Tri-Thức
Và Hành-Động Trong Thơ Tĩnh Thức Của
Thiền-Sư Tuệ-Sỹ
[05/04/2006 - Tác giả: admin1
-]
Lê Mộng Nguyên *
Paris, Saint Hippolyte, 01.04.2006
Nguồn :

H́nh: Thiền Sư Thích Tuệ Sĩ.
Cho tôi một hạt muối tiêu
Bờ môi em nhạt nắng chiều lân la
Tôi đi chấn chỉnh sơn hà
Hồng rơi vách đá mù sa thị thành
Donne-moi un grain de sel et de poivre
Car la lumière du soir
A fané les commissures de tes lèvres
Je vais réparer les erreurs de ma patrie
Alors que tombe le démon rouge sur la falaise
Et que la brume enveloppe la ville entière…
Cuộc đời của Thượng Tọa Tuệ
Sỹ, thật tương tự cuộc đời vua
Trần Nhân Tông (1258-1308) thấm nhuần Phật Giáo ngay
từ thuở thiếu thời, tham hiểu Thiền
định dưới sự dạy bảo của
Tuệ Trung Thượng Sĩ (bút hiệu Tuệ Sỹ
Thầy tự đặt lấy để kính
ngưỡng Ngài là Thiền Sư nhà Trần). Năm 36
tuổi, Điều Ngự Giác Hoàng nhường ngôi cho
Trần Anh Tông ; xuất gia năm 41 tuổi và viên tịch
tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử năm 1308, hưởng
thọ 51 tuổi…
Ngh́n năm trước lên núi
Ngh́n năm sau xuống lầu
Hạt cải tṛn con mắt
Dấu chân người ở đâu
Mille ans avant j’escaladai la montagne
Mille ans après j’en descends pour secourir les gens
Je t’ai attendue en vain néanmoins
La pupille de mes yeux te cherchant
Et les empreintes de tes pieds
Où sont-elles maintenant ?
Người hay em trong Tĩnh Thất là mệnh danh
đất nước thương yêu, người t́nh
của Thiền Sư Tuệ Sỹ : Cũng như vua
Trần Nhân Tông, Thượng Tọa không những là một
nhà biên khảo thông minh, một nhà văn uyên bác, một
tư tưởng triết gia lỗi lạc, một thi
nhạc sĩ tài hoa mà c̣n là một nhà ái quốc chân chính
(đă nhiều lần - với tinh thần bất
khuất trước bạo tàn - chống cự cộng
sản đang gieo rắc tang tóc trên miền Nam tự do nên
bị kết án tử h́nh năm 1984…). Tương tự
vua Trần Nhân Tông… đă tổ chức Hội Nghị
tại Điện Diên Hồng (Thần Dân nghe chăng ?
Sơn hà nguy biến ! …), thực hiện đại
đoàn kết nhân dân và triều đ́nh, viết một
trang sử nước Nam huy hoàng, Thượng Tọa
Tuệ Sỹ ôm mộng Trường Sơn với ư chí
kháng chiến của đồng bào hải ngoại cùng
quốc nội và sự chống đỡ của nhân
quyền quốc tế, đặng giải thoát dân ḿnh. Là
môn đệ tinh thần của Tuệ Trung Thượng
Sĩ và cũng như Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông,
Thiền sư đă tâm thức (theo bài của Tỷ Kheo
Thích Chơn Thiện nói về Trần Nhân Tông, tháng 03-2003) :
« một thể cách giải thoát thực hiện trong
đời sống chính trị, xă hội rất thiết
thực, rất nhân bản và rất trí tuệ… » : T́nh yêu
đồng bào và đất nước đối với
Thầy, có thể đưa đến hy sinh cả
cuộc đời :
Lặng lẽ nằm im dưới đáy mồ ;
Không trăng không sao mộng vẩn vơ.
Tại sao người chết, t́nh không chết ?
Quay mấy ṿng đời, môi vẫn khô
Một hai ba
những ngày quên lăng ;
Tôi vùi đầu trong lớp khói mù.
Khói và bụi
chen nhau thành tư tưởng ;
Nhưng bụi đường lêu lỏng bến thâm u…
Silencieusement mon corps repose au fond de la tombe
Pas de lune, ni d’étoiles mais un rêve vagabond
Pourquoi l’homme meurt-il, mais non l’amour ?
De plusieurs vies j’ai beau faire le tour,
Mes lèvres sont aussi sèches.
