Từ Nguyễn
Trãi đến Ngô Thì Nhậm và con
đường đi lên đỉnh núi Yên
Tử
Thích Phước An
Tập san
Nghiên Cứu Phật Học – 03
No.3 Phật
Đản – 2546
I
Tôi
còn nhớ vào khoảng cuối năm 1973 hay
đầu năm 1974 gì đó. Tuần báo
văn nghệ Tìm Hiểu tại Sài Gòn
có đăng một bài phỏng vấn Bùi
Giáng, người phỏng vấn là Phan Quốc
Sơn. Trong đó Bùi Giáng có nhắc
đến cái chết của Nguyễn Trãi,
tôi không còn nhớ được nguyên
văn, nhưng đại ý Bùi Giáng nói
rằng: “Đêm nào tôi cũng nằm
mơ thấy Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc,
rồi đây dân tộc mình phải gánh
lấy hậu quả của ác nghiệp mà
mình đã gieo ấy”.
Không
biết đó có phải là lời tiên
tri của một thi sĩ hay không?
Nhưng
trên thực tế thì từ 1973 đến nay
đã gần ba thập kỷ, đúng là ba
thập kỷ mà dân tộc đã phải
gánh chịu không biết bao nhiêu là
thống khổ, chiến tranh, phân ly và nhất
là hận thù.
Trong đêm dài đằng đẵng của
quê hương đó, chắc chắn rằng
vẫn không ít những người con thức
cùng với quê hương đau khổ, vẫn
thức cùng với nỗi oan nghiệt và ngang
trái mà Nguyễn Trãi, một bậc anh
hùng đã hiến dâng tất cả tình
yêu của mình cho quê hương, để
rồi cuối cùng phải ngã gục bởi
tình yêu mà Nguyễn Trãi đã
cưu mang đó.
Trong thơ
của Nguyễn Trãi, ta thấy ông thường
nói đến cái hận của bậc anh
hùng:
Kim cổ vô cùng giang
mạc mạc
Anh hùng hữu hận
diệp tiêu tiêu
(Xưa nay thời gian không
cùng, sông rộng bát ngát
Anh hùng mang mối hận,
lá rụng veo veo) (1)
(Vãn Hứng)
Và trong
một bài thơ khác, Nguyễn Trãi lại
nói đến cái hận đến cả
ngàn năm:
Anh hùng di hận kỷ
thiên niên (Anh
hùng để mối hận đến mấy
nghìn năm sau ) (2)
Dù
đó là câu được trích trong
bài Quan Hải (đóng cửa biển) nhắc
đến việc Hồ Quý Ly đã lấy
gỗ và đá đặt sâu dưới
lòng biển để đánh đuổi
quân Minh xâm lăng, nhưng vì không
được lòng dân, thì dù là
một bậc anh hùng như Hồ Quý Ly đi
chăng nữa, thì cuối cùng cũng gánh
lấy thảm bại mà thôi.
Nhưng tôi nghĩ rằng, khi làm câu thơ
trên không nhiều thì ít Nguyễn
Trãi cũng có gởi gắm tâm sự
của mình trong đó. Vì lý do dễ
hiểu là một người tự trọng như
Nguyễn Trãi thì không bao giờ tự
nhận mình là bậc anh hùng.
Nhưng
Nguyễn Trãi có hận riêng cho bản
thân mình không?
Đọc
lịch sử dân tộc, thì có lẽ ai
cũng phải công nhận rằng, chỉ có
Nguyễn Trãi là người chịu nhiều
bất công và đau khổ nhất trong số
các bậc anh hùng của dân tộc.
Vừa
mới thi đậu tiến sĩ, được Hồ
Quý Ly cử giữ chức Ngự Sử Đài
Chánh Chưởng, mộng ước giúp
nhân dân giúp đất nước đã
nằm trong tầm tay. Vậy mà mộng ước
đó đã bị vùi dập ngay tức
khắc khi quân Minh do Trương Phụ chỉ huy
đã ào ạt xâm lăng đất
nước. Cha con Hồ Quý Ly và hầu hết
triều đình nước “Đại Ngu“
của ông đều bị bắt làm tù
binh, trong đó có Nguyễn Phi Khanh, cha của
Nguyễn Trãi.
Nghe tin,
Nguyễn Trãi đến thăm và tiễn cha
đến tận biên giới, có ý
định theo cha qua Trung Quốc để hầu hạ
cha trong buổi xế chiều của cuộc đời.
Nhưng sau khi nghe lời khuyên của Nguyễn Phi
Khanh, Nguyễn Trãi đã gạt nước
mắt từ biệt cha và em rồi quay trở
lại để tìm con đường “rửa
nhục cho nước, trả thù cho cha”.
Vậy
là, Nguyễn Trãi phải bắt đầu
làm lại cuộc đời từ con số
không, với trước mắt là hình
bóng người cha già và đứa em trai
sống những ngày còn lại trên
đất khách quê người với cuộc
đời tù binh mà Nguyễn Trãi biết
chắc rằng sẽ chẳng bao giờ gặp lại
được nữa, còn sau lưng là quê
cha đất tổ đang quằn quại trong đêm
dài nô lệ của ngoại bang.
Rồi sau
khi đã cùng với Lê Lợi nằm gai
nếm mật “rửa nhục cho nước, trả
thù cho cha” thì Nguyễn Trãi phải
chịu nỗi đau đớn khác nữa. Lê
Lợi vì muốn thâu tóm quyền hành
nên đã bắt đầu nghi ngờ những
nhân vật lỗi lạc đã cùng với
Lê Lợi chung vai sát cánh đánh
đuổi quân Minh. Sử chép rằng, năm
Thuận Thiên thứ 2, Lê Lợi sai bắt
Trần Nguyên Hãn, một đệ nhất
công thần khiến Trần Nguyên Hãn phải
nhảy xuống sông tự tử. Rồi tiếp theo
là Phạm Văn Xảo, một đệ nhất
công thần khác cũng bị giết. Và
chính Nguyễn Trãi cũng bị nghi ngờ có
liên hệ với Trần Nguyên Hãn nên
cũng bị bắt, nhưng chỉ một thời gian
ngắn thì được thả ra.
Và
cuối cùng là, một tai hoạ thảm khốc
nhất đã giáng xuống trên đầu
Nguyễn Trãi:
“Vào cái ngày đau xót không
những cho Nguyễn Trãi mà còn cho cả
dân tộc nữa, là ngày 16 tháng 8 năm
Nhâm Tuất tức ngày 19 tháng 9 năm 1442
Nguyễn Trãi và gia tộc đã rụng
đầu dưới lưỡi dao oan nghiệt của
cái triều đình hèn hạ và ngu
muội mà chính ông đã chiến
đấu gian khổ để dựng nên” (3).
Nhưng xét cho cùng
thì đó cũng chỉ là tai hoạ riêng
của Nguyễn Trãi và gia tộc. Một bậc
anh hùng như Nguyễn Trãi thì chắc
không bao giờ có thể lấy sự đau
khổ có tính cách riêng tư để
ôm mối hận đến ngàn năm sau. Vậy
thì Nguyễn Trãi ôm hận vì việc
gì?
Lịch
sử chép vào năm 1437 vua Lê Thái
Tôn sai Nguyễn Trãi và Lương Đăng
thẩm định lại lễ nhạc. Nguyễn
Trãi tâu với Thái Tôn rằng:
“
Thời loạn thì dùng võ, thời bình
thì dùng văn. Ngày nay định ra lễ
nhạc là phải thời lắm. Song không
có gốc thì không đứng vững,
không có văn thì không thể lưu
hành. Hòa bình là gốc của nhạc,
thanh âm là văn của nhạc” (4).
Nhưng
dù sao đó cũng là những lời
những chữ mà ta có thể nghĩ là
bất cứ một chính trị gia thông minh
và khôn ngoan nào cũng có thể phát
biểu được. Chỉ có những lời sau
đây mới là những lời được
phát xuất từ trái tim nóng bỏng
của bậc cha già vì tình thương
yêu cho con cháu ở muôn đời sau:
“Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu
thương và chăn nuôi dân khiến cho
dân trong thôn xóm vắng, không có
một tiếng hờn giận oán sầu. Đó
tức là giữ được cái gốc
của nhạc ” (5).
Nguyễn Trãi
bị giết năm 1442, vậy là tính
đến nay đã gần 600 năm. Có lẽ
trong khoảng thời gian dài đằng đẵng
của lịch sử dân tộc đó, trừ
vài thập kỷ ngắn ngủi dưới thời
Lê Thánh Tông (1442-1497) ra, còn hầu hết
thì “tiếng hờn giận, oán sầu”
vẫn vang lên trong những xóm vắng của
quê hương đất nước. Thi sĩ là
kẻ luôn luôn có trực giác sâu xa
nên Nguyễn Trãi đã linh cảm
được rằng, sự đau khổ chính
bản thân mình cũng là sự đau
khổ chung cho cả dân tộc trong những thế
kỷ tiếp sau chăng? Vì lẽ những bậc
anh hùng thì luôn luôn lấy sự đau
khổ chung như là sự đau khổ của
chính bản thân mình vậy.
Vào
hậu bán thế kỷ 18, cũng có một
nhà đại trí thức cũng bị trả
thù và hạ nhục như Nguyễn Trãi.
