Trái
tim không nói hận thù
22/05/2006
Thích Nguyên Hùng
Source: Đến Từ trái Tim
|
|
|
|
Khoa học
càng phát triển, con người càng có cơ
hội hiểu thêm nhiều điều
Đức Phật dạy. Giới khoa học bắt
đầu t́m cách giải thích những hiện
tượng, những triết lư, tâm lư… được
Đức Phật nói đến trong kinh điển,
như họ đă từng nghiên cứu, lư giải về
các hiện tượng trong thiên nhiên, trong vũ trụ và
con người. Thế nhưng, khi bắt tay vào công
việc đó, họ đă gặp không ít những khó
khăn, trở ngại. Có những khó khăn đi
đến bế tắc. Như chuyện về xá lợi
chẳng hạn.
Trước
đây, người ta không tin là có xá lợi Phật. Măi
đến năm 1997, ông W.C. Peppé, người Pháp, đă
tiến hành khảo cổ tại vùng Ṕpràvà, phía Nam Népal.
Kết quả khảo cổ đă t́m thấy một cái
hộp bằng đá khá lớn, trong đó có chứa hai cái
b́nh bằng đá và vài dụng cụ bằng đá khác
như tách trà… Hai b́nh đá một lớn một nhỏ
đều có chứa những viên xá lợi. B́nh đá
nhỏ dạng h́nh cầu, chia thành hai phần
thượng hạ. Nửa phần trên có h́nh tay cầm,
khắc niên đại của vua A Dục bằng lối
văn tự Brahḿ, và người ta đă đọc
được nội dung của nó như sau: "Đây
là xá lợi của Đức Phật. Phần xá lợi
này do bộ tộc Sakya, nước Savatthi phụng thờ"
(Theo Phật Quang từ điển). Sự khám phá này đă
chứng minh những ǵ được ghi lại trong kinh
Trường A Hàm và rải rác ở những kinh khác về
việc phân chia xá lợi thành tám phần cho tám quốc gia
cổ đại khi Phật nhập Niết bàn là hoàn toàn
sự thật. Kinh ghi: "Như vậy, xá lợi
Phật được chia thờ ở tám tháp, tháp thứ
chín là cái b́nh, tháp thứ mười là tháp tro, tháp thứ
mười một là tháp tóc, thờ tóc Phật khi c̣n
tại thế" (Đại chính tạng, Trường A
Hàm I, Du hành kinh).
Trải
qua hơn hai mươi lăm thế kỷ, xá lợi
Phật vẫn c̣n nguyên vẹn, lấp lánh sắc màu.
Xương cốt con người sao mầu nhiệm
đến thế?
Trong
cơi giới mong manh tạm bợ vô thường này, tất
cả mọi thứ đều bị hủy diệt
hết. Có cái tàn hoại nhanh chóng, có cái biến hoại
từ từ, bởi thời gian, bởi sự tàn phá
của con người, của thiên nhiên. Không mất,
nhưng không c̣n nguyên vẹn nguyên thủy. Nó phải
chuyển sang dạng khác, cái khác, rất khác với nó
trước kia, đến nỗi nh́n không ra. "Sông kia
giờ đă nên đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ
trồng ngô khoai". Vậy mà xá lợi, chẳng phải
kim loại, chẳng phải phi kim, chẳng phải kim
cương, là tro cốt c̣n lại của người tu
sau khi hỏa táng, đốt hoài không cháy (toái thân xá
lợi), mà người tu là con người do cha mẹ sinh
ra, bằng xương bằng thịt, lại c̣n măi,
thậm chí c̣n nguyên vẹn cả thân h́nh (toàn thân xá
lợi), thách thức với thời gian, trơ gan cùng
tuế nguyệt, chẳng mảy may hư hao, lại c̣n
lấp lánh sắc màu. Làm sao giải thích?
