Trần Nhân Tông với bài thơ:
Xuân Cảnh
GS Trần Hữu Tá
Không mấy ai có thể sống mãi được với cái náo nhiệt phồn tạp,
vì thế rất cần những phút giây tĩnh tại để lắng lòng mình,
cảm nhận sâu sắc những buồn - vui, yêu - ghét, từ đó có thể
khắc ghi những thăng hoa hoặc trầm uất của tâm trạng. Những
lúc ấy thơ trở thành bạn đường tri kỷ với con người. Đơn
giản, họ tìm đến thơ hay của ngàn xưa hoặc hôm nay. Cao hơn,
họ thể hiện cảm xúc của mình trên trang giấy. Sự sáng tạo
nghệ thuật ấy, không phải ai cũng thành công, nhưng có hề gì
đâu!

Hành hương Yên tử
Cảm hứng sáng tạo có thể đến vào những thời điểm khác nhau,
tùy vào hoàn cảnh từng người. Nhưng có một hiện tượng thú vị
đáng nói: vào thời điểm thiêng liêng trang trọng nhất của
một năm - lúc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, lúc tết
đến xuân về, lúc cả tạo hóa như bừng tỉnh sắc xuân - người
có tâm hồn thơ dễ láng lai thi tứ. Cho nên, nhìn lại lâu đài
thơ ngàn năm của dân tộc ta, thấy có riêng một vườn thơ xuân
lộng lẫy sắc hương, mà một trong những người đầu tiên đã
đóng góp những bài thơ thuộc loại xuất sắc là Trần Nhân Tông
(1258-1308). Vị vua anh hùng này đã cùng vua cha Trần Thánh
Tông chỉ huy quân dân hai lần đại thắng đạo quân xâm lược
Nguyên Mông hung hãn. Chúng ta thường tâm đắc với sức mạnh
của chiến tranh nhân dân - bí quyết thắng lợi của một dân
tộc nhỏ khi phải đương đầu với thế lực ngoại xâm lớn. Hoàng
đế Trần Nhân Tông chính là ông tổ của hình thái chiến tranh
kỳ diệu này. Chính Người đã thực hiện một chính sách đại
đoàn kết toàn dân, từ hoàng tộc đến thứ dân để tất cả cùng
sát cánh bên nhau diệt giặc nước. Chính Người cùng Thái
thượng hoàng đã chủ trì hai hội nghị hiếm thấy trong lịch sử:
hội nghị các tướng lĩnh ở Bình Than để bàn mưu lược và hội
nghị các bô lão trong cả nước ở điện Diên Hồng để xác định
quyết tâm chống giặc. Về vị vua "thân dân" đặc biệt này, sử
gia Lê Văn Hưu đánh giá rất gọn và rất xác đáng: đó là "vị
vua hiền của nhà Trần". Nhà bác học Lê Quý Đôn, trong bộ
Toàn Việt thi lục đã trân trọng ghi nhận Trần Nhân Tông
"là người nhân từ, hòa nhã, tài trí, đảm lược, uy vọng,
quyết đoán, công nghiệp chống giặc Nguyên sáng chói đến đời
sau".
Năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên,
làm Thái thượng hoàng, bắt đầu đi sâu thực hành Phật pháp.
Người lên núi Yên Tử chuyên tu, sau đó sáng lập dòng Thiền
Trúc Lâm Yên Tử.
Điều cần nhấn mạnh, Trần Nhân Tông cũng là một thi sĩ có
chân tài. Trong 25 bài thơ của Người được Phan Phu Tiên chép
lại trong Việt âm thi tập (1459) có đến 4 bài thơ
xuân. Xin được lạm bình về một trong bốn bài thơ xuân đó -
bài Xuân cảnh (có thể hiểu là Cảnh xuân, Cảnh ngày
xuân, Cảnh mùa xuân). Nguyên tác như sau:
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách lai, bất vấn nhân gian sự
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.
Nghĩa của bốn câu đó là:
Sâu trong hoa dương liễu, chim hót chậm rãi
Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều nhẹ bay
Khách đến chơi, không hỏi việc đời
Cùng đứng tựa lan can, ngắm một màu xanh biếc.
Xin đọc bản dịch thơ của giáo sư Nguyễn Huệ Chi:
Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế
Cùng tựa lan can nhìn núi mây.

Chỉ 4 câu 28 chữ rất cô đọng, vị hoàng đế - thiền sư - thi
sĩ đã chấm phá bức tranh xuân bằng vài nét có vẻ đơn sơ.
Muốn cảm nhận cái tột cùng tinh tế, sâu xa của tứ thơ, người
đọc trước hết phải huy động công năng của cả thị giác và
thính giác và sau đó buộc phải suy nghĩ rất lung. Cảnh xuân
bao la khoáng đạt, nhưng không có cỏ hoa sắc màu rực rỡ,
không có hội hè đình đám tấp nập ồn ào. Về âm thanh, chỉ có
văng vẳng xa mà gần mấy tiếng chim kêu trong rặng liễu đương
trổ hoa. Về hình ảnh, cũng chỉ có bóng mây chiều lẻ loi trôi
trên trời cao, tỏa mát cả thềm nhà. Thế còn con người - chủ
thể của cảnh xuân? Chủ nhân, được sự đồng thuận của khách,
đã gạt đi "nhân gian sự" - vốn phức tạp, phiền toái, bề bộn
những "thất tình, lục dục" để đắm mình, cộng hưởng những
phút giây thoát tục tuyệt vời, trong cái biếc xanh thăm thẳm
của đất trời, rừng núi ngày xuân. Một cảnh sắc xuân thật đơn
sơ thanh đạm, nhưng đã để lại trong tâm hồn người đọc một dư
vị thanh cao, trong sáng đến kỳ lạ, đưa con người vào cõi
miên viễn của thời gian và vùng mênh mông vô cùng vô tận của
vũ trụ. Ngờ rằng, trong phút giây kỳ diệu đó, con người có
khả năng giác ngộ bằng chính cái tâm tĩnh lặng, bằng sự an
nhiên tự tại của mình, để đoạn tuyệt với dục vọng và thể
nhập Niết bàn (Nirvana) như triết lý sâu xa của Phật giáo
Thiền tông đã xác quyết.
Bài thơ viết về ngày xuân, mùa xuân, cảnh xuân nhưng có thể
đọc bất cứ lúc nào. Đọc và nghĩ, để "ngộ" được lối sống,
phong cách sống, lẽ sống cao quý của vị thiền sư - thi sĩ
cao quý.
Source: giacngo