PB Nghiên
Cứu Phật Học - 04
Từ Nghiệp Cảm Duyên Khởi Đến
Pháp Giới Duyên Khởi
Thích Đức Thắng
Sự
hiện hữu hay hủy diệt của một thực
tại giả hợp, chúng luôn luôn tùy
thuộc vào nhân và duyên có
được, từ nơi định luật vô
thường khởi-diệt của nhân sinh và vũ
trụ, đã nói lên tính dung thông
vô ngại của nguyên lý Duyên khởi
tính không các pháp đối với
cuộc sống. Nguyên lý duyên khởi
tính không này chỉ có Phật giáo
mới có được qua sự chứng
đắc của chính tự thân đức
Đạo sư sau khi Ngài thành tựu Chánh
đẳng Chánh giác dưới bóng cây
Bồ-đề, và cũng từ đó
nguyên lý này trở thành những lời
dạy đặc trưng của Phật giáo vào
lúc bấy giờ cũng như sau này. Vì
trước đó và trong hiện tại sự
sinh khởi và biến dịch của nhân sinh và
vũ trụ được hiểu và định
nghĩa bởi một đấng tạo hóa, một
Brahma hay một vị Thượng đế nào
đó thuộc chủ nghĩa nhất thần
làm chủ vấn đề này, hay trong các hệ
thống triết học khác đang chủ
trương; trong khi nguyên lý Duyên khởi
được đức Đạo sư tuyên
xướng lên lại đi nghịch lại quan
niệm của họ vào lúc bấy giờ.
Theo
đạo Phật, nhân sinh và vũ trụ
được hình thành và biến dịch
luôn luôn tùy thuộc vào nhau cùng trong
một môi trường cộng tác hỗ
tương của vạn hữu như trong Thanh tịnh
đạo luận đức Đạo sư dạy:
“Không thể tìm ra một Tạo hóa,
một Brahma, hay một vị nào khác, làm
chủ vòng luân chuyển của đời
sống. Chỉ có những hiện tượng
diễn tiến tùy duyên!” Do đó, Phật
giáo không bao giờ chủ trương rằng
vạn hữu đến từ một nguyên nhân
độc nhất theo quan niệm của nhất thần,
mà cho rằng mọi sự vật được
tạo thành hiện hữu và biến dịch
phải có tối thiểu ít nhất là hai
nguyên nhân, mà mắt thịt chúng ta
có thể thấy được trong tiến
trình hiện tượng sinh-diệt hóa của
chúng, qua “Thành, trụ, hoại,
không” một cách liên tục, từ
nhân duyên đủ trước nối tiếp
nhân duyên đủ sau thành một chuỗi
mắt xích nối kết trong ba thời. Chuỗi
mắt xích này theo hiện tượng duyên
sinh dịch biến được chia thành mười
hai chi, tạm gọi là mười hai chi Duyên sinh
hay còn gọi là Duyên khởi
(pratītyasamutpādāḥ).
Pratītyasa
có nghĩa là bởi, bởi vì, tùy thuộc
vào nơi. Samutpādāḥ nghĩa là khởi đầu
hay, phát sinh. Theo nguyên ngữ của
Pratītyasasamutpādāḥ thì có nghĩa là
sự phát sinh bởi vì…; sự phát sinh
tùy thuộc vào… Vì những điều
kiện cần và đủ để hình
thành, để phát sinh, để hiện
hữu có được đều còn tùy thuộc
vào những cái khác, chúng liên
lập với nhau mà hình thành, nên
chúng được gọi là Duyên khởi
hay còn gọi là chuỗi Duyên sinh. Sự
hiện hữu và hủy diệt của chúng theo
công thức: “Cái này có, cái kia
có; cái này sinh, cái kia sinh. Cái
này không, cái kia không; cái này
diệt, cái kia diệt.” Nói cách
khác, cái nầy như vầy, thì cái kia
có; cái nầy không phải như vầy
thì cái kia không có (imasmim sati, idam hoti;
imasmim asati, idam natthi hoti).
