
TỊNH ĐỘ VẤN ĐÁP
Thích Vân Phong biên tập
Dịp các tự viện
và tư gia Phật tử khắp nơi cúng lễ vía Đức Phật A Di Đà và
cũng là sắp đến tưởng niệm ngày cố Thiền sư Thích Duy Lực
Viên tịch lần thứ 10, môn đồ pháp quyến chúng tôi thành kính
ghi lại những lời khai thị của Ngài về Tịnh Độ để gởi đến
quý đọc giả chúng ta cùng tham khảo :
Hỏi : Thế nào
là tông chỉ của Tịnh Độ ?
Đáp : Tông chỉ
của Tịnh Độ là : TÍN, NGUYỆN, HÀNH
* TÍN
: Có ba thứ tin :
- Tin lời Phật
Thích Ca chẳng dối gạt người.
- Tin Cõi Cực
lạc không già không bệnh, không chết, muốn gì được nấy.
- Tin mình kiếp
này sẽ được vãng sanh, chẳng cần đợi kiếp sau.
* NGUYỆN
: Có hai thứ nguyện :
- Tiểu nguyện :
Hễ phát tiểu nguyện thì không hợp nhân quả, chẳng được vãng
sanh. Tại sao ? Vì tiểu nguyện chỉ phát nguyện cho một mình
được vãng sanh, nếu không trở lại đầu thai thì làm sao có
quả báo ? Bây giờ chẳng nói về kiếp trước, chỉ nói kiếp này
: Từ nhỏ tới lớn có sát sanh không? Có giết chết con muỗi
con kiến không ? Có ăn thịt chúng sanh không ? Theo nhân quả
là một mạng phải đền một mạng, ăn một cục thịt trả một cục
thịt, thế thì làm sao trả nợ mạng, nợ thịt? Nên phải phát
đại nguyện.
- Đại nguyện :
Ví như mình hiện nay không có tiền mặt để trả nợ, ký phiếu
hẹn đến kỳ sau. Sau này được sanh Cõi Cực lạc rồi, thành
Phật trở về độ hết tất cả chúng sanh. Ngoài Phát nguyện như
thế , còn phải thực hành.
·
HÀNH
: Cần nhất là phải hành theo đại nguyện của mình, nếu không
thực hành là nguyện giả, cũng như người tu Tịnh Độ mà không
ăn chay là nguyện giả. Tại sao ? Vì đã phát nguyện độ chúng
sanh, còn ăn thịt chúng sanh, chẳng phải nguyện giả ư ? Như
câu hồi hướng trong Kinh Di Đà :" Thập phương tam thế Phật,
A Di Đà đệ nhất, phàm hữu chư phước thiện,chí tâm cùng hồi
hướng", tức làm bất cứ việc phước thiện gì đều hồi hướng cho
tất cả chúng sanh, trong đó có chủ nợ của mình. Bất cứ con
người hay súc sinh; gặp con chó cũng phải phát tâm độ, mặc
dù con chó không biết nghe mình nhưng cũng nói, gặp con mèo
thì độ con mèo. thử hỏi hiện nay có ai làm như vậy không ?
Có người phát tâm tu Tịnh Độ đã hơn ba mươi năm, cũng có
phát đại nguyện, nhưng hỏi về phần thực hành thì không có.
Hỏi : Về vấn
đề tu Thiền nhờ tự lực, và Tịnh Độ nhờ tha lực như thế nào ?
Đáp : Tất cả
phương tiện của Phật dạy đều phải nhờ tự lực, phải tự ngộ
chứ không thể nhờ tha lực. Nói Pháp môn Tịnh Độ nhờ tha lực
là sai lầm; bởi tông chỉ của Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hành,
cũng là nhờ tự lực. Nhất là về cái nguyện, khi đã phát đại
nguyện rồi thì phải thực hành, ấy là nhờ tự lực. Niệm Phật
cũng phải tự lực tự làm, chẳng được nhờ người khác niệm dùm.
