TS Pháp
Luân 12
Số 12 tháng 2 â.l
Tu
hạnh QUÁN ÂM
Chánh
Niệm
Quán
Thế Âm tiếng Phạn là
“Avalokitesvara”, dịch sang tiếng Hán là
Quán Thế Âm hay Quán Tự Tại,… Danh
hiệu Quán Thế Âm, nghĩa là Quán
sát tiếng kêu than của chúng sanh trong
thế gian để độ cho họ thoát khổ.
Theo kinh Bi Hoa, ở vào đời quá khứ
có đức Phật ra đời hiệu là
Bảo Tạng Như Lai. Thời đó có vua
Chuyển Luân Thánh Vương hiệu là
Vô Tránh Niệm. Trong triều có một
vị đại thần tên là Bảo Hải,
vị đại thần này hết sức lo cho
dân cho nước, sống rất nhân từ,
là phụ thân của đức Bảo Tạng
khi chưa xuất gia. Vua Vô Tránh Niệm
đối trước đức Bảo Tạng phát
bốn mươi tám lời thệ nguyện và
được Phật thọ ký tương lai
sẽ làm Phật A-di-đà ở cõi thế
giới cực lạc phương Tây. Vua Chuyển
Luân có rất nhiều người con.
Người con cả là thái tử Bất
Tuấn, sau này cũng xin xuất gia theo cha và
đối trước đức Bảo Tạng Như
Lai phát ra bản nguyện đại bi thương
xót, cứu độ tất cả các loài
chúng sanh bị khổ não. Vì vậy,
đức Bảo Tạng thụ ký cho thái
tử thành Bồ-tát hiệu là Quán
Thế Âm. Bồ-tát Quán Thế Âm
là hiện thân của từ bi, Ngài phát
đại nguyện thực hiện từ bi cùng
tận trong đời vị lai vì chỉ có
từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng
như chỉ có trí tuệ mới diệt
được ngu si.
Từ bi
nguyên nghĩa là “Từ năng dữ lạc,
Bi năng bạt khổ”. Từ nghĩa là đem
niềm vui đến cho kẻ khác. Bi là
hành động cứu khổ, nhổ tận
nguồn gốc đau khổ. Nói cách khác:
Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ
niềm an lạc vui sướng gọi là Từ.
Đồng cảm nỗi khổ và thương
xót chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho
họ gọi là Bi.
Thuở
xưa, ngài Quán Thế Âm đã
thành Phật hiệu là “Chánh Pháp
Minh Như Lai”. Vì lòng thương xót
sự đau khổ của chúng sanh mãi trầm
luân lặn hụp trong sáu nẻo luân hồi,
Ngài đã thị hiện làm Bồ-tát
đảm đương công tác cứu khổ
ban vui cho chúng sanh. Ngài quán thấy Phật
và chúng sanh có chung một bản thể,
một giác tánh duy nhất, nhưng Phật
đã giác ngộ nên không bị khổ đau
chi phối, trong khi đó chúng sanh còn mê
muội nên phải chịu vô số khổ
đau. Tuy khổ đau đó chỉ là huyễn
hóa, không thật nhưng vì si mê nên
chúng sanh chấp chặt cho là thật có,
từ đó bị chúng làm cho vô
cùng đau khổ. Chính vì vậy mà
Bồ-tát Quán Thế Âm phải ra tay cứu
khổ, hầu mong hướng dẫn chúng sanh
quay về với bản tâm an vui thật sự
của mình.
Bồ-tát
Quán Thế Âm có lòng thương yêu
chúng ta như thế, vậy chúng ta phải
làm gì để khỏi phụ lòng từ
ái của Ngài? Để khỏi phụ tấm
lòng cao cả của Ngài, mỗi chúng ta
cần phải thường xuyên trì niệm danh
hiệu của Ngài và nhất là cần
phải tu tập theo công hạnh và tâm
nguyện của Quán Âm. Nếu ai thường
xuyên trì niệm danh hiệu của Ngài
thì sẽ được rất nhiều lợi
ích như không bị quỷ dữ làm
hại, không bị nước trôi, lửa
cháy; không bị tham sân si làm hại,
cầu mong điều gì chính đáng
đều được thỏa mãn... Những
lợi ích đó đã được
nói rất rõ trong kinh Phổ Môn.
Mặc dù
Ngài luôn luôn giúp đỡ mỗi khi
chúng ta gặp khổ ách, nhưng Ngài
vẫn luôn mong muốn chúng ta tự vượt
qua khổ ách bằng nỗ lực của chính
mình. Ngài luôn mong chúng ta cũng tu tập
hạnh Quán Âm như Ngài đã từng
tu tập, để giúp mình và người
không còn khổ đau nữa. Vậy tu tập
hạnh Quán Âm là tu như thế nào?
