Tư
tưởng PG trong thi văn Khuông Việt
Người viết : Thích Thắng Hoan
ngày 02, tháng 01, năm 2006
Trích : Báo Viên Gíác- Đức
A.- Phần
Tiểu Sử
Thiền sư Khuông Việt, tục danh là
Ngô Chân Lưu, con của Ngô Xương
Tỷ, cháu của Ngô Xương Sắc (1),
người làng Cát Lợi, huyện
Thường Lạc (2), trụ trì chùa Phật
Đà (3). Thuở nhỏ ngài theo Nho Học,
lớn lên thọ giới với Thiền sư
Vân Phong ở chùa Khai Quốc. Năm 40 tuổi
ngài nổi tiếng tinh thông Thiền Học
và được vua Đinh Tiên Hoàng quý
trọng phong chức Tăng Thống. Năm sau, niên
hiệu Thái Bình thứ 2 (971), vua lại phong
Quốc Sư với tước hiệu là Khuông
Việt Thái Sư (Khuông Việt Thái Sư
nghĩa là Quốc Sư chuyên lo giúp
đỡ sửa sang nước Việt). Khi Lê
Đại Hành lên ngôi (980-1105), Thiền sư
Khuông Việt và Thiền sư Pháp Thuận
được vua mời tham dự những việc quan
trọng trong triều đình. Năm Thiên
Phúc thứ 7 nhà Tiền Lê (986) nhà
Tống phái Sứ giả Lý Giác sang
nước ta, vua cử Thiền sư Khuông Việt
và Thiền sư Pháp Thuận ra đón
tiếp. Khi Lý Giác về Trung Hoa, Thiền sư
Khuông Việt thay vua làm một bài thi tiễn
chân Lý Giác theo điệu hát
"Tống Vương Lang Qui". Tống Vương
Lang Qui, nghĩa là tiễn đưa Ngọc Lang
về nước.
Tống
Vương Lang Qui
"Tường quang phong hảo, cẩm phàm
trương,
Thần Tiên phục Đế Hương,
Thiên lý vạn lý thiệp thương
lương,
Cửu Thiên qui lộ trường,
Nhân tình thảm thiết đối ly
trường.
Phan luyến sứ tinh lang,
Nguyện tương thâm ý vị Nam
Cương,
Phân minh báo ngã Hoàng".
Ngô Tất
Tố dịch:
"Trời quang, gió thuận, buồm giương
Thần Tiên chốc đã giục
đường Bồng Lai,
Mông mênh muôn dặm bể khơi,
Lối về trong bóng chín trời xa xa,
Bâng khuâng trước chén quan hà,
Mến ai, lòng những thiết tha nỗi
lòng,
Xin ai vì cõi Nam Trung,
Rõ ràng gửi lại mặt Rồng
trước sau".
(Văn
Học Đời Lý, trang 20, của Ngô Tất
Tố)
Theo Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, trang
112, của Thích Mật Thể ghi Thiền sư
Khuông Việt ở triều được ít
lâu thì lấy cớ già yếu xin về hưu.
Thiền sư dựng một ngôi chùa ở
núi Du Hý để mở trường dạy
đạo. Học trò đến học với
Thiền sư rất đông. Trong số học
trò nói trên, Thiền sư Đa Bảo
là người xuất sắc nhất của
Thiền sư Khuông Việt, được thầy
xem như đệ tử thân tín của
ngài. Theo Thiền Uyển Tập Anh, một hôm
Đa Bảo nghe danh Thiền sư Khuông Việt
liền đến tham vấn. Đa Bảo hỏi
Thiền sư về sự khởi đầu và sự
kết thúc của việc học đạo.
Thiền sư Khuông Việt trả lời bằng hai
câu thơ:
"Thủy chung vô vật diệu hư không,
Hội
đắc chân như thể tự đồng".
Ý nghĩa hai câu thơ này là:
Không
có vấn đề "Thủy" và
"Chung", chỉ có vấn đề "Hư
Không" mới là mầu nhiệm, nếu
hiểu được "Chân Như" thì
vạn vật đều đồng một thể.
Đa Bảo nghe qua tỏ ngộ liền xin thọ
giáo với Thiền sư Khuông Việt và
về sau được thầy truyền tâm
pháp.
Ngày 15 tháng 1, niên hiệu Thuận
Thiên thứ hai đời nhà Lý tức
là ngày 22 tháng 3 năm 1011, Thiền sư
Khuông Việt trước khi viên tịch gọi
Đa Bảo đến đọc bài kệ rằng:
"Mộc trung nguyên hữu hỏa,
Nguyên hỏa phục hoàn sanh.
Nhược vị mộc vô hỏa,
Toản toại hà do manh".
Thích
Mật Thể dịch:
"Trong cây vốn có lửa,
Tia lửa mới sáng lòa.
Nếu bảo cây không lửa,
Cọ xát sao lại ra?".
