thấp cổ bé
miệng nói lên một cách trung thực tất cả
những uất ức, những khổ nhọc mà họ
phải chịu. Bởi v́, tại Việt
Nhưng tôi rơ một
điều, và điều đó đă được ghi
chép trong lịch sử. Tri thức chân chính của Việt
Đời sống
vốn đă cơ cực lầm than, lại c̣n phải
gánh chịu những áp bức bất công từ giai cấp
cầm quyền, người dân oằn ḿnh gánh chịu
những đau thương thiệt tḥi trong cảnh
đời khốn khó.
Không thể khoanh tay an
nhiên nh́n người dân lao đao nghèo đói khốn cùng,
Thầy viết Giác Thư gửi cho nhà nước, nói lên
tiếng nói của một tri thức chân chính, cảnh báo
những người lănh đạo đất nước
về thực trạng của quê hương dân tộc mà
các nhà lănh đạo đất nước đă chẳng
hề lưu tâm đến.
Viết Giác Thư gửi đi, nhưng Thầy cũng
không hy vọng đến tay người nhận:
“Tôi cũng biết
rất rơ, trong thủ tục hành chánh của bộ máy quan
liêu được cấu tạo với đại bộ
phận cán bộ chuyên sách nhiễu và trấn áp dân,
đầy dăy tham ô hủ bại, hơn là làm vinh quang cho
đất nước, như từng được rêu
rao, th́ Kháng Thư sẽ phải qua nhiều cấp,
trước khi đến cổng của các vị lănh
đạo tối cao, luôn t́m cách chối bỏ trách
nhiệm của ḿnh, chỉ nhận những ǵ được
tâng bốc là vinh quang và vĩ đại.”
Chính v́ nhận thức
như vậy, và biết thật như vậy, hệ
thống hành chánh quan liêu, cửa quyền, nên:
“Qua Kháng Thư này, và với nhiều lư do như tôi đă
tŕnh bày, mà không được đạo đạt lên
Đảng và Nhà nước theo đúng các quy định
hành chính phiền hà của pháp chế Xă Hội Chủ
Nghĩa. Tôi muốn tự ḿnh dẫn thân đến
trước cổng bạo lực chuyên chính, dù biết
chắc sẽ bị nghiền nát trước khi thoáng
thấy những bóng mờ trên chín tầng vời vợi
của uy quyền tuyệt đối; tự dấn thân
đến đó để cáo tri cùng quốc dân,
đồng bào, bày tỏ sự hèn kém, bất lực
của ḿnh trước vô vàn thống khổ mà đồng
bào phải âm thầm chịu đựng.”
Đó chính là một trong
những phương thức đóng góp cho quê hương
đất nước của Thầy.
III. Đại Bi Tâm Trong Thơ Tuệ Sỹ
Thầy làm thơ theo
cách điệu tục đế hay gửi gấm tâm t́nh
theo dáng dấp chân như? Ngôn ngữ là tiếng nói của
thế gian nhưng ẩn tàng đâu đó t́nh thương
chúng sinh vô phân biệt. Một khi âm thanh đă
được chuyển hóa bằng lời thánh ca cho
sự trùng phùng thi thể chân tâm th́ đâu là lời thơ
và đâu là trái tim Bồ Tát? Từ đây, ḍng máu của
trái tim nhỏ xuống làm xanh tươi núi rừng
thầm lặng qua bao tháng ngày hội tụ, làm sống
lại như thủa ban sơ của trời đất
hạo nhiên thanh thản. Ḍng máu đó là ngôn ngữ của
Bồ Tát cứu đời lầm than, để tồn
tại cùng cái tánh tự nhiên thiên hà, chúng sinh, chủng
loại mà h́nh ảnh Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền
làm tươi thắm giang sơn cẩm tú:
“Sư tử hống thời phương thảo lục
Tượng Vương hồi xứ lạc hoa hồng.”
