Nắng Hạ nhạt dần, bầu trời trong xanh giờ đây đã nổi lên
những cụm mây trắng lãng đãng theo gió heo may. Lá vàng rơi
rơi như đang thổn thức tìm về nguồn cội. Mưa ngâu giăng
giăng sụt sùi vơi đầy tâm sự. Tất cả những cảnh tượng đó báo
hiệu mùa Thu về. Mùa Thu đã về, với người con Phật là mùa
báo hiếu đã đến, Vu-lan thắng hội, ngày Phật hoan hỉ, ngày
Tăng Tự Tứ lại về.
“Mỗi độ gió thu về
Rải rắc lá vàng rơi
Vu-lan sầu man mác
Lòng nhớ mẹ không nguôi”.
Mùa Vu-lan báo hiếu vào tiết Trung Nguyên tháng bảy âm lịch
hằng năm, xuất phát từ tích ngài Mục-kiền-liên cứu mẹ: Sau
khi chứng được lục thông, tôn giả Mục-kiền-liên muốn tìm mẹ
của mình để báo đáp ân sinh thành dưỡng dục. Ngài bèn dùng
thiên nhãn tìm chốn thác sinh của mẹ, thấy mẹ đọa vào đường
Ngạ quỉ, luôn bị đói khát dày vò, bụng to như chiếc trống,
cổ nhỏ như lỗ kim, lưng còng xương lộ, trông chẳng giống
người. Thấy mẹ như vậy, lòng tôn giả đau như cắt, vội vàng
hóa ra bát cơm đem dâng từ mẫu. Mẹ ngài được cơm tức thì
tính tham của loài ngạ quỉ trổi dậy, tay trái che bát, tay
phải bốc ăn, nhưng thật thảm thay, cơm chưa tới miệng đã hóa
thành than lửa đỏ hồng, không thể ăn được.
Tôn giả Mục-kiền-liên đau đớn vô cùng, về bạch với đức Phật
chuyện vừa xảy ra. Đức Phật dạy: Mẹ con xưa đã tạo tội sâu
nặng, sức một mình con không thể cứu được, dù con hiếu thuận
cảm động trời đất nhưng mà trời đất quỉ thần thảy đều thúc
thủ; phải nhờ thần lực của mười phương tăng mới mong cứu
được. Đại Mục-kiền-liên! Ngày rằm tháng bảy, là ngày Tự Tứ
của mười phương Tăng, ngày Phật hoan hỉ, con nên chuẩn bị đủ
vị cơm canh cúng dường chúng tăng khắp cả mười phương, thỉnh
tăng chú nguyện, nhờ thần lực ấy, mẹ con thoát khỏi cảnh khổ
ngạ quỉ.
Tôn giả Mục-kiền-liên vâng lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng
bảy, sắm sửa thức ăn để cúng dường chư tăng và cầu thỉnh chư
tăng chú nguyện. Nhờ công đức này mà mẹ ngài ngay trong ngày
ấy thoát khổ ngạ quỉ, sinh lên cõi trời.
Kể từ đó, tôn giả được tôn xưng là Đại Hiếu Mục-kiền-liên và
gương sáng của Ngài được những người con hiếu thảo noi theo,
truyền mãi đến ngày nay. Vì thế, cứ mỗi độ Thu về, âm hưởng
Vu-lan đồng vọng khắp muôn nơi, từ chốn đô thị phồn hoa, đến
miền quê xa hẻo lánh, cùng trào dâng niềm báo hiếu công ơn
cha mẹ.
Công cha nghĩa mẹ cao vời
Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta
Nên người, ta phải thiết tha
Đáp đền ân nặng như là trời cao.
Báo hiếu là một quan niệm đúng đắn, một việc làm cao đẹp
được muôn đời tôn vinh. Báo hiếu phải đầy đủ hai nghĩa tri
ân và báo ân. Vì tri ân mà không báo ân thì đó là những ý
nghĩ mông lung, những lời nói suông hoặc, chẳng thiết thực
cụ thể, không có một kết quả rõ ràng. Nếu báo ân mà không
tri ân thì sự báo ân đó không trọn vẹn ý nghĩa. Chúng ta thử
nghĩ, có ai đó không biết người khác cho mình ân huệ gì mà
lại sinh tâm báo đáp, điều đó có thể xảy ra không? Thật khó
có, nếu không muốn nói là chưa từng có. Vì thế muốn báo ân
trước hết phải tri ân.
