TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI
Sài Gòn 1960
Bùi Giáng
Source: Trang nhà Quảng Dức
Lời thưa I
Tư tưởng hiện đại hay
(tâm hồn hiện đại) cũng không xa
tư tưởng ngày xưa là mấy. Những
triết gia từ thiên cổ đã mở
rộng tâm thức bao quát mọi chân
trời. Có người đã lặng thinh.
Có người nói thật nhiều. Có
người nói thật nhiều để cuối
cùng lặng thinh. Có người lao vào
hải hồ hoạt động để khỏi
nói. Và ngày nay, bàn tới tư
tưởng hiện đại có lẽ ta chỉ
nên vẽ vài nét đơn sơ, gợi
lại vài hình ảnh cũ. Hoặc "tóm
tắt" trong một lời. Lời gì? Có
lẽ là lời lặng câm. Hoặc làm
một vạn bài thơ để nói mãi
về một cái lá cỏ. Viết ba trăm trang
để quanh quẩn với một bà Dilsey già
ốm, một cô Caddy chửa hoang, một thằng
Benjy loạn óc (Faulkner). Hoặc suốt một
đời dọ dẫm lang thang đem cái học công
truyền ra phơi bày cương thường
trật tự để cuối cùng chối bỏ
cả bao nhiêu môn đệ trung thành mà
hài hòa với Tăng Điểm "mùa
xuân rủ con trẻ tắm mát sông Nghi,
hóng gió nền Vũ vu, rồi hát mà
về". Dựng một hệ thống tư
tưởng để chối bỏ hết mọi
thứ hệ thống, đem hết tấm
tinh-thành-thiết-tha-xây-dựng ra để
đạp đổ hết mọi thứ trật tự
của hiền thánh, để làm táng đởm
kẻ hương nguyện lưa thưa. Mắng chửi
tơi bời bọn triết gia để cuối
cùng qùy xuống ôm đầu con ngựa
kéo xe mà hôn (Nietzsche). Dùng phép
trùng -ngôn ngụ-ngôn chi-ngôn để tha
hồ nói tưới nói tóe chuyện
đầu Ngô đuôi Sở. Đem mộng sự
làm chân thân, đem ảo huyền làm
chân lý, như Julien Green, André Breton, Nervak, Poe,
Chagall, Trang Tử.v.v...
Lãnh cái giải Nobel xong bảo
rằng: "Tất cả văn nghiệp của tôi
không có ý nghĩa bằng nửa cái
lỗ chân lông của đàn bà."
(Camus). Được thế giới coi mình là
nhà khoa học lớn nhất của thế kỷ,
mà vẫn một hai tuyên bố : "Tôi
muốn làm một đứa bé bán bánh
mì." (Einstein). Bỏ những buổi nghị
hội về khoa học để mang vĩ cầm đi
chèo ghe và hò khoan với con vợ.
Được thiên hạ cho mình là thi
nhân huyền diệu nhất của nước
Pháp mà cứ nguyện cầu mai sau
được theo chân bầy lừa về Cực
Lạc (Jammes). Làm một ông già biết mai
mình chết, trái đất ra tro, chiều nay
vẫn ngồi nghe gió thu reo thùy dương
mấy bờ, chăm chỉ vun gốc cây chanh cây
khế. Đem tập trung binh đội Hy Lạp đi
tàn phá một đô thành làm
tàn rụng một nền văn minh, nguyên do
chỉ vì một mảnh xiêm hồng của
Hélène. Đem hai vị đại tướng ra
sừng sộ nhau vì dung nhan một nàng
Briséis. Đem một vị anh hùng nửa
đời ngang dọc đến quỳ dưới
chân một cô gái 16 tuổi để van xin:
"Hỡi nàng Nausicaa, vận mệnh đời
tôi , do nàng định liệu". Đem hết
tinh hoa tư tưởng của Siêu Thực, Lập
Thể, Lập Hình, Lập Khối của nghệ-thuật-hôm-
nay-hôm- qua- hôm-sau-hôm-trước, về
phụng hiến cho Bella, cho Elsa, cho Lou, cho Nush, cho Marie
Laurencin, cho Kiều, cho Thúy, cho Phụng, cho Khâm,
cho Kim, cho Cương, cho Phương Hà, Lưu Hải...
Đem hoang phí, tiêu xài bao đô
thành, đô thị trong những cái hôn.
Bị tử thương giữa chiến địa
còn kêu gọi ba quân mang chở mình
về bên Nàng để ôm chân và
gối nàng mà gục đầu vào nức nở
hôn, hôn: "Ôi! ngàn thu em
Cléopâtre...."
Thế là cả nhân sinh quan,
vũ trụ quan cùng thành hình nơi một
mảnh hồng quần "Làm gương cho
khách anh tài soi chung". "Anh ngó lên
trời mây gió rủ nhau bay... Trời bên kia,
nhan sắc ở bên này..."
Vậy
là thế quân bình được thiết
lập giữa nhân sinh phù du và
trường-tồn-vũ-trụ-vĩnh-viễn-hư-vô.
"Hồn rêu cỏ bên thành
xưa bám dựa
nghe một lần vĩnh viễn
gặp hư không"
Lời thưa II
(Tư Tưởng Hiện Đại - Saigon 1960)
Nên trình bày tư
tưởng văn học triết học Âu Tây
theo đường lối nào để bạn
trẻ nước nhà dễ lĩnh h ội?
Đó là một câu hỏi xui ta tư lự
nhiều.
Biên khảo, phê bình có
mấy phương pháp? Phương pháp phải
linh động như thế nào ? Đó cũng
là những câu hỏi xui ta lo ngại.
Thiết tưởng dù theo
phương pháp nào, người phê bình
cũng đừng quên vài nguyên tắc:
Mở rộng những viễn tượng, thúc
giục suy tư, tránh lối sát phạt bất
công, tránh lối tổng hợp vu vơ, vội
vã, hoặc nông nổi ôm đồm. Thà
tạm gát lại những khía cạnh chi li
để có thể đi sâu vào một
vài điểm cốt yếu còn hơn là
chạy lung tung ở nhiều ngõ ngách để
rồi không đi tới đâu cả.