Đa Bảo hiểu tâm ý của thầy
liền sụp xuống lạy. Thiền sư Khuông
Việt ngay lúc đó chắp tay viên tịch,
thọ được 81 tuổi. Thiền sư Khuông
Việt là đời thứ tư của hệ
phái Vô Ngôn Thông. Đây là
phần tiểu sử của Thiền sư Khuông
Việt đã được nhiều sách sử
ghi lại.
B.- Phần
tư tưởng
Thiết nghĩ, trong các hệ phái của
Thiền Tông Việt Nam, Thiền Môn Gia Huấn
lẽ tất nhiên phải có và có
rất nhiều do các thiền sư nối tiếp
sáng tạo để làm phương châm cho
sự đạt đạo của các thiền sinh.
Thiền Môn Gia Huấn nghĩa là những lời
giáo huấn trong gia phả của thiền môn
và những lời giáo huấn đó
chính là khuôn vàng thước ngọc
không thể thiếu để phát huy hệ
phái Thiền Tông. Thiền Môn Gia Huấn
có khi là thi kệ, có khi là văn
bản, đều là những Pháp Ngữ có
tánh cách trắc nghiệm thiền sinh nhằm
trao truyền chỗ chứng đắc của mình
cho đệ tử. Thiền Tông càng phát
triển thì Thiền Môn Gia Huấn càng phong
phú. Căn cứ nơi lịch sử truyền
thừa của các hệ phái Thiền Tông
Việt
I.- Giá
trị thi kệ thủy chung
Câu chuyện vấn đáp giữa Thiền
sư Khuông Việt và học trò Đa
Bảo được thấy trong Thơ Văn Lý
Trần tập I, trang 210, do nhà xuất bản Khoa
Học Xã Hội Hà Nội 1977, ghi rằng:
"Theo TUTA thì một hôm có người
học trò là Đa Bảo hỏi về sự
khởi đầu và kết thúc của việc
học đạo, Khuông Việt đã trả
lời bằng hai câu thi:
"Thủy
Chung Vô Vật Diệu Hư Không,
Hội
Đắc Chân Như Thể Tự Đồng".
Dịch nghĩa: "Không
một vật nào có thủy và chung,chỉ
có hư không mới là nhiệm mầu.
Nếu ngộ được Chân Như thì
vạn vật đều cùng một thể Chân
Tâm". Đại ý hai câu này:
Vạn vật đều đồng một bản
thể chân tâm nơi thế giới Chân
Như. Hình tướng của vạn vật thì
có sanh (có thủy) và có diệt (có
chung), như tự thể của vạn vật thì
không tồn, cho nên không có điểm
khởi đầu (vô thủy) và cũng không
có điểm kết thúc (vô chung).
Giá trị tư tưởng hai câu thi trên
của Thiền sư Khuông Việt trả lời
câu hỏi của học trò Đa Bảo
được nhận định như sau:
1/- Vấn
đề thủy chung
Thủy gọi cho đủ là Vô Thủy
và Chung gọi cho đủ là Vô Chung. Vô
Thủy nghĩa là vạn pháp không có
nguyên nhân đầu tiên sanh ra và Vô
Chung nghĩa là vạn pháp không có
điểm cuối cùng của sự hoại
diệt.
Vấn đề Thủy Chung được
đặt ra là căn cứ nơi sự sanh diệt
của vạn pháp. Vạn pháp trong thế gian,
theo quan niệm của Phật Giáo đều do
nhân duyên nên được sanh thành
và cũng do nhân duyên nên bị hoại
diệt. Nối tiếp theo đó, vạn pháp
từ nơi chỗ hoại diệt lại liên
tục sanh ra nữa và cứ như thế sanh
diệt mãi cho đến vô cùng tận. Dựa
trên nguyên lý duyên sanh vừa trình
bày, vạn pháp không có vấn đề
thủy chung (không có nguyên nhân đầu
tiên sanh ra và cũng không có điểm
cuối cùng của sự hoại diệt).
Kinh Thắng Man Bảo Quật, quyển trung ghi rằng:
"Nhiếp Luận nói: "Vô Thủy tức
là hiển nhân. Nếu hữu thủy thì
vô nhân, hữu thủy thì hữu sơ, sơ
thì vô nhân. Vô Thủy thì hữu
nhân, cho nên làm sáng tỏ sự hữu
nhân, để hiển bày Phật Pháp
là cái nghĩa nhân duyên".
Giải nghĩa: không có nguyên nhân
đầu tiên tức là hiển bày
được nguyên lý nhân duyên. Nếu
như có nguyên nhân đầu tiên thì
nhất định không có nguyên lý
nhân duyên. Nếu như có nguyên nhân
đầu tiên thì phải có cái
nguyên lý sơ khởi và nếu như
có cái nguyên lý sơ khởi thì
không có nguyên lý nhân duyên. Còn
như không có nguyên nhân đầu
tiên thì mới có nguyên lý nhân
duyên. Cho nên một khi làm sáng tỏ
vấn đề nguyên lý nhân duyên là
hiển bày được Phật Pháp.