Tông phái nào
cũng phải nhờ tha lực, nhưng tự lực là chánh, tha lực là trợ
duyên. Còn nói Thiền tông là nhờ tự lực chẳng nhờ tha lực
cũng không đúng, tại sao ? Thế có phải khi mình sanh ra đã
biết tham Thiền đâu ! Pháp môn này là do Phật dạy, ấy là trợ
duyên; do chư Tổ truyền lại đời sau, ấy là trợ duyên; Thầy
dạy chúng ta tham Thiền, ấy cũng là trợ duyên, là tha
lực..Cho nên chẳng có Tông phái nào chỉ nhờ tự lực hoặc chỉ
nhờ tha lực mà được, tại con người chấp tâm sai lầm thôi.
Hỏi : Trước tu
Tịnh Độ, nay chuyển qua tham Tổ Sư Thiền được không ?
Đáp : Mục đích tu
Tịnh Độ hay tham Tổ Sư Thiền đều là để giác ngộ thành Phật,
giải quyết tất cả khổ. Chỉ là Pháp Tịnh Độ thuộc pháp thiền
gián tiếp, Tổ Sư Thiền là pháp thiền trực tiếp. Đức Phật dạy
tám mươi bốn ngàn pháp môn, chỉ có Tổ Sư Thiền là pháp trực
tiếp, ngoài ra đều là pháp gián tiếp. Lại, tu pháp môn nào
phải đúng theo tông chỉ pháp môn đó mới được thành tựu, nếu
tu không đúng, chẳng những không được thành tựu, có thể trở
thành ngoại đạo.
Pháp môn Tịnh Độ
là do pháp sư Huệ Viễn đời nhà Tấn Trung Quốc dựa theo Kinh
Di Đà và Kinh Vô Lượng Thọ sáng lập, chứ chẳng phải do Phật
Thích Ca sáng lập hay từ Ấn Độ truyền qua. Trong đó có bảy
vị Tổ là tu theo Tổ Sư Thiền kiến tánh rồi, tùy theo nhân
duyên giúp cho Tịnh Độ hoằng pháp. Đến Tổ thứ 13 là Pháp sư
Ấn Quang, sau đó mấy mươi năm nay chưa có Tổ thứ 14.
Còn Tổ Sư Thiền
là do Phật Thích Ca truyền cho ngài Ma Ha Ca Diếp, rồi do Tổ
sư từng đời truyền xuống, đến đời tôi, mỗi đời đều có sự
truyền thừa rõ ràng.
Đối với Lịch sử
Thiền tông ở Việt Nam tôi chưa được rõ, nghe nói Tổ Sư Thiền
ở Việt Nam là truyền từ Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn
Thông hay ngài Liễu Quán. Đến nay đã thất truyền gần hai
trăm năm, có Tổ sư từ Trung Quốc qua Việt Nam dạy về pháp
môn Tổ Sư Thiền, sau đó cũng thất truyền.
Còn Tổ sư Tịnh Độ
của Việt nam thì không nghe nói, cũng không biết do vị Tổ
nào sáng lập, đa số do tự mình xem sách, nhiều người tự lấy
ý mình tu, cho tụng kinh niệm Phật là tu Tịnh Độ. Còn hỏi về
tông chỉ của Tịnh Độ thì nói là ; Tụng kinh, niệm Phật, ăn
chay, phát nguyện.
Sự thật, tông chỉ
của Tịnh Độ là Tín, nguyện, hành.
Hỏi : Vậy Có tông
chỉ của Tịnh Độ không ?
Đáp : Theo Phật
pháp, nguồn gốc của Bản thể là Phật tánh, Đức Phật gọi là
Chơn như Phật tánh. Bản thể của Phật tánh không dính líu với
có không. Có Không là nguồn gốc của 62 kiến chấp, phàm có
đối đãi là nhị biên, là biên kiến, thuộc một trong năm thứ
ác kiến. Hễ chấp thật Có và Không đều lọt vào biên kiến, nên
Phật dạy phải lìa tứ cú, tuyệt bách phi, nếu chấp thật sự có
và không, đã nghịch với bản thể tự tánh, dẫu cho siêng năng
tu tập, cũng chẳng thể thành tựu.