Ta hãy lắng lòng đọc lại lời Phật dạy trong kinh Báo ân Cha
Mẹ.
A nan! Ân Đức cha mẹ có mười điều sau đây:
MỘT là ân thai mang giữ gìn. Vì nhân duyên
nghiệp lực cho nên chúng sinh gá vào thai mẹ, trải qua nhiều
ngày mẹ phải chịu khổ, chín tháng cưu mang, nặng nhọc như
đội đá, đi đứng ngại gió mưa, quần áo không sửa soạn, trang
điểm còn kể chi.
HAI là ân sinh sản khổ sở. Đến tháng thứ
mười, gần ngày sinh nở, tâm trạng mẹ hiền: đêm đêm như bịnh
nặng, ngày ngày tợ hoàng hôn, hồi hộp lo nghĩ, lệ sầu tuôn
rơi, nghĩ ngợi mông lung, chỉ sợ tử thần không dung tánh
mạng.
BA là ân sinh rồi quên lo. Trong khi sinh
đẻ, gan ruột từ mẫu dường như xé rách, đau đớn mê man, máu
huyết dầm dề, khi nghe con an toàn thì vui mừng quên hết,
song vui đó lại buồn đó, lo nghĩ xiết ruột gan.
BỐN là ân nuốt đắng nhổ ngọt. Tình thương
cha mẹ thật sâu nặng, thương mến có bao giờ nhạt phai. Nhổ
ngọt không tiếc nuối, nuốt đắng nào phiền hà. thương mến
càng sâu đậm, bi sầu càng tăng thêm, miễn sao con no ấm, đói
khát mẹ nào từ.
NĂM là ân nhường khô nằm ướt. Mẹ nằm chỗ
ướt át, nâng con chỗ ấm khô. Đôi vú no đói khát, hai tay che
gió sương, yêu thương quên ngủ nghỉ, sủng ái hết giá lạnh,
chỉ mong con yên ổn, mẹ hiền không cầu an.
SÁU là ân bú mớm nuôi nấng. Mẹ hiền ân hơn
đất, cha nghiêm đức quá trời, che chở ân cao dày, cha mẹ nào
tính toán, không hiềm không mắt mũi, không ghét què chân tay.
Con sinh ra từ bụng mẹ, còn đổi dạ thương ai.
BẢY là ân tắm rửa săn sóc. Không nghĩ phận
mình, chỉ lo con bệnh, cho nên hết lòng tắm rửa săn sóc. Áo
quần lo cho con, rách rưới mẹ cam chịu. Thân con được đầy đủ
là lòng mẹ ấm áp.
TÁM là ân xa cách thương nhớ. Chết mà từ
biệt đã đành, khó nhẫn nại; sống mà biệt ly, lại càng rất
nhớ thương. Con đi đường xa cách, lòng mẹ bóng theo hình,
ngày đêm không thư dạ, sớm tối nào tạm quên. Khóc như khóc
vượn nhớ con, thương nhớ nát can trường.
CHÍN là ân vì con làm ác. Lao khổ đủ muôn
bề, bữa ăn rất khó kiếm. Vì muốn con no ấm, việc ác mẹ khó
từ. Nuôi con khôn lớn, lo gầy dựng, lo cơm áo, sợ cơ hàn;
kho nấu bao sinh vật, cũng vì ngon miệng con.
MƯỜI là ân thương mến trọn đời. Ân đức của
cha mẹ cao sâu hơn trời đất, hi sinh hết tất cả, vẫn thấy
chưa vừa lòng. Mẹ già hơn trăm tuổi còn thương con tám mươi.
Tình thương có ngừng chăng, chỉ hơi thở cuối cùng.
A nan! Như Lai xét thấy chúng sinh tuy làm thân người, nhưng
tâm trí vẫn còn tối tăm. Không biết ân đức cha mẹ cao dày.