Đó là Ngô Thì Nhậm bị Gia Long
đem ra đánh đòn tại Văn miếu,
và đã chết ngày 16 tháng 2 năm
Quý Hợi (9 tháng 3 năm 1803). Thực ra, Ngô
Thì Nhậm chỉ bị hạ nhục chứ
không oan trái như Nguyễn Trãi. Vì
Nguyễn Trãi đã ngã gục dưới
lưỡi dao của chính triều đình
mà ông đã dựng lên. Còn Ngô
Thì Nhậm thì ngã gục bởi triều
đình đối nghịch với triều
đình mà Ngô Thì Nhậm đã
phục vụ là triều đại Tây Sơn.
Nhưng nói cho cùng, thì dù là
triều đình nào đi nữa thì cũng
đều là chung nòi giống Việt. Bởi
vậy, hai cái chết của hai nhà đại
trí thức lớn của dân tộc vẫn
để lại vết thương đau đớn
không phải chỉ ở thời đại của
Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm thôi,
mà vết thương đó vẫn tiếp
tục mưng mủ cho đến nhiều thế kỷ
sau nữa, đặc biệt là đối với
những người biết vui cũng như buồn
về lẽ thịnh suy của lịch sử dân
tộc.
Không
chỉ giống nhau về cái chết bị hạ
nhục, mà Nguyễn Trãi và Ngô Thì
Nhậm còn giống nhau trên nhiều lãnh
vực nữa. Trước nhất là thời
đại.
Vậy
thời đại mà Nguyễn Trãi đã
sanh ra và lớn lên như thế nào? Đó
là vào những năm cuối đời Trần.
Gần như đã trở thành một quy
luật, những ông vua cuối cùng của
bất cứ triều đại nào ở đâu
và thời đại nào cũng vậy, nghĩa
là cũng hèn yếu, nhu nhược,
hưởng thụ trên sự đau khổ và
rên xiết của muôn dân một cách
tàn nhẫn mà không hề có một
chút hỗ thẹn. Nguyễn Phi Khanh cha của Nguyễn
Trãi trong một bài thơ gởi cho Băng
Hồ Trần Nguyên Đán đồng thời
cũng là cha vợ của mình, một tôn
thất của nhà Trần. Nguyễn Phi Khanh
đã nói lên tình cảnh khốn khổ
của người dân tại một làng quê
như thế này:
Đạo
huề thiên lý xích như thiêu
Điền
dã hưu tu ý bất liêu!
Hậu
thổ sơn hà phương địch địch
Hoàng
thiên vũ lộ chính thiều thiều!
Lại
tư võng cổ hồn đa kiệt,
Dân
mạnh cao chi bán dĩ tiêu
(Đồng lúa nghìn
dặm đỏ như cháy
Vùng thôn quê vang
tiếng kêu than:
Sinh kế biết trông
đâu!
Non sông khắp giải
đất này đang khô không khốc:
Mà mưa mốc hoàng
thiên còn xa biền biệt
Màng lưới nha
lại, làm cho dân kiệt quệ mất nhiều;
Dầu mỡ trong sinh mạng dân ta đã tiêu
hao đến một
nửa!) (6) (Thôn cư
cảm sự ký trình Băng Hồ tướng
công)
Trước
một xã hội như vậy, Nguyễn Phi Khanh
với tư cách một sĩ phu cứ băn
khoăn tự hỏi mình phải làm gì?
Ô hô thế đạo
như hà ngã
Tam phủ di biên phú
Đại Đông!
(Than ôi! Trên
đường đời, ta biết tính sao
đây?
Ba lần vỗ bìa
sách cũ mà ngâm thơ Đại
Đông!) (7)
(Thu nguyệt hữu khởi
cảm tác)
Không
còn hồ nghi gì nữa chính Nguyễn Phi
Khanh qua những vần thơ trên đã hun
đúc tâm hồn cho con là Nguyễn Trãi
sau này.
Đến
Nguyễn Trãi thì sự thống khổ lại
được nhân lên gấp bội, nghĩa
là ngoài sự đau khổ loạn ly của
xã hội cuối đời Trần, Nguyễn
Trãi còn chứng kiến sự tàn bạo
của quân cướp nước:
Thui dân đen trên
lò bạo ngược
Hãm con đỏ
dưới hố tai ương.
Dối trời lừa
người! Kế gian đủ muôn nghìn
khoé.
Cậy binh gây hấn,
ác chứa gần hai chục năm (8)
(Bình Ngô Đại
cáo)
Đó
không phải là hận thù lên tiếng
nói mà chính tình thương đã
lên tiếng nói. Phải có một tấm
lòng tràn đầy nhân ái nên chỉ
trong vài câu ngắn gọn Nguyễn Trãi
đã phơi bày được hết cái
xấu cái ác của một thiểu số
người thống trị ở mọi thời
đại.
Kẻ
xâm lược có nghĩa là kẻ không
cùng chung nòi giống, thì họ tàn
bạo cũng là điều có thể hiểu
được. Nhưng cùng chung một nòi
giống mà “Dối trời lừa
người” để “Thui dân đen trên
lò bạo ngược” thì lịch sử
xưa cũng như nay đều không phải là
ít.
Vào
hậu bán thế kỷ 18, xã hội mà
Ngô Thì Nhậm sanh ra và lớn lên cũng
chẳng khác gì xã hội mà Nguyễn
Trãi đã chứng kiến từ những
ngày còn trai trẻ ở đầu thế kỷ
15, nghĩa là cũng những ngày xế chiều
của vua Lê chúa Trịnh ở đàng
Ngoài, và chúa Nguyễn ở đàng
Trong. Phan Huy Chú đã ghi lại về đời
sống của người dân về những
ngày ấy: “… Vì sự trưng thu
quá mức, vật lực kiệt không thể
nộp nổi, đến nỗi người ta thành
ra bần cùng mà phải bỏ nghề nghiệp.
Có người vì thuế sơn sống mà
phải chặt cây sơn, có người vì
thuế vải lụa mà phải chặt khung cửi.
Cũng có kẻ vì nộp vỏ cây mà
bỏ rìu búa; vì bắt cá tôm
mà xé lưới chài, vì phải nộp
mật mà không trồng mía đường
nữa, vì phải nộp bông chè mà
bỏ hoang vườn tược. Làng xóm
náo động…” (9)
Năm 1769,
Ngô Thì Nhậm mới có 23 tuổi
được bổ nhiệm làm Hiến Sát
Phó Sứ Hải Dương. Trong Hàn Các Anh
Hoa, còn ghi lại tất cả những bài
Khải của Ngô Thì Nhậm dâng lên
chúa Trịnh, hầu hết đều nói
đến “cái ẩn tình đau khổ
của dân”. Trong một bài Khải khác,
Ngô Thì Nhậm đã chính thức
đề nghị chúa Trịnh nên thi hành
“các cải cách hành chánh”,
Ngô Thì Nhậm viết: “… Thần
được nghe ‘Quan nhiều thì lại
nhiều, lưới thưa thì dân giàu’
cho nên Thiên Chu quan nói: ‘Quan không
cần đủ’. Thiên Lập Chính nói:
‘Cẩn thận noi phép tùy theo nặng
nhẹ mà dùng hình phạt cho thích
đáng’. Những điểm đó
đều là gốc của chính sự, có
quan hệ đến tính mệnh của dân, sai
một ly là đi một dặm.
Gần
đây, cứ nhân tuần theo như tệ cũ,
mỗi ngày một phiền nhiễu thêm: quan
có khi không cần đặt cũng đặt,
việc có khi không cần thêm cũng thêm;
kiện có khi không cần xử cũng xử.
Nói chung họ lợi dụng chức vụ
để sách nhiễu, mượn văn án
để làm việc thiên tư, khiến kho
của dân bị khánh kiệt vì quan
nhiều, chính thể bị tổn thương
vì án nặng. Hiện nay ở nơi thôn xóm,
dân đương vất vả vì thiếu
ăn. Mong được nới phần nào nhờ
ơn phần nấy.
Thiết
nghĩ đường lối nới rộng cho dân,
trước hết là bỏ những viên chức
tạp nhạp, ngồi không và bớt những
công việc phiền nhiễu đi.” (10) ( Tuế
quy Trần ngôn khải )
Ngô
Thì Nhậm viết bản điều trần
trên cách đây đã gần hai thế
kỷ rưỡi. Phong kiến rồi thực dân
đế quốc đã bị quét sạch.
Thế
nhưng những điều mà Ngô Thì
Nhậm yêu cầu chúa Trịnh bãi bỏ
để quan lại thời đó bớt ức
hiếp người dân, đến nay vẫn còn
tồn tại, mặc dù tồn tại dưới
một hình thức khác, nghĩa là tinh vi
và máy móc hơn nhiều.Trong lịch sử
đánh đuổi ngoại xâm của dân
tộc, mặc dù rất nhiều, nhưng có
lẽ bốn cuộc chống ngoại xâm
được xem là vĩ đại nhất trong
lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc, đó là: cuộc
đánh Tống của Lý Thường Kiệt
(1076), cuộc đánh đế quốc Nguyên
Mông của Trần Hưng Đạo lần thứ
nhất (1257), lần thứ hai (1285) và lần thứ
ba (1287-1288), rồi cuộc đánh đuổi
quân Minh của Lê Lợi (1418-1427) và cuối
cùng là cuộc đại phá quân Thanh
năm Kỷ Dậu (1789) của Quang Trung Nguyễn
Huệ.