Hỏi : Thiền tông
và Tịnh độ một thể, phải không ?
Đáp : Nói thì
đúng, nhưng sự hiểu không đúng. Cách thực hành giữa Tổ Sư
Thiền và Tịnh Độ có khác, nhưng mục đích không khác, chỉ là
pháp thiền trực tiếp hay gián tiếp mà thôi. Tức Tổ Sư Thiền
có thể kiến tánh lúc còn sống, không cần đợi sau chết mới
vãng sanh.
Tịnh Độ dù được
vãng sanh, vẫn chưa được kiến tánh. Tại sao ? Vì tất cả pháp
đều không ngoài nhân quả. Nhân vô vi mới được quả vô vi,
nhân hữu vi chỉ được quả hữu vi. Do cách tu của Tịnh độ chỉ
gieo được nhân hữu vi, bản thể Tự tánh không đối đãi, chẳng
thuộc có không, nên khi thực hành theo đường lối, phải gieo
nhân vô vi mới được quả vô vi.
Tịnh độ cuối cùng
cũng thành Phật, nhưng còn xa, vì là pháp gián tiếp.Người
được sanh cõi Tịnh độ mới bắt đầu tu, nếu sanh nơi biên địa,
là chưa được vào cõi Tịnh độ, sanh nơi hạ phẩm phải ở trong
hoa sen mười hai đại kiếp mới được ra; Một đại kiếp gồm bốn
trung kiếp, một trung kiếp gồm hai mươi tiểu kiếp, một tiểu
kiếp là mười sáu triệu năm. Quý vị thử nghĩ xem là bao lâu ?
Còn tu pháp Tổ Sư
Thiền, có thể ngay trong kiếp này được kiến tánh, như Long
nữ trong Kinh Pháp Hoa tám tuổi thành Phật. Cho nên, pháp
trực tiếp với pháp gián tiếp có khác, nhưng khi thành Phật
là không khác.
Như trên đã nói,
phải gieo nhân vô vi mới được quả vô vi, người tu Tịnh độ
sau khi sanh cõi Tịnh độ, lòng tin vững chắc rồi, bỏ được
chấp tâm, mới chuyển từ niệm Phật qua tham thiền, từ nghi
đến ngộ. Nghi tình là nhân vô vi, mới được sự ngộ là quả.
Tại sao nói nghi tình là nhân vô vi ? vì nghi tình là tâm
không biết, chẳng dính mắc gì cả. Hễ có dính mắc là hữu vi .
Hỏi : Con nghe
nói Tịnh độ niệm Phật một câu tiêu tám muôn ức kiếp tội, nay
tham thiền thì sao? Được mau tiêu tội không ?
Đáp : Chớ nói
niệm một câu Phật hiệu tiêu được tám muôn ức kiếp tội, hễ
niệm Phật một câu tiêu được một ngày tội cũng đủ rồi ! Cứ
suốt ngày tạo tội, chỉ cần niệm một câu Phật liền tiêu, vậy
thì đâu có sợ tạo tội ! Một kiếp biết bao lâu không ? Hễ một
câu niệm Phật tiêu được tám muôn ức kiếp tội, thì hiện nay
tội đã không còn.
Niệm Phật hiệu
rất dễ, đời người chỉ có một trăm năm, vậy cứ tạo tội mãi mà
chẳng sao! Nếu được như thế, đâu cần làm thiện, cực khổ tu
hành làm gì ? Nên biết câu nói trên là sai, vì không có nhân
quả, tức tạo ác nhân cũng được thiện quả ? Việc không có
nhân quả là phá hoại Phật pháp, không nên theo.
Hỏi: Tịnh độ
tông trì kinh niệm chú, có công dụng như tham Thiền không?
Đáp: Ông đã hiểu
lầm, trì chú thuộc Mật tông, chứ không thuộc về Tịnh độ.