Không biết kính trọng, vong ân bội nghĩa. Không lòng mến
thương, bất hiếu bất mục. Từ mẫu mang thai trong mười tháng
tròn, đứng ngồi không yên, như gánh gánh nặng, ăn uống không
xuống, như bệnh lâu ngày. Khi đủ ngày tháng, sắp sửa sinh
con, thì đủ khổ sở, khiếp sợ tử thần, tánh mạng mong manh.
Như vật bị hại, huyết chảy tràn đất. Mẹ khổ đến thế mới sinh
ra ta. Sinh rồi nuốt đắng nhổ ngọt, bồng ẵm nuôi nấng, không
kể mệt nhọc, chịu nắng chịu mưa, không từ cay đắng. Chỗ khô
con nằm, chỗ ướt mẹ lăn. Suốt trong ba năm, nhờ huyết sữa mẹ
mới thành đứa bé. Đến khi khôn lớn, lo việc giáo dục, lo
việc hôn nhân, kinh doanh sản nghiệp, tận tụy lao lung. Khổ
nhọc suốt đời, không kể công khó. Con cái tật bệnh, cha mẹ
bệnh theo, bịnh con nếu hết, cha mẹ mới lành.
Qua đoạn kinh văn trên, chúng ta đã cảm nhận được một cách
rõ ràng công ơn trời biển của hai đấng sinh thành.
Đức Phật đề cao sự hiếu dưỡng cha mẹ, Ngài dạy: “Tâm hiếu là
tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”, hay trong kinh Đại Tập
ghi: “Gặp thời không có Phật, khéo thờ phụng cha mẹ chính là
thờ Phật”. Điều đó có nghĩa cha mẹ chúng ta chính là vị Phật
sống trong nhà, cần phải tôn trọng, cúng kính, cúng dường.
Đã là người Việt Nam ai cũng thuộc câu:
“Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Đạo làm con phải tròn chữ Hiếu. Công cha như núi Thái, nghĩa
mẹ như nước trong nguồn, ý chỉ cho công ơn cha mẹ vô bờ bến.
Hay nói cụ thể, công ơn vô lượng của cha mẹ có thể qui kết
thành bốn ơn nặng:
THỨ NHẤT ÂN CHO THÂN:
Ân cho thân con hằng tạc dạ
Bởi từ đâu con đã nên hình
Dù cho bể đời nhục vinh
Nguyện xin trân quí mảnh hình hài xưa.
Ai cũng biết thân của chúng ta là do tinh cha huyết mẹ sinh
ra, những danh, những phận, những quyền, những chức có được
về sau đều phải nương vào thân này mới thành. Nếu không có
thân này thì quyền danh chức phận sẽ gắn vào đâu? Thế mà có
một số người được người khác ban cho chức vị, liền nhớ canh
cánh trong lòng mong có dịp để báo đền, còn ân cho thân của
cha mẹ nặng vô ngần thì không hề nhớ đến. Đáng thương thay!
Nên biết tấm thân này là một phần máu huyết của cha mẹ, là
di sản của cha mẹ truyền trao cho con, cho nên ta phải trân
quí di sản ấy, phải luyện tập để có một khối óc thông minh,
một thân thể khỏe mạnh, đừng tự đầu độc mình bằng thuốc lá,
xì ke, ma túy… làm cho thân tâm suy nhược lụi tàn. Đó là một
hành động vong ân bội nghĩa.
THỨ HAI LÀ ÂN NUÔI DƯỠNG:
Nhờ đâu con được lớn khôn
Công ơn cha mẹ mỏi mòn tháng năm
Ân cha nghĩa mẹ tình thâm
Nguyện xin khắc cốt ghi tâm đáp đền.
Khi con cất tiếng khóc chào đời thì mẹ cũng hai dòng nước
mắt chảy. Mẹ khóc không phải vì nỗi đau hay buồn phiền mà vì
niềm vui quá đỗi. Qua bao chuỗi ngày mong đợi, giờ đây con
đã ra đời. Thế rồi một quãng dài năm tháng, cha mẹ bận rộn
với công việc nuôi con: “Mẹ nằm chỗ ướt át, nâng con chỗ ấm
khô, đôi vú lo đói khát, hai tay che gió sương, yêu thương
quên ngủ nghĩ, sủng ái hết giá lạnh, chỉ mong con yên ổn, mẹ
hiền không cầu an”.