Tập
sách này còn có một chút tham
vọng nữa: Biến chế ngôn ngữ Việt,
thử xem nó có đủ khả năng phô
diễn tư tưởng Âu Tây. Qua nhũng
nét tiểu dị ta có nhận thấy vẻ
đại đồng giữa những tiếng nói
nhân gian?
Chúng tôi trích dẫn
nguyên văn nhiều, ấy là để bạn
đọc tiện bề đối chiếu, suy tư.
Bạn đọc khỏi phải mất nhiều thì
giờ lần giở quá nhiều trang sách ngoại
ngữ.
Chúng tôi trích dẫn
nguyên văn cũng là để giúp các
bạn trẻ nước nhà làm quen với
một số ngôn từ bất hủ của các
nhà tư tưởng Tây phương đã
biểu chứng cho tâm tình thế kỷ.
Và
luôn luôn chúng tôi cố gắng đưa
thi ca Việt vào trong giòng biện luận. Tại
sao có sự lạ? Bạn đọc sẽ tự
mình giải đáp câu hỏi đó...
"Mai sau dù có bao giờ..."
Còn bây giờ? Điều cần
xác định ngay bây giờ là: nếu
thỉnh thoảng thơ văn của Huy Cận, Xuân
Diệu xuất hiện giữa những trang giấy
này, thì đó là thơ văn của
họ thuở xa xưa, thuở họ còn hồn
nhiên đi vào cuộc sống với tâm
tư cởi mở, tự do. Ngày nay, họ
đã cam lòng vùi chôn những kỷ
niệm. Nhưng tiếng thơ của họ vẫn
còn kia. Nó hòa vào trong tiếng nói
muôn năm của con người khát vọng
mộng tình vĩnh viễn. Tiếng thơ của
họ ngày trước, đường lối tư
tưởng của họ ngày nay, có phơi
rõ một sự gãy đổ , phân lìa u
uất? Đó là điều đáng cho ta suy
nghĩ. Sau khi cùng nhau chạy quanh một vòng
chân trời tư tưởng Âu Tây, ta trở
về với mảnh đất của sinh tồn
hiện hữu trong cảnh huống riêng của nước
nhà, thì những hình ảnh não nùng
kia quả có nói lên "tiếng đoạn
trường " của thảm kịch thời
đại.
Bài Tựa Thứ Nhất
(Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện
Đại)
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là Tảo Mộ hội là
Đạp Thanh.
Trong văn học cổ kim không
có vần thơ nào mênh mông như hai
câu thơ đơn giản lơ mơ đó
của Nguyễn Du. Nếu chịu nghe rõ lời và
tiếng của thơ, thì ta phải nhìn nhận
rằng hai câu lục bát Việt Nam kia quả
là mạch nước ngầm chảy suốt cả
cõi bờ triết học Heidegger là triết
học bao quát hết tư tưởng hiện
đại, triết học thâm thúy nhất
của loài người từ khi người mở
mắt ngó hương màu thiên nhiên
và hoang mang vào hội, vào lễ.
Hai câu thơ bình thản đi
tới, bao phủ mọi câu hỏi về tồn
thể và thời gian (Sein und Zeit) về hư vô
và vĩnh viễn, về trì ngự hé
phơi trong cỏ hoa trường mộng.
Nhưng cố nhiên, bạn đọc
phải bỏ thì giờ đọc Heidegger trong
vài ba tháng hoặc suốt đời mình
thì khi trở lại với Nguyễn Du, mới
không còn ngộ nhận tiếng tân thanh hiu
hắt rạc rời.
Đêm thâu khắc vợi canh tàn
Gió cây trút lá trăng
ngàn ngậm guơng.
Mảnh trăng ngàn ngậm
gương giữa gió cây trút lá là
gì, nếu không là hình ảnh chơi
vơi của tồn hữu giữa cuồng loạn
hoạt sinh trong thời khắc vợi tàn, rụng
đổ đêm tăm, vĩnh viễn rơi vào
hang thẩm hư vô để hiện lại
nguyên hình trong tâm thức con người - con
người làm mục tử nuôi dưỡng
tồn hữu trong xoang điệu long lanh?
Cỏ non xanh rợn chân trời
Một gian nước biếc chia
đôi mây vàng.
Mọi lời nói của Nguyễn Du
đều chứa đủ dư vang siêu hình
của một niềm hoài vọng. Kể làm sao
xiết? Suốt một đời, Heidegger sẽ tư
lự chạy vòng quanh một viễn tượng
của thi sĩ , dù tên tuổi là Tố
Như hay Sophocle, NietZsche hay Hoelderlin, Parménide hay
Nguyễn hoặc... hoặc
Từ nhận định căn bản
đó mà đi, ta sẽ thấy cái lý
do tồn tại của những trang "mông lung"
của tập sách này. Và sẽ vui lòng
gạt bỏ những Sartre, Jean Wahl ra ngoài vòng
suy niệm - mặc dầu thừa biết rằng sự
có mặt của Sartre trong thời buổi này
là hết sức cần thiết.
Rồi có lúc như bây
giờ lần nữa
Một bài ca sẽ chuyển
điệu khôn hàn
Lời gay cấn đầu thai trong
Vó Ngựa
Hồn hóa sinh về Núi
Đá Mưa Ngàn.
Bài tựa thứ hai
(Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện
Đại)
Sài Gòn 1963
Ta đã hái nhành hoa kia
của Đá
Và đã trao cho Nham Thạch
Phiêu Bồng
Có người sẽ ngạc
nhiên hỏi tại sao trong tập sách bàn
chuyện triết học tư tưởng, lại
có hình ảnh những người con gái.
Tại sao đặt Thúy Kiều, Thúy Phụng,
Kim Cương bên Camus, Heidegger? Tại sao đẩy
Dương Quý Phi lại gần Nausicca? Tại sao
để Ariane, Diane, Nausicaa, Juliet, Desdemona về bên
Khổng Tử, Nguyễn Du?
Và mọi người đều
nhìn nhận: vừa ngạc nhiên nêu câu
hỏi xong, là vừa chợt tìm ra lời
đáp. Những tượng số thiên nhiên,
những tượng số tồn thể phải nằm
tròn ở giữa lòng triết học hôm nay.