Trong
duyên khởi luận Phật giáo, và trong
phán lập ngũ giáo của Hoa nghiêm
tông thì Duyên khởi được chia ra
làm bốn, chỉ trừ Đốn giáo ra,
và được phân biệt sắp xếp theo
trình độ căn cơ từ thấp lên cao,
đó là Nghiệp-cảm duyên khởi
thuộc Tiểu thừa giáo; A-lại-da duyên
khởi thuộc Đại thừa Thỉ giáo;
Chân như hay Như lai tạng duyên khởi
thuộc Đại thừa Chung giáo, và Pháp
giới duyên khởi thuộc Viên giáo. Sự
sai khác đó là vì căn cơ
nghiệp lực của chúng sanh không đồng,
nên đức Đạo sư đã phải
phương tiện theo đó mà dắt dẫn
tùy theo trình độ hấp thu cảm thụ
của họ mà nhằm đáp ứng nhu cầu
nhận thức, khế cơ khế lý từ
thấp đến cao, khiến cho mọi đối
tượng chúng sanh đều nhận chân ra
được bộ mặt thật của nhân sinh
và vũ trụ từ hiện tượng đến
bản chất. Nghiệp cảm Duyên khởi
được đức Đạo sư mô tả
như là một vòng tròn bánh xe sinh
hóa từ nhân qua quả, lúc nào cũng
lệ thuộc thời gian và không gian trong ba
cõi sáu đường; A-lại-da Duyên
khởi được đức Đạo sư
giải thích là căn nguyên của Nghiệp,
từ đây nghiệp lực tạo ra sự tái
sinh tùy thuộc vào sức mạnh của
việc tạo nhân mà thọ quả; Chân như
hay Như lai tạng Duyên khởi được
đức Đạo sư giải thích là
căn nguyên của tàng thức tức là
lý tính của Chân như; nhưng một
hữu tình chúng sanh được qui
định bởi bản tính người của
nó, và bản tính
này chính là hình thái động
của Chân như hay Như lai tạng; Pháp
giới duyên khởi được đức
Đạo sư giải thích là bản tính
của hiện khởi là toàn vũ trụ,
tức là toàn thể tính của tất
cả mọi sự hiện hữu, nó là một
biểu lộ động của Chân Như.
1/ Nghiệp cảm Duyên
khởi
Đối
với hàng Tiểu-thừa thì đức
Đạo sư dạy về: “hoặc”
“nghiệp” và “khổ” là
biểu tượng nhân quả tương tục
luân hồi triển chuyển trong ba đường.
Bởi vì “Hoặc” là bệnh của
tâm, “Nghiệp” là ác của thân,
“Khổ” là quả báo của sinh tử;
vì bệnh của tâm làm duyên tạo ra
cái ác của thân, và do ác của
thân làm nhân mà cảm quả sinh tử.
Như vậy chính hoặc, nghiệp và khổ ba
cái này triển chuyển hỗ tương nhau
mà hình thành nhân quả, cho nên
gọi là nghiệp cảm Duyên khởi.
Đức Đạo sư căn cứ vào nghiệp
cảm Duyên khởi này mà Ngài tuyên
thuyết về cách quán Mười hai nhân
duyên qua nhân quả ba đời theo nghiệp
cảm Duyên khởi theo một vòng tròn
liên tục sinh hóa hay cũng có thể
gọi là bánh xe luân hồi. Theo thói quen
thông thường chúng ta coi thời gian như
một đường thẳng, từ quá khứ
vô cùng qua hiện tại và đến vị
lai vô tận. Nhưng đối với Phật
giáo quan niệm về thời gian như vậy
là sai lầm không chính xác, mà
nó phải được coi thời gian như
một vòng tròn mắt xích, không có
khởi đầu cũng không có chấm dứt.
Trong vòng tròn mắt xích sinh hóa này,
một sinh mệnh chết đi chưa phải là
chấm dứt, mà chỉ biến dịch qua hình
thức khác để tiếp tục một
đời sống khác, và bắt đầu
trải qua một quá trình sinh và tử
khác tương tợ như nó đã
vừa kết thúc trước đó, và
cứ như vậy lập đi lập lại thành
một vòng tròn sinh hóa bất tận. Ở
đây, nếu chúng ta liên hệ với
thời gian thì sinh mệnh kia được hiện
khởi và biến dịch trong “thành,
trụ, hoại, không” hình thành một
dòng tương tục nối tiếp nhau không
gián đoạn không biết đâu là
đầu, đâu là cuối, qua mười hai
chi nhân duyên tương tục trong cuộc
sống.