Một khi nào đó nhàn rỗi, lui về trong tĩnh lặng rồi suy niệm
công ơn chạ mẹ, ta sẽ thấy thấm thía vô cùng.
Nuôi dưỡng đã khó như thế, nhưng chưa đủ, còn phải giáo dục
con mới nên người.
THỨ BA LÀ ÂN GIÁO DỤC:
Dạy con từ thuở phôi thai
Dạy con từ thuở trong nôi dạy rồi
Dạy con cách học làm người
Biết ăn biết ở một đời thơm danh.
Hành trang cho con vào đời, bắt đầu từ những bài học của cha
mẹ. Con nên hay hư trọng trách căn bản từ gia đình, bởi vậy
trách nhiệm giáo dục của cha mẹ rất nặng, thường chi phối
tính cách cả một đời của người con. Biết bao nhiêu người
thành danh trong xã hội khi ôn lại quãng đời của mình vẫn
thường nhắc đến những lời cha mẹ dạy dỗ năm xưa. Trách nhiệm
càng lớn thì công ơn cha mẹ càng cao, kể sao cho xiết.
THỨ TƯ LÀ ÂN TÁC THÀNH:
Khi đã lớn nên danh nên phận
Cũng đều do cha mẹ tác thành
Nguyện xin giữ trọn thanh danh
Làm muôn phước thiện tâm thành hướng dâng.
Những người bất hạnh cha mẹ mất sớm, may mắn được bà con họ
hàng thương yêu chăm sóc thì lúc còn thơ ấu, có thể người ấy
chưa cảm nhận được sự thiếu vắng của cha mẹ, nhưng đến khi
thành lập gia thất mới thấm thía cảnh mồ côi, mới khát khao
sự hiện hữu của cha mẹ. Bởi có tình thương nào dành cho con
lớn hơn cha mẹ? Bởi có ai mong con được thành người hơn cha
mẹ?
Mặt khác, trong xã hội, dù người ấy có thực tài có đạo đức
đi nữa cũng không khỏi bị sự nghi ngờ của một số người: Nó
là con ai, liệu có đáng tin cậy không? Cho nên dù cha mẹ
tuổi già sức yếu không giúp gì được cho con cái, nhưng cha
mẹ là cây cao bóng cả, là chỗ nương tựa tinh thần vững chắc
cho đàn con. Nhà thơ Tuấn Dũng đã viết: “Rồi mai con khôn
lớn, bay đi khắp mọi miền, con đừng quên con nhé, cha mẹ là
quê hương”.
Đúng thế, cha mẹ là quê hương, là cội gốc để con nở hoa cho
đời.
Bốn ân trên là sự tóm kết công ơn vô lượng của cha mẹ. Trong
kinh báo ân cha mẹ Đức Phật dạy: “Giá như có người, vai trái
cõng cha, vai phải mang mẹ, cắt da đến xương, nghiền xương
thấu tủy, máu đổ thịt rơi, cũng chưa báo đáp được thâm ân
của cha mẹ”.
Vậy làm sao báo đáp được công ơn cha mẹ?
Khi cha mẹ còn sống, báo hiếu phải hội đủ năm yếu tố:
1. Hiếu là dưỡng
Một hiện tượng đã xảy ra trong xã hội là có những người con
để cho mẹ đói khát, nóng lạnh dãi dầu, trong khi đó họ và vợ
con cơm no áo ấm, ăn sung mặc sướng… Và càng ngậm ngùi xót
xa hơn:
Mẹ nuôi con biển hổ lai láng
Con nuôi mẹ tính tháng kể ngày.