Đó là việc dĩ nhiên vậy. Những
Thần Thoại Hy Lạp phải trở về bủa
rộng chiêm bao để thiết lập mộng
luân lưu giữa thời gian bay múa. Cuộc
tồn hoạt của sinh tồn được tiếp
xúc trở lại với hương màu vạn
cổ chịu sự trì ngự của cái
thiên nhiên Phusis mở phơi để tồn
tại triền miên trong bốn mùa tuyết sương
rụng đổ.
Phải nhận định như vậy thì
mới rõ cỗi nguồn trường mộng
của một triết học như triết học
Heidegger. Và những truyền thống triết học
Hy Lạp, Á Đông mới khỏi bị chặt
đứt. Và Racine, Shakespeare, Faulkner,Camus, mới
có thể mở lại cuộc hội thoại
với Sophocle, Euripide, Parménide, Homère... Và
từ đó, người nghệ sĩ trong kỷ
nguyên này mới mong ngăn ngừa
được thế giới khỏi tan vỡ như
mưa trong thời gian ma nghiệt.
Thời gian của thời đại
cơ giới là thời gian của những gã
Jason (xem Faulkner - The Sould and The Fury). Thời gian của
cái Phusis xuân xanh phải là thời gian
của nhữn g bà da đen Dilsey già yếu
mà nhẫn nại vô song. Và âm vang của
Logos phải là tiếng nói của những
nàng Caddy. Ta sẽ không còn ngạc nhiên
nữa nếu xưa kia Lão Tử, Khổng Tử
đã gần gũi trẻ thơ. Nếu xưa kia
Jésus đã khởi sự tiết lộ chân
lý của Đạo với nàng Samaritaine.
Jésus đã ghê sợ bọn người
Pharisiens. Khổng Tử chối bỏ nhà nho
hương nguyện. Nguyễn Du, Euripide đã
nhờ cậy những Thúy Kiều, Hélène
làm môi giới cho mình để bày
tỏ những chân lý với nhân gian.
Nhưng cố nhiên học giả
hư ngụy ngàn năm vẫn lập lờ
xuyên tạc. Vô tình hay hữu ý, họ
đã bắt tay với người duy vật
máy móc để giết hại những Einstein,
Faulkner, Camus, Hoelderlin... Chúng ta phải thu hết can
đảm lại mới dám thực hiện cái
"bước nhảy" đau xót của Heidegger
để trở về nguồn cũ. Khoa học,
Triết học, Thi ca cùng phơi mở ngọn ngành
trong một bầu Sương Xanh của bình minh
nhân loại, đúng như trong viễn
tượng Simone Weil, Faulkner, Whitehead, Schweitzer...
Những người làm văn
nghệ, hoặc không làm văn nghệ, nhưng
có dở sống dở chết trong bi kịch
thời đại, đều nghe rõ tiếng kêu
của Weil., của Einstein. Khoa học giết
người, triết học giết người. Khoa
học giết người, ta nhìn thấy rõ.
Triết học giết người, ta nhìn không
thấy rõ. Và ít ai hiểu rằng sở
dĩ khoa học giết được nhiều con
người đến thế là chính bởi
triết học khốn nạn đã dọn
đường, chính triết học hư tà
đã phạm tội trước tiên. Khoa học
thơ ngây được phép không ngờ.
Khoa học đã hồn nhiên gây bóng
tối. Nhưng cái ghê tởm nhất là
cái bóng tối từ ở giữa lòng
triết học tỏa ra. Nietzsche đã chịu
một mình mang tủi nhục để gào to.
Cái kẻ dịu dàng như hươu non
đành chịu bóp chết lòng mình
để rống to như thú dữ. Nhưng lập
tức lời nguyền rủa từ bốn phía vang
lên. Và Nietzsche đã điên. Trước
Nietzsche mấy chục năm, Hoelderlin cũng đã
điên. Cùng với bao kẻ khác đã
điên. Để ngày nay... Để ngày nay
chúng ta tụ hội về đây, xôn xao
nêu câu hỏi: cớ sao mà điên?
Nêu một cách rất thơ ngây tròn
trĩnh. Nghĩa là hai lần thế giới binh
đao vẫn chưa cho ta một nửa bài học.
Ta vẫn hồn nhiên bước chân vào
trường học để mài miệt học
triết học, khoa học, trộn với chút
ít thi ca. Nhận rõ cái hiểm họa
ấy, Schweitzer đã đưa hai tay nắm lấy
khoa học. Heidegger đã chín móng bấu lấy
triết học, để gột rửa chúng
khỏi những bùa ngãi điêu linh.
Suốt hai mươi mấy thế
kỷ, các ngài triết gia học giả Âu
Tây đã gây điên đảo cho
triết học như thế nào? Và từ
một vài thế kỷ nay, tại sao khoa học
đã gieo rắc đau thương nhiều
đến thế? Phải nêu câu hỏi
đó lên ta mới thấy rõ vì sao
Einstein một mực đòi đi bán bánh
mì, Heidegger cùng với Nietzsche, một mực
đòi chôn vùi hay đập vỡ nền triết
học từ Aristote về sau.
Từ đó mà đi các
bạn không còn chỉ trích chúng tôi
sao lại cố tâm cố ý đưa những
hình ảnh thiên nhiên - và gọi chúng
là những tượng số - về ở giữa
triết học hoạt tồn - triết học tồn
lưu tồn thể...
Đã
là ngưòi Việt
Đã là con người quay chong
chóng trên quả địa cầu tròn,
có một ai không cảm thấy mình là
lá cỏ lá rêu mù sương lá
lách, lau cồn lìa kim đứt cải. Vậy
phải biết nhắm hai con mắt lại để
làm một cái dây leo như Tố Như leo
khắp mình mẩy Hoa Thi Đường Thi không
chừa một chỗ. Ông Chúa Đạo Văn
Cướp Điệu là thiên tài bất
tuyệt nhân gian càn khôn phơi mở một
vùng vĩnh viễn trong hố hư vô .
Đạo văn theo lối thiên
tài là chịu mù lòa để sáng
suốt, chịu vô hạn cuồng si điên
loạn để thanh thản vô song hắt hiu
điêu đứng để mà suy tư
độc đáo ở trong vòng cái Một
duy nhất Của Chung còn ghi đó vậy lai rai
gọi một chút này... Thi hào Hy Lạp Trung
Hoa ngàn xưa đã nhìn một viễn
tượng. Trái đất quay đêm ngày
cũng luân lưu trong một viễn tượng.