Tịnh độ thì niệm Phật, mà nếu niệm hiệu Phật A Di Đà là
thuộc Tây phương Tịnh độ, niệm hiệu Phật Lưu Ly Quang Như
lai là thuộc Dược sư Tịnh độ, (cũng gọi Đông phương Tịnh
độ), còn Đâu Suất Tịnh độ niệm hiệu Phật Di Lặc, ba Tịnh độ
này đều có người hoằng dương, phổ biến nhất là Tây Phương
Tịnh độ, ngoài ra còn có vô lượng vô biên Tịnh độ.
Hỏi: Trong cuốn
Noi Gương Niệm Phật nói:”Niệm một câu A Di Đà Phật diệt được
tám mươi bốn ngàn tội sanh tử, được tám mươi bốn ngàn công
đức vi diệu.” Trong công quả hằng ngày, lúc quét nhà lau nhà
lỡ giết hại con kiến côn trùng thì câu Phật hiệu có diệt
được tội đó không?
Đáp: Nếu nói
niệm Phật diệt được tội thì không có nhân quả, ví như tạo ác
nhân mà niệm Phật có thể tiêu tội thì đâu sợ tạo nghiệp ! Ai
cũng biết niệm Phật, kể cả con nít biết nói, chỉ cần dạy cho
nó niệm Phật cũng được vậy ! Chúng ta không thể y văn giải
nghĩa, làm oan cho tam thế Phật. Hễ người phạm giới mà sám
hối cũng chỉ diệt được tội phá giới, vẫn phải chịu tội nhân
quả, chứ chẳng thể sám hối tội nhân quả. Nếu vô ý giết hại
con vật thì sau này sẽ bị vô ý giết lại.
Hỏi: Tu theo
tông chỉ của Tịnh độ và tông chỉ của Thiền tông đưa đến kết
quả như thế nào?
Đáp: Tông chỉ
của Tịnh độ, của Thiền tông, kể cả của các tông các phái
trong Phật giáo, mục đích đều như nhau, cũng là muốn thành
Phật. Thành Phật không phải trở thành một vị thần linh, mà
là giác ngộ, ở trong chiêm bao thức tỉnh thì khổ trong chiêm
bao tự dứt. Vì giác ngộ mới giải thoát tất cả khổ, đạt đến
tự do tự tại, cho nên nói là thành Phật, kỳ thật Phật đã
thành sẵn, Kinh Viên Giác nói “Tất cả chúng sanh đều đã
thành Phật”.
Tất cả pháp môn
cuối cùng chỉ là hiện ra Phật tánh, thật ra nói Phật tánh là
tâm. Tại sao nói Phật tánh? Vì chữ Phật nghĩa là giác ngộ,
tâm này có tánh giác ngộ, nên gọi Phật tánh; nếu không có
tánh giác ngộ thì chẳng thể thành Phật.
Nói đến chữ TÂM thì tất cả đều là tâm, “vạn pháp duy tâm,”
“tất cả do tâm tạo,” vũ trụ vạn vật, địa, thủy, hỏa, phong
v.v… đều bao gồm trong đó, chẳng cái nào thiếu sót, cho nên
nói tất cả pháp thế gian đều là Phật pháp; Lục Tổ nói “Phật
pháp tại thế gian, chẳng lìa thế gian giác,” cái tách này,
bình này, kể cả cái thân này đều từ diệu tâm sanh ra. Bây
giờ chúng sanh chấp cái thân này là ta, còn cái tách, cái
bình chẳng phải ta, nếu theo Phật pháp thì tất cả đều là
ta, bởi vì tất cả đều từ tâm sanh ra, thì đâu có cái nào ở
ngoài tâm? Nên nói đều là tự kỷ. Nếu tất cả đều là tự kỷ,
thì mặc dù nói là ta, nhưng đã phá được ngã chấp, chẳng còn
tương đối, nên nói là đồng thể bi, tất cả đồng một bản thể
(tâm).
Thế thì Tịnh độ cũng là tâm, Thiền cũng là tâm, những người
tu Tịnh độ do không biết nên chấp thật cái thân này.