Người như thế chắc chắn không ai thừa nhận là người con có
hiếu. Vì thế hiếu hạnh trước tiên là cung dưỡng cha mẹ. Cung
cấp những thứ cần dùng như cơm áo, thuốc thang…trong khả
nămg của mình để giúp cha mẹ sống được an ổn. Có những người
con khi cha mẹ còn sống đối xử không ra gì, đến khi cha mẹ
chết đi thì giả vờ vật vả khóc lóc như rất tiếc thương, như
rất hiếu đức, nên nhân gian có câu: “Sống không cho ăn, chết
làm văn tế ruồi”.điều đó thật vô nghĩa. Song dưỡng chỉ mới
bước đầu, dưỡng mà không cung kính thì chưa phải là hiếu. Vì
sao? Ta cung cấp cho cha mẹ với thái độ bất kính, hành động
đó chẳng khác nào đem thức ăn cho lợn cho gà ăn. Vì thế cần
phải có yếu tố thứ hai Hiếu là kính.
2. Hiếu là kính
Chúng ta kính cha mẹ của chúng ta không phải vì người có
quyền uy thế lực hay để lại cho ta nhiều sự nghiệp vật chất
mà ta kính người bởi bốn ơn nặng mà một đời cha mẹ đã dành
cho chúng ta.
Gương của người xưa vẫn còn sáng: Hán Văn Đế là con của Hán
Cao Tổ cùng cha khác mẹ với Huệ Đế. Mẹ của Văn Đế là Bạc Hậu
đau yếu nhiều năm, ông tuy thân làm quốc chủ một nước nhưng
ngoài những buổi chầu vẫn mặc triều phục đứng hầu mẹ, lo
bệnh của mẹ đến quên ăn bỏ ngủ. Vì sợ có kẻ gian bỏ thuốc
độc nên mỗi khi Thái hậu uống thuốc ông đều nếm thử rồi mới
dâng lên. Thái hậu ái ngại thương con, bảo ông để cung nữ
hầu hạ là được, nhưng ông không chịu thưa: “Nếu con trẻ
không đỡ đần được chút việc cho mẹ lúc còn sống thì biết bao
giờ mới có cơ hội báo đáp công ơn dưỡng dục!”. Bản thân là
vua của một nước mà hiếu dưỡng đến dường ấy, kính cẩn đến
dường ấy!
Tuy nhiên dưỡng và kính vẫn chưa tròn chữ hiếu mà còn phải
là hòa thuận.
3. Hiếu là thuận hòa
Thuận là vâng lời cha mẹ. Có người nói: những lời cha mẹ nói
đúng thì vâng lời đã đành, còn những lời nói sai cũng phải
vâng lời sao? Đúng thế, những lời nói sai ta không thể vâng
lời, nhưng trước mắt hãy thuận theo cha mẹ, đừng nên dùng
những lời lẽ tai ngược phản bác kịch liệt vì cho rằng ta
đúng. Làm như thế thật bất kính với cha mẹ. Ta hãy ôn hòa
rồi chọn thời gian, không gian, tâm lí thích hợp để cải
chính để cha mẹ hiều đúng sự thật. Đó mới là cách ứng xử của
người con có hiếu. Hòa là anh em thương tưởng nhau, vợ chồng
kính nhường nhau, tạo nên một gia đình đầm ấm hạnh phúc. Cha
mẹ yên lòng khi thấy anh em hòa thuận, vợ chồng hòa hợp, làm
cho cha mẹ yên lòng chính là hiếu vậy.
Lai Đích Nhân là người nước Sở, thời Xuân-Thu. Ông tuổi đã
bảy mươi mà vẫn còn song thân. Sợ cha mẹ thấy con già nua mà
thương xót lo buồn nên ông thường bày trò để cha mẹ vui. có
khi thì mặt áo sặc sỡ nhiều màu tay múa miệng hát trước mặt
cha mẹ; có lúc ông bưng nước hầu cha mẹ, lỡ trượt chân té,
ngồi khóc hu hu như con trẻ, khiến cho cha mẹ bật cười trước
trò ngộ nghĩnh này.
4. Hiếu là Hạnh
Hạnh nghĩa là làm những việc khó làm.