Và những điên đảo thời đại
binh đao này nguyên do là bởi chúng ta
quên nhìn một viễn tượng, lại
cứ nằng nặc đòi dòm. Dòm hết
cái đồ nọ đến cái đồ kia,
trong lúc cái đồ này chịu nằm
trơ một cõi không kẻ "giao tình
tại" vì lạc nẻo "chính khí
đồng". Đó là biểu trưng cho
sự gãy đổ chia lìa giữa vật
thể hiện hoạt và vĩnh tồn của
tồn thể tồn lưu. Triết học Heidegger
là tất cả triết học hôm nay hôm sau
hôm trước đã từ vạn đại
chết héo bao phen. Nhưng? - Biển dâu sực
tỉnh giang hà, còn sơ nguyên mộng sau t
à áo xanh...
Những người như Nguyễn Du ,
Tản Đà, Trang Tử, Nietzsche, Einstein, Faulker,
Heidgger, vốn không phải là những kẻ
kiêu căng vô lối nhưng họ bị bó
buộc phải to tiếng " chém cha cái
số, nghĩ đời mà ngán. Trông ra
núi lớn sông dài, ngó quanh lại
chỉ một mình là ta", ấy bởi
vì nếu không làm như vậy thì
sớm chầy mọi người sẽ chết bởi
bàn tay kẻ hương nguyện., kẻ duy lý
máy móc, kẻ lập lờ lập lững
để dễ bề vu cáo, kẻ tẩm nhuận
chi trấm, những kẻ tên là Iago đã
đẩy những Desdemona, Othello vào chỗ chết.
Thà giận thì la mắng thẳng người ta,
người ta còn có thể đáp
được một lời.
Mọi cảnh huống bi thảm hiện
thời hầu như triệt để không cho
phép chúng ta bàn tới Heidegger đúng
như sầu xanh đất đỏ đòi hỏi.
Ta đành bó tay lắc đầu dang dở.
Vùng nắm một vài nguyên tắc cổ
sơ trong truyền thống triết học Đông
Phương và dấn thân vào cuộc. Sử
dụng chi ngôn, ngụ ngôn, trùng ngôn,
phản ngữ hầu mong đạt tới cõi
vô ngôn trong lời mà khép mở riêng
chung năm canh sáu khắc tối mận sớm
đào.
Đoạn trường là sổ
thế nào
Bài ra thế ấy vịnh vào
thế kia
Từ lời nói kinh dị
đó của hồng nhan đứng trước
hố thẳm sinh hoạt hắt hiu sương tồn
thể giữa muôn vàn trùng vây, chúng
ta mong sẽ đủ can đảm lên
đường. Sẽ không ngần ngại
trước những bờ tường bóng tối.
Tin chắc rằng nếu nắm giữ được
những dư vang siêu hình loạn bời kỳ
bí của lời thơ thiên tài Á
Đông, nếu chịu vượt qua những lỗi
lầm đồ sộ của học giả Việt
đối với Ngưyễn Du, thì mọi cửa
ngõ triết học xa xôi xa lạ sẽ dần
dà được mở rộng. Con người
sẽ thiết lập lại một "ngôi
nhà" để đón bóng sầu tồn
thể hồn du mục cỏ hoa. Và một ngàn
người như Sartre, Jean Wahl sẽ không đủ
sức tấn công Heidegger. Nửa trang sách Heidegger
thừa sức đẩy ngàn vạn trang của
Sartre của Wahl vào rác bụi. Và đủ
sức đặt lại vấn đề vận mệnh
loài người trong những viễn tượng
sơ khai.
Lời tựa mong khơi dẫn
được mạch nguồn thâm áo của
triết học Heidegger thiết lập trên một
vài từ ngữ cốt yếu Ek-sistence, Berger de
l'Être, Dasein. Những trang sau sẽ hướng nhiều
về công truyền hơn là tâm hội.
Không phải tác giả lùi bước
trước việc khó khăn. Nhưng nghĩ
rằng: phần tâm hội phải được
chiêm niệm theo điệu tâm hội. Vài
giòng lơ lửng của Mưa Nguồn đã
bóng bẩy làm việc đó theo nhịp
võ vàng cổ độ Á Đông.
Dasein - danh từ trụ cốt trong tư
tưởng Heidegger - Dasein có thể dịch như
thế nào? Gabriel Marcel sau vài tuần hội
đàm với Heidegger, đành than thở: Dasein
không cách gì dịch ra Pháp ngữ. Xưa
kia, Henry Corbin đã dịch là
Réalité-humaine. Sau này các triết gia
Pháp sẽ còn dịch là L'ẻtre-le-là.
Dịch theo lối sau tương
đối hơn cách trước, vì sao? Xin
tạm gác lời đáp lại. Lời
đáp sẽ hiện ra dần dần sau này.
Bây giờ ta thử dịch Dasein sang Việt ngữ.
Dịch là Tại thể được chăng?
Lần thứ hai xin tạm bỏ lửng lời
đáp vậy. Tại thể là thực tại
người? Tại thể là cái thể
đứng ra để đón mời tồn thể.
Nếu không có thực tại người tại
thể thì tồn thể sẽ thỉên thu
mất ý nghĩa, sẽ chỉ còn là
lù lù vật thể lai rai.
Con người suy tư, con người
biểu lộ, con người là tại thể
đứng ra để làm băng nhân cho một
cuộc tương giao. Tương giao giữa tồn
thể và tinh anh con mắt của con người.
Tố Như đã thành tựu việc đó.
Tồn thể đã đi về với tấm
lòng kẻ tài hoa và đã nằm
tròn trịa trong lời lời người phong
nhã. Die Sprache ist das Haus des Seins. Le langage est la maison de
L'Être. Ngôn ngữ là ngôi nhà của
tồn thể. Đoạn trường tân thanh
là nơi cư trú của "hồng nhan".