(Sư tử hống thời cỏ hoa xanh biếc
Tượng Vương quay lại hoa hồng xinh
tươi)
Những chốn đau
thương là quốc độ của Bồ Tát, nên
Bồ Tát chẳng xa rời chúng sinh. Bồ Tát không ở
những thế giới nguy nga tráng lệ; Bồ Tát
độ sanh để giải thoát chúng sinh và trang nghiêm
quốc độ chúng sinh bằng Đại Bi Tâm. Chúng ta
hăy cùng lắng nghe những lời cứu khổ:
“Ta không buồn
Có ai buồn hơn nữa?
Người không đi
Sông núi có buồn đi
Tia nắng mỏng xoi ṃn khung cửa
Để ưu phiền nhuộm trắng hàng mi
....
Ta lên bờ
Nắng vỗ bờ róc rách
Gió ở đâu mà sông núi th́ thầm?
Ḱa bóng cỏ nghiêng ḿnh che hạt cát
Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương đầm?
(Tĩnh Thất - Bốn – Tuệ Sỹ)
Dù đời có nghiệt ngă, Bồ Tát vẫn mang
Đại Bi Tâm lao vào nơi khó khăn, đói nghèo cứu
khổ độ mê cho chúng sinh. Ḷng từ bi không cho Bồ
Tát rũ đời buông xuôi mặc cho muôn loài đắm
ch́m trong băo tố, nắng mưa:
“Ḱa bóng cỏ nghiêng ḿnh che
hạt cát.”
Dẫu là phận cỏ
hoa nhỏ nhắn nhưng vẫn mang chút t́nh với cát mà
che chở đem bóng mát cho những hạt cát chung quanh,
bởi v́ “t́nh dữ vô t́nh giai cộng thành Phật
đạo.”
Đại Bi Tâm là ngôi
nhà Bồ Tát trú ngụ, Đại Bi Ngôn là lời thề
độ tận chúng sinh, và Đại Bi Hạnh là
thị hiện vào đời bằng đôi tay cứu
độ, bằng việc làm lợi ích, để
chuyển khổ thành lạc, chuyển mê thành ngộ,
chuyển phàm thành thánh.
Đất nước
rơi vào thảm trạng khốn cùng, ngay đến muôn
thú cũng cảm thấy chơ vơ, lạc lơng:
“Con trâu trắng thẫn thờ góc phố
Nỗi hoài hương nhơi măi nhúm trăng ṃn
Đám sẻ lạnh gật gù trên mái đỏ
Sương chiều rơi có thấy lạnh nhiều
hơn?
Một chuỗi rắn ŕnh ṃ trong hẻm nhỏ
Không bụi đường đâu có chỗ đi hoang?
(Tĩnh Thất - Mười Lăm – Tuệ Sỹ)
Một ước mơ
cơi nhân gian thành Tịnh Độ để thấy các
vị Bồ Tát bất thối là bạn lữ, và cơi
Tịnh Độ là thất bảo lưu ly. Đó là hạnh
nguyện hay sức mạnh của chân tâm để tác
thành thế giới Chơn Đế. Thầy đă trang trải
tấm ḷng với ước mong một ngày
được thành tựu:
“Người không vui ta đi về làm ruộng
Gieo gió Xuân chờ đợi mưa hè
Nghe cóc nhái gọi dồn khe suối
Biết khi nào phố chợ chắn bờ đê.”
(Tĩnh Thất - Hai Mươi Chín – Tuệ Sỹ)
Mang chân tâm đóng góp cho
quê hương nhưng ước muốn không đạt,
đành lui thân về ở ẩn. Chỉ mong một ngày
đất nước được phát triển thực
sự đem lại niềm vui cho đến tận xóm
làng xa xôi hẻo lánh, cho người dân bớt lầm than.