Tuy vòng
tròn bánh xe sinh hóa này không biết
đâu là chỗ bắt đầu của
điểm khởi, nhưng đức Đạo sư
bằng vào tuệ nhãn thực chứng của
mình đã đạt được Ngài
lấy vô minh (avidyā) làm điểm khởi
đầu của vòng tròn sinh hóa để
giải thích nhân quả ba đời như kinh
Niết-bàn hay Nhân quả báo ứng…,
đó là một trạng thái si mê,
mù quáng, vô thức.
Vô minh
ở đây cũng chỉ là một tiếp
diễn qua sự chết để rồi tiếp tục
kết tinh nuôi lớn chúng hơn qua Hành (Saṃskāra),
nó chính là hành động si mê
mù quáng sai lầm được tạo ra
suốt cuộc sống trong hiện tại. Chính
những hành động này, nó là
động lực, là ý chí sinh tồn
mù quáng hay là khát vọng mù
quáng muốn sống khiến cho một hữu
tình chúng sinh trôi lăn trong sinh tử
luân hồi, qua những tác nhân mù
quáng si mê sai lầm để cho ra những
kết quả trở thành nghiệp lực. Vô
minh và Hành ở đây được
đức Đạo sư coi như là hai nhân
duyên trong quá khứ được nhìn
từ góc cạnh chủ quan hiện tại.
Trong quá trình thực
hiện ý chí sinh tồn hay ý chí
muốn sống này, nghiệp lực thúc
đẩy nghiệp thức tùy theo sức mạnh
của chính nó đi đầu thai, bắt
đầu cho một nối tiếp mới trong hiện
tại. Đây là giai đoạn đầu
tiên của một hiện hữu cá biệt qua
Thức (vijn`āna=pratisandhi: kết sinh thức) nhập
thai mẹ. Lúc này thai nhi chưa có ý
thức mà chỉ có tiềm thức hay là
kết sinh thức mà thôi còn thuộc
vào trong ý chí mù quáng muốn
sống.
Sau khi
kết sinh thức kết hợp với tinh cha huyết
mẹ hình thành một thai nhi hữu hình
là bước qua giai đoạn thứ hai trong
hiện tại, đây chính là giai
đoạn bắt đầu của danh-sắc
(nāma-rūpa). Danh-sắc là giai đoạn bắt
đầu trong sinh trưởng sơ nguyên sau khi
tâm (thức) và sắc (thân) kết hợp
thành một thai nhi rõ ràng.
Sau khi thai
nhi hình thành, lúc bấy giờ có
sáu quang năng xuất hiện hình thành
một cá thể thật sự thì, sáu quang
năng này được gọi là lục nhập
hay lục xứ (ṣaḍ-āyatana) là: Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ý.
Tiếp theo
là giai đoạn thứ tư, giai đoạn
này trong vòng hai năm đầu của một
trẻ mới lọt lòng mẹ, sáu quang năng
chúng bắt đầu hoạt động. Ở giai
đoạn này nổi bật nhất là xúc
(sparśa), trẻ sơ sinh bắt đầu tiếp
xúc với thế giới bên ngoài.
Theo
đó là giai đoạn thứ năm, thời
gian của một hữu tình chúng sanh từ ba
tuổi cho đến lúc đủ năm tuổi.
Trong thời gian này, đứa trẻ bắt
đầu biểu lộ ý thức tình cảm,
và hiểu biết phân biệt được
các hiện tượng của thế giới quanh
nó một cách có ý thức, và
đã có tác ý thì lúc này
được gọi là thọ (vedanā), tức
là chỉ cho những cảm thọ của nó
đối với những sự vật bên ngoài
chung quanh khi nó tiếp xúc. Lúc này
là lúc đứa trẻ đã hình
thành được tính cá biệt của
một cá thể qua cuộc sống một cách
rõ nét. Qua năm giai đoạn: Thức,
danh-sắc, lục nhập, xúc và thọ
được đức Đạo sư coi như
là năm quả của quá khứ
được nhìn từ góc độ chủ
quan xuất hiện trong hiện tại. Trong năm chi
này, cá thể của một chúng sanh hữu
tình được hình thành, nhưng
chính cá thể đang hiện hữu này
chưa hoàn toàn chịu trách nhiệm về
sự hình thành của mình trong hiện tại
này, vì nó được hình thành
bởi những tác nhân mà nó đã
tạo ra trong quá khứ. Đây chỉ là
những hậu quả tất yếu mà cá
thể hiện tại phải chịu thôi.