Từ đó mảnh xiêm hồng phong nhụy,
bướm ong sẽ vù vù tứ vi vấn
vít. Cố nghi chư lão chung tình biến danh
tính ư quần biên tụ giốc... Các
ngài thi sĩ lũ lượt đi về vỗ ngực
tự xưng mình là thiên tài để
gùn ghè gắn bó bảo vệ cái
tồn thể ôi yêu dấu xanh xao muôn vàn
đợi mong vò võ. Băm sáu cung náo
nức mưa xuân... Tây
Tất cả vấn đề là:
làm thế nào để cho xoang điệu
hào hoa đừng bị đánh chìm bởi
luận lý cò ke đo đếm, bớt một
thêm hai. Từ bao nhiêu thế kỷ tư
tưởng của tinh anh đã hao mòn trong
vòng vây của luận lý. Người ta
đo tư tưởng theo những tiêu chuẩn
lệch lạc. Buộc cá phải bò trên
bãi cát? Buộc chim phải lội dưới
dòng sông? Rồi bảo rằng cá chim sao
mà bê bối vậy? Cá chim thiếu khả
năng bò leo bơi lội?...
Luận
lý học là tạo phẩm lai rai của nhà
trường, của học giả. Triết nhân
nếu có sử dụng luận lý học
thì bao giờ cũng sử dụng với những
hậu ý, coi luận lý học chỉ như
một phương cách tạm thời giúp ta
đạt một Cái gì khác lung linh hơn.
Không quá tôn sùng luận lý như
những kẻ nông nổi đem luận lý
cứng đờ ra để tàn phá cái
gì khác vốn là cái cốt yếu,
cái cứu cánh phải đạt. Cái
gì khác ấy là cái chi? Ấy là
cái đạo Không-Lời của Khổng
Lão Phật... Tố Như, của mọi thánh
nhân vậy.
Sự lầm lẫn tai hại của
các triết gia học giả đã tàn
phá triết học văn học thi ca suốt bao
nhiêu thế kỷ, và dẫn con người
thời đại này tới đầu hàng
cơ giới duy lý duy vật một cách nhục
nhã. Động hoạt che lấp tồn lưu, xa lìa
tồn thể. Con người lao đầu vào kinh
doanh náo động và quên mất rằng
mình phải nằm im như cổ độ mong
chờ làn phi tuyền sóng biếc của vạn
đại băng qua. Hỡi Dasein! Ngươi nỡ
nào quên mãi!
Tại thể hay Dasein là lời trong
ý đó.
Tập sách chỉ ước mong
có hạn. Sợi chỉ Ariane chưa phải là
tất cả. Thésée phải tự mình
đọ mặt với Minotaure ở Mê Cung Thần
Thoại là mê cung thế sự biển dâu
và mê cung ở ngay giữa ruột rà của
mỗi người mỗi kẻ làm văn nghệ
trong bầu khí đảo điên.
Chế ngự được
Minotaurethì sẽ lấy Ariane làm vợ. Nghĩa
là gặp Heidegger - linh hồn trường cửu
giữa bờ cõi vô thường.
Bài Tựa nhân kỳ tái bản
(Tư Tưởng Hiện Đại, Sài Gòn
12/74)
Tại trung tâm cơn lốc, có
trì ngự cuộc tịch nhiên? Nói cách
khác: Trái tim của Cuồng Phong là Tuyết
Đậu...
Cũng có thể nói: Thu
Sương tịch mịch nằm ở giữa lòng
Mùa hạ bão giông. Ấy có nghĩa
là: tại trung tâm Bão giông hư vô
chủ nghĩa, có trì ngự Thu thiên
sương bóng hằng thể lưu tồn (hoặc
nói: tồn thể hằng lưu liên miên
trì ngự ư hư vô sa mạc đích
trung tâm).
Sự huống ấy có nghĩa
là gì, sau khi cùng với Heidegger quanh quất
đi vào những ngả ba lâm đạo suốt
nửa thế kỷ, hoặc một thế kỷ
rưỡi, bất thình lình người ta
bỗng thấy Sự tình kia thị hiện là:
"Xuân Thu trang điểm tình
hình
Nghe đâu tình trạng nhớ
tình huống xưa..."
(Thiên Thu mở gió hai hàng
Mở trang mỏnh mảnh con đàng
thiên di
Bước chân chớ vội vã
gì
Xuân là trì ngự trên
kỳ mộng rơi
Con chim mang lá về trời
Rừng ong đổ mật lại
đời nhân gian
Tôi về mây gió trong thân
Tìm xuân tình thể chịu
phân ly rồi
Đầu khe núi ngủ yên
đồi
Liễu ru thành tượng trong
lời ra đi)
(Đầu khe
Lá cỏ phai rồi
Đá vang tiếng ngựa
Bên đèo đầu thai).
Thành
thử sau muời hai năm ngổn ngang sự tình
đi về trong sự huống, bỗng nhiên tồn
thể sự hằng chợt nhiên chuyển
động quy lai cho Phục Hồi đi về Les
Chimères trong Sự trạng: Tân An tái bản
lịch trình. Thơ có thể nói lên
điều đó như sau:
" Di Thần (Hamlet)
Lá cỏ Ngu Cơ (Cléopãtre)
Nguyên triều tịch mịch ngọn
cờ bổ sung
Hoàng hôn cơn mộng tháp
tùng
Từng vô duyên gọi bóng
nùng diễm qua".
Was ist
Metaphysik nói lên điều đó như sau:
(...)Ấy có lẽ cũng không ngoài lời
thơ: "Đường ra thiên cổ mười
sông" "Vượt đêm bất nhị
lên cành hư vô"(Nam Chữ - Hư Vô
Ca).
Une Saison en Enfer thì bảo
(...)
Và
Caligula của Sa mạc mùa hè cũng đi về
phảng phất nói thêm (...)
Nhưng còn Les Chimères?
Les Chimères Nervaliannes (Gerardiennes) thì lại cắc
cớ bảo rằng:
"Ngăn chia ngã rú hang hầm
Bên Hùm rống ngục bên
gầm tù Beo".
Hùm
Rống Ngục có thể là Whitman, hoặc Poe
hoặc Keats... Gầm Tù Beo có thể là
Nietzsche-Whitman-Rimbaud-Poe-Dickinson-Emily-Marilyn-Brigitte-Bùi...)
(Ngã
rú hang hầm có thể là là?). Nhưng
vì sao ngăn chia? Ngăn chia có nghĩa là
gì? Nhưng vì sao ở phía sau Sương
bóng ngăn chia vẫn cứ thấy liên miên
trì ngự Bóng sương quy lai về quy hợp
cứ như âm thầm thấp thoáng như
dường?
(Dường như trên nóc
bên thềm
Tiếng kiều diễm giây bóng
xiêm mơ màng...)