Un deux trois
Tant de jours dans l’oubli ;
Je plonge ma tête dans la couche épaisse de fumée,
Fumée et poussière
S’entremêlent en idées ;
Mais la poussière de rue en vagabondage
S’envole vers l’autre monde sans rivage.
Đúng như Paul Mus đă viết trong sách « Vietnam, sociologie
d’une guerre » (Việt Nam, xă hội học của một
chiến tranh, 1952) : Mỗi khi nói đến Việt Nam, cái
câu để giải nghĩa vấn đề lịch
sử, nằm đúng trong cái tinh thần kháng cự, liên
kết một cách nghịch thường với những
năng lực lạ lùng đồng hóa, một ư chí
quốc dân không sờn trong thử thách của thất
bại, những cắt xẻ đất đai và
những chinh phục lẫy lừng. Trong sứ mệnh
ḥa hợp Đạo học và Thế học, Thiền
Sư Tuệ Sỹ là gương mẫu trung thành của
cái tinh thần nước Việt (la vietnamité), có nghĩa
là : Một phương pháp tư tưởng, một cách
viết, nói và hành động theo truyền thống tổ
tiên, đă làm cho nước ta hùng tráng với quyết chí
vững bền bất khuất phục trước
một quyền lực độc tài trải qua những
khúc quanh co của một lịch sử đầy
thống khổ. Cái tinh thần nước Việt này là di
sản của ông cha trong sự bất dịch của toàn
dân :
Người đi đâu bóng h́nh ṃn mỏi
Nẽo tới lui c̣n dấu nhạt mờ
Đường lịch sử
Bốn ngh́n năm dợn sóng
Để người đi không hẹn bến bờ
Où allez-vous, voyageur usé par le temps ?
Un aller et retour sur le même chemin
Tout en laissant vos empreintes
De plus en plus floues…
La voie de l’histoire
De quatre mille ans dans la tourmente
Vous laisse partir dans votre errance
Sans esprit de retour.
Trong năm câu thơ trên, Thiền Sư có ư trách móc
những người tuy căm hận trước cảnh
sông núi điêu tàn, đă từ bỏ ư chí đấu tranh
với mục đích tái lập dân chủ tự do cho
đất nước và một đời ấm no cho
đồng bào. Như nhà thơ Nguyễn Huệ Nhật
đă viết (Nước Mắt Việt Nam 1999, Lời
Ngỏ) : Tự thấy cá nhân ḿnh quá bé nhỏ giữa một
giai đoạn lịch sử đen tối và vô cùng đau
thương của dân tộc Việt Nam, nhưng tôi không
cảm thấy con người ḿnh hoàn toàn bất lực
trước những trái ngang lịch sử đó. Với
tinh thần vươn lên của dân tộc, tôi nghĩ
rằng chúng ta vẫn c̣n nhiều hy vọng cho thế hệ
mai sau. Nỗi đau của Việt Nam là bài học
lịch sử cho cả dân tộc ḿnh, nhà thơ Tuệ
Sỹ không ngần ngại, nói lên từ nơi ẩn dật
cưỡng bách, nỗi ḷng ḿnh muốn hành động cho
dân tộc thoát khỏi bọn quỉ đỏ vô thần
:
Giữa Thiên đường rong chơi lêu lổng
Cơi vĩnh hằng mờ nhạt rong rêu
Ta đi xuống quậy trần hoàn nổi sóng
Đốt mặt trời vô hạn cô liêu
Au sein du Paradis je me promène en vagabondage
L’éternité semblant légèrement assombrie
Par la mousse et les algues sauvages
Je decends sur terre
En remuant le monde de poussière
Pour le transformer en tsunami
Et brûler le soleil rouge solitaire, à l’infini…
Sau ngày 30 Tháng Tư Năm 1975, Thiền Sư bị đày
đi làm rẫy tại rừng núi Vạn Giả : Đó
cũng là cơ hội cho Thầy suy ngẫm (tự đáy
ḷng) về phương cách giải thoát giang sơn tổ
quốc đang quằn quại dưới chế
độ áp bức của độc tài đảng
trị (Tôi đi chấn chỉnh sơn hà / Hồng rơi
vách đá mù sa thị thành)… « Tĩnh Thất » là một
trường ca bút pháp tinh về vận mệnh tổ
quốc Việt Nam của một thiền sư sống
ẩn dật trong tâm tư (Voyage dans mon univers tranquille) :
Ngoại cảnh (thời gian đi làm rẫy, thời gian
khổ sai, thời gian quản thúc từ 1998… ) không nao núng
tinh thần yêu nước thương ṇi của một
môn đệ tinh thần tu chứng của Tuệ Trung
Thượng Sỹ, thế kỷ thứ 13 (lư thuyết
Đạo và Đời) :
Ơ ḱa nắng đỏ hiên chùa
Trăng non rỏ máu qua mùa măn tang
Áo thầy bạc thếch bụi đường