Khi cha mẹ tuổi đã về già, thân thể dần dần tàn lụi, thần
trí cũng không còn minh mẫn, dễ giận khó vui, ưa hờn lẫy la
mắng, ăn rồi nói chưa ăn, chưa ăn nói đã ăn; trái gió trở
trời, đau ốm liên miên, thậm chí việc đại tiểu tiện cũng
không tự chủ. Đây chính là lúc cha mẹ cần đến con cái để
nâng đỡ chăm sóc. Những hiện tướng như vậy cho thấy cha mẹ
không còn sống với chúng ta bao lâu nữa, vì thế đừng bao giờ
bực bội xẳng giọng với người mà ngược lại phải dành hết kính
yêu, sớm chiều săn sóc, chớ ngại những việc khó làm như dọn
phân lau nước tiểu… cho cha mẹ. Nếu người con thương yêu cha
mẹ, chăm sóc chu đáo thì cha mẹ có thể kéo dài thêm tuổi
thọ. Ngược lại, nếu con bỏ bê chẳng hề đoái hoài, hay sẵn
tiền của mướn người ở làm thì hạnh hiếu đã không trọn vẹn mà
khiến cho cha mẹ buồn tủi mà sớm lìa bỏ cuộc đời.
Sưu Kiềm Lâu thời Nam Tề, lúc còn trẻ đã làm quan lớn. Một
hôm đang làm việc ở công đường tự nhiên tim ông đập liên
hồi, mình toát mồ hôi. Linh cảm có việc chẳng lành xảy ra
cho gia đình, ông xin nghỉ phép về thăm nhà. Quả nhiên cha
ông bị bệnh đã hai hôm. Mời bao nhiêu danh y mà chẳng đoán
ra bệnh, ông lo lắng, nhiều đêm túc trực bên cha khiến ông
ngã bệnh. Sau đó có một lương y nói với ông rằng phải nếm
phân mới biết bệnh nặng hay nhẹ. Nếu phân đắng thì dễ chữa,
phân ngọt thì vô phương. Nghe thế, ông chẳng ngần ngại nếm
thử, phân cha có vị ngọt. Biết là khó trị, ông càng thương
cảm, đêm ngày cầu trời, khấn Phật, xin bớt tuổi thọ mình cho
cha. Với tâm thành chí kính, lòng hiếu của ông đã cảm động
trời đất, kết quả bệnh của cha ông giảm dần rồi lành hẳn.
Nếm phân là một trong những việc khó làm, mà Sưu Kiềm Lâu có
thể làm. Đó chính là hiếu hạnh.
Với người thế gian, làm được bốn điều trên thì xem như đã
vẹn chữ hiếu. Là người Phật tử như thế vẫn chưa đủ. Vì làm
được như trên chỉ mới lo cho cha mẹ trong đời hiện tại, mà
chưa lo được đời sau cho cha mẹ. Nếu cha mẹ sau khi qua đời
lại thác sinh vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh
thì phận làm con sao khỏi đau xót, và như vậy sao tròn chữ
hiếu? Thế nên người Phật tử phải biết hướng cha mẹ thoát
khỏi ba cõi sáu đường.
5. Hiếu là giới
Trước hết, người con hiếu phải biết qui y Tam bảo giữ gìn
giới hạnh. Bởi nhờ qui y giữ giới tu tập pháp lành mà nhân
cách của con người được tỏa sáng, thì đó là một hình thức
báo hiếu cha mẹ. Sau nữa, nếu gặp cha mẹ đã hướng về chính
đạo thì phải biết tạo nhiều điều kiện hơn nữa cho cha mẹ tu
tập công đức, dứt ác hành thiện. Nếu gặp cha mẹ chưa hướng
về chính đạo thì phải dùng nhiều phương tiện khéo léo khuyên
giải cha mẹ qui y Tam bảo, thụ trì giới cấm, làm lành lánh
dữ để gây nghiệp nhân tốt cho kiếp sau sinh về cảnh giới an
lành. Đó là ý nghĩa của yếu tố thứ năm.
Khi cha mẹ còn sống, nếu ai thực hành được năm yếu tố trên
thì có thể gọi là chí hiếu. Còn không may cha mẹ qua đời thì
phận làm con phải thể hiện chữ Hiếu như thế nào?
Cành hoa trắng màu sương gió
Thời gian phủ bạc mái đầu
Mẹ, cha ngày nào che chở
Bây giờ tôi biết tìm đâu ?