Đúng thế, đời này chính
là do nhân duyên đời trước xây
dựng (hiển nhân), đời trước thì
lại cũng do nhân duyên đời trước
nữa thành lập. Chúng ta cứ như thế
suy cứu mãi trở về trước thì
sẽ thấy vạn pháp không có điểm
khởi đầu, nên gọi là Vô Thủy.
Chúng ta đã thấy vạn pháp không
có điểm khởi đầu (vô thủy)
thì lại cũng thấy vạn pháp không
có điểm kết thúc, nên gọi là
Vô Chung.
Thật ra vạn pháp không có vấn
đề điểm khởi đầu (hữu thủy)
hay điểm kết thúc (hữu chung), chỉ
có sự tác dụng hay không tác dụng
của các nhân duyên mà thôi. Nguyên
nhân (dòng tâm thức) của vạn pháp
mỗi khi tác dụng liền quan hệ với nhau
(nhân duyên) qua nghiệp tướng và
nghiệp lực để hiện ra hình tướng
gọi là sanh (thủy) và đến khi không
còn tác dụng để hiện tường
nữa gọi là diệt (chung). Nhưng nguyên
nhân của vạn pháp thật sự không
có vấn đề Thủy và Chung. Nguyên
lý này nếu như so sánh với dòng
điện thì không khác nhau lắm. Dòng
điện một khi tác dụng qua Video Tape (nhân
duyên của vân pháp) liền hiện ra
hình tướng trên màn ảnh gọi
là sanh (thủy) và dòng điện không
tác dụng nữa thì hình tướng
trên màn ảnh không còn hiện ra nên
gọi là diệt (chung). Nhưng ở đây,
dòng điện chỉ có tác dụng hay
không tác dụng mà thôi. Riêng dòng
điện thật sự không có vấn
đề sanh hay diệt.
Như kinh Bồ Tát Thiện Giới, quyển I
(Đại 30-962 Hạ) cũng chứng minh cho những
nguyên lý vừa trình bày trên có
ghi: "Bổn tánh là 5 Ấm, 18 Giới, 6
Nhập cứ theo thứ tự tác dụng nối
tiếp với nhau từ vô thủy cho đến
vô chung (4)". 5 Ấm, 18 Giới, 6 Nhập là
chỉ những nguyên nhân của vạn pháp.
Những nguyên nhân này đã có
từ vô thủy và tác dụng mãi cho
đến vô chung để tạo nên dòng
sanh mạng của vạn pháp. Dòng sanh mạng
của vạn pháp cứ liên tục quay tròn
mãi để tạo thành bánh xe luân
hồi trong ba cõi. Các pháp cứ sanh diệt
và diệt sanh trong cái vòng tròn của
bánh xe luân hồi đang quay. Bánh xe luân
hồi của dòng sanh mạng cứ quay mãi
vô định, quay mãi không có điểm
khởi đầu và cũng không có
điểm kết thúc của vòng tròn,
nên gọi là Vô Thủy Vô Chung.
Qua những dữ kiện trên, vấn đề
Thủy Chung trong câu "Thủy chung vô vật
diệu hư không" của Thiền sư Khuông
Việt không khác so với nguyên lý Vô
Thủy Vô Chung của các kinh luận chủ
trương, như Nhiếp Luận, Kinh Bồ Tát
Thiện Giới v.v... Đó là một trong
những giá trị tư tưởng của thiền
sư đã đạt đạo được
thể hiện trong câu thi nói trên.
2/- Vấn
đề Hư Không:
Hư Không, tiếng Phạn àkàsa, nghĩa
là khoảng không gian (không) trống rỗng
(hư) mênh mông vô cùng tận. Vạn
pháp trong thế gian đều hiện có mặt
và xoay vần trong hư không. Hư Không
là một nguyên lý và nguyên lý
này có giá trị bao trùm cả muôn
pháp ở trong. Muôn pháp không thể
có mặt và cũng không thể tồn tại
ngoài hư không. Hư Không có thể xem
là bản thể, là nền tảng của
muôn pháp sanh khởi và tồn tại. Kinh
Bắc Bổn Niết Bàn, quyển 22, phẩm
Đức Vương và quyển 6, phẩm Phạm
Hạnh đều cho Hư Không "rộng lớn
không có bờ mé, có thể dung chứa
tất cả pháp". Duy Thức Bách Pháp
Minh Môn Luận là cho Hư Không và Vô
Vi Pháp. Bát Thức Quy Củ Tụng của
dịch giả Thích Thắng Hoan, trang 21 cũng cho
Hư Không là Không Vô Biên Xứ.