Từ đây về sau, ái (tṛṣṇā)
thủ (upādāna) hữu (bhava) được
hình thành tùy theo thọ, mà tạo ra
những nguyên nhân chính cá thể đang
hiện hữu phải chịu trách nhiệm trong
những tác nhân của mình tạo ra, và
bắt buộc phải nhận lãnh trách nhiệm
của những hậu quả đó sau này.
Những tác nhân này do các ái cá
nhân hữu tình, cảm nhận được
phát sinh từ những buồn đau, khoái
lạc, và không buồn không vui (dửng
dưng) một cách có ý thức khi tiếp
xúc với ngoại cảnh bên ngoài có
sự lựa chọn lấy bỏ. Những gì
thuận với cảm tính cá thể mình
thì yêu thương, luyến ái, khao khát,
bám níu; còn những gì không thỏa
mãn cảm tính, nghịch với cảm tính
thì ghét bỏ, xua đuổi mau quên. Nỗ
lực yêu thương hay ghét bỏ ở
đây đều thể hiện tính ái của
cá nhân mỗi người, và cũng
chính từ đây mà nó tạo ra mọi
sự chấp thủ, cố giữ gìn duy trì
những đối tượng được khát
ái đã lựa chọn hay từ chối,
để từ đó hình thành cho một
sinh thể hiện hữu. Chi hữu ở đây,
là nhân sơ khởi trong hiện tại của
việc tái sinh sau này của một sinh thể
khác trong dòng tương tục của nhân
quả luân hồi trong tương lai.
Ái,
thủ, hữu là biểu tượng cho ba giai
đoạn của cá thể trong lúc tuổi
đã trưởng thành; chúng kết hợp
với nhau mà tạo thành nghiệp nhân trong
hiện tại cho cảm quả trong tương lai.
Một sinh thể đã và đang hưởng
thọ hiện quả của nhân quá khứ
tức là cùng lúc nó đang tạo
những tác nhân cho tương lai, cũng như
trái đào đang chín trên cây
thì cũng là lúc chủng tử hạt trong
trái của nó được hình thành.
Khi nào trái chín rụng xuống đất
thì hạt chúng đang sẵn sàng nẩy mầm
sinh một cây mới trong tương lai.
Qua tác
nhân (hành) của quá khứ cho quả
hiện tại, và tác nhân (hữu) hiện
tại cho quả vị lai. Chúng có sự
khác biệt tế nhị giữa Hành (Saṃskāra)
và Hữu (bhava) nhìn vào gốc cạnh
thời gian thì, Hành là hành động
trong quá khứ còn Hữu là hành
động trong hiện tại; nhưng về mặt
tác nhân thì cả hai đều là
hành động tạo nghiệp. Ở đây
hữu tạo điều kiện cho sự tái sanh
sắp đến qua nghiệp nhân hiện tại.
Vì
vậy, sự “sinh” (jati) trong tương lai
luôn tùy thuộc vào nơi “hữu”
trong hiện tại. Một cách chính xác,
“sinh” trong tương lai luôn tùy thuộc
vào tác nhân hữu trong hiện tại mà
nhận quả, chính là sự khởi phát
của những hiện tượng tâm-vật-lý
(khandanam patubhavo) trong tương lai, và “lão
tử” (Jaramarana) là hậu quả hiển
nhiên của Sinh. Hai giai đọan này nếu
đứng vào hiện tại mà nhìn
thì Sinh và Lão tử là những kết
quả, nhưng nếu nhìn vào toàn bộ
của bánh xe sinh hóa liên tục thì
thời vị lai cũng có những giai đoạn
như thời hiện tại và quá khứ,
chúng là một đời sống trọn vẹn
toàn diện.
Trong
mười hai chi nhân duyên thì vô minh,
ái, thủ được gọi là Hoặc; trong
khi Hành và Hữu thuộc nghiệp nhân;
các chi còn lại là 5 quả hiện tại
và 2 quả vị lai thuộc về khổ quả.
Như vậy hoặc là bệnh của tâm,
nghiệp là biểu thị tác động
vật lý của nó và khổ chính
là kết quả của nó. Thí dụ như
người tâm nổi lên lòng tham rồi
tùy theo đó mà thân hành động
trong việc đánh cắp, và sau đó
là báo ứng của đau khổ đi theo.