Muốn
thành tựu hạnh Quán Âm, trước
tiên chúng ta cần trở về với chính
mình, “lắng nghe” lại chính bản
thân chúng ta. “Nghe” ở đây
không phải chỉ là lắng nghe đơn
thuần mà chính là sự “Quán
sát thân tâm” của chúng ta. Khi
thân ta bất an, ta nhận biết thân ta đang
bất an, ta nhìn thật sâu để thấy
rõ lý do của sự bất an ấy. Chẳng hạn
khi ta bị đau bao tử, ta phải quán sát xem
vì sao ta lại bị đau bao tử. Hoặc là
do ta ăn toàn những thức ăn khó tiêu,
hoặc là do ta ăn uống không điều
độ, hoặc là do ta hay lo lắng... Sau khi
biết được nguyên nhân của khổ
đau này, bên cạnh việc chữa trị,
chúng ta cần phải loại bỏ nguyên
nhân gây ra khổ đau ấy. Có như
vậy, nỗi khổ ấy mới không còn
trở lại với chúng ta. Khi tâm bất an
cũng vậy, ta cần phải quán sát và
tìm hiểu vì sao tâm bất an. Có thể
do lòng tham quấy nhiễu khiến tâm ta bất
an, cũng có thể do tâm sân hận bùng
phát nên tâm ta bất an, cũng có thể
là tâm ta đang lo lắng sợ hãi một
điều gì đó. Chúng ta phải tìm
ra nguyên nhân của sự bất an ấy và
tìm cách loại trừ nó. Thông
thường, muốn vượt qua sự bất an
ấy, chúng ta chỉ cần kiên nhẫn ghi
nhận sự bất an ấy một cách bình
thản, không khởi tâm ghét bỏ hay xua
đuổi nó thì không bao lâu nó
sẽ tự biến mất. Tuy nhiên, có một
số sự bất an sau khi ta ghi nhận nó vẫn
không chịu tan biến. Trong trường hợp
này bắt buộc ta phải tìm cho ra nguyên
nhân sâu xa của nó để có cách
điều trị thích hợp. Ví dụ như,
do ban đêm chúng ta ngủ quá ít nên
ban ngày chúng ta có cảm giác lừ
đừ, buồn ngủ. Mặc dù chúng ta
đã ghi nhận rất rõ ràng, nhưng
cảm giác này cũng không chịu tan
biến. Cách duy nhất để chấm dứt
cảm giác buồn ngủ này là ta phải
ngủ cho đủ thời gian mà cơ thể
cần.
Người
tu hạnh Quán Âm cần phải thấy rõ
nhân quả, thấy rõ nguyên nhân của
các khổ đau để mà tránh xa
các nhân xấu, tránh xa những nhân
sẽ đem lại quả báo xấu. Người ấy
cần phải giữ gìn giới luật cho thật
tinh nghiêm vì phạm giới là nhân
dẫn chúng ta đi vào chốn địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu khổ vô
cùng.
Chẳng những
tránh xa các hành động dẫn đến
khổ đau, người tu hạnh Quán Âm
còn cần phải chế tác hỷ lạc cho
mình bằng cách thường xuyên làm
những việc lành như phóng sanh, bố
thí, tụng kinh, tọa thiền, nghe Pháp, lễ
Phật, cúng dường Tam bảo...
Bên
cạnh việc lắng nghe lại chính mình,
người tu hạnh Quán Âm còn phải
tập lắng nghe người khác để nhận
ra những đau khổ của họ, thấy rõ
nguyên nhân của những đau khổ ấy
và giúp họ thoát khổ. Ví dụ
như khi thấy một em bé đang khóc,
chúng ta phải tìm hiểu xem vì sao nó
khóc, có thể là nó đói
bụng, cũng có thể là nó bị
lạnh, cũng có thể nó bị kiến
cắn..., chúng ta phải biết rõ lý do em
bé khóc để giúp nó hết đau
khổ. Nếu ta phát hiện ra đứa bé
khóc vì bị lạnh thì ta chỉ cần
mặc thêm áo hay đắp thêm tấm
chăn cho nó thì nó sẽ hết khóc.
Nếu em bé khóc vì đói bụng
thì chỉ cần cho nó ăn nó sẽ
hết khóc. Đối với những người
lớn cũng vậy. Khi ta phát hiện ra họ
đang đau khổ vì tâm bệnh, ta sẽ
nói lại cho họ nghe những bài Pháp
có tác dụng chữa trị tâm bệnh.
Nếu họ đang đau khổ vì thân bệnh,
ta phải tìm cách giúp cho họ chữa
trị thân bệnh. Chẳng hạn khi ta phát
hiện một người nọ đang đau khổ
vì người thân của họ vừa qua
đời, chúng ta cần nói cho họ nghe về
sự vô thường của vạn vật trên
thế gian này để họ bớt buồn
khổ. Đối với người đang bị nỗi
buồn bực, ray rứt cấu xé thì ta chỉ
cho họ cách ghi nhận nỗi buồn đó
và thực tập chánh niệm để
vượt qua nỗi buồn đó. Đối
với người đang bị đau khổ vì
nhức răng, ta có thể khuyên họ đi nha
sĩ để chữa trị; đồng thời
chỉ cho họ cách ghi nhận cơn đau nhức
với thái độ bình thản, đừng
có tâm xua đuổi cơn đau nhức bởi
vì càng xua đuổi nó càng bám
chặt và chúng ta càng thêm đau khổ.
Chỉ khi nào chúng ta bình thản quán
sát thì chúng mới lắng dịu dần.
Ngoài
ra, ta phải luôn luôn tìm cách thân
cận với mọi người để khuyên
họ làm lành lánh dữ, ăn chay, niệm
Phật, trì trai, giữ giới, phóng sanh, bố
thí, cúng dường Tam bảo, lạy Phật, tụng
kinh, tọa thiền,... để giúp cho họ
thoát khổ, được vui.
Tóm
lại, mỗi chúng ta đều nên thường
xuyên trì niệm danh hiệu Bồ-tát
Quán Thế Âm và thực tập hạnh
Quán Âm để đem lại an lạc hạnh
phúc cho mọi người cũng như chính
bản thân mình.