Kinh Thủ Lăng Nghiên, quyển 3 của dịch
giả Thích Chơn Giám, Đức Phật
giải thích Hư Không có hai loại:
a)- Tướng Hư
Không
Tướng Hư Không được thể
hiện từ nơi nghiệp tướng và
được xây dựng theo nghiệp lực của
chúng sanh. Tướng Hư Không được
thành hình theo từng giống loại. Chúng
sanh có nhiều giống loại khác nhau thì
Tướng Hư Không được thành hình
cũng có nhiều thứ không giống nhau. Tướng
Hư Không của loài người thì
khác hơn Tướng Hư Không của loài
cá, của loài ngạ quỷ, của loài
địa ngục v.v... Tướng Hư Không của
dục giới thì khác hơn Tướng Hư
Không của sắc giới, của vô sắc
giới v.v...Mỗi loại, mỗi giới đều
có Tướng Hư Không riêng biệt
không giống nhau. Bát Nhã Tâm Kinh Qua
Cái Nhìn của Duy Thức, tác giả
Thích Thắng Hoan, trang 55-57 cho Tướng Hư
Không là "Môi Trường Sống".
Quyển Bát Nhã Tâm Kinh này giải
thích:
"Tướng Hư Không của loài cá
là khối lượng nước, thuộc môi
trường sống của loài cá. Khối
lượng nước nếu như cạn khô
thì loài cá bị chết ngạt. Nhưng
khối lượng nước nói trên không
phải là Tướng Hư Không của loài
người; nguyên vì loài người
khác giống với loài cá. Tướng
Hư Không của loài người là
không khí, thuộc môi trường sống
của loài người. Không khí nếu
như bị cháy tan thì loài người
cũng bị ngạt thở mà chết. Tướng
Hư Không của loài người không
phải là Tướng Hư Không của loài
ngạ quỷ, của loài địa ngục, của
loài a-tu-la, và của các cõi trời;
nguyên vì loài người không giống
với loài ngạ quỷ, với loài địa
ngục, với loài a-tu-la và với các
cõi trời. Cho đến loài ngạ quỷ,
loài địa ngục, loài a-tu-la và các
cõi trời cũng thế, nghĩa là mỗi
loài mỗi cõi khác nhau thì môi
trường sống của họ hoàn toàn
không giống nhau về Tướng Hư
Không".
b)- Tánh Hư
Không
Tánh Hư Không thì thuộc về chân
như và vẫn tồn tại muôn thuở.
Ngược lại Tướng Hư Không thì
thuộc về mê vọng và luôn luôn
bị sanh diệt biến hóa. Tướng Hư
Không là biến tướng của Vô Minh
Nghiệp Tướng, thể hiện ở bên
phía trong Tánh Hư Không và chọn
Tánh Hư Không làm nơi nương tựa
để hiện khởi. Theo Kinh Thủ Lăng
Nghiêm, Đức Phật giải thích: "A
Tánh Giác gọi cho đủ là Thể
Tánh của Giác Ngộ. Tánh Giác tức
là chỉ cho Tạng Như Lai, thuộc về Tâm
Chân Như. Tạng Như Lai của Tâm Chân
Như thì mới có tánh giác. Tánh
Giác của Tạng Như Lai thì bao trùm
cả thánh và phàm, cả chân và
vọng. Hơn nữa, Tánh Giác tức là
Tánh Hư Không thì không thể có
ngoài Tạng Như Lai, đều thuộc về
nguyên lý sự sống của vạn pháp. Cho
nên Đại Thừa Khởi Tín của ngài
Mã Minh nói: "Tâm Chân Như là
cái tâm tánh bất sanh bất diệt, Thể
và Tướng (Tạng Như Lai) của nó to
lớn bao trùm tất cả các pháp".
Bát Nhã Tâm Kinh Qua Cái Nhìn Của
Duy Thức, trang 58 giải thích: "Tánh Hư
Không của Tâm Chân Như không phải
là Tướng Hư Không của tất cả
chúng sanh trong ba cõi. Tướng Hư Không
của tất cả chúng sanh trong ba cõi sở
dĩ khác nhau là do bởi Nghiệp Tướng
của mỗi loại chúng sanh không giống nhau
trong những cõi đó tạo nên. Nhưng
đặc biệt nhất, Tướng Hư Không
của tất cả chúng sanh trong ba cõi thảy
đều thể hiện ở bên phía trong
Tánh Hư Không của Tâm Chân Như
và được Tánh Hư Không của
Tâm Chân Như che chở với hình thức
bao trùm".
Thí dụ, Tánh Hư Không của Tâm
Chân Như cũng tương tự như không
gian của cái phòng. Tướng Hư Không
của tất cả chúng sanh cũng tương
tự như không gian của ngọn đèn xanh,
không gian của ngọn đèn đỏ,
không gian của ngọn đèn trắng, không
gian của ngọn đèn vàng v.v... Không gian
(Tướng Hư Không) của các ngọn
đèn xanh, đỏ, trắng, vàng v.v...
đều thể hiện ở bên phía trong
không gian (Tánh Hư Không) của cái
phòng và được không gian của
cái phòng che chở với hình thức bao
trùm.
Như thế, Tánh Hư Không chính là
Tạng Như Lai của Tâm Chân Như, nguyên
vị Tạng Như Lai theo Đại Thừa Khởi
Tín của ngài Mã Minh thì thuộc về
hình tướng của Tâm Chân Như. Tâm
Chân Như là cái tâm không sanh diệt
thì Tánh Hư Không lẽ tất nhiên
cũng thuộc về loại Bất Biến. Tánh
Hư Không này thì vẫn hiện có
mặt, vẫn tồn tại mãi trong Tạng Như
Lai và không thể nào có mặt ngoài
Tạng Như Lai.