Nếu nói cho đúng thì Phật giáo chẳng phải là một tôn giáo,
hai chữ Tôn Giáo là do người Nhật đặt ra, tất cả các tôn
giáo khác như Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo… chú trọng về tín
ngưỡng, phải tin Giáo chủ, nên thuộc về tôn giáo; còn Phật
giáo thì khác, Phật Thích Ca nói “Tất cả chúng sanh đều là
Phật,” đều bằng với Phật.
Vì tâm chẳng có
hình tướng số lượng, bộ não chẳng thể nhận biết, nhưng sự
dụng thì rõ ràng, ví như cái thân này, cái tách này, cái bàn
này, ghế này… đều là dụng của tâm, vũ trụ vạn vật đều là
dụng của tâm, nên Đức Phật nói “Nhất thiết duy tâm tạo.”
Nhưng nhà khoa học thì không tin, chỉ tin vào vật chất, nói
tâm này cũng do vật chất sanh ra. Ngài Nguyệt Khê trong Đại
Thừa Tuyệt Đối Luận có một biểu đồ nói về bốn thừa: Tiểu
thừa nói về duy vật, Trung thừa nói về duy tâm, Đại thừa nói
tâm vật hợp một, Tối thượng thừa thì vô sở trụ, nói chẳng
phải tâm, chẳng phải vật, tức chẳng phân biệt tâm khác với
vật, là phi tâm phi vật, chẳng phải có hai.
Ví như mấy mươi
cây đèn trong một phòng, đèn lớn ánh sáng mạnh, đèn nhỏ ánh
sáng yếu, đèn dù khác nhau nhưng ánh sáng chẳng phải có hai;
năm cây đèn cũng chỉ một ánh sáng, một triệu cây đèn cũng
chỉ một ánh sáng. Lại nữa, những người học khoa học thì biết
rõ ánh sáng cùng khắp hư không, đã cùng khắp thì sự tương
đối tự nhiên tiêu diệt, chẳng còn tương đối nữa.
Theo Phật pháp, nguồn gốc của tương đối là hữu và vô, hữu là
có, vô là không . Tất cả chúng sanh đều do chấp ngã mới gây
ra đủ thứ khổ và phiền não, tức chấp thân này là ta, bây giờ
thành lập có ta tức hữu ngã, được không? Ví dụ thân ta là
một trong những cây đèn, muốn thành lập hữu ngã thì phải chỉ
ra ánh sáng đèn nào thuộc về của ta, quí vị có ai chỉ ra
được không? Ánh sáng đèn cùng khắp chánh điện này, có ai chỉ
ra được ánh sáng nào là của ta? Không được. Tại sao? Vì ánh
sáng đèn nào cũng cùng khắp, dù lớn hay nhỏ, bao nhiêu triệu
cây đèn cũng cùng một ánh sáng, chẳng sức mạnh nào chia
thành hai ánh sáng được.
Thế thì nói là không có ta, tức vô ngã, được không? Muốn
thành lập vô ngã, quí vị phải chỉ ra chỗ nào không có ánh
sáng đèn của ta? Chỗ nào cũng cùng khắp, vậy muốn thành lập
nghĩa vô ngã cũng không được, vì chẳng thể chỉ ra.
