Trong ĐTKVN, kinh Tương Ưng Bộ, tập 5, bài kinh
Như Lai thuyết, trang 612, Đức Phật đã dạy về phương
pháp nhận thức, tu tập và chứng nghiệm về Tứ thánh đế
như sau:
“Đây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ kheo, đối với các
pháp, từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí
sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Đây là Thánh đế
về Khổ cần phải liễu tri, này các Tỳ kheo, đối với các
pháp, từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí
sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
“Đây là Thánh đế về Khổ Tập, đây là Thánh đế về Khổ Diệt,
đây là Thánh đế về Con đường đưa đến Khổ Diệt cần phải
tu tập…, này các Tỳ kheo, đối với các pháp… từ trước Ta
chưa từng nghe, nhãn sanh, trí sanh… quang sanh. “Đây là
Thánh đế về Con đường đưa đến Khổ Diệt đã được tu tập,
này các Tỳ kheo, đối với các pháp, từ trước Ta chưa từng
được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh,
quang sanh”.
Và chính Đức Phật đã khẳng định:
“Cho đến khi nào, này các Tỳ kheo, trong bốn Thánh đế
này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri
kiến như thật không thanh tịnh ở nơi Ta, thời này các Tỳ
kheo, cho đến khi ấy, trong thế giới này với Thiên giới,
Ma giới, Phạm Thiên giới, với quần chúng Sa môn, Bà la
môn, chư Thiên và loài người. Ta không chứng tri (xác
nhận) đã thành Vô thượng Chánh đẳng giác.
“Và cho đến khi nào, này các Tỳ kheo, trong bốn Thánh đế
này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri
kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến
khi ấy, này các Tỳ kheo, trong thế giới này với Thiên
giới, Ma giới, Phạm Thiên giới với quần chúng Sa môn, Bà
la môn, chư Thiên và loài người, Ta mới chứng tri (xác
nhận) đã thành Vô thượng Chánh đẳng giác. Tri kiến khởi
lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát nơi Ta. Đây là
đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.
Tóm lại, đối với pháp Tứ diệu đế, tinh thần tu học thật
sự của người con Phật cần phải trải qua ba giai
đoạn:
1. Thị chuyển: Tự mình thọ học, thông suốt về
mặt lý luận, nhận thức Tứ diệu đế hoặc Tứ thánh đế là
chân lý chắc chắn không sai, thấy rõ nỗi khổ đau của
chính mình và mọi người trong cuộc sống, chỉ cho chúng
sanh thấy rõ thực tướng những nỗi khổ đau để tự mình
giác ngộ tu tập.
2. Khuyến chuyển: Căn cứ vào nhận thức
lý luận mà mình đã thấu suốt dẫn đến hành động thực tiễn
trong cuộc sống hàng ngày về ý nghĩa, lời nói và hành
động của chính mình; tự mình hiểu rõ nỗi khổ đau, ý thức
cuộc sống và khích lệ chúng sanh nhận rõ thực tướng
những nỗi khổ đau, ý thức tự mình làm chủ cuộc sống mình,
không bao giờ hành động sai lệch trong cuộc sống.
3. Chứng chuyển: Còn gọi là “chứng ngộ”.
Giai đoạn này, hành giả đệ tử Phật có khả năng thực hành,
hợp nhất được giữa lý luận và thực tiễn, đạt đến chỗ
hoàn thiện chính mình ngay trong cuộc sống, dứt trừ hết
mọi khổ đau.
Mỗi đế có 3 chuyển: Thị chuyển, Khuyến chuyển và Chứng
chuyển. Bốn đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo… có 12 hành tướng như
vậy.
Và trong phẩm Kotigama (một địa danh xứ Vajji), bài kinh
Minh, trang 627, Đức Phật đã nhấn mạnh về nguồn gốc của
sự tái sanh (tức nguồn gốc mọi sự khổ) và ý nghĩa sâu xa
của sự đoạn tận, chấm dứt tái sanh:
"Do không như thật thấy
Bốn sự thật bậc Thánh
Phải lâu ngày luân chuyển
Trải qua nhiều đời sống”.
"Khi chúng được thấy rõ
Mầm tái sanh nhổ sạch
Gốc khổ được đoạn tận
Nay không còn tái sanh”.
Đến đây, chúng ta có thể kết luận bằng bài kệ tụng tán
thán của ngài Xá Lợi Phất đối với pháp Tứ diệu đế của
Đức Phật:
"Phật thấu triệt các pháp
Thấy vô lượng thiện đức
Khổ, Tập, Diệt, Đạo đế
Khéo hiển thị, phân biệt”.
(Trung A Hàm, tập 1, tr.394)