Nếu
xét theo hoàn cảnh, thì có thể
nói rằng hai cuộc chiến tranh vệ quốc sau
là cuộc đánh Minh của Lê Lợi
và đại phá quân Thanh của Nguyễn
Huệ thì gian nan và khó khăn hơn
nhiều. Khi đánh Tống, thì Lý
Thường Kiệt đã có sẵn một
vương triều Lý đang ở hồi hưng
thịnh nhất. Cũng vậy, khi đế quốc
Nguyên Mông tràn vào nước ta thì
Trần Hưng Đạo cũng đã có
sẵn vương triều Trần cũng đang ở
trong gian đoạn hùng mạnh, nhất là tinh
thần đoàn kết từ vua quan đến
thứ dân.
Trong khi
Lê Lợi đã phải bắt đầu
bằng hai tay trắng nơi núi rừng Lam Sơn
nghèo khổ ở Thanh Hóa. Còn Nguyễn
Huệ thì có thuận lợi hơn Lê
Lợi, nhưng vẫn có nhiều hạn chế,
trước hết là nội bộ Tây Sơn
đã bắt đầu rạn nứt, trong Nam
thì Nguyễn Ánh đang bắt tay với
Pháp và củng cố các tỉnh miền Nam
để chuẩn bị phản công. Còn ở
Bắc Hà, mặc dù dân chúng thì
căm ghét quân Thanh xâm lược, nhưng một
số nhà Nho bảo thủ vẫn hướng
vọng về vua Lê chúa Trịnh.
Tuy vậy,
Lê Lợi và Nguyễn Huệ lại
được hai nhà trí thức có thể
là lỗi lạc nhất của thời đại
tìm đến giúp đỡ. Nguyễn Trãi,
mặc dù là cháu ngoại của Tôn
Thất nhà Trần, nhưng bằng cặp mắt
nhìn xa trông rộng, biết rằng nhà
Trần đã hết vai trò lịch sử,
nên đã mạnh dạn đến Lỗi Giang
trao Bình Ngô Sách cho Lê Lợi. Rồi sau
đó ròng rã trong 10 năm, chính Nguyễn
Trãi đã hoạch định đường
lối và kế sách cho nghĩa quân Lam
Sơn. Trong và sau khi hòa bình được
lập lại, thì Lê Lợi cũng đã
giao cho Nguyễn Trãi soạn thảo các văn
thư ngoại giao với các tướng lãnh
nhà Minh. Trong Quân Trung từ mệnh tập ta
thấy Nguyễn Trãi đã viết thư cho
các tướng lãnh đang chiếm đóng
nước ta như Sơn Thọ, Phương Chính,
Thái Thúc, Vương Thông, vv... để
có lúc “ như mắng nhiếc “,
có lúc “ như khiêu khích ”.
Nhưng trên hết vẫn là lòng nhân
ái tràn đầy, đã làm cho nhiều
tướng lãnh của quân Minh như Lưu Thanh
ở Tam Giang cùng với các tướng lãnh
khác ở Nghệ An, Thuận Hóa, Tây
Đô và nhiều thành đều
“không đánh mà giặc phải ra
hàng cả” như Đại Việt Sử
Ký Toàn Thư đã ghi lại.
Cũng
như trường hợp Nguyễn Trãi, Ngô
Thì Nhậm mặc dù đã được
sanh ra và lớn lên trong gia đình nhiều
đời chịu ân sủng vua Lê chúa
Trịnh, lại được nổi tiếng là
người trí thức thuộc “dòng
dõi văn học Bắc Hà”. Nhưng Ngô
Thì Nhậm cũng đã nhận ra chiều
gió lớn của lịch sử, nên cuối
cùng đã quyết định trở về
với nghĩa quân Tây Sơn.
Ngô
Thì Nhậm trở về cũng đúng lúc
như Nguyễn Trãi đến Lỗi Giang gặp
Lê Lợi vậy.
Ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (1788), 29
vạn quân Thanh dưới sự chỉ huy của
tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ
Nghị đã vượt ải Nam Quan tiến về
Thăng Long. Hầu hết các tướng lãnh
Tây Sơn đều nhất quyết đem quân
chận đánh, vì theo cách suy diễn
của họ thì “lấy quân nghĩ ngơi
mà đánh quân mệt nhọc” thì
nhất định phải thắng. Nhưng ý
kiến của Ngô Thì Nhậm thì lại
khác, ông đề nghị “toàn quân
rút lui, không bị mất một mũi tên,
cho nó ngủ trọ một đêm rồi mai
lại đuổi nó đi”. Tướng Ngô
Văn Sở đã chấp nhận ý kiến
của Ngô Thì Nhậm, cho rút quân về
núi Tam Điệp, đồng thời cho người
về cấp báo với Nguyễn Huệ ở
Phú Xuân. Quân Thanh vào Thăng Long như
vào chỗ không người nên tỏ ra
chủ quan, kiêu ngạo, nên rất đúng
như lời nói của Ngô Thì Nhậm
“cho chúng ngủ trọ một đêm rồi
mai lại đuổi nó đi”. Nguyễn Huệ
đã thần tốc kéo quân ra Bắc
Hà, không đầy 10 ngày đã
đánh tan 29 vạn quân Thanh, giải phóng
Thăng Long lập nên võ công vĩ đại
nhất trong lịch sử chống ngoại xâm
của dân tộc.
Sau chiến thắng mùa xuân 1789, Ngô Thì
Nhậm cũng được Nguyễn Huệ giao
trách nhiệm “tuỳ việc ứng đối
với nhà Thanh để yên việc chiến
tranh”. Các văn kiện ngoại giao do Ngô
Thì Nhậm soạn thảo trong thời kỳ
này được tập hợp lại trong Ban giao
hảo thoại và một số trong Ban giao tập.
Cũng như Nguyễn Trãi đã viết
Bình Ngô Đại Cáo để nói
lên tất cả hào khí của dân
tộc được thể hiện qua nghĩa quân
Lam Sơn, thì Ngô Thì Nhậm cũng
đã viết Chiếu Lên Ngôi cũng
với cùng mục đích là nói lên
hào khí của dân tộc trong thời
đại Tây Sơn mà tiêu biểu nhất
là qua bản thân Quang Trung Nguyễn Huệ.
Ngoài ra, Ngô Thì Nhậm cũng
đã là tác giả của Biểu Trần
Tình, Biểu Cầu Hôn, Biểu đòi
bỏ lệ cống người vàng, Biểu
đòi đất 7 châu Hưng Hóa, Biểu
đòi sứ bộ nhà Thanh vào Phú
Xuân tiên phong. Nhà Hán học và
nghiên cứu văn học Lê Thước có
nhận định về văn phong của Ngô
Thì Nhậm như sau:
“Ngô Thì Nhậm là tiến sĩ
đời Lê, nhưng văn ông không bị
ảnh hưởng lối văn phù hoa, phiêu
dật của thời này. Văn ông là
văn bác học, văn ông hùng hồn,
mạch lạc, kỹ thuật điêu luyện
ít ai bì nổi. Văn Ngô Thì Nhậm
không phải hay ở chỗ câu văn trau
chuốt mà hay ở chỗ cốt cách không
trọng kỹ xảo. Lời văn này hoàn
toàn xa lại với văn cầu kỳ, khuôn
sáo ở thời Lê Mạt. Có thể nói
văn Ngô Thì Nhậm là văn của một
người có tầm tư tưởng lớn,
có thể so sánh với văn của Nguyễn
Trãi. Đứng trước Ngô Thì Nhậm,
không những nhà văn bình thường,
mà những nhà văn tài ba sống cùng
thời như Phan Huy Ích cũng bị lu mờ”
(11)
- II -
Dường
như trong thi ca xưa cũng như nay, hầu hết
các thi nhân đều không bao giờ
đứng nhìn mặt trời mọc mà cảm
khái cho thân phận phù du của kiếp
người, mà đều đứng nhìn
cảnh chiều tà.
Có lẽ cũng là điều dễ hiểu,
vì tâm thức của con người cũng quay
theo tiết nhịp của trời đất. Nói theo
một nhà văn của Việt Nam hiện
đại thì “ngôn ngữ của bình
minh là ngôn ngữ của sự thức
tỉnh” còn “ngôn ngữ của hoàng
hôn là ngôn ngữ của sự đưa ma
những thần tượng” (Phạm Công
Thiện).
Nguyễn Trãi là một người tài hoa
lại mang nhiều bi kịch trong đời sống
nội tâm của mình, nên chắc chắn
ông có nhiều điều để tâm
sự mỗi khi nhìn buổi chiều đến
chậm:
Trường thiên mạc mạc thủy du du
Hoàng lạc sơn hà
thuộc mộ thu
Tiễn sát hoa biên song
bạch điểu
Nhân gian lụy bất
đáo thương châu
(Trời thì rộng bao la
nước thì bát ngát.
Lá vàng rụng
phủ núi sông, tiết muộn về thu.
Thèm chết
được như đôi chim trắng ở bên
hoa kia
Lụy nhân gian không
đến được bãi ẩn dật) (12) (Buổi
chiều đứng trông)
Có
lẽ cũng như bao nhiêu tâm hồn vĩ
đại khác đã đến rồi đi
trên cuộc đời này. Nguyễn Trãi
cũng đã nhiều lần băn khoăn tự
hỏi, sự có mặt của mình trên
cuộc đời này có ý nghĩa gì
chăng? Mình là gì hay cũng chỉ là
một sinh vật phù du giữa đất trời
mênh mông? Nên ở lại với loài
người? Hay nên ra đi sống vô danh và
im lặng như cỏ cây, cát bụi? Sao
mình không được là đôi chim
trắng đang bay thảnh thơi bên bụi hoa
ngoài song cửa sổ kia?