Từ giá trị này, "Diệu Hư
Không" trong câu thi "Thủy chung vô vật
diệu hư không" mà Thiền sư Khuông
Việt đề cập đến đích thực
là chỉ cho Tánh Hư Không của Tạng
Như Lai thuộc Tâm Chân Như. Tánh Hư
Không đối với vấn đề thành
hình vạn pháp thì quả thật mầu
nhiệm vô cùng. Vạn pháp trong thế gian,
nếu như không có Tánh Hư Không
làm nền tảng thì không biết
nương tựa vào đâu để sanh trưởng
và tồn tại. Vạn pháp có thể
nói là luôn luôn bị sanh rồi diệt,
diệt rồi sanh trong Tánh Hư Không
trường tồn bất diệt.
3)- Vấn đề
Chân Như
Chân Như, tiếng Phạn là
Bhùta-tathatà hoặc gọi là Tathatà,
nghĩa là căn nguyên của vạn pháp,
cũng gọi là bản thể chân thật
của vũ trụ. Vấn đề Chân Như
có rất nhiều kinh luận giải thích.
Duy Thức Luận định nghĩa Chân Như:
"Chân vị chân thật, hiển phi hư
vọng; Như vị như thường, biểu vô
biến dịch. Vị thử chân thật ư
nhất thiết pháp, thường như kỳ
tánh, cố viết chân như".
Dịch nghĩa:
Chân là chân thật, hiển nhiên không
phải hư vọng; như là sự trường
tồn, chỉ bày cái lý không thay
đổi. Hai chữ Chân Như là nói
lên cái nguyên lý chân thật của
tất cả pháp và thể hiện cái
tánh trường tồn của nó, vì
thế nên gọi là Chân Như.
Phật Địa Kinh Luận, quyển 7 có ghi:
"Chân Như chính là thật tánh
của tất cả hiện tượng. Cái
tướng của tất cả hiện tượng tuy
có các thứ sai biệt, nhưng thật
tánh của chúng thì chỉ có một
vị, so với tất cả pháp không phải
là một, không phải khác, lìa ngôn
ngữ, lìa cả suy luận và khảo cứu.
Thật tánh này xa lìa quan điểm lầm
lỗi và hư ngụy, nên gọi là
Chân Như".
Kinh Đại Bát Nhã, quyển 360 giải
thích Chân Như gồm 12 nguyên lý
Không. 12 Chân Như gồm có:
1. Chân Như: Chân là chân thật và
Như là như thường, nghĩa là thể
tánh chân thật của các pháp thì như
thường.
2. Pháp Giới: Giới là nghĩa sở y
(chỗ nương tựa). Chân Như là chỗ
nương tựa (sở y) của các pháp.
3. Pháp
Tánh: nghĩa là thể tánh của các
pháp thì chân như.
4. Bất Hư
Vọng Tánh: nghĩa là Pháp Tánh Chân
Thật đã lìa hẳn hư vọng nên
gọi là Chân Như.
5. Bất
Biến Dị Tánh: nghĩa là bản thể
của các pháp thì không biến
đổi nên gọi là Chân Như.
6. Bình
Đẳng Tánh: nghĩa là chân như sau khi
lìa hẳn các tướng sai biệt của
các pháp đều duy nhất bình
đẳng không
có hai.
7. Ly Sanh
Tánh: nghĩa là chân như đã lìa
hẳn sự sanh diệt.
8. Pháp
Định: nghĩa là pháp tánh thì an
trụ và thường hằng nên gọi là
Chân Như.
9. Pháp
Trụ: nghĩa là ngôi vị của các
pháp thì thường trụ nơi Chân
Như.
10. Thật
Tế: nghĩa là nguyên lý của chân
như thì rất thật tế đến chỗ
cùng cực.
11. Hư
Không Giới: nghĩa là lý thể của
chân như thì biến khắp pháp giới.
12. Bất
Tư Nghì Giới: nghĩa là lý thể
của chân như thì không thể nghĩ
bàn.
Bao nhiêu kinh luận cũng đủ chứng minh
được giá trị của nguyên lý
Chân Như. Chân Như là thể tánh
thường hằng, không sanh không diệt của
vạn pháp và vạn pháp thường an
trụ trong chân như, lấy chân như làm
thể tánh của mình. Lý do đó,
Thiền sư Khuông Việt cho rằng, vạn
pháp đồng một thể tánh chân như
thế nên có câu: "Hội đắc chân
như thể tự động".