Nh́n đời qua
những chấn song của nhà giam chế độ,
nhưng tâm quán chiếu ba cơi không yên giống như nhà
lửa, đang thiêu đốt thế gian và ướt
lệ xót thương. Lệ rơi từ trái tim Bồ
Tát. Lệ nhỏ từ đức tánh từ bi, nh́n chúng
sinh quằn quại trong khổ đau. Thầy hai tay nâng
chén cơm tù lên ngang trán, mắt nhắm lại, cúi
đầu thành kính, quán niệm:
“Thượng
cúng Chư Phật chi pháp, hạ thí đàn việt chi
thực.”
- Đây là chén cơm tù, trên con thành kính dâng lên cúng
dường Chư Phật và dưới là bố thí món
ăn cho pháp giới chúng sinh được no đủ.
Đại Bi Tâm tràn
đầy pháp giới. Từng điệu nhạc
trời chúc tụng, từng dăy hoa trời đâu miên tung
lên tán thán Đại Bi Tâm rạng ngời khắp chốn:
Cúng Dường
“Phụng thử ngục tù phạn
Cúng dường Tối Thắng Tôn
Thế gian trường huyết hận
Bỉnh bát lệ vô ngôn
(Đây bát cơm tù con kính dâng
Cúng dường Đức Phật đấng Tôn Thân
Thế gian ch́m đắm trong máu lửa
Lệ nhỏ không lời, ḷng xót thương.)
(Cúng Dường – Ngục Trung Mị Ngữ)
Đó là những ẩn
ngôn của Đại Bi Tâm, không phải là ngôn ngữ
thế gian để ca tụng hạnh nguyện vào
đời của Bồ Tát độ sinh.
IV. Trung Đạo Là Con Đường Tu Chứng Và Giáo
Hóa Tha Nhân / Phương Pháp Tinh Yếu Cứu Nguy Quê
Hương Dân Tộc.
Con đường chánh
đạo là lối về của người t́m cầu
giác ngộ, và giác ngộ th́ không rời thế gian mà có.
Sống trong thế gian không hệ lụy với thế
gian. Sống trong ṿng đối đăi mà không bị
đắm ch́m trong khổ và lạc, đó chính là chủ
điểm của bậc xuất trần vi Thượng
Sỹ.
Khi xưa Ngài Tuệ
Trung Thượng Sỹ, sống đời b́nh
thường thế tục, h́nh tướng cũng giống
như mọi người, nhưng tâm thức thiền
vị của Ngài siêu phàm, tâm không vướng bụi
trần, an nhiên tự tại ung dung như mây trời
bất phân sai thù.
Đạo lộ tu
chứng là con đường từ phàm đến thánh,
tâm niệm không thiên chấp thánh phàm, rộng bước
thênh thang trên con đường Trung Đạo, để
không bị vướng chấp ở cuối
đường giác ngộ. Ngài Tuệ Trung Thượng
Sỹ mang hành trang vào đời để thăng hoa
cuộc sống thánh thiện cho quê hương dân tộc.
Rộng bước trên con đường của ư
thức tự tồn, độc lập, giữ vững
giềng mối của Đạo thể nhập nơi
đời. Ngài không v́ sự mong cầu tu chứng mà
rời xa đất nước quê hương, và cũng
không v́ hệ lụy quê hương dân tộc mà không tu
chứng giải thoát. Ngài mở ra một chân trời
sống hạo nhiên, huyền nhiệm v́ giá trị: “B́nh
Thường Tâm Thị Đạo” hay “Huyền Chi Hựu
Huyền”. Đấy là hương thơm của đóa
hồng liên đang rực cháy trong ḷ lửa đỏ.
Tuệ Trung
Thượng Sỹ, đề cao tinh thần phụng
sự chúng sinh ngay trên quê hương dân tộc của ḿnh.