Trong
bài Thính vũ (Nghe mưa) ta thấy Nguyễn
Trãi có một nỗi xao xuyến lạ lùng
rất khó tả. Nỗi xao xuyến đó
có thể là một niềm vui (dù rất
mơ hồ) “hoà chung nhập mộng thanh”
(lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ
nhẹ nhàng); hay cũng có thể là một
nỗi hốt hoảng bàng hoàng khi chợt
nhận ra rằng mình cũng chỉ là một
kẻ xa lạ, nhỏ bé, chẳng nghĩa gì
giữa vũ trụ mênh mông này:
Tịch mịch u trai lý
Chung tiêu thính vũ
thanh
Tiêu tao kinh khách
chẩm,
Điểm trích sổ
tàn canh
Cách trúc xao song
mật
Hòa chung nhập mộng
thanh
Ngâm dư hồn bất
mị
Đoạn tục đáo
thiên minh.
(Vắng vẻ trong phòng
tối tăm
Suốt đêm nghe
tiếng trời mưa
Tiếng não nùng
làm kinh động gối khách;
Giọt thánh thót
suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc
như khua nhặt vào cửa sổ
Lẫn tiếng chuông
vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng. Ngâm
rồi vẫn không ngủ được
Nghe đứt nối cho
đến trời bình minh) (13) (Nghe mưa)
Ngô
Thì Nhậm một lòng vừa bước đi
vừa nhìn đất trời mông lung rồi
cũng băn khoăn tự hỏi về mình, về
vũ trụ mênh mông
kia:
Vừa đi ta vừa tự
hiểu trong lòng ta chừ,
Lúc trời đất
còn hỗn độn chưa phân,
Ở dưới cái
gì làm nên núi sông chừ;
Ở trên cái gì
làm trăng sao?
Ở giữa cái gì
hình thành nên vật chừ,
Từ trạng thái
gì hình thành nên người?
Sao lại chia ra trên,
dưới, giữa chừ,
Khiến cho tụ lại theo
loài, phân ra nhiều giống.
Chữ “Lý”
(của Tống Nho) ấy thật là trống
rỗng,
Chữ “Khí”
(của Tống Nho) ấy thật là lộn xộn
Tại sao người ta
vẫn ganh đua danh lợi chừ,
Ai là sơ mà ai
là thân?
Tại sao lại đưa
đón phiền phức chừ
Ai là giả mà ai
chân?
Đã dùng gươm
giáo đánh nhau chừ
Rồi lại đem ngọc
lụa mà giao hiếu (14)
Đọc
bài Phú trên của Ngô Thì Nhậm
khiến ta nhớ đến kinh MalunKyaputta trong
Trường Bộ Kinh, MalunKyaputta đến xin
Đức Phật giải đáp những vấn
đề siêu hình như: vũ trụ
trường tồn hay 2) không trường tồn 3)
vũ trụ hữu hạn hay 4) vô hạn. 5) linh hồn
là một vật và thể xác là
một vật khác vv…
Có lẽ chính vì những băn khoăn
và ray rứt trên mà Thái Tử Tất
Đạt Đa và biết bao nhiêu người
trai trẻ khác
đã từ bỏ tuổi xuân, cắt mái
tóc đen nhánh của mình, vứt bỏ
lại sau lưng tất cả những lạc thú
của trần gian để lên đường
tìm kiếm cho ra lời giải đáp thỏa
đáng cho những vấn đề muôn thuở
về thể phận của con người. Vì
những con người minh triết nhất, thì
luôn luôn ý thức một cách triệt
để rằng, mỗi người phải tự
tìm lấy lời giải đáp cho chính
mình, chứ không ai giải đáp thay cho
mình cả.
Nói theo cách nói thơ mộng của một
nhà thơ Việt
Em hỏi
mãi tuy biết lời đáp lại
Chẳng bao
giờ thỏa đáng giữa đời câm.
Em ngó
mãi những chiều về trở lại
Mang
những gì về trong cõi trăm năm (Bùi Giáng)
Trong thơ
bằng chữ Hán cũng như chữ Nôm, ta
thấy rất nhiều bài Nguyễn Trãi cũng
đã lên đường để tìm
lời giải đáp cho những vấn đề
có tính cách sống chết này. Chẳng
hạn, khi còn làm quan to giữa chốn triều
đình quyền cao chức trọng, nhưng
Nguyễn Trãi vẫn cứ nghĩ rằng mình như
đang ở trong một thiền viện âm u tĩnh
mịch nào:
Tiểu
viện âm âm thạch kính tà
Tiêu
nhiên hoạn huống tự tăng gia
(Viện
nhỏ âm u với đường đá xiên
Vắng
vẻ cảnh làm quan mà sao giống nhà
chùa) (15) (Mạn
hứng 3)
Nếu
nhìn theo cách nhìn của nhà thơ
thì Nguyễn Trãi đang lên đường
tìm kiếm cái đẹp “cái
đẹp sẽ cứu vớt con người”
một văn hào Nga đã nói như thế.
Nhưng nếu ta nói rằng Nguyễn Trãi
đang thực tập Thiền quán, đang quán
chiếu về đám mây trắng từ đỉnh
núi cao bay ra để mà quên lãng
những cái gì nhỏ nhen thấp hèn của
cuộc đời như vinh hay nhục thì cũng
không sai:
Vị xuất gia thì
thả trú gia
Hạm lý vân sơn
vô sủng nhục
(Chưa xuất gia thì
hãy ở nhà
Trong hiên nhìn mây
núi thì không có vinh hay nhục nữa)
(Họa hữu nhân yên
hà ngụ hứng)
Nguyễn
Trãi ý thức được rằng đó
là việc thiên nan vạn nan, nhưng dường
như Nguyễn Trãi cũng đã một lần
phát đại nguyện, luyện tập cái
tâm của mình như một câu trong Quốc
Âm thi tập: Mọi
sự đều nên “ thuấn nhã đa”
Câu
ấy khiến ta nhớ đến câu “thuấn
nhã đa tánh khả tiêu vong, thước ca
ra tâm vô động chuyển” (Hư không
có thể băng hoại, nhưng lòng kiên
trì của ta đối với đại nguyện này
sẽ không bao giờ lay chuyển) trong bài tựa
của Kinh Thủ Lăng Nghiêm mà truyền
thống các chùa tại Việt Nam vẫn
trì tụng vào buổi khuya hơn 2000 năm nay.
Đúng
là Nguyễn Trãi đã trụ vững
cái tâm của mình, trong bất cứ
trường hợp nào, dù giữa chốn
triều đình, giữa sự lao xao của lợi
danh, chức tước, Nguyễn Trãi vẫn xem
chốn đó như một “quán
khách” ngủ trọ một đêm rồi
sáng mai lại lên đường. Chỉ có
hình bóng của “Bụt” mới rọi
sáng trên con đường đi của Nguyễn
Trãi mà thôi:
Chân chẳng lọt
đến cửa vương hầu
Ấy tuổi nào thay
đã bạc đầu!
Liệu cửa nhà xem
bằng quán khách!
Đem công danh đổi
lấy cần câu.
Thân đà hết
lụy thân đều nhẹ;
Bụt ấy là lòng
Bụt há cầu?
(Mạn Thuật 8)
Thực
sự thì chẳng đợi đến khi ra làm
quan, nghĩa là chẳng phải khi gặp đau
khổ thì Nguyễn Trãi mới nghĩ
đến việc vào chùa, vào Thiền
viện, mà năm Ất Sửu (1385) khi vừa
mới lên năm thì đã theo mẹ là
Trần Thị Thái về ở động Thanh Hư
trên núi Côn Sơn cùng ông ngoại
là Quan đại Tư đồ Trần Nguyên
Đán, lúc này đã xin cáo quan
về hưu. Côn Sơn là vùng núi non
có nhiều chùa, Thiền viện, nên tất
nhiên Nguyễn Trãi đã được hun
đúc, nuôi dưỡng rồi lớn lên
trong không khí đầy Thiền vị ấy.
Khi về già, cáo quan về lại Côn Sơn,
ta thấy Nguyễn Trãi đã xác nhận
lại một lần nữa rằng, chính
“đất Bụt” đã làm thức
tỉnh tâm hồn mình, và ý thức
nhập cuộc cứu đời cũng bắt nguồn
từ mảnh đất ấy:
Ao quan thả gởi hai bè muống
Đất Bụt nương
nhờ một luống mồng
Còn có một
lòng âu việc nước
Đêm đêm thức
nhẫn nẻo sơ chung
(Thuật Hứng 23)
Hiện
chưa có sử liệu nào xác nhận hay
phủ nhận Nguyễn Trãi có đến Trung
Quốc hay không? Nhưng tôi nghĩ rằng
Nguyễn Trãi có đi hay không thì cũng
chẳng quan trọng gì lắm, điều quan
trọng nhất vẫn làNguyễn Trãi
đã làm một cuộc hành trình
tâm linh, đến tận nơi phát xuất
dòng suối Tào Khê, nơi mà Lục
Tổ Huệ Năng đã chỉ rõ
“bản lai diện mục”, tức cái
khuôn mặt muôn đời của mọi sinh linh
đau khổ trn cuộc đời phù du này.