Ấy có thể là.
Ấy cũng có thể là là. Vẫn cứ
vĩnh viễn tồn lưu mãi mãi là
là: Sơ Nguyên - Logos - Phơi mở - Phusis - Song
trùng - Aléthéia - Giữa hai vành mù sa
- Moira - Sương bóng. Ấy là bờ cõi
của Hàng cây sơ thủy đi về cho
lá hoa cồn mùi hương rớt hột MoZart -
Beethovennien.
Mưa nguồn bảo:
Xa biệt lắm
Mưa nguồn trên mái tóc
Đã mấy lần thổi lạc
lệ lưa thưa
Buổi sớm hôm buồn tinh tú
ai ngừa
Bàn chân bước với tay
buông kể lể
(Giã Từ Đà Lạt)
Sa
mạc phát tiết càng gay cấn chịu chơi
nối đuôi xúm xít nói thêm
rằng Ấy là Lễ Hội Cho Tháng Ba:
"Thì có lẽ bây giờ
như lần nữa
Một bài ca sẽ chuyển
điệu khôn hàn
Lời gay cấn đâù thai trong
vó ngựa
Hồn hóa sinh về núi
đá mưa ngàn".
Do đó? Do đó
có câu:
"Hồng tham dự Lục tô
bồi một đi đứng ngóng một ngồi
nghe ra
Tiền trình vạn lý
đầu hoa
Ngờ đâu cuối tuyết
còn xa vô cùng".
Thế
thì? Thế thì thì? Thế thì từ
đó thể và thì càng có thể
dịch di thiên (thiên di vi dịch) sang thì
và thể. Từ đó Bài Ca Quần
Đảo nối đuôi nói tiếp tục
gọi là:
Các em đầu đội vai mang
Tiếng kêu rào rạt Mùa lan
sang mùa
Anh đi cây bút vẽ Bùa
Chào em như mộng mị thừa
thãi Dâng"
(Ngẫu Nhĩ Bên Đường)
Cũng
chính vì chỗ đó, chỗ của cái
chốn nơi "thừa thãi dâng" kia của
"ư ngu tâm tạ tri thời nhạn ôn
trụ sơn hình quải ốc u" - mà kỳ
Tái Bản này, Tư Tưởng Hiện
Đại ngẫu nhiên được trùng
hiện giang hồ trong thể lệ thù thắng
tân an của tịch nhiên hồi phục.
Tác
giả xin đa tạ. Hy hữu hưu hỹ.
Độc
giả nguyên lượng nguyên lượng...
để có cơ duyên quy thuộc vào
định mệnh sử xanh tồn lưu ư Thế
Dạ. Hữu hỹ Hỷ Hưu... Hỷ Hưu? Sao
thế? Hoan hỷ Hy Hưu? Ấy bởi vì hẳn
nhiên là Cơ Duyên Hy Hữu vốn luống
đã đi về với Độc Giả một
phen nào tịch mịch quả thật Hy Hữu
Ngẫu Nhiên...
Tựa Mùi Hương Xuân Sắc
(Sài Gòn 1973) An Tiêm tái
bản, 1990
"Les hommes sont si
nécessaairement fous, que ce serait être fou par un autre tour de
folie, de n'être pas fou."
(Người
ta vốn điên, điên một cách thiết
yếu đến nỗi không điên cũng
là điên theo một lối khác.)
Ấy là lời của? Của một kẻ Tư
Tưởng Âu Châu thế kỷ 17 (mà Heidegger
có nói tới trong Sao Gọi Là Suy Tư).
Kẻ gay cấn chịu chơi trong triết học,
kẻ gây kinh hoàng thán phục cho mọi
nhà khoa học những thế kỷ sau - mặc dù
cái tên của y quả nhiên là rất
tếu (Pascal) cà gật ba gai.
"Xấp xỉ cùng thời với
Descartes, Pascal khám phá ra cái lý tính
của trái tim..." - (Của cái tâm vô
lượng của uyên nguyên tư tưởng).
Sao gọi là tư tưởng? - từ đó
có nghĩa là: sao gọi là "trái tim vĩnh
viễn" (Hoelderlin) của Vô Lượng Tâm?
Là Nhị Vô Lượng Tâm? Hay là tứ
ngũ thập vô lượng lý?
Sau nghìn thế kỷ của ba
trăm năm điêu tàn sa mạc, con
người Trí Thức Trưởng Giả Da
Vàng vẫn điên cuồng nằm ngủ tại
"trung tâm" trái bom nguyên tử, và
vừa o bế o bồng "Nguyên Tử Tâm"
vừa ò e nguyền rủa trái bom ly kỳ da
trắng. Vừa thống thiết tự xưng " ta
đông phương da vàng" vừa lém
luốc dòm dỏ theo đuôi "em tây
phương tiến bộ văn minh da trắng".
Quả nhiên ấy thật là
là? Là điên theo lối gay cấn? Là
cuồng dại theo thể lệ da vàng rạng
rỡ Lục Hồng Tích tham lam? "Hồng tham
Dự lục tô bồi?"
Không phải không phải không
phải. Vì sao không phải? Bởi vì:
"Les hommes sont fous, si nécessairement fou, que..."
Điên cuồng thiết yếu bức bách
đến nỗi? Đến nỗi: Vừa lém
luốc dòm dỏ theo đuôi Em văn minh da
trắng vừa ò e uốn éo ưởn ẹo la
to lên rằng Em đìu hiu da trắng vong bản
hơn Ta da vàng.
Sông dài biển rộng ngàn
thu sau vẫn không sao gột rửa sạch cái
chỗ quái dị lâm ly kia của khôn
lường đông phương sa mạc. Nghìn
vạn Cô Em Mọi Nhỏ đi tiểu trên
Nấm Mồ Trung Niên cũng không thể nào
vãn hồi được sự huống lém
lốc nhà ma bên phương hướng bình
minh hồng nhật. " Chắc chi thiên hạ
đời nay, mà đem non nước làm rầy
chiêm bao." (Nguyễn Trãi)
Đem non nước làm rầy
giấc chiêm bao của hồng hoang mặt đất?