Và cũng từ trong đau khổ này cá thể
lại tạo ra những mê hoặc khác, rồi
tạo tác hành động, và nhận
khổ quả, cứ như vậy lập đi lập
lại mãi mãi trở thành một chuỗi
nhân duyên do nghiệp cảm quả này.
Để hiểu rõ những tác nhân của
nghiệp cảm này, ai và cái gì chịu
trách nhiệm cho chuỗi nhân duyên diễn
tiến liên tục do nghiệp cảm này tạo
ra? Qua nghiệp cảm duyên khởi chúng ta
được biết khi cá thể được
hình thành qua nhân quả báo ứng
để rồi tạo nghiệp nhân cảm quả
báo sau đó; nhưng đó chỉ
đứng trên mặt tổng quát hiện
tại để nhìn những hiện tượng trong
một chuỗi duyên khởi xảy ra mà nói,
còn chưa được rõ ràng lắm.
Để giải thích vấn đề này minh
bạch rõ ràng hơn và sâu hơn,
chúng ta cần liên hệ với thuyết
A-lại-da để tìm hiểu nơi nương
tựa và động cơ nào thúc
đẩy chúng ta tạo ra nghiệp nhân
để cảm quả báo này?
2/ A-lai-da Duyên khởi:
Theo
đức Đạo sư thì A-lại-da (Ālaya)
là chỗ duyên của nghiệp cảm duyên
khởi mà sinh ra. Ở đây nghiệp
được phân ra làm ba loại: ý nghiệp,
thân nghiệp và khẩu nghiệp. Vì tâm
ý làm chủ cho mọi hành động
tạo tác của một cá thể sinh mệnh,
cho dù ý nghĩ hành động chưa
được thể hiện ra ngoài thân hay qua
lời nói, nhưng tâm là cứ điểm
của căn để cho mọi ý suy nghĩ dù
đã phát ra ngoài hành động
bên ngoài qua thân và khẩu hay chưa
thì những ý nghĩ (tâm hành) này
cũng là nghiệp của ý. Nên luật tắt
duyên khởi được đức Đạo
sư đặt vào trong kho tàng tâm ý.
Đó chính là Tàng thức hay A-lại-da
thức (ālaya-vjĩnāna).
Theo
đức Phật và các nhà Duy thức
thì A-lại-da thức là thức cuối
cùng trong tám thức của một hữu
tình chúng sanh. Nó chính là kho chứa
tất cả mọi ý thức, nơi chứa
nhóm các hạt giống (chủng tử) của
tất cả mọi thứ hiện khởi, và
các hạt giống được bộc lộ trong
các thứ hiện khởi đó huân tập
trở lại trong tàng thức (chủng tử sinh
hiện hành, hiện hành huân chủng
tử). Còn thức thứ bảy là nơi
thể hiện ngã tính của mỗi cá
thể, là trung tâm hiện khởi ra mọi
thứ ý tưởng vị ngã, ích kỷ,
kiêu mạn, tự ái, mê hoặc ảo
tưởng của mỗi cá nhân chúng sinh
hữu tình.
Ở
đây, A-lại-da thức hay Tàng thức
chính là một trung tâm chứa nhóm
lưu trữ tâm thức, vừa là kho chứa
hạt giống của mọi hiện hữu. Mỗi
hạt giống được lưu trữ trong kho
này, một khi nó hiện khởi tiếp xúc
với thế giới khách quan bên ngoài
thì, chúng sẽ phản ảnh trở lại
tàng thức thành một thứ hạt giống
mới. Những hạt giống ở trong Tàng
thức này khi chúng tiềm ẩn ở trong
đó thì chúng được gọi là
chủng tử. Nhưng khi chúng hiện khởi
hoạt động tiếp xúc với các
duyên bên ngoài thì gọi là hiện
hành. Những chủng tử cố hữu lâu xa,
những chủng tử hiện hành, và những
chủng tử mới được huân vào, ba
pháp này chúng hỗ tương và
phụ thuộc vào nhau mà tạo thành
một vòng tròn mắt xích sinh hóa
tái diễn mãi mãi trong sinh tử luân
hồi theo luật nhân quả, nhưng không
có điểm bắt đầu và chung cuộc
thì hiện tượng gọi là Liên hoa
tạng. Trong vũ trụ lý tưởng này,
muôn vật sẽ hiện hữu và tồn
tại trong hòa điệu toàn diện dung
thông không ngại, mặc dù trên mặt
hiện tượng là thiên sai nghìn biệt.