Vì dòng suối ấy, không chỉ đã
nuôi dưỡng sức sống cho hai triều
đại Lý Trần, hai triều đại
được xem là đỉnh cao của văn
hóa Việt Nam, mà dòng suối ấy còn
chảy đến tận Cao Ly và nhất là
Nhật Bản, đã trở thành cây
đại thọ mà cành lá của nó
đã phủ mát cả đất trời Á
Đông. Để rồi cuối cùng đến
những thập niên của thế kỷ 20, sau khi
nhân loại đã chịu đựng sự
đau khổ đến cùng cực bởi hai
cuộc thế chiến, thì dòng suối Tào
Khê lại bắt đầu đâm rễ ở
các nước Phương Tây.
Bởi vậy khi vừa đến đứng
trước dòng suối Tào Khê, Nguyễn
Trãi đã viết:
Bán sinh khâu hác
tiện u thê
Thiền pháp phân minh
thính điểu đề
Vạn lý
Nhất sinh năng kỷ
quá Tào Khê
(Nửa đời chỉ
thích nương thân cảnh suối gò
vắng vẻ
Noi gương Thiền nghe
rõ tiếng chim kêu
Sông núi xa xôi,
muôn dặm từ phương
Một đời người
đã được mấy lần qua suối
Tào Khê?)
(Đề
Câu:
Nhất sinh nhân kỷ quá Tào Khê
(Một
đời người đã được mấy
lần đến suối Tào Khê?)
Có
thể thấy sự biểu lộ niềm vui mừng
khôn xiết, sự hân hoan vô bờ bến.
Vì sao Nguyễn Trãi
lại vui mừng đến gần như rơi lệ
khi đến được suối Tào Khê
như vậy? Bài thơ sau đây có thể
biết được vì sao Nguyễn Trãi
lại vui mừng đến như vậy:
Thần
tích phi lai kỷ bách xuân
Bảo
Lâm hương hỏa khế tiền nhân.
Hàng
long phục hổ cơ hà diệu;
Vô
thụ phi đài ngữ nhược tân.
Điện
trắc khởi lâu tàng Phật bát;
Khám
trung di tích thuế chân thân.
Môn
tiền nhất phái Tào Khê thủy
Tẩy
tận nhân gian kiếp kiếp trần
(Gậy
thần tích bay đến đây đã
mấy trăm xuân rồi
Hương
hỏa chùa Bảo Lâm họp cùng nhân
duyên trước.
Rồng
giáng, hổ phục, mấy huyền vi thật
thần diệu
“Không
cây, cũng không đài” lời nói
nghe như mới
Bên
điện dựng lầu giữ gìn bát Phật
Trong hộp còn ghi dấu nhưng chân thân
đã giải thoát
Một
dòng suối Tào Khê tuôn trước
cửa
Rửa
sạch bụi bám đời đời cho nhân
gian) (16) (Du Nam Hoa
tự)
Phải
đau khổ đến tận cùng, phải chết
đi sống lại nhiều lần thì Nguyễn
Trãi mới thấy được sự mầu
nhiệm của dòng suối Tào Khê:
Môn tiền nhất
phái Tào Khê thủy
Tẩy tận nhân gian
kiếp kiếp trần
( Một dòng suối
Tào Khê tuôn trước cửa
Rửa sạch bụi bám
đời đời cho nhân gian )
Trong
việc rửa sạch những vết thương
nhức nhối của lòng mình hay tuyệt
đến như vậy.
Cũng như Vương Duy, Tô Đông Pha của
Trung Quốc hay Basho của Nhật Bản, Nguyễn
Trãi không chỉ thường lui tới cửa
chùa, Thiền viện hay vân du rày đây
mai đó trên khắp các nẻo
đường của quê hương đất
nước, mà còn thường xuyên gặp
gỡ các Thiền Sư, có thể là
bạn mà cũng có thể là thầy
để học phật và đàm đạo
về đạo Thiền nữa:
Ký tằng giảng
học thập dư niên
Kim hựu tương
phùng nhất dạ mien
Thả hỷ mộng trung
phao tục sự;
Cánh tầm thạch
thượng thoại tiền duyên.
Minh triêu Linh phố
hoàn phi tích;
Hà nhật Côn Sơn
cộng thính tuyền?
Lão khứ cuồng
ngôn hưu quái ngã Lâm kỳ ngã
diệc Thượng Thừa Thiền
(Nhớ từng giảng
học hơn mười năm
Nay lại gặp nhau ngủ
một đêm với nhau
Vả mừng trong mộng
bỏ hết việc tục;
Lại tìm lên núi
để nói chuyện tiền duyên.
Rạng mai sẽ bay gậy
về bến Chí Linh;
Ngày nào mới
cùng nghe suối ở Côn Sơn được?
Già rồi hay nói
cuồng, đừng lạ ta
Từ biệt nhau rồi
thì ta cũng sẽ tu đạo Thiền
Thượng Thừa) (17)
(Tống tăng Đạo
Khiêm qui sơn)
Thiền
sư Đạo Khiêm chắc chắn phải là
một Thiền sư lỗi lạc ở thời sơ
Lê, nhưng cũng như bao nhiêu Thiền sư
trác việt khác, họ như “nhạn
quá trường không”. Nên ngày nay ta
không còn tìm thấy bất cứ một
tư liệu nào nói về họ. Sở dĩ ta
có thể kết luận Đạo Khiêm là
vĩ đại bởi lẽ một người như
Nguyễn Trãi, một bậc anh hùng vừa
lãnh đạo giải phóng đất
nước ra khỏi cảnh nô lệ lại là
một nhà tư tưởng, một thi sĩ lớn
của thời đại thì không thể kết
bạn với những vị sư bình thường
như mọi nhà sư khác được.
Bài thơ ghi lại cuộc đời của một
người đã giải phóng mọi hệ
lụy của cuộc sống và cũng nói
lên sự khao khát một ngày nào
đó tác giả cũng đến
được chân trời tự do ấy. Nhưng
dường như vẫn có một chút ngậm
ngùi trong đó, hay đúng hơn là
tự trách mình sao lại còn quá
nhiều ràng buộc với cuộc đời
đến như vậy:
Lão khứ cuồng
ngôn hưu quái ngã (Già rồi hay nói
cuồng, đừng lạ ta )
Tuy
nhiên, khi đứng nhìn người bạn
của núi rừng khuất sau rặng núi
rồi, tâm hồn Nguyễn Trãi lại bồi
hồi xúc động và tự hứa với
chính mình rằng:
Lâm kỳ ngã diệc
Thượng Thừa Thiền
(Từ biệt nhau rồi
thì ta cũng sẽ tu đạo Thiền
Thượng Thừa)
Có
một số nhà nghiên cứu về Nguyễn
Trãi nói rằng, câu trên chứng tỏ
Nguyễn Trãi đã “ngộ” (Satori) theo
cách gọi thông dụng của Thiền. Nguyễn
Trãi có ngộ Thiền hay không? Có lẽ
vấn đề ấy ngoài sự phán xét
của chúng ta. Nhưng có những bài thơ
mà đọc vào ta thấy Nguyễn Trãi
đã đạt đến một tiến trình
tâm linh rất cao, như bài sau đây
chẳng hạn:
Đoản trạo hệ
tà dương
Thông thông yết
thượng phương
Vân quy Thiền sáp
lãnh
Hoa lạc giản lưu
hương.
Nhật mộ viên thanh
cấp;
Sơn không trúc
ảnh trường
Cá trung chân hữu
ý
Dục ngữ hốt
hoàng vương
(Mái chèo ngắn
buộc trong bóng xế
Vội vàng lên
chùa lễ Phật Mây kéo về làm
lạnh giường Thiền
Hoa rụng xuống khiến
dòng suối thơm.
Chiều hôm tiếng
vượn kêu rộn
Núi trống bóng
trúc dài ra;
Trong cảnh ấy thật
có ý
Ta muốn nói ra bỗng
lại quên lời) (Tiên Du tự)
Chừng
như một mình trong núi vắng vẻ,
nhìn bóng trúc ngả dài theo bóng
chiều, Nguyễn Trãi như chợt nhận ra chân
ảnh của chính mình vừa thoáng hiện
về từ những tiền kiếp xa xôi?
Qua bài
thơ trên, ta tuyệt nhiên không còn
thấy nỗi sầu tê tái chất chứa trong
hồn của những buổi chiều xa xưa, hay
những đêm nằm nghe tiếng mưa rơi
mà bàng hoàng trước vũ trụ
mênh mông, xa lạ và lạnh lùng, rồi
xót xa cho thân phận bi thảm của chính
mình:
Lão ngã thế
đồ nan hiểm thục
Trung tiêu bất mị
độc thương tình
(Ta đã già trên
đường đời, nỗi gian hiểm đều
thuộc cả
Giữa đêm không
ngủ, một mình xót thương) (18)
(Tầm Châu)
Bài
thơ sau đây mới nói lên tất cả
những gì tinh hoa nhất của một dân
tộc đã thấm nhuần tư tưởng
Bát Nhã của Phật Giáo. Nói theo
thiền sư Huyền Quang đời Trần thì
dân tộc ấy lúc nào cũng: Khuya sớm
sáng chong đèn Bát Nhã, hôm mai rửa
sạch nước Ma Ha:
Ánh nước hoa in
một đóa hồng
Vết nhơ chẳng
bén, Bụt làm lòng.