Tóm lại, Diệu Hư Không là chỉ
cho Tánh Hư Không của Tạng Như Lai nơi
Tâm Chân Như. Tánh Hư Không này
làm nền tảng sanh ra muôn pháp một
cách mầu nhiệm không thể nghĩ bàn,
nên gọi là Diệu Hư Không. Tâm
Chân Như tự nó thuộc về loại
trường tồn bất diệt thì Diệu Hư
Không lẽ dĩ nhiên bản tánh cũng
thuộc về loại thường hằng bất
biến. Bản thể của muôn pháp (vạn
vật) đã là Tâm Chân Như thì
bản tánh của muôn pháp chính là
Diệu Hư Không. Diệu Hư Không là
những nguyên lý duyên sanh để biến hiện
ra hình tướng của muôn pháp và
hình tướng của muôn pháp thì
có sanh có diệt (hữu thủy hữu chung) theo
nguyên lý duyên sanh, nhưng thể tánh
của muôn pháp thì thuộc về chân
như cho nên không có vấn đề sanh
diệt (vô thủy vô chung). Từ đó
Thiền sư Khuông Việt mới nói lên hai
câu thi:
"Thủy chung vô vật diệu hư không,
Hội đắc chân như thể tự
đồng".
(Không
một vật nào có Thủy và có Chung,
chỉ có Hư Không mới thực sự là
nhiệm mầu. Nếu ngộ được Chân Như
thì vạn vật đều cùng một bản
thể Chân Tâm).
4)- Mục đích
Thiền sư Khuông Việt
Khi Đa Bảo hỏi về sự khởi đầu
và kết thúc của việc học đạo,
Thiền sư Khuông Việt trả lời bằng hai
câu thi: "Thủy chung vô vật diệu hư
không, hội đắc chân như thể tự
đồng".
Thiền sư trả lời hai câu thi này có
mục đích:
a) Thiền môn chủ trương cho vấn
đề tu chứng là trên hết và xem
thường sự học rộng cũng như sự
biết nhiều. Thiền môn quan niệm rằng,
người học rộng biết nhiều mà không
tu thì cũng vô ích. Họ chỉ là
mộtlý thuyết gia, chuyên môn lý
luận suông, không thực tế trên con
đường đạt đạo. Còn kẻ
chuyên môn tu tập làm đầu, mặc
dù họ không học rộng, hiểu sâu,
nhưng khi đạt đạo thì thông bác
tất cả không khác người có
học. Vì lý do đó, các Thiên
môn chú trọng sự tu tập nhiều hơn
sự học hỏi, theo các vị thiền sư
nhận thức, sự học hỏi làm trở
ngại cho sự tu chứng và những điều tu
chứng theo họ thì khác xa mà cũng
không có trong vấn đề học hỏi.
Thời xưa, Đức Phật đã chỉ
dạy trong các kinh điển, các đệ
tử phải thường xuyên tu học theo ba
môn huệ học là "Văn Huệ, Tư
Huệ và Tu Huệ". Văn Huệ là trí
tuệ do học kinh nghe pháp được thành
tựu. Tư Huệ là trí tuệ do suy nghiệm
và giác ngộ lý nhiệm mầu trong
các kinh luận. Tu Huệ là trí tuệ do công
phu tu tập được chứng ngộ và cũng
có chỗ gọi là được chứng
đắc trong sự đạt đạo. Theo
Đức Phật, ba môn huệ học này
là ba yếu tố rất cần thiết không
thể thiếu trên con đường giải
thoát. Người tu hành nếu như thiếu
một trong ba môn huệ học nói trên
thì không thể đạt đạo cũng
giống như một cái ghế có ba chân
đã thiếu đi một chân thì không
thể nào ngồi vững được.
Ngày nay các thiền môn thì canh tân
hơn. Trong ba môn học căn bản của
Đức Phật chỉ dạy vừa trình bày
ở trên, các thiền sư chỉ chuyên
hành trì một phương diện Tu Huệ
để được chứng đắc và khinh
thường hình thức Văn Huệ. Đúng
theo lãnh vực Văn Huệ, các thiền sinh
phải trải qua thời gian tu học kinh luận theo
khóa trình đã vạch sẵn, nghĩa
là thiền sinh phải hoàn tất chương
trình tu học từ Sơ Cấp, Trung Cấp và
cho đến Cao Cấp Phật Học do thiền môn
soạn thảo. Những khóa trình tu học
này đều được quy định thời
gian khởi đầu và thời gian kết thúc
là bao nhiêu năm.
Còn lãnh vực Tu Huệ thì khác
hơn, tùy theo căn cơ lanh lợi hay đần
độn trong việc đạt đạo của
các thiền sinh, nghĩa là thiền sinh nào
có căn cơ thông minh lanh lợi thì
đạt đạo nhanh chóng và thiền sinh
nào có căn cơ đần độn kém
cỏi thì lãnh hội chậm chạp hơn trong
việc hành trì, cho nên Thiền môn
không có quy định thời gian khởi
đầu cho công trình tu tập và cũng
như thời gian kết thúc cho vấn đề
chứng đắc. Nguyên vì chủ trương
Tu Huệ trên hết của Thiền môn, Thiền
sư Khuông Việt liền trả lời câu
hỏi của Đa Bảo là:
"Thủy chung vô vật diệu hư không,
Hội đắc chân như thể tự
đồng".