Khói rêu ố nhạt vách tường dựng kinh
Voilà du soleil sur la véranda de la pagode
La lune à peine apparue s’égoutte de sang,
la saison de deuil étant révolue
Votre toge, Maître, blanchit
en raison de tant de poussières de vie,
la fumée de mousse décolorant le mur des Prières
Đất nước lầm than, Thiền Sư sau
những năm tù tội, nh́n thảm cảnh quê
hương trở thành một nhà tù vĩ đại, gông
cùm cả một dân tộc bất khuất trước
một chế độ man rợ, lỗi thời…
Mười năm sau anh băng rừng vượt
suối
T́m quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như hồn ai c̣n hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
(Những Năm Anh Đi, trong « Giấc Mơ Trường
Sơn »)
Cũng như trong « Tĩnh Thất », nhà chí sĩ đă
diễn tả tinh thần chiến đấu của ḿnh
bằng thơ, nhẹ nhàng, tuyệt vời :
Nghe luyến tiếc như sao trời mơ ngủ
Đêm mênh mông để lạc lối phù sinh
Ánh điện đường vẫn nh́n trơ cửa
sổ
Ngày mai đi ta vẽ lại b́nh minh
Je m’attarde aux vains regrets du passé
comme les étoiles rêvent de dormir
dans la nuit immense en se trompant de chemin
pour une vie éphémère
Les lampadaires des rues éclairant
impassiblemnt les fenêtres fermées
Passé le lendemain,
je redessinerai l’aube de l’humanité…
Ngày mai đi ta vẽ lại b́nh minh : Thiền Sư
Tuệ Sỹ đă tư tưởng và hành động
theo lời giảng dạy của Ḥa Thượng Sa Môn
Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa
Đạo… : Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất và trong cương vị Tăng Sĩ, chúng tôi không
làm chính trị, không tham gia chính trị.
Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị. Thái
độ này thể hiện giáo lư nền tảng của
đạo Phật, là cứu chúng sinh ra khỏi mọi
nạn ách, khổ đau để tạo điều
kiện giác ngộ. Tuy không làm chính trị, nhưng Giáo
Hội ủng hộ mọi nỗ lực chính trị
nhằm bảo vệ đất nước, bảo
vệ truyền thống văn minh ṇi giống, âu lo cho
mỗi con người được sống đời
no ấm, tự do, được hưởng trọn các
quyền con người cơ bản… Và nghe tiếng kêu
gọi của sơn hà nguy biến :
Ta không buồn,
Có ai buồn hơn nữa ?
Người không đi,
Sông núi có buồn đi ?
Tia nắng mỏng soi ṃn khung cửa ;
Để ưu phiền nhuộm trắng hàng mi.
Ta lên bờ, nắng vỗ bờ róc rách,
Gió ở đâu mà sông núi th́ thầm ?
Ḱa bóng cỏ nghiêng ḿnh che hạt cát
Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm ?
Je ne suis pas triste,
qui peut être plus triste que moi ?
Tu ne pars pas,
ton pays n’ayant jamais l’intention de te quitter !
Les fragiles rayons de lumière
éclairent en élimant l’encadrement de ta porte
pour laisser les chagrins blanchir mes sourcils.
Je monte sur la rive,
le soleil illuminant les eaux qui clapotent doucement.
Où est le vent qui accompagne mon pays
dans son chuchotement ?
Voilà l’ombre inclinée de l’herbe
qui cache les grains de sable
et les nuages rouge pâle du soir arrivés,
qui peut voir la tombe couverte de rosée ?
Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm ?
Lẽ dĩ nhiên là hồng quân hay xă hội chủ nghĩa
đă làm điêu đứng cả một dân tộc,
phần đông nay rời cơi đời v́ ác nghiệt
của quỉ đỏ xâm lăng… Khác hẳn với thi
hào VICTOR HUGO đă hận thù bạo tàn Nă Phá Luân Đệ
Tam (trong phần hai thế kỷ 19) bằng cách không
trở lại cố hương ngày nào tự do chưa
được hồi phục, nhà thơ Tuệ Sỹ
bị quản thúc tại quốc nội, chỉ diễn
tả nỗi sầu vương, một cách nhẹ nhàng,
thấm thía, của ḿnh, nhưng qua mấy vần thơ…
gián tiếp huy động đồng bào hăy tỉnh
thức :
Cho xin chút hạt buồn thôi ;
Để cho ngọn gió lên đồi rắc mưa.