Mặc dù chẳng thể chỉ, nhưng không phải là không có những cây
đèn khác biệt, ví như một trăm cây đèn vẫn là một trăm cây,
đèn lớn vẫn phát ra ánh sáng mạnh hơn, đèn nhỏ vẫn phát ra
ánh sáng yếu hơn, chứ chẳng phải tương đối tiêu diệt rồi
ánh sáng và đèn cũng tiêu diệt luôn. Cho nên, tất cả chúng
sanh dù cùng một Phật tánh, cùng một tâm, nhưng mỗi mỗi
chúng sanh vẫn là khác nhau, cũng như tất cả đèn cùng chung
một ánh sáng mà mỗi mỗi đèn vẫn khác nhau vậy. Nếu chúng ta
sanh khởi tâm chấp thì có cái này cái kia, muôn ngàn sai
biệt; có Tịnh độ, Thiền tông, Thiên thai, Hiền thủ, Duy thức,
Tam luận… đủ thứ tông phái, cho đến tà ma ngoại đạo, thế
gian công thương kỹ nghệ… Nhưng công thương kỹ nghệ, tà ma
ngoại đạo, tông phái này tông phái kia đều là một tâm chứ
chẳng phải hai tâm. Do đó, nói Phật giáo chẳng phải tôn giáo,
vì tất cả đều gồm trong đó. Nếu hiểu được tất cả đều ở trong
tâm, chẳng phải ở ngoài thì khỏi cần phân biệt Tịnh độ và
Thiền, sở dĩ có phân biệt vì có tâm chấp vậy.
Nay người đời
nhìn Phật giáo như là một tôn giáo, vì thấy Phật giáo đồ mê
tín, cho rằng Phật giáo là một tôn giáo mê tín. Sự thật thì
giáo lý của Phật giáo là chánh tín, là phá mê tín, nhưng vì
Phật giáo đồ không hiểu, trong Thiền tông có nói:”Ấy chẳng
phải lỗi tại đệ tử, là lỗi tại người Thầy,” tại Tu sĩ tự
mình mê tín rồi dạy Phật tử cũng mê tín theo.
Tại sao nói chánh
tín là phá mê tín? Như Bát Nhã Tâm Kinh, các chùa ngày
thường đều tụng mấy lần, tụng thì tụng, mà trong cuộc sống
hằng ngày thì nghịch với Kinh: Trong Kinh nói “Vô lục căn,
lục trần, lục thức, vô lão tử… cho đến vô Khổ Tập Diệt Đạo,
vô trí diệc vô đắc,” vô lão tử là không có già chết, cái đó
còn thuộc phạm vi Giáo môn chứ chưa phải Thiền môn, người ta
còn tin không nổi, huống là Thiền môn bất lập văn tự, làm
sao tin nổi ! Nếu muốn phổ biến cho nhiều người thì phải dạy
người ta mê tín, đó mới dễ tin và phổ biến được nhiều, vì
những người mê tín rất dễ dàng đem gia tài đi cúng, họ cho
rằng càng cúng nhiều càng được phước nhiều. Còn dạy người
chánh tín thì tất nhiên khó tin rồi. Chỉ có những người đã
phát tâm tu giải thoát, kiếp trước đã tu, đã gieo trồng
thiện căn rồi, kiếp này mới có lòng tin chơn thật. Kinh Kim
Cang nói:”Phát lòng tin trong sạch, chẳng phải chỉ kiếp
trước nơi một Phật hai Phật gieo trồng thiện căn, mà là vô
lượng vô biên hằng sa chư Phật gieo trồng thiện căn,” mới
được lòng tin trong sạch như hiện nay vậy. Có lòng tin chắc
chắn, sự tu mới chắc chắn, giải thoát mới chắc chắn.
Nhiều người đã phát tâm tu, ấy là nhiều kiếp đã gieo trồng
thiện căn, mới có nhân duyên đến dự Thiền thất, đến nghe tôi
giảng về pháp chánh tín. Tôi không bao giờ giảng về mê tín,
người cúng dường chánh tín không mong đợi phước báo và cúng
dường vô điều kiện, không đòi hỏi tôi tụng kinh cầu an cầu
siêu, cũng không cần biết phước báo đó sẽ lớn như thế nào.
Tôi đến giảng tại các Phật học viện, mặc dù tôi chuyên hoằng
Tổ Sư Thiền, nhưng người ta hỏi về Tịnh độ thì tôi giải đáp
về Tịnh Độ, hỏi về Thiền giải đáp thiền, cho đến các pháp
môn khác. Ai thích tu pháp môn nào thì tôi dạy pháp môn đó,
chứ chẳng phải bắt buộc mọi người phải tu Tổ Sư Thiền.
Thích Vân
Phong kính biên tập