Ở đây quan niệm viên dung vô ngại
và đồng khởi của vạn hữu
được gọi là Pháp giới duyên
khởi.
Pháp giới duyên
khởi là cực điểm của tất cả
những lý thuyết về nhân quả, vì
nó là lý tắc nhân quả phổ
biến và phổ quát thuộc về lý
bản hữu, vô tận, thông huyền của
vũ trụ. Theo thuyết này thì có bốn
loại pháp giới:
a/ Sự pháp giới,
là thế giới của đời sống hiện
thực thuộc về những hiện tượng
của thế gian.
b/ Lý pháp giới,
là thế giới lý tưởng, của quy
luật hay nguyên lý mang tính phổ quát.
c/ Lý sự vô ngại
pháp giới, là thế giới của sự
thể hiện lý trong sự, sự và lý
hòa điệu dung thông không mâu thuẫn
nhau.
d/ Sự sự vô ngại
pháp giới, là thế giới tương giao
hỗ tương, hòa điệu vào nhau giữa
những dị biệt đa thù của mọi sự
hiện thực giữa thế gian.
Trong bốn
hạng này chỉ có hạng thứ tư hơi
khó hiểu đối với những đầu
óc hẹp hòi cá nhân ích kỷ,
thường người ta nghĩ rằng một cá
nhân lúc nào cũng đối lập lại
với những cái khác bên cạnh mình
hay xa hơn nữa là trong xã hội, từ
đó sinh ra các giai cấp xã hội
đối nghịch lẫn nhau, nên tính cạnh
tranh càng ngày càng trở nên khốc
liệt. Nhưng ngược lại đối với
pháp giới duyên khởi đã chứng
tỏ rằng vạn hữu trong thực tế có sự
dung thông điều hòa tương tức
tương ưng với nhau, theo Thập huyền môn
sau đây:
1/ Đồng thời cụ túc tương ưng
môn: Là tất cả mọi hiện tượng
đều cùng lúc tương ưng nhau,
cùng lúc đầy đủ tròn đầy,
y cứ vào lý nhân duyên mà
được thành lập, một và nhiều
hỗ tương nhau cùng một thể không
có bất kỳ sự sai biệt nào
trước và sau.
2/ Quảng hiệp tự
tại vô ngại môn: Mọi đối lập
giữa những không gian rộng hẹp giống
như là mâu thuẫn nhau, nhưng sự mâu
thuẫn đối lập của chúng chính
là để làm môi giới cho sự
tương tức tương nhập nhau, nên
chúng tự tại viên dung vô ngại.
3/ Nhất đa tương
dung bất đồng môn: Mọi hiện tượng
có sự tương quan tác dụng lẫn nhau,
có sự tương nhập nhiều trong một,
và một trong nhiều. Tức một đủ
nhiều (nhất câu đa), nhiều cùng dung
một, một nhiều tương nhập vô
ngại, nhưng thể của chúng lại không
đồng, không mất tướng của một
và nhiều.
4/
5/ Ẩn mật hiển liễu câu thành môn:
Mọi hiện tượng của duyên khởi
có quan hệ với nhau, vì “một”
là hữu mà lúc hiển hiện tướng,
“nhiều” tức là không mà không
hiển hiện tướng. Tức là tướng
ẩn và hiện hỗ tương làm một
thể dùng lúc thành lập, tất cả
các pháp cùng một pháp có thể hỗ
tương nhau là một thể.
6/ Vi tế tương dung an lập môn: Đem hiện
tượng duyên khởi khi nói về lý
tương nhập, đối với trong một hiện
tượng, đem nhỏ vào lớn, đem một
nhiếp nhiều, tướng to nhỏ hỗ tương
nhau không loạn, không phá hoại tướng
một và nhiều mà theo trật tự hoàn
chỉnh.
7/ Nhân-đà-la
cương pháp giới môn: Sum la vạn
tương mỗi mỗi hỗ tương hiển
phát trùng trùng vô tận, như võng
Nhân-đà-la (võng châu báu trong cung
điện trời Đế Thích.)
8/ Thác sự hiển
pháp sinh giải môn: Lý vi diệu có
thể mượn thêm các pháp sự gần
và thấp để hiển thị rõ ràng,
những sự việc chúng ta mượn để
hiển bày lý chúng không riêng cũng
không phải hai.