Đến một ngày nào đó, cha mẹ cũng từ giã cõi đời, xa ta mãi
mãi, ôi! Lòng đau đớn biết dường nào! Một nhà thơ đã viết:
“Tôi thấy tôi mất mẹ
Như mất cả bầu trời”.
Dù đau đớn đến tột cùng nhưng thực tế vẫn là thực tế, có
sống tức phải là có chết, có hợp tức có li, đó là công lệ
xưa nay. Ta hãy biến đau thương thành những hành động thiết
thực, hãy làm những việc phước thiện, tích tập gom góp công
đức để hồi hướng cho cha mẹ, cầu cho cha mẹ thác sinh vào
cảnh giới an lành. Làm được như vậy, cha mẹ chúng ta chắc
chắn nhờ phước đức ấy: nếu đã thác sinh vào chốn lành thì
nay lại càng tốt hơn; nếu cha mẹ do ác nghiệp mà thác sinh
vào ác thú thì tùy thuộc vào công đức của người con hồi
hướng ít nhiều mà được nhẹ hơn hay thoát khỏi đường dữ.
Ở trên đã trình bày hai phần tri ân và báo ân cha mẹ. Phần
tri ân, có thể tóm kết công ơn vô lượng của cha mẹ thành bốn
ân chính, đó là ân cho thân, ân nuôi dưỡng, ân giáo dục và
ân tác thành. Nho gia có câu: “Dưỡng dục phương tri phụ mẫu
ân”. Nghĩa là ai đã từng làm cha làm mẹ mới rõ được công ơn
của cha mẹ. Những bậc đã làm cha làm mẹ thì rất dễ dàng cảm
nhận được thâm ân của cha mẹ, còn những ai chưa làm cha làm
mẹ, xin hãy lắng tâm suy nghiệm công ơn của cha mẹ, thì sẽ
thấy được một cách sâu sắc và chỉ khi nào thấy được một cách
sâu sắc mới có tâm báo đáp công ơn cha mẹ một cách trọn vẹn.
Phần báo ân khi cha mẹ còn sống có thể qui kết thành năm yếu
tố: Hiếu là dưỡng, hiếu là kính, hiếu là thuận hòa, hiếu là
hạnh, hiếu là giới.
Khi cha mẹ qua đời, hiếu là nhất tâm cầu nguyện và tu tạo
công đức tích tập phước thiện để hồi hướng cho hương hồn cha
mẹ sinh vào chốn an lành.
Trong cuộc sống tương quan tương duyên, với qui luật cho và
nhận đã tạo nên vô vàn nguồn ân khác như ân thầy, ân bạn, ân
quốc gia xã hội, ân chúng sinh v.v... mà ở đây chỉ đặc biệt
nói rộng về ân cha mẹ. Tri ân và báo ân với nghĩa rộng là
bao hàm tất cả những nguồn ân khác. Người Phật tử hãy thức
điều này để hằng ngày:
“Sống trên đời, gắng giữ trọn chữ tâm
Và nhất niệm báo ân, đừng báo oán”
(Tôn nữ Hỷ Khương)
Nhân mùa Vu-lan về, với cảm xúc trào dâng không nguôi của
một người bất hạnh đã mất hai đấng sinh thành, tôi viết
những lời này như là lời tâm sự với chính mình và cũng làm
quà tặng cho bạn đọc hữu duyên.
Nguyện cầu:
Cha mẹ anh em
Quyến thuộc thân bằng
Hiện đang còn sống
Phước huệ tăng thêm
Thân không bệnh khổ
Hiểu được Phật pháp
Qui y Tam bảo
Phát bồ-đề tâm
Tu tập pháp lành.
Và cũng nguyện cầu
Cha mẹ bảy đời
Bà con nhiều kiếp
Họ hàng thân thuộc
Nội ngoại hai bên
Những người đã mất
Nhờ công đức này
Đều thoát khổ thú
Sinh về tịnh cảnh.
Và đồng cầu nguyện
Pháp giới chúng sinh
Tình cùng vô tình
Trọn thành Phật đạo.