Gió qua ngơ phố mập mờ ;
Mưa rơi đâu đó mấy bờ cỏ lau.
Nắng trưa phố cổ úa màu,
Tôi đi qua mộng đồi cao giật ḿnh…
Donnez-moi un peu de tristesse seulement
Pour que le vent se lève sur la colline environnante
en répandant la pluie.
Le vent souffle à travers l’impasse diffuse ;
La pluie tombe çà et là sur les touffes d’herbe et de
Le soleil de midi brillant sur la cité ancienne de couleur fanée,
Je
tout en haut de la colline en tressautant…
Xem dưới góc cạnh này, Thiền Sư Tuệ Sỹ
là một nhà thơ « lăng mạn » mà theo Victor Hugo (Tựa
kịch bản Hernani) là một « chủ nghĩa tự do
trong văn chương », vừa thuộc vào hạng
biểu hiện (expressionnisme) nghĩa là một h́nh thức
nghệ thuật mà giá trị của miêu tả nằm toàn
trong sự biểu lộ tâm t́nh cực điểm, và
hạng ấn tượng (impressionnisme) với đôi nét
chấm phá, nhưng lời thơ đượm t́nh
cảm, thấm thía, làm độc giả rung động,
bâng khuâng :
Chờ dứt cơn mưa ta vô rừng
Bồi hồi nghe khói lạnh rưng rưng
Ngàn lau quét nắng lùa trên tóc
Ảo ảnh vô thường, một thoáng chưng ?
J’attends que la pluie ait cessé pour entrer dans la forêt
Afin d’écouter avec émotion la fumée froide se réchauffer
Et les touffes de roseaux balayer le soleil qui pénètre dans tes cheveux ;
Illusion extraordinaire,
Qui nous apparaît en l’espace d’un instant ?
Hoặc đầy nhung nhớ, dịu êm :
Anh đi để trống cụm rừng
Có con suối nhỏ canh chừng sao Mai
Bóng anh dẫm nát điện đài
Ôi nỗi buồn
Thần tiên vĩnh cửu
Nhớ luân hồi
Cát bụi đỏ mắt ai
Vous partez en laissant vide une partie de la forêt
Où le ruisseau veille en permanence
Sur l’Étoile du Matin
Et votre ombre écraser palais et châteaux
Ô ma tristesse
Dans le monde légendaire de l’immortalité
Ô ma nostalgie de la métempsycose
Dans laquelle sable et poussière rendent tes yeux rouges ?
Trường ca « Tĩnh Thất » có thể dịch Pháp
ngữ là « Méditations d’un Ermite » mà trong đó Thiền Sư
ẩn sĩ đă gom góp nỗi ḷng ḿnh đối với tổ
quốc mà Thầy xem như một người t́nh yêu
dấu. Tương tự LAMARTINE trong thi tập « Méditations
Poétiques » (1820) và qua bài LE LAC (Hồ Kỷ Niệm) đă
thốt tự đáy ḷng nỗi đau khổ của ḿnh
khi nhắc nhớ lại người xưa (vừa
mất) với những giờ hạnh phúc đă trải
qua trên cái hồ lăng mạn bây giờ vắng bóng :
Ôi thời gian, xin đừng bay, đứng lại !
Và những giờ thuận tiện không vận hành
Cho chúng ta thưởng thức không ngần ngại
Ngày hạnh phúc mau chóng thuở xuân xanh !
Đất nước thương yêu của ta bây giờ
ở đâu ? Chịu đựng một cuộc
đời nô lệ đă từ lâu mà sao em chưa nỗi
dậy chống bạo tàn ? Thời gian qua… Thời gian
không trở lại :
Khói ơi bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút ǵ thanh xuân
Ta đi trong cơi vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa
Ô fumée, vole encore plus bas
Pour que je puisse retenir par la main
Un peu de ma jeunesse
Je marche dans le monde supraterrestre
En pensant à mon petit arbre flétri
Qui perd ses fleurs maintes fois depuis.
________________________________________
* Nhạc sĩ, Giáo sư- Tiến sĩ Quốc Gia Khoa
Học Chính trị, Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa Học
Hải Ngoại Pháp, nguyên Luật sư Ṭa Thượng
Thẩm Paris
** Copyright 2006 by Lê Mộng Nguyên (Paris-France