Truyền
Tâm Ấn
Diệu Trân
TS Pháp
Luân 17
Vu Lan - Báo Hiếu - PL.2549
Hoàng
tử Bồ-Đề-Đa-La thả lỏng giây
cương. Con bạch mã thong dong bước qua
cổng hoàng thành, đi về phía hoàng
cung. Đám lính lệ cúi rạp, đỡ
hoàng-tử xuống ngựa. Khi hoàng-tử
bước vào sân rồng thì đã
thấy phụ hoàng là vua Hương Chí, hai
hoàng huynh là hoàng-tử
Nguyệt-Tịnh-Đa-La và Công-Đức-Đa-La
đang cung kính tiếp chuyện một vị
Tăng. Hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La vội
quỳ xuống đảnh lễ. Vua Hương Chí
nói:
- Đây là Tổ
Bát-Nhã-Đa-La mà cha cung thỉnh tới
để được cúng dường Ngài.
Nghe danh
xưng đó, hoàng tử
Bồ-Đề-Đa-La ngước lên. Ánh
mắt của hoàng tử vừa chạm tới
thần quang của Tổ thì lòng hoàng
tử bỗng cực kỳ rung động, và
một niềm vui bao la lan tỏa khắp châu thân.
Tổ Bát-Nhã-Đa-La đưa tay ra, tỏ ý
đỡ hoàng-tử đứng dậy. Lui về
chỗ ngồi nhưng mắt hoàng-tử vẫn
không rời vị sứ giả Như-Lai,
người đang tỏa ánh sáng kỳ diệu
như thể chiếu sáng được cả
thế gian.
Tổ
Bát-Nhã-Đa-La cũng không ngớt nhìn
hoàng-tử. Với tuệ nhãn, Ngài vừa
thấy được trí tuệ vô song của
vị hoàng-tử nhỏ qua cung cách đảnh
lễ rất khiêm cung mà lại vô cùng
thư thái, tự tại. Ngài bèn giơ
lên hạt minh châu quý giá mà vua
Hương Chí vừa cúng dường và
hỏi:
- Trên đời có
thứ gì quý hơn hạt minh châu này
không?
Hoàng-tử
Nguyệt-Tịnh-Đa-La vòng tay thưa:
- Đây là hạt minh
châu quý giá nhất, chỉ giòng vua
Sát-Đế-Lợi mới có. Trên
đời không gì có thể quý hơn.
Hoàng-tử
Công-Đức-Đa-La cung kính tiếp lời anh:
- Bạch Tổ, đây
là hạt minh châu chiếu sáng nhất.
Không gì trên đời có thể chiếu
sáng hơn hạt châu này.
Vua Hương Chí
đưa mắt nhìn hoàng-tử út, chờ
câu trả lời. Hoàng-tử
Bồ-Đề-Đa-La quỳ xuống trước
Tổ mà thưa rằng:
- Hạt minh châu này
rất quý, nhưng chưa phải là thứ
quý nhất trên thế gian. Hạt minh châu
này chiếu sáng, nhưng chưa phải là
ánh sáng rực rỡ nhất thế gian. Bởi
vì, hạt châu này không thể tự
nó hiển hiện, nếu không nhờ trí
tuệ giúp nó hiển bày; rồi nó
cũng không tự biết nó là gì,
nếu không nhờ trí tuệ giúp nó
biết được nó là hạt minh châu.
Biết mình là hạt châu rồi, nó
cũng không tự biết nó quý giá,
nếu không nhờ trí tuệ giúp nó
biết giá trị của nó. Tóm lại,
nhờ trí tuệ, hạt châu mới biết
được mình là hạt châu quý
giá, có thể tỏa chiếu ánh sáng.
Nhưng ánh sáng đó cũng chỉ
chiếu sáng cho chính nó mà thôi,
nó chẳng làm sáng được viên
đá, hòn sỏi nào để gần
nó. Vì vậy, bạch Tổ, con nghĩ rằng,
hạt châu này chưa phải là thứ
quý nhất trên đời.
Tổ
Bát-Nhã-Đa-La yên lặng mỉm
cười. Nhưng nhà vua thì nóng nảy
hỏi;
- Vậy thứ gì
quý hơn hạt châu này?
Hoàng-tử
Bồ-Đề-Đa-La vòng tay thưa:
- Bạch Tổ, tâu
phụ vương, trí tuệ là thứ quý
hơn hạt châu này muôn ức lần.