Chiều mai nở chiều
hôm rụng
Sự lạ cho hay tuyệt
sắc không
(Cây Mộc Cẩn)
Ta tưởng tượng khi
làm bốn câu thơ ấy, Nguyễn Trãi
đang đi dạo trên một con đường
quê thấy bụi dâm bụt mọc cạnh
hồ nước bên vệ đường, thi nhân
đứng lại xem. Không ngờ đó cũng
là lúc Nguyễn Trãi chợt
“ngộ” ra rằng, tất cả tam thiên
đại thiên thế giới, tất cả càn
khôn vũ trụ, hay tất cả những sự
phân biệt của ý thức nhị nguyên
như: “Sắc và không, thường và
vô thường, luân hồi và Niết
Bàn, sát na và vĩnh cửu, đau khổ
và hạnh phúc”, đều nằm gọn
trong đóa dâm bụt “chiều mai nở
chiều hôm rụng” này.
Nếu thi
hào Nguyễn Du ở thế kỷ 18 đã
có lần nói rằng:
Ngã độc Kim Cang
thiên biến linh
( Ta đã đọc kinh
Kim Cang hơn cả ngàn lần )
Thì
Nguyễn Trãi ở thế kỷ 15, qua bốn câu
thơ Nôm trên, ta đoán là Nguyễn
Trãi có thể cũng đã
trì tụng một
ngàn lần hoặc hơn thế nữa.
Với
Ngô Thì Nhậm có lẽ cuộc đời
tương đối bằng phẳng hơn Nguyễn
Trãi, nên ta thấy cuộc hành trình
đi tìm kiếm một quê hương tâm
linh cũng ít gian nan hơn. Tất nhiên, ngoại
trừ những năm cuối đời, nghĩa là
sau khi Nguyễn Huệ mất, ông không còn
chỗ dựa vững chắc để đem hết
tài hoa của mình ra mà phục vụ cho
Tổ quốc nữa.
Ngô
Thì Nhậm vốn sanh ra trong gia đình có
truyền thống cực đoan về Khổng giáo,
cực đoan đến nỗi Ngô Thì Sỹ
đã viết một bảng gần như lời
“di chúc” để giáo dục con
cái, trong đó có mấy câu thế
này:
“Không thể cầm
cày bừa
Không thể làm họ
Lão, họ Thích“ (19)
Chỉ
đến cuối đời thì Ngô Thì
Sỹ mới bỏ bớt cực đoan, và bắt
đầu hướng về Phật Giáo và
tự xưng là Nhị Thanh Cư Sỹ trong bài
Ký động Nhị Thanh ông viết:
“Đạo chỉ có một. Phật và
Lão là tên khác thôi. Thực ra cũng là Nho
cả”.
Ngô
Thì Nhậm cũng đứng trên lập
trường ấy của cha để giải thích
Phật Giáo. Nhưng có hai câu thơ mà
có lẽ Ngô Thì Nhậm đã làm
trong lúc ông lánh nạn để tránh
cảnh tranh giành giữa các phe chúa Trịnh
ở Thăng Long, thì ta có thể thấy là
chính Phật Giáo mới là nơi để
Ngô Thì Nhậm trở về để an thân
lập mệnh chứ không phải Nho Giáo.
Khuất chỉ phiêu
bồng ký ngũ niên
Kim thu thôn tự nhất
tham Thiền
(Bấm đốt ngón tay
tính ra phiêu bạt đã năm năm nay
Mùa thu này lại
tìm đến một ngôi chùa làng
để tham Thiền) (20)
Bài
thơ sau đây của Ngô Thì Nhậm,
có lẽ là kết quả của những năm
dài đến tu Thiền tại ngôi chùa
ở một làng quê vắng vẻ gần kinh
thành Thăng Long chăng?
Thủy bản vô thanh,
khướt hữu thanh
Thanh oanh giang thượng
vị thùy minh?
Trường lưu thuận
chú nguyên thường tĩnh
Đoạn thạch hoành
lan nãi bất bình.
Ngạnh vị khứ thời
ưng hữu nộ,
Lượng năng vô
xứ tiện vô tranh.
Thái hòa quân
tử tu tiềm hội
Thấu triệt ngân hoa
đáo để minh
(Nước vốn không
có tiếng mà lại có tiếng
Vì đâu dậy
sóng đùng đùng trên sông?
Thuận dòng chảy
xuống vẫn thường im lặng,
Có hòn đá
chắn ngang liền sanh bất bình.
Chưa cuốn bỏ
được vật chướng ngại, tất
phải nổi giận,
Chỗ nào cương
có thể chứa thì không tranh giành.
Người quân tử
phải trầm lặng mà thể hội cái
lẽ thái hòa
Ánh bạc của
nước, trong suốt đến tận đáy)
(21)
Ngô
Thì Nhậm đã từng phát biểu
rằng: “Chân thánh không cần đội
mũ nhà
“Một
hôm Đức Phật ở lại đêm trong
xưởng một người thợ làm đồ
gốm. Cũng trong xưởng ấy có một
ẩn sĩ trẻ tuổi đến đấy
trước Ngài. Họ không biết nhau.
Đức Phật quan sát người ẩn sĩ
và tự nhủ: “Thanh niên này có
những cử chỉ ngộ thay. Ta nên hỏi xem
về người này”. Bởi thế Đức
Phật liền hỏi:
“Hỡi bạn, nhân danh ai mà bạn
đã từ bỏ gia đình? Ai là thầy
của bạn? Bạn thích lý thuyết của
ai?”
Chàng ẩn sĩ trẻ tuổi đáp:
“Ồ bạn ơi, có ẩn sĩ Cồ
Đàm dòng họ Thích Ca, đã từ
bỏ gia đình để trở thành một
ẩn sĩ. Người ta đồn rằng đó
là một vị A La Hán, một bậc Toàn
Giác, chính nhân danh con người thánh
thiện ấy mà tôi đã trở thành
một ẩn sĩ. Người là thầy của
tôi và tôi thích lý thuyết của
Người”.
- Vậy chớ con người thánh thiện ấy,
vị A La Hán, đấng Toàn Giác ấy
bây giờ đang ở đâu?
- Ở các xứ về
phương Bắc, có một đô thị
gọi là Xá Vệ (Sāvatthi), chính
đấy là nơi đấng Thế Tôn, vị
A La Hán, đấng Toàn Giác đang ở.
- Bạn có khi nào
thấy vị ấy chưa? Đấng Thế Tôn
ấy? Nếu gặp Người, bạn có thể
nhận ra Người ấy hay không?
- Tôi chưa bao giờ thấy Đức Thế
Tôn ấy. Nếu gặp Người tôi cũng
sẽ không làm sao nhận ra được.
Đức Phật nhận ra rằng chính nhân danh
Ngài mà người thanh niên xa lạ này
đã từ bỏ gia đình và trở
thành một ẩn sĩ. Nhưng vẫn không
để lộ tông tích, Ngài bảo:
- Hỡi ẩn sĩ, tôi
sẽ giảng cho bạn lý thuyết, hãy
chú ý lắng nghe. Tôi sẽ nói.
- Được bạn
nói đi, người trẻ tuổi chấp
thuận.
Khi ấy
Đức Phật giảng dạy cho người thanh
niên bài thuyết pháp đặc sắc
nhất về chân lý. Chỉ sau khi Ngài
thuyết pháp xong, người ẩn sĩ tên
là Pukkusàti, mới nhận ra rằng người
nói với mình chính là Đức
Phật, người thanh niên cúi thấp mình
dưới chân Đức Phật, và xin lỗi
với Ngài vì đã không biết và
đã gọi Ngài là “bạn”.
Qua câu
chuyện trên ta thấy rõ là khi Pukkusāti
lắng nghe Đức Phật và lãnh hội
được giáo pháp của Ngài, anh
không hề biết Người đang nói với
mình là ai, hay đấy là giáo lý
của ai. Anh ta tìm thấy chân lý, chỉ
có vậy, mọi nhãn hiệu đều phụ
thuộc. Ngay cả nhãn hiệu Phật Giáo
mà ta đặt cho giáo lý của Đức
Phật cũng không mấy quan hệ. Cái tên
mà ta đặt cho Phật là điều
không thiết yếu. (Con đường thoát
khổ – Trí Hải dịch).
Trong tinh thần
không cần nhãn hiệu Nho Giáo hay Phật
Giáo đó, ta có thể giải thích
bài thơ trên của Ngô Thì Nhậm
như thế nào?
Có
lẽ ta phải hiểu như thế này: nếu
là một bậc Trượng Phu quân tử
của Nho Giáo thì “phải trầm lặng
mà thể hội lẽ thái hòa của
Trời Đất”. Còn nếu là một
Thiền sư của Phật Giáo thì khi đi
sâu vào Thiền Định sẽ trực nhận
được rằng:
Thường tự tịch
diệt tướng
(Các pháp xưa nay
Thường tự vắng
lặng)
Như hai câu kệ mà
Kinh Pháp Hoa đã mô tả.
Và
đây là một bài thơ khác nữa
của Ngô Thì Nhậm. Bài thơ nói
lên cái thấy của ông về bản
thể của vũ trụ, bản thể ấy vốn u
huyền, lặng lẽ, nghĩa là “nguyên
thường tĩnh” nhưng đồng thời
nó cũng ”nguyên thường
động” cũng có nghĩa là rất
lưu động, và biến thiên cùng
khắp:
Càn khôn diệu ý
bất thắng cùng
Vạn tượng thiên
nghi vãn chiếu trung
Cao xứ sơn hoàng
đê xứ thúy,
Tả biên thùy
bích hữu biên hồng.