9/ Thập thế cách
pháp dị thành môn: Ba đời quá
khứ, hiện tại, vị lai thì trong mỗi
một đời như vậy chúng có quá
khứ, hiện tại, vị lai của ba đời,
họp lại thành chín đời. Chín
đời này cũng chỉ có thể nhiếp
vào một niệm, họp chín đời cùng
một niệm là mười đời. Mà
mười đời này tuy có sự gián
cách của thời gian, nhưng chúng (kia,
đây) tương tức tương nhập nhau,
trước sau, dài ngắn, cùng lúc hiển
hiện đầy đủ, thời cùng với
pháp không lìa nhau.
10/ Chủ bạn viên minh
cụ đức môn: Các hiện tượng
duyên khởi, đưa ra một thời liền
trở thành chủ, còn tất cả những
hiện tượng khác tức trở thành
bạn (khách), đó gọi là hỗ
trương chủ bạn, tất cả công
đức đầy đủ.
Vậy Pháp giới
duyên khởi tức là chỉ cho mặt
động của Chân như hay Như lai tạng,
nó thuộc về phần sự sự vô ngại
pháp giới. Ở đây không luận là
hữu vi hay vô vi, sắc, tâm, y báo hay
chánh báo, quá khứ, vị lai v.v…
tất cả đều bị chi phối và tùy
thuộc vào đại duyên khởi này,
không có bất cứ một pháp nào
đứng riêng rẽ một mình mà hiện
hữu được, mà chúng phải
nương vào nhau để tồn tại và
biến dịch, nên chỉ cần lấy một
pháp là thành tất cả pháp, dùng
tất cả pháp là khởi lên một
pháp. Đứng về mặt hiện tượng
vận hành của các pháp mà nói
thì chỉ cần chúng ta biết rõ một
pháp là chúng ta biết tất cả
pháp, vì chúng ở trong nhau sinh thành
và biến dịch. Đứng về mặt thể
tánh mà nói thì, một và nhiều
có nghĩa là tương tức nhau. Hoa Nghiêm
tông lấy cái diệu nghĩa tương
nhập tương tức này mà xiển
dương giải thích cực lý của
pháp giới vạn hữu tương dung vô
ngại.
Tóm
lại Nghiệp cảm Duyên khởi được
đức Đạo sư mô tả như là
một vòng tròn bánh xe sinh hóa từ
nhân qua quả, lúc nào cũng lệ thuộc
thời gian và không gian trong ba cõi sáu
đường; A-lại-da Duyên khởi
được đức Đạo sư giải
thích là căn nguyên của Nghiệp, từ
đây nghiệp lực tạo ra sự tái sinh
tùy thuộc vào sức mạnh của việc
tạo nhân mà thọ quả; Chân như hay
Như lai tạng Duyên khởi được
đức Đạo sư giải thích là
căn nguyên của tàng thức tức là
lý tịnh của Chân như; nhưng một
hữu tình chúng sanh được qui
định bởi bản tính người của
nó, và bản tính này chính là
hình thái động của Chân như hay
Như lai tạng; Pháp giới duyên khởi được
đức Đạo sư giải thích là
bản tính của hiện khởi là toàn
vũ trụ, tức là toàn thể tính
của tất cả mọi sự hiện hữu, nó
là một biểu lộ động của Chân
như hay Như lai tạng. Lý tắc Duyên
khởi như chúng ta đã thấy ở
trên, được giải thích trước
tiên bằng Nghiệp cảm duyên khởi, nhưng
vì nghiệp phát khởi từ tạng thức,
nên chúng ta có A-lại-da duyên khởi.
Vì A-lại-da hay Tàng thức này là kho
tàng chứa nhóm các thứ chủng tử, nó
được sinh ra từ Như lai tạng, nên
chúng ta có Như lai tạng hay, Chân như
duyên khởi. Và Chân như này
đứng về mặt lý mà nói thì
Chân như ở trạng thái tịnh, nhưng
đứng về mặt sự mà nói thì
chân như thuộc dạng động. Vì
những công năng tịnh và động
này, nên Chân như luôn bảo trì
vạn hữu và từ đó hình thành
Pháp giới duyên khởi, và cứ như vậy
Duyên khởi luôn luôn hiện hữu từ
Nghiệp cảm duyên khởi đến pháp
giới duyên khởi làm thành một luật
tắc chung cho nhân sinh và vũ trụ.