Trí tuệ chính là thứ quý nhất
trên đời, vì có trí tuệ mới
nhận ra được tự tánh, và nhận
ra tự tánh mới giải thoát khỏi mọi
trói buộc phiền não, mới đoạn diệt
được luân hồi. Ánh sáng trí
tuệ là ánh sáng rực rỡ nhất
trên đời vì người có ánh
sáng trí tuệ không chỉ soi sáng
chính mình mà còn soi sáng cho
người u tối, giúp họ đoạn trừ
vô minh mà giác ngộ. Trí tuệ cũng
là của cải bền vững nhất vì
người đã có trí tuệ rồi
thì không cảnh huống nào, quyền lực
nào có thể lấy đi được.
Vua
Hương Chí và hai hoàng tử
Nguyệt-Tịnh-Đa-La, Công-Đức-Đa-La
cùng sửng sốt khi nghe câu trả lời
của hoàng-tử út. Họ nhìn
hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La như nhìn
một người rất lạ, một người
uyên bác thâm sâu mà trước
đây họ không hề chú ý tới.
Riêng tổ Bát-Nhã-Đa-La thì vẫn im
lặng mỉm cười. Ngài nhớ lại khi
xưa, sư phụ của Ngài là
Bất-Như-Mật-Đa, trước khi thị tịch
cũng phải biết, trong hàng đệ tử ai
là kẻ xứng đáng để truyền
tâm ấn, tiếp nối việc hoằng pháp
độ sanh. Từ ngày Tổ được sư
phụ truyền tâm ấn, ròng rã nhiều
chục năm bôn ba hoằng pháp mà chưa
tìm được đệ tử đủ công
năng và trí tuệ để kế thừa
Tổ vị. Hôm nay, cơ duyên đã tới
rồi chăng?
Sau khi vua
Hương Chí băng hà, hoàng-tử
Nguyệt-Tịnh-Đa-La lên nối ngôi thì
hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La xin theo Tổ
học đạo. Tổ Bát-Nhã-Đa-La không
ngạc nhiên khi thấy hoàng-tử nhỏ
tìm đến thiền đường, vì Tổ
đã nhìn thấy căn cơ của hoàng
tử qua cuộc trắc nghiệm về hạt minh
châu. Tổ hoan hỷ nhận hoàng tử làm
đệ tử và đặt hiệu là
Bồ-Đề-Đạt-Ma.
Từ
đó, Bồ-Đề-Đạt-Ma theo thầy
hoằng pháp mấy mươi năm ròng.
Trước
khi diệt độ, tổ Bát-Nhã-Đa-La
gọi Bồ-Đề-Đạt-Ma đến mà
nói rằng:
- Cơ duyên hóa
thân của ta tới đây đã dứt.
Xưa, Như-Lai trao truyền Chánh Pháp Nhãn
Tạng cho Tổ Ca Diếp, lần lượt nhiều
đời nhiều kiếp, đến ta được
nhận lãnh. Nay, con là đệ tử xứng
đáng để ta truyền lại, con phải
hết lòng gìn giữ và lưu truyền.
Đó là trọng trách của kẻ
được kế thừa tổ vị. Sau khi ta diệt
độ rồi, con hãy tạm ở
Bồ-Đề-Đạt-Ma
sụp lạy sư phụ, nhận lễ truyền
tâm cùng y bát của thầy mình
để sau này làm ấn tín.
Và,
đúng như điều tổ
Bát-Nhã-Đa-La đã thấy trước,
Bồ-Đề-Đạt-Ma chính là vị
Tổ thứ nhất đã gieo hạt Thiền
Tông Phật giáo ở Trung Hoa, và từ
đấy ảnh hưởng trực tiếp đến
những dòng thiền tại Nhật Bản, Triều
Tiên và ngay cả Việt Nam.
Nhắc
lại chuyện xưa để chúng ta có
thể học được bài học đầu
tiên nơi vị hoàng-tử nhỏ. Đó
là, NHẬN BIẾT GIÁ TRỊ CỦA TRÍ
TUỆ VÀ DÙNG TRÍ TUỆ ĐÓ NHƯ
NGỌN ĐÈN, XUA TAN BÓNG TỐI TRONG TA VÀ
QUANH TA.
Như một thiền sư
đã nói, khi đèn được bật
sáng, ta chỉ còn việc nhìn mọi vật
cho tỏ tường, mà không bận tâm bóng tối
rồi sẽ đi về đâu. Có phải
vậy không, thưa chư liệt vị?