Ẩn ngư lân lập
than đầu hỏa,
Quy điểu hàn sinh
mộc mạt phong.
Cánh hữu nhất ban
thanh ý vị
Tùng lâm y ước
sổ thanh chung
(Cái diệu ý của
trời đất nói sao cho xiết
Muôn vạn hình
tượng hòa hợp trong bóng chiều
Chỗ cao thì núi
vàng, chỗ thấp thì màu biếc
Phía bên trái
nước biếc, phía bên phải màu
đỏ.
Cá lặn chầu vây
như ánh lửa đầu ghềnh
Chim về tổ vẫy
cánh sinh gió trên ngọn cây
Lại còn có một
ý vị trong trẻo hơn nữa:
Tiếng chuông chùa
văng vẳng điểm nhịp trong rừng thông)
(23)
(Lệ giang vãn
điếu)
Với
Nguyễn Trãi có lẽ ông làm thơ
là vì sự rung động của trái tim
mỗi khi có đau khổ hoặc một niềm vui
nhiều hơn là muốn dùng thi ca để
diễn tả tư tưởng hoặc triết lý.
Mặc dù không chính thức nhận mình
là Thiền sư, nhưng trong thơ của Nguyễn
Trãi thì tư tưởng Phật Giáo
ảnh hưởng mạnh mẽ hơn là tư
tưởng Khổng Giáo. Còn Ngô Thì
Nhậm thì thi ca được xem như là
phương tiện để ông diễn
đạt những suy tư của ông về
tư tưởng và triết lý. Và dù
chính thức tự nhận là Thiền sư
(Hải Lượng) nhưng tư tưởng Khổng
Giáo trong thơ văn của ông có phần
lấn lướt hơn tư tưởng Phật
Giáo.
Nhưng dù có khác nhau đôi chút
như vậy, nhưng trong thi ca của họ thì
chỉ có hình ảnh của những ngôi chùa
giữa núi non tịch mịch hay trong thôn
làng vắng vẻ của quê hương
đất nước mà thôi, chứ ta không
hề thấy có bất cứ một bài thơ
nào ghi lại những cảm xúc của họ
về các văn miếu hoặc những nơi
thờ tự Khổng Tử cả.
Như
vậy ta có thể kết luận được
là, tư tưởng Khổng Giáo chỉ tồn
tại trong lý trí của họ chứ chưa
đi vào được trong tình cảm, trong khi
Phật Giáo thì đã chiếm trọn
vẹn trái tim tình cảm không chỉ
Nguyễn Trãi mà còn cả Ngô Thì
Nhậm nữa.
- III -
Khi gặp
Trần Thái Tông trên đỉnh núi
Yên Tử, quốc sư Trúc Lâm đã
nói với nhà vua như thế này:
“… Trong núi vốn không có Phật,
Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng lẽ mà
hiểu, đó chính là chân Phật. Nay
nếu bệ hạ giác ngộ điều
đó thì lập tức thành Phật,
không cần khổ công tìm kiếm bên
ngoài.”
Khi thấy vị vua trẻ tuổi
đang đau khổ muốn vứt bỏ ngai vàng
như vứt “đôi dép rách”
này còn đang phân vân lưỡng lự,
thì vị Thiền sư “xương gầy,
mặt vẽ, ăn rau đắng, nếm trái
cây, chơi cảnh rừng, uống nước
suối, lòng như mây nổi” liền
nói tiếp:
“Phàm
đã là bậc nhân quân tất phải
lấy ý muốn của thiên hạ làm
ý muốn của mình. Lấy tấm lòng
của thiên hạ làm tấm lòng của
mình. Nay muôn dân đã muốn đón
bệ hạ về thì bệ hạ không về
sao được! Duy có việc nghiên cứu
nội điển xin bệ hạ đừng chút xao
lãng mà thôi” (24).
Không
còn hồ nghi gì nữa, chính hai câu
nói đó của Quốc sư Trúc Lâm
đã là tư tưởng chỉ đạo
toàn bộ cho vương triều Trần. Một
triều đại mà tất cả sử gia dù
thích hay không thích Phật Giáo đều
phải thừa nhận là độc đáo
nhất trong lịch sử 2000 năm dựng nước
và giữ nước của dân tộc.
Vậy là nỗi phân vân giữa “nhập
thế” và “xuất thế” của
các sĩ phu mà hầu hết đều xuất
thân từ “cửa Khổng sân Trình”
đã được vị Thiền sư vốn
được nuôi dưỡng từ truyền
thống tinh thần của Kim Cang Bát Nhã, Duy Ma,
Hoa Nghiêm, Thắng Man của Đại Thừa
Phật Giáo đã tóm tắt lại chỉ
trong hai câu ngắn gọn nhưng vô cùng
súc tích đã giải quyết
được vấn đề trọng đại
ấy một cách dứt khoát và triệt
để.
Trong bài Phú Cư Trần Lạc Đạo,
người sáng lập ra Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử là vua Trần Nhân Tông
cũng đã mở đầu bằng hai câu:
Mình ngồi thành
thị
Nết dụng sơn lâm
(Hội thứ nhất)
Nghĩa
là xưa nay ai cũng cứ nghĩ rằng phải
bỏ tất cả để vào rừng núi
thì mới đúng nghĩa là đi tu,
còn thành thị vốn được xem là
nơi tranh giành lợi danh của người thế
tục. Nhưng qua hai câu này, Trần Nhân
Tông đã định nghĩa lại rằng,
nếu một người ở thành thị, nhưng
làm việc hết mình vì sự an lạc
của mọi người, bằng cái tâm trong
sạch nghĩa là làm việc với cái
tâm không lợi không danh, không đem
lại lợi lộc về riêng cho bản thân
mình, thì nhất định kẻ ấy
đã ở trên núi rừng rồi. Vì
núi rừng là gì? Chẳng phải núi
rừng là nơi tiêu biểu cho sự thanh khiết
và trong sạch đó hay sao?
Bởi
vậy Trần Nhân Tông khẳng định tư
tưởng này một lần nữa rằng:
Trần tục mà nên,
phúc ấy càng yêu hết sức
Sơn lâm chẳng cốc,
họa kia thật cả đồ công (Hội thứ 3)
Hơn ai
hết, Trần Nhân Tông có thẩm quyền
để nói như vậy, vì Trần Nhân
Tông đã từng làm vua, mà lại
không phải một ông vua như bao nhiêu
ông vua tầm thường khác. Một ông vua
đã đích thân cầm quân
đánh tan hai cuộc xâm lăng của đế
quốc Nguyên Mông, một đế quốc
mà từ Đông sang Tây, từ Âu sang
Á phải run sợ mỗi khi nhắc đến.
Một ông vua đã đưa dân tộc
từ một đất nước đã tan nát
vì hai cuộc chiến tranh trở thành một
đất nước hùng mạnh, không phải
chỉ hùng mạnh trên phương diện
quân sự không thôi mà trên tất
cả mọi phương diện khác nữa,
nhất là phương diện văn học.
Tại
Việt Nam, sau bao nhiêu thập niên cố tình
xuyên tạc cố tình kết án dòng
văn học ấy là gieo rắc sự bi quan,
tiêu cực, yếm thế, nhưng dòng văn
học ấy đã không hề bị quên
lãng mà vẫn tiếp tục âm thầm
nuôi dưỡng tinh thần cho những người
con ý thức nhất của dân tộc, giữa
một dòng văn học hoàn toàn vắng
bóng tình người. Một dòng văn
học chỉ biết “mạt sát” hoặc
“đề cao” mà thôi. “Mạt
sát” những gì mà họ thấy là
có hại cho sự “độc quyền”
và “đề cao” những gì mà
họ nghĩ là có lợi cho sự
“độc quyền” ấy, chứ không
phải đứng trên tinh thần khách quan
để “mạt sát” hoặc
“đề cao”. Khi một dòng văn học
mà chỉ biết lấy sự tuyên truyền
ý thức hệ làm cứu cánh thì
tất nhiên dòng văn học ấy phải
vắng bóng tình người và cả
tình nhân loại nữa, dòng văn học
ấy đến lúc phải trở thành lỗi
thời, nhất là khi thấy đã đến
lúc phải đứng cùng với thế
giới văn minh và tiến bộ của loài
người. Đặng Thái Mai, trong bài Mấy
điều tâm đắc trong khi đọc lại
văn học của một thời đại đã
phải xác nhận lại rằng, nền văn
học đời Trần đã ảnh hưởng
một cách tốt đẹp đến đời
sống xã hội thời ấy như thế
này:
“Bảo là đời sống hồi này
là một đời sống “tự do”,
một đời sống hoàn toàn “bình
đẳng” thì e quá. Nhưng tôi
thiết tưởng rằng đời sống xã
hội phong kiến thời này còn những
ngày dễ chịu, vui vẻ, gần gũi với
nhau thì cũng không phải là ngoa. Đây
là tâm lý chung của thời đại: vui
độc lập tự chủ của dân tộc.
Hồi ấy người ta biết sống, biết
sống trong tình thân, trong vui vẻ, trong tin
tưởng” (25).
Muốn
có được một xã hội tương
đối lý tưởng ấy, Trần Nhân
Tông dù đang là một vị tổ sư
khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên
Tử vẫn không chủ trương “độc
quyền” tôn giáo của mình mà
đã thực hiện đúng tinh thần của
Phật Giáo là tự do, bình đẳng
với mọi trào lưu tư tưởng
đương thời khác, khi Trần Nhân
Tông viết:
Sạch giới lòng,
dồi giới tướng
Nội ngoại nên Bồ
Tát trang nghiêm.