Ngài đă nhập thế một cách trọn vẹn, đem
chí nguyện của kẻ sỹ để an bang tế
thế, đem hết sức ḿnh phụng sự xă tắc
sơn hà, đem đạo thiền để vượt
thoát trên tâm lượng phàm tục. Ngài đă
đượm nhuần chơn đế dẫu sống
trong đời tục đế, siêu xuất thế gian dù
sống trong thế gian. V́ thế, đâu cũng là quốc
độ của Bồ Tát, và đạo lộ Bồ Tát
ứng xử.Không có một vị Thiền sư chơn
chánh nào nh́n thấy quê hương dân tộc trong cảnh
đau thương khốn cùng mà không đưa tay cứu
giúp, không ḥa ḿnh sống và chết cho ṇi giống Tổ
tiên. Trung Đạo là triết lư của sự tự
độ rồi độ tha, tự giác rồi giác tha, là
con đường nhiệm màu được đề
khởi bằng tấm ḷng hộ quốc an dân. Ngài Khuông
Việt Thiền sư mở rộng con đường Trung
Đạo, cứu nguy dân tộc. Ngài đă gác tam y, cất
b́nh bát để làm ông lăo chèo đ̣ tiếp đón sứ
giả nước Tàu, nương vào nhơn duyên đó,
chuyển khốn thành thông, chuyển bại thành thắng
để cho Quốc Tổ thái ḥa, thịnh trị an vui.
Phải chăng đó chính là sự tu tập trong chốn
khốn cùng và chứng đắc giữa quê hương,
là tánh Trung Đạo diệu dụng, lư sự vô ngại.
Chúng ta thường nghe
lời ca: “Thiền sư xuống núi cứu nguy cho
đời”. Đời nguy, Thiền sư không thể
ở trên non cao mà thiền định. Thiền sư tu
chứng, nhưng không có tâm độ sinh, thời sự tu
chứng ấy chưa được rốt ráo viên dung.
Sự tu chứng và sự nguy nơi đời là hai mé
đường của Trung Đạo, luôn song song và
hỗ tương cho nhau. Sự cứu hộ quê
hương dân tộc là một thềm đường
Trung Đạo của thế gian và chuyển hóa thế
gian thành Tịnh độ là thềm đường thứ
hai của cảnh giới Niết Bàn.
Sự tu tập cẩn
trọng nghiêm minh con đường Trung Đạo
để vượt thoát ra ngoài nhị biên, đối
đăi, chấp ngă, sai thù. Hành trạng hộ quốc an dân
của
Bằng chí nguyện
của bậc xuất trần, không rời xa đất
nước dân tộc, Thầy luôn ḥa ḿnh thân cận và
khuyến nhủ thế hệ kết thừa, nhằm trao
truyền cho các thế hệ sau này kiến văn phụng
sự nhân sinh, có sự hiểu biết sâu xa về
lịch sử dân tộc, và thấu hiểu giá trị
đạo đức, vị tha trong cách hành sử giữa
người với người.
Sen vươn ḿnh từ
ao nước bùn lầy, tỏa hương khoe sắc làm
đẹp cho đời.
“Anh hùng hào kiệt thời nào cũng có”.
Tiếp nối ḍng máu kiêu hùng từ ngàn xưa của Cha
Ông, đất nước Việt Nam ngày nay vẫn không
thiếu những tấm ḷng son sắt của các vị
thức giả sĩ phu, không sờn ư chí, không ngại gian
nguy. Chư vị đă mạnh dạn nói lên tiếng nói
chân chính của con tim nồng nhiệt t́nh quê hương
dân tộc, yêu chuộng tự do dân chủ, kiên
cường đấu tranh cho nhân quyền, cho tự do tôn
giáo, cho lương tri, lương thức Việt Nam
để có một ngày mai thực sự phú cường,
hạnh phúc.
Con đường Trung
Đạo dài hun hút trong ḷng quê hương và dân tộc
Việt
(http://www.nhacsingheo.com/ThichNguyenSieu/TS_Tho_ConDuongTrungDao).