Đáng vào đâu? Thiên hạ đời
nay là gì? Có liên can đến thiên
hạ đời nào? Mà chiêm bao là
gì? Đem non nước làm rầy chiêm bao
suốt bình sinh của hùng tâm thiên
hạ? Sao gọi là thiên hạ? Thiên hạ
là giữa bụi hồng. Sao gọi là bụi
hồng? Là "Bụi hồng lẽo đẽo
đi về chiêm bao" ? Khốn nạn khốn
nạn! Chiêm bao bèo bọt bóng vang? Bóng
vang của vang bóng? Vang bóng của mộng mị?
Mộng mị của chiêm bao? Kết thúc của
Vô Lượng Tâm Ba La Mật Bát Nhã?
Ổ!
Sương biệt ly bất thình
lình là Nguyệt Hồi Phục? Les Chimères
là Adrienne Sylvie? Không phải không phải.
Vì sao không phải? Bởi vì bởi vì
bởi vì? Bởi vì toàn thể địa
cầu đang lom lem hình thành mạt thế
thể của Lịch sử Hương nguyện
tương lai. Và mọi cuộc cuồng điên
vô sở tòng lai diệc vô sở khứ,
và mọi cuộc như lai calvaire bí mật
xứ, và mọi trái bom hòn đạn
trút lên đầu lên cổ da vàng da
trắng da đen, vẫn không một mảy may nào
giải thích được cái nghĩa lẽo
đẽo chiêm bao cho bụi hồng đi về
hồi phục.
Trong một đêm đông băng
giá, Nerval đã thắt cổ hai lần cho
tử sinh nhị tử. Nếu Marx NietZsche trùng sinh
thế kỷ này, ắt các ngài sẽ
thắt cổ ba lần ca vát thần thông cho
"tâm sự di thần triều Lê
được tử diệt thênh thanh trong da vàng
tình tự" Tuy nhiên? Tuy nhiên một vạn
lời nguyền rủa của sử xanh vẫn không
thể nào đưa:
"Tiền trình vạn lý
đầu hoa
Ngờ đâu cuối tuyết
còn xa vô cùng"
(Tạm
gọi đó là lối tiễn đưa cho
bọn trí thức trưởng giả lên
đường).
Người ta nhớ rằng đầu
thế kỷ 19 Nguyễn Du Hoelderlin Beethoven cùng đi
về trong mùa dự cảm thênh thang. Thênh
thang vì ấy chẳng phải dự cảm rằng
mình là những "di thần triều Lê
nhớ nhung cựu chúa" mà ấy bởi
dự cảm bi hùng kịch biển dâu của
những thế kỷ sắp tới, và tại
thể tự thân phải chịu cưu mang lấy
nghiệp dĩ làm Trường Sở Trụ cho
một cuộc t ranh chấp dị thường giữa
những Thần đế đang đi vào quá
khứ và những Thần Đế man mác
tương lai. Gánh lấy cái nghiệp kia
quả nhiên là nặng lắm. Và bao phen
ngôn ngữ loài người đã
đành chịu vỡ toang cung bậc vì sự
yêu thỉnh khôn hàn của cuộc hình thành
một Thần Đế Thể bất khả tư
lường đối với đám đông
quần chúng huynh đệ. Niềm cô độc
mênh mông xâm chiếm trái tim một
vài người của giống nòi dự
cảm. Trước một hoàng hôn của sử
lịch và sau một đêm dài bất
tận của sử xanh, niềm dự cảm quy lai
về một bình minh không tên tuổi. Và
sự đó yêu sách liên miên những
giông bão (nội tâm) song song với những
chói chang gay gắt và những tà huy ngậm
ngùi. Những vũ tuyết, những vân sương,
xô ùa nhau gào kêu thị hiện và
hình thành trong tinh thể khác.
"Bờ bến lạ lá cây
rung cùng tột
Trận điêu tàn bào
háo nhị giai nhân..."
Sau
Nguyễn Du Hoelderlin một phần ba thế kỷ,
những huyễn mộng (LesChimères) Nerval lại
khiến cho những lá cây dự cảm bờ
bến lạ rung lên tuyệt trù lần nữa.
Không biết bao nhiêu trận điêu tàn
bào háo từ đó đã xảy ra. Les
Fleurs du Mal, Une Saison en Enfer, Zarathustra... Toàn nhiên
là tinh hoa Tây Phương Hy Lạp Địa?
Trừ Nguyễn Du, Đông Phương Trung Hoa Ấn
Độ Thổ tuyệt nhiên không một linh
hồn Thái Bình Dương nào cảm
ứng nổi cái trận điêu tàn bào
háo bờ bến lạ bên những lá cây
cùng tột rung lên(...) Đông Phương
đã tiếp tục ngủ vùi giữa những
trầm thống thất thanh kia. Và lúc sực
tỉnh ra thì chỉ biết thống thiết
chạy theo đuôi một cái đuôi hút
heo tan nát, vừa chạy theo đuôi vừa
gào to lên rằng mình vớ chộp
được một cái đầu thật bự.
Sự
tình ấy tiếp diễn miên man quái gở
cho đến khảm kha thay là sự huống đi
về ở giữa thế kỷ hai mươi trong
tình huống da vành xuân xanh sái dị...
Xuân thu trang điểm tình
hình
Nghe đâu tình trạng nhớ
tình huống xưa
Chạy quanh vườn cỏ năm sau
Chép câu tội lỗi từ bao nhiêu
lần.
Những
"vườn cỏ năm sau" đang lên
đường đi về trong kết tập những
"vẻ diễm kiều của mặt đất
mẫu thân". Mặt đất đã rung
lên bao phen não nùng trong đắm đuối,
kể từ thuở ấy đến nay? Kể từ
những mùa hạ sơ khai đầu tường
lửa lựu lập lòe đâm bông? Kể
từ những mùa sơ nguyên sơ thủy
nách tường bông liễu bay sang láng
giềng?
Không
biết không biết. Vì kể từ bấy
là kể ra bao. Kể ra bao là kể vào
bấy. Bao bấy theo nghĩa: bao bấy chầy.
"Bấy chầy chưa tỏ âm
hao
Hoặc là trong có làm sao
chăng là?"
(Nguyễn Du)
Chính
thế, sau bao nhiêu những bấy bao chầy bấy
chăng là, cuộc cơn chưa tỏ âm hao kia
vẫn tiếp tục lũ lượt đi về trong từng
từng phen phen nối đuôi lả tả tứ
điệp ngũ trùng của đảo tứ
điên tam.