Đối
với Phật giáo, một tôn giáo vốn được
khai sinh từ sự giác ngộ của Đức Phật
về nguyên lư Duyên khởi, th́ không có một hiện
tượng nào hiện hữu vô lư mà không có nguyên do của
nó, kể cả sự kiện lưu xá lợi. Khi
Đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp Hoa, từ dưới
đất bỗng vọt lên một ṭa tháp lộng
lẫy, trong đó lại vang lên âm thanh vi diệu tán thán
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể tuyên thuyết cho
đại hội các chúng về bản kinh của tuệ
giác b́nh đẳng vĩ đại, chứng thật cho
những điều Đức Thích Ca nói đều là chân
thật. Sự kiện này đă khiến cho đại
chúng ngơ ngác không hiểu v́ sao. Đức Phật
giải thích: "Khi c̣n đi trên đường đi
của Bồ tát, Đức Đa Bảo Phật Đà có
phát lời nguyện trọng đại, nguyện rằng
nếu được trở thành Phật Đà th́ sau khi
nhập diệt, trong mười phương quốc
độ, chỗ nào có Phật nói kinh Pháp Hoa, bảo tháp
của Như Lai cũng sẽ xuất hiện
trước chỗ ấy để nghe kinh ấy, và làm
chứng cho kinh ấy bằng cách tán dương rằng
tốt lắm". (Kinh Pháp Hoa, phẩm Bảo tháp xuất
hiện, HT. Trí Quang dịch).
Như
vậy, việc lưu xá lợi là do bi nguyện của
chư Phật và Bồ tát. Ở đây, chúng ta t́m thấy
lời phát nguyện của đức Phật Đa
Bảo khi c̣n hành Bồ tát đạo, muốn làm chứng
cho những Đức Thế Tôn nào tuyên thuyết kinh Pháp
Hoa mà lưu lại toàn thân xá lợi. Chúng ta có thể nói,
lưu lại xá lợi là nguyện lực của chư
Phật và Bồ tát, như là một chứng cứ
bất hoại của Chánh pháp.
Cưu
Ma La Thập (Kumarajiva, 344-413), người Tây Trúc,
đến Trường An vào khoảng năm 401, nhằm
niên hiệu Long An thứ 5, đời Đông Tấn. Diêu
Hưng bái ngài làm thầy và mời ở trong vườn
Tiêu Dao, cùng với hai học tṛ là Tăng Triệu và
Tăng Nghiêm, làm công tác dịch kinh. Ở Trung Hoa,
trước sau có rất nhiều người dịch kinh,
nhưng không ai có thể so sánh được với
"ông vua giới phiên dịch" này (từ dùng của Lương
Khải Siêu). Trước lúc viên tịch, La Thập đă
phát lời thệ nguyện: "Hôm nay trước mặt
đại chúng, tôi phát lời thề nguyện rằng,
nếu như những kinh sách tôi dịch không sai với ư
Phật, th́ sau khi hỏa thiêu thân này cái lưỡi vẫn
c̣n". (Đại chính 50/2059, [0330a11]). Quả nhiên, ngày 10
tháng 2 năm Quư Sửu (413), La Thập viên tịch. Nhục
thân của ngài được tiến hành hỏa thiêu theo
nghi thức của người Tây Trúc tại vườn
Tiêu Dao; sau khi hỏa táng, bao nhiêu xương cốt
đều thiêu rụi, duy chiếc lưỡi vẫn c̣n.
(Đại chính 50/2059, [0330a11]).
Đến
đây, chúng ta có thể tin tưởng rằng, việc
lưu lại xá lợi là do thệ nguyện của chư
Phật và Bồ tát. Quư ngài v́ muốn chứng thực và
bảo vệ Chánh pháp là chân thật nên đă phát lời
thệ nguyện lưu lại xá lợi để ǵn
giữ Chánh pháp bất hoại.