(Không
một vật nào có thủy và chung, chỉ
có Hư Không mới là nhiệm mầu.
Nếu ngộ được Chân Như thì
vạn vật đều cùng một thể Chân
Tâm).
b) Mục đích thứ hai, Thiền sư Khuông
Việt trả lời bằng hai câu thi trên
nhằm trắc nghiệm tư tưởng và
đánh giá trình độ thông bác
của Đa Bảo trước khi cho nhập môn.
Một vị thiền sư mỗi khi nhận đệ
tử nào phải nắm vững tâm yếu
cầu đạo của vị đệ tử
đó để cho tâm truyền có thể
chính xác hơn. Muốn nắm vững tâm
yếu của đệ tử, thiền sư
trước hết phải đánh giá trình
độ, đo đạc khả năng và tìm
hiểu khuynh hướng nhận thức của thiền
sinh bằng phương pháp trắc nghiệm tư
tưởng. Nhờ thế thiền sư mới thật
sự nắm vững tâm yếu và dễ
dàng phân loại khả năng hành trì
của mỗi thiền sinh. Đứng trong chiều
hướng này, Thiền sư Khuông Việt
liền trả lời câu hỏi của Đa Bảo
qua hai câu thi "Thủy chung vô vật diệu
hư không, hội đắc chân như thể
tự đồng" mà trong đó hàm
chứa cả hai ẩn ý nói trên. Đa
Bảo cũng là một nhà thông bác, sau
khi nghe qua hai câu thi kệ của thầy liền
tỏ ngộ ngay và xin thọ giáo với
Thiền sư Khuông Việt.
c) Hơn nữa, "Thủy chung vô vật diệu
hư không, hội đắc chân như thể
tự đồng" là hai câu Thoại
Đầu mà Thiền sư Khuông Việt trao
truyền cho Đa Bảo làm phương châm tu
tập để quán chiếu. Thiền sinh Đa
Bảo tu tập quán chiếu hai câu thi kệ
nói trên cho đến khi nào ngộ
được nguyên lý và sự dung thông
về tánh tướng của vạn pháp là
chừng đó mới chứng tỏ được
mình đã đạt đạo. Vì muốn
trao truyền câu Thoại Đầu cho Đa Bảo
làm phương châm tu tập thiền quán,
Thiền sư Khuông Việt liền nói lên hai
câu thi kệ:
"Thủy chung vô vật diệu hư không,
Hội đắc chân như thể tự
đồng"
(Không
một vật vào có Thủy và Chung, chỉ
có hư không mới là nhiệm mầu.
Nếu ngộ được Chân Như thì
vạn vật đều cùng một thể Chân
Tâm).
II.- Giá trị thi kệ thị tịch
Thiền sư Khuông Việt khi viên tịch
gọi Đa Bảo đến đọc bài Thị
Tịch để di chúc và nội dung của
bài thi kệ Thị Tịch như dưới
đây:
"Mộc trung nguyên hữu hỏa,
Nguyên hỏa phục hoàn sanh,
Nhược vị mộc vô hỏa,
Toản toại hà do manh"
(Trong cây
vốn có lửa, tia lửa mới sáng lòa.
Nếu bảo cây cây không lửa, cọ
xát sao lại ra?)
Ý nghĩa của bài thi kệ Thị Tịch
được giải thích như sau:
Thi kệ Thị Tịch là thi kệ có
tính cách di chúc hơn là tâm
truyền. So với thi kệ Thủy Chung, thi kệ
Thị Tịch không ngoài mục đích
làm phương châm trong lãnh vực truyền
thừa của Thiền Tông hơn là khai thị
mà Thiền sư Khuông Việt muốn Đa
Bảo trong việc kế thừa đi đúng
đường hướng Tâm Truyền của Thiền
Tông. Yếu chỉ của thi kệ Thị Tịch
mượn lửa là một trong những sự
vật để ám chỉ Tâm Linh mà
Thiền sư Khuông Việt di chúc cho Đa
Bảo. Ở đây thiền sư không phải
đề cao vật chất trên phương diện
tâm truyền.
Theo Thiền sư Khuông Việt, trạng thái
của Tâm Linh cũng giống như trạng thái
của lửa và sự hiện hữu của Tâm
Linh trong thân thể con người cũng giống
như sự hiện hữu của lửa trong thân
cây. Chúng ta không thể nhìn thấy
hình tướng của Tâm Linh như thế
nào và chỉ biết khi nó tác dụng
sanh ra tư tưởng cũng giống như chúng ta
không thể nhìn thấy hình tướng
của lửa như thế nào và chỉ
biết khi nó tác dụng sự cọ xát
thành tia sáng. Tâm Linh giả sử không
thật có trong thân thể con người thì
làm sao có tư tưởng cũng giống
như lửa giả sử không thật có trong thân
cây thì làm sao có tia sáng.