Ngay thờ Chúa, thảo
thờ cha
Đi đỗ mới
trượng phu trung hiếu (Hội thứ 6)
Vậy
là không chỉ mẫu người Bồ Tát
trang nghiêm của Phật Giáo không thôi,
mà Trần Nhân Tông còn kết hợp
cả mẫu người lý tưởng
trượng phu quân tử, tức là mẫu
người lý tưởng của Nho giáo.
Nhưng thế nào là mẫu người
trượng phu quân tử? Mạnh Tử đã
định nghĩa như thế này: “Phú
quý bất năng dâm, bần tiện bất
năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi
vị đại trượng phu” (Giàu sang
không thể mê hoặc, nghèo hèn không
thể lay chuyển, uy vũ không thể khuất
phục, đó gọi là Đại Trượng
Phu).Đối với mẫu người Bồ Tát
trang nghiêm theo lý tưởng Phật Giáo thì
theo Trần Nhân Tông phải là:
Dựng cầu đò,
dồi chiền tháp
Ngoại trang nghiêm sự
tướng hãy tu.
Săn hỷ xả, nhuyễn
từ bi
Nội tự tại kinh
lòng hằng đọc (Hội thứ
tám)
Theo
giáo sư Lê Mạnh Thát thì:
“Thế rõ ràng con người Trượng
Phu và con người Bồ Tát phải kết
hợp với nhau thành con người Phật
Giáo của Thiền Trúc Lâm” (25).
Còn
một sự kiện quan trọng nữa đã
diễn ra trong buổi lễ Trần Nhân Tông trao
truyền y bát cho Pháp Loa làm tổ thứ 2
của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử,
được ghi lại trong Tam Tổ thực lục, mà
có lẽ ít người lưu ý tới,
buổi lễ diễn ra một cách trang trọng
như thế này:
“Vào
tháng 5, Điều Ngự lên ở am tại
đỉnh núi Ngọa Vân. Ngày rằm Bố
Tát xong, đuổi tả hữu ra, đem y bát và
viết tâm kệ giao cho Sư, bảo phải giữ
gìn. Ngày mùng một tháng giêng năm
Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308) Sư vâng
lệnh làm trụ trì nối dòng Pháp
ở Cam Lộ Đường và làm lễ trao
truyền, vua cho đặt bài vị của liệt
tổ, tấu đại nhạc, đốt hương
thơm, đánh trống pháp, tập hợp
đại chúng lên Pháp đường.
Bấy giờ vua Trần Anh Tông xa giá đến
chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách xong, vua
Trần Anh Tông vì là đại thí
chủ của Phật Pháp đứng vào
ngôi khách ở Pháp đường,
thượng tể Trần Quốc Trấn đem bá
quan đứng ở dưới sân. Điều
Ngự lên tòa thuyết pháp. Giảng xong,
bèn đi xuống đỡ Sư lên tòa.
Điều Ngự đứng chấp tay hỏi han, Sư
đáp lễ xong nhận Pháp y mặc vào.
Điều Ngự bèn bước sang một bên,
ngồi trên giường Khúc Lục, nghe Sư
thuyết pháp. Đem chùa Siêu Loại của
sơn môn Yên Tử sai Sư thừa kế trụ
trì, làm đời thứ 2 của dòng
Trúc Lâm. Lại đem Ngoại thư kinh sử
100 hộp và Đại tạng 20 hộp nhỏ
(…) để mở rộng việc học nội
và ngoại điển” (26).
Vậy
là Trần Nhân Tông không chỉ trao 20
hộp kinh đựng Đại tạng Phật Giáo
thôi, mà còn trao cho Pháp Loa 100 hộp kinh
sách của các tôn giáo khác, trong
đó chắc chắn phải có các tác
phẩm của các tác giả Trung Quốc
nữa, một nước được xem như kẻ
thù không đội trời chung của
nước Đại Việt, mà gần nhất
là đã 2 lần đem quân xâm lăng
và đã bị Trần Nhân Tông
đánh đuổi ra khỏi bờ cõi. Vậy
mà Trần Nhân Tông vẫn di chúc cho
người kế thừa của mình phải học
hỏi và phổ biến nền văn hóa ấy
trong chính dòng Thiền của mình.
Trần
Nhân Tông sinh 1258 và mất 1308, tức là
thế kỷ thứ 13, thế kỷ mà lịch
sử Âu Châu đang ở trong thời kỳ Trung
Cổ. Thời kỳ mà ngoại trừ một
số nước ở Tây Âu ra, còn tất
cả các vùng thuộc Trung Âu thì đang
chìm ngập trong bóng tối dày đặc.
Nông nô quằn quại dưới ách
thống trị của các lãnh chúa,
đặc biệt là học thuật tư
tưởng đều bị bóp chết, không
có điều kiện để nảy nở.
Tiếp đến là thế kỷ 16, năm 1542
Giáo Hoàng Paul đệ tam tái lập tôn
giáo Pháp đình, để bài trừ
tự do tư tưởng. Đến Giáo Hoàng
Paul đệ tứ (1559 – 1565), thì càng
khủng khiếp hơn nữa, không chỉ dùng
lửa để hủy hoại phong trào cải
cách thôi, mà Paul đệ tứ còn muốn
bóp chết luôn cả khoa học và triết
học nữa. Rồi đến năm 1559 thì
sách vở được đem ra chất từng
đống để đốt. Chính trong thời
gian này, nhà khoa học
Vậy mà Trần Nhân
Tông, vị hoàng đế và Thiền sư
của nước Đại Việt vào thế
kỷ thứ 13 đã chủ trương tự do
tư tưởng, tự do tôn giáo một
cách triệt để và dứt khoát
bằng cách trao cho đệ tử kế thừa
của mình một 100 hộp kinh sách ngoại
điển, nghĩa là không chỉ học
giáo pháp của Phật Giáo mà phải
học và nghiên cứu các tôn giáo
khác nữa, kể cả nền văn hóa
và nghệ thuật của ngoại bang, dù
nền văn hóa của nước đã
đô hộ và xâm lăng đất
nước của chính mình.
Chính
vì thế mà nước Đại Việt sau
đời Trần, thời kỳ mà các sử
gia gọi là thời “độc tôn Nho giáo”
thì tư tưởng của Trần Nhân Tông
được thể hiện cụ thể nhất qua
Cư Trần lạc đạo Phú vẫn tiếp tục
duy trì và phát triển một cách
mạnh mẽ. Có lẽ không có một
sử gia nào có thẩm quyền hơn là
sử gia Lê Mạnh Thát trong việc xác
nhận ảnh hưởng này:“… Có
thể nói Cư Trần lạc đạo Phú
là một bản tuyên ngôn của con
đường sống đạo, mà Phật
Giáo Việt Nam đã đề ra và
đã chi phối cuộc sống của hàng
triệu người Phật tử Việt Nam thời vua
Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau.
Nó cũng là một trong số ít tác
phẩm quyền uy, khi Thiền sư Chân Nguyên
trình bày những vấn đề Phật
Giáo cho vua Lê Chánh Hòa vào khoảng
năm 1692 trong Kiến Tánh thành Phật lục” (27).
Và
“trong vòng 300 năm trở lại đây,
Cư Trần lạc đạo Phú và Đắc
thú Lâm tuyền thành đạo ca
được in nhiều lần. Điều này
chứng tỏ Cư Trần lạc đạo Phú
vẫn tiếp tục được học tập
và truyền bá dù Phật Giáo cũng
như đất nước đang chuyển mình qua
một giai đoạn mới. Giá trị lý
luận của Cư Trần lạc đạo Phú,
từ đó vẫn có sức hấp dẫn
mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối
thế kỷ 18 với những chiến công Ngọc
Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân
và dân Tâ Chú thích:
- Nguyễn
Trãi toàn tập, NXB KHXH, Hà Nội 1976. (1) tr. 364,
(2) tr. 281, (3) tr. 22, (4) tr.
18, (5) tr. 19, (8) tr. 77 (12) tr. 330, (13) tr. 266, (15) tr. 346, (16)
tr. 352, (17) tr. 373, (18) tr. 380, (29) tr. 365, (30) tr. 340 .
- Tuyển
tập 40 năm Tạp chí Văn học, tập 2.
Nhiều tác giả, NXB TP. HCM 1999 (6) tr. 50
– 51, (7) tr. 50, (25) tr. 212
- Ngô Thì Nhậm trong
văn học Tây Sơn của Mai Quốc Liên, NXB
Thông tin văn hóa Nghĩa Bình (9) tr. 91, (10) tr. 97
– 98, (11) tr. 178, (14) tr. 187, (19) tr. 25 (20) tr. 68, (21) tr. 189, (22)
tr. 113, (23)
tr. 190
- Thơ
văn Lý Trần, tập 2, NXB KHXH, Hà Nội 1983 (24) tr. 28 – 29 Toàn tập
Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Thát, NXB
TP. HCM, năm 2000 (25)
tr. 312, (26) tr. 311, (27) tr. 271, (28) tr. 271
- Nguyễn
Trãi sinh thức và hành động của
Võ Văn Ái, NXB Quê Mẹ,
tr. 231
- Thơ
văn Ngô Thì Nhậm, tập 1, NXB KHXH, Hà
Nội 1978 (32) tr. 10