"Hoặc là trong có
làm sao chăng là?"
Vấn
cú được nêu ra trầm thống
đơn sơ trong tịch mịch. Nhưng chưa
một lần nào Đông Phương nghe ra
lời chất vấn của là là, hoặc
hoặc, chăng chăng, bấy bấy, chầy chầy,
trong trong, có có...
Bấy chầy chưa tỏ
âm hao
Hoặc
là trong có làm sao chăng là?
Mà
oái oăm sao là cái âm hao đi về
trong bóng nhạn. Trong cánh hồng bay bổng.
Trong cái ngoài song thỏ thẻ oanh vàng.
"Ngoài song thỏ thẻ oanh
vàng
Nách tường bông liễu bay
sang Láng Giềng"
Bay sang
láng giềng để hình thành cận
lập cái chi? Cái lãnh địa
Mnémosyne của đầu thai ký ức?
Không biết không biết
không biết
Vì
sao không biết?
Vì
tình hình tình huống tự tình của
tình trạng hoàng hôn trong phố chợ
chiều lâm ly trong tình duyên sa mạc?
Không
hẳn không hẳn không hẳn.
Vì
sao không hẳn?
Vì
ấy bởi "Xuân thu trang điểm tình
hình, nghe đâu tình trạng nhớ tình
huống xưa..." Và do đó, mọi sự
đã thênh thang đi vào trong bao dong Chiều
Phố Chợ tham dự đầy dẫy những
lục hồng.
"Một chiều phố chợ
thênh thang
Chanh hồng quýt lục thu dàn
loạn ly
Mắt xanh hình thể trụ
trì..."
Trận trụ trì hình thể
mắt xanh kia từ đó thoắt nhiên là
ân lộc. Ân lộc của ân huệ từ bi
nảy ra từ trận điêu tàn ban sơ ban
sơ bóng nhạn của quy lai trầm luân trong
hồi phục đắm chìm trong từng
trận" di hồn tuyệt yến dã man oanh". Có
thể là như thế đấy chăng? Là trận
chào lưu ly giữa phù du phong vân hồi
phục?
"Mắt xanh hình thể
điêu tàn
Chào cô Gái Lạ cô
càng lạ thêm "
Nguyễn Du đã chào cô
Gái Lạ Triều Minh, Từ Hải đã
chào cô Gái Lạ Lầu Xanh, Homère
đã chào cô Gái Lạ Troyenne Nữ
Vương Andromaque. Ulysse đã chào cô
Gái Lạ Phéacienne, Công Chúa Nausiaca. Nerval
đã chào cô Gái Lạ Thiên Thu
Thánh Nữ Thấp Thoáng Adrienne Nghìn Thu
Thuần Nhiên Sylvie Phơ Phất. Trung niên cũng
còn có thể tha hồ chào mọi mọi Em
Mọi Gái Lạ Brigitte Marilyn. Trên muôn
ngàn tàn phế điêu linh của Mẫu
Thân mặt đất, nghìn nghìn những
Quốc sắc kết tập những Châu thổ
lãnh địa diễm kiều. Để làm gì?
Để
sau muôn vạn lầm than bụi hồng tro than lẽo
đẽo, muôn nghìn thảo hoa dựng dây
trên muôn nghìn tàn phế của tích lục
tham hồng cho hồng tham dự lục tô bồi...
và sau đó ? Sau đó chúng ta xúm
xít đi về, lũ lượt nối đuôi
nhau tràn lan nêu câu hỏi: cớ sao tham
hồng tích lục? Cớ sao mà chào? Cớ
sao mà sau trận điêu tàn bào háo
nhị giai nhân, thì toàn thể những
Nương Tử Sử Xanh bỗng nhiên bất
thình lình quy lai về tinh hoa tuyệt trù
quái dị lâm ly trong bước đi của
Bà Hiệu Trưởng.
(Bà đi thể lệ bước ra
Bà về cỏ rậm giậu
thưa
Đêm tàn cấm nguyệt
chiều trưa lâm tuyền
Lá rừng kết tập oan khiên
Lãng quên dõng cảm muộn
phiền hùng tâm
Người về sử lịch ca
ngâm
Phù du phương cảo huyền
cầm bảy giây
Đất về tình sử phôi
thai
Nắng vàng đổ lục cuối
ngày bà đi...)
"Un arc-en-ciel étrange entoure
ce puits sombre"... (Một cầu vồng vân nghê
dị thường bao quanh cái giếng u ám
ấy)
"Entre un monde qui meurt et l'autre
renaissant". (Giữa một thế giới đang
chết và thế giới khác phục sinh)
"Sais-tu ce que tu fais, Puissance
Originelle, De tes soleils éteints, l'autre se froissant..."
(Hỡi quyền uy nguyên
thủy
Ngươi biết chăng
ngươi làm gì
Về những vầng nhật
chìm tắt của ngươi,
Những vầng nhật va
chạm vào nhau
Liên miên như
Bardot triền miên dập
vào bờ Brigitte)
(Như Sylvie cập bến
Adrienne)
"Es-tu súr de transmettre une
haleine immortelle
Entre un monde qui meurt et l'autre renaissant?"
(Ngươi có chắc
tryền tiếp được một hơi thở
thiên thu (bất diệt)Giữa một vũ trụ
điêu tàn và một vũ trụ phục
sinh?)
Kể từ câu hỏi
đó.
"La terre a tressailli d'un souffle
prophétique".
Và kể từ đó, Thần
Tinh huệ mới gọi ta. Phượng hoàng,
hoàng hạc, chim ó, chim bằng, đã bay qua
đã đi vào quá vãng. Ta bước
về thênh thang trong đôi cánh chuồn
chuồn bé bỏng, man mác vô phương
"cá sóng phiêu bồng", và...?
Bước về và ra đi và trùng lai
hồi phục như "ngàn năm ngậm bóng
sương đồng"...
L' esprit nouveau m'appelle
J'ai revêtu puor lui
La robe de Cybèle..."
Sao thế sao thế sao thế?
(Ruộng đồng chưa thể
đoán ra? Rằng trong ý bạn là ta lên
đường?)
"Các em đầu đội vai
mang
Tiếng kêu rào rạt mùa lan
sang mùa
Anh đi cây bút vẽ bùa
Chào em như mộng mị thừa
thãi dâng".