Hơn nữa, trong con người, Tâm Linh vốn
có nguyên thể riêng và nó không
phải do vật chất sanh ra, cũng như lửa
vốn có nguyên thể riêng (Mộc trung
nguyên hữu hỏa) và nó không phải do
thân cây sanh ra. Tâm Linh mặc dù không
có não bộ thì không thể phát sanh
ra tư tưởng được cũng giống như
lửa mặc dù không có thân cây
thì không thể phát sanh ra tia sáng
được.
Người ta thật sự lầm lẫn nếu như
cho rằng Tâm Linh phát sanh từ nơi vật
chất cũng như có kẻ cho rằng sánh
sáng điện phát sanh từ nơi bóng
đèn. Đúng hơn, dòng điện
nương nơi bóng đèn để phát
ra ánh sáng cũng như Tâm Linh nương
nơi não bộ để phát ra tư
tưởng.
Thật sự, Thìền sư Khuông Việt
đã khai thị cho Đa Bảo từ lâu
và Đa Bảo cũng đã đắc pháp
tự bao giờ bằng lối tâm truyền của
thầy. Vạn pháp về phương diện
lý tánh theo thiền sư thì đồng
một bản thể chân như sanh ra với hình
thức duyên khởi. Nhưng về phương
diện sự tướng, Tâm Linh và vật
chất của vạn pháp trên lãnh vực
tác dụng thì có khác nhau, một
bên là chủ và một bên là khách,
nghĩa là Tâm Linh luôn luôn làm chủ
sự vật, dẫn đầu cả mọi việc (5),
có khả năng quyết định sự thành
bại của muôn loài chúng sanh. Còn
vật chất thì vô tri giác và luôn
luôn ở tư thế bị động trong sự
sanh tồn của các pháp. Thiền sư muốn
cho Đa Bảo lãnh hội một lần chót
giữa lý và sự của vạn pháp ở
mọi khía cạnh thể và dụng, cũng
như phân loại rõ ràng giữa tâm
và vật ở tư thế chủ và khách
trong việc truyền thừa. Thế nên trước
khi viên tịch, Thiền sư Khuông Việt di
chúc cuối cùng về vấn đề này
cho Đa Bảo với thi kệ Thị Tịch:
"Mộc trung nguyên hữu hỏa,
Nguyên hỏa phục hoàn sanh,
Nhược vị mộc vô hỏa,
Toản toại hà do manh"
Đa Bảo
hiểu được thâm ý của thầy
liền sụp xuống lạy và cũng từ
đó Thiền sư Khuông Việt an tâm ra
đi một cách tự tại trong tư thế
chắp tay viên tịch.
Tóm lại, qua một vài thi kệ vừa
trình bày, chúng ta nhận thấy Thiền
sư Khuông Việt là một con người
thật sự đắc đạo của hệ
phái Vô Ngôn Thông, một Tăng Thống
cao minh đáng quy ngưỡng của Phật
Giáo Việt Nam và cũng là một Quốc
Sư lỗi lạc của triều đại nhà
Đinh mà cho đến ngày nay thiền sư
vẫn còn dư âm trong lịch sử Việt Nam.
Những tư tưởng ẩn chứa trong các Thi
Kệ cũng đủ chứng minh cụ thể sự chứng
đắc của Ngài. Đối với giáo
lý cao thâm trong Phật Giáo, Ngài rất
thông bác giữa sự và lý trong mọi
lãnh vực thể và dụng với hình
thức duyên khởi của muôn pháp. Mặc
dù những điều thông bác này
được gói gọn bóng bảy trong
các thi kệ đơn giản, chúng ta đem
quán chiếu cũng có thể nhận thấy
được tư tưởng sâu xa của
Ngài. Chúng ta vui mừng vô cùng đã
có được một Thiền sư Khuông
Việt là người đầu tiên khơi
nguồn sanh mệnh của đạo pháp với danh
nghĩa Tăng Thống và cũng là người
đầu tiên khai thông sanh lộ cho dân tộc
với danh nghĩa Quốc Sư Khuông Việt. Nhờ
thiền sư, sanh mệnh đạo pháp và
dân tộc hòa hợp nhịp nhàng, dung
thông chuyển hóa, nảy nở phát triển
trên khắp mọi nẻo đường đất
nước, trải dài từ thế kỷ thứ
chín cho đến ngày nay. Thật là
lành thay cho Phật Giáo Việt
Thích Thắng Hoan
GHI CHÚ:
(1) Thiền Uyển Tập Anh, Phân Viện Nghiên
Cứu Phật Học, nhà xuất bản Văn
Học Hà Nội 1990, trang
42.
(2) Văn Học Lý Trần, tập I, trang 208 của
nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà
Nội.
(3) Việt Nam
Phật Giáo Sử Lược, trang 109, của
Thích Mật Thể.
(4) Năm
Ấm, sáu Nhập, 18 Giới:
a.- Năm Ấm:
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.
b.- Sáu
Nhập: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và
Ý.
c.- 18 Giới: 6
căn, 6 trần và 6 thức.
(5) Kinh Pháp
Cú, phẩm Song Yếu.
Lần cập nhật cuối ( ngày
14, tháng 01, năm 2006 )