Bằng
sự đại dũng mănh, phát ra sự đại
thệ nguyện và tăng cường tâm ḿnh bằng
sự đại từ bi, Bồ tát lưu lại cho dân
gian TRÁI TIM BẤT DIỆT. Hăy đọc lại lời phát
nguyện của Bồ tát Quảng Đức:
"Nhận thấy Phật giáo nước nhà
đương lúc ngửa nghiêng, tôi là một tu sĩ,
mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không
lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị
để Phật pháp tiêu vong, nên tôi vui ḷng phát nguyện
thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật
để hồi hướng công đức bảo
tồn Phật giáo… Cầu nguyện cho đất nước
thanh b́nh, quốc dân an lạc". (Lời nguyện tâm
quyết, Tỳ kheo Thích Quảng Đức).
Đọc
lời nguyện của Bồ tát Quảng Đức
với lời nguyện của Bồ tát Tát Đỏa,
chúng ta mới thấy hành động của chư Bồ
tát luôn luôn xứng hợp với nhau. Quư ngài luôn vận
dụng tâm từ bi để cứu vớt chúng sinh, nh́n
chúng sinh như con một, mạnh mẽ hoan hỷ, ḷng
không nuối tiếc. Những ai đă đi qua đoạn
đường lịch sử nước nhà năm 1963
mới thấy được hành động xả thân
cứu khổ, một hành động khó làm, mới chân
thường siêu việt làm sao! Cũng như Bồ tát Tát
Đỏa, xả thân cho cọp đói, sự tự thiêu
của Bồ tát Quảng Đức là khổ hạnh, theo
kinh Pháp Hoa và Bồ Tát giới Phạm Vơng. Khổ hạnh
như vậy là v́ xót thương chúng sanh đau khổ và
xót xa Phật pháp điêu đứng. Nó xuất phát từ ư
thức và tâm nguyện. Và trái tim bất diệt được
kết thành từ đó.
Trong
lúc mà người coi ḿnh là kẻ thù, người ta
muốn ḿnh phải chết, ḿnh vẫn thiết tha cầu
nguyện cho họ "sáng suốt" và khuyên họ nên
"lấy ḷng bác ái, từ bi đối với quốc
dân", và ḿnh sẵn sàng hy sinh để cho lời cầu
nguyện ấy trở thành sự thật. Trái tim
được làm bằng chất liệu đại
từ, đại bi, đại hỷ, đại xả,
đại hùng lực như vậy, nên "Thiêu rồi
lấy ra, trong đống tro tàn c̣n một khối thịt
mà vị trí cho biết đó là quả tim. Thầy Thiện
Ḥa cho vào ḷ thiêu lại cũng vẫn không cháy. Lại thiêu
nữa nhưng xăng hết. Bấy giờ rất
đông kư giả hiện diện. Họ chạy kiếm
xăng giúp. Bấy giờ chỉ họ mới đi
lại được dễ dàng. Họ kiếm
được mấy can xăng super, đem thiêu kỹ,
nhưng lấy ra vẫn không cháy. Việc này làm cho tôi tin,
xưa, ngài La Thập sau khi hỏa thiêu cái lưỡi
vẫn c̣n. Nhưng ở đây mọi thắc mắc
dị nghị hoàn toàn không c̣n nữa. V́ đây là việc mà
trên dưới 50 kư giả, đa số là kư giả
quốc tế, không những cùng chứng kiến mà c̣n
dự vào". (Trích Hồi kư Tỳ kheo Thích Trí Quang).
Đó
là kết quả của cuộc vận động năm
1963. "Đối với lịch sử, lịch sử
Việt Nam và lịch sử thế giới, 1963 là năm
bùng lên ngọn lửa, một sự kiện phi
thường làm chấn động lương tri.
Đối với Phật giáo, 1963 là trái tim, trái tim c̣n
nguyên, không cháy, khi nhục thân Quảng Đức thành tro.
Trái tim đó không nói hận thù".
THÍCH NGUYÊN HÙNG (Theo TVHS )