Thöa baïn,

Tính Triết Lư Trong Nhạc TrỊnh Công Sơn

[13/06/2006 - Tác giả: admin1 ]
Nguyễn Văn Thiên
13.06.2006



H́nh: Chân dung của Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn do Họa Sĩ Hồ Thành Đức vẽ.
- Nguồn : Vietnam Review -

I . DẪN NHẬP

Âm nhạc bấy lâu nay là món ăn tinh thần bổ ích cho con người và cuộc sống. Âm nhạc luôn đồng hành và trung thành với con người qua bao thời đại. Âm nhạc cũng như các trào lưu nghệ thuật khác, luôn biến đổi không ngừng với thời gian. Tuy nhiên, dù ở bất cứ nơi đâu th́ âm nhạc cũng làm tṛn sứ mạng tô điểm và phong phú hoá cuộc sống cho con người.

Giống như ngôn ngữ, âm nhạc có thể truyền đạt những cảm xúc như vui buồn, ưu tư, phấn khởi hay hân hoan … Có thể nói: Âm nhạc là ngôn ngữ trỗi vượt trên mọi ngôn ngữ bởi lẽ nó có khả năng lay động cả những tâm t́nh sâu kín nhất của con tim. V́ thế trong một bài văn xuôi có nhan đề :“T́nh yêu và Tiếng hát” cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có viết : “Có người đi đến cuộc đời và ngẫm nghĩ : Nếu đời sống vắng bóng âm nhạc và tiếng hát th́ như thế nào đây ? Ở đâu có con người, ở đó có tiếng hát. Trên mặt đất trần gian này, tiếng hát nhắc nhở ta một điều giản dị: Tôi hát là tôi hiện hữu. Tôi tồn tại cũng có nghĩa là tôi mất đi. Tôi mất đi nhưng tiếng hát c̣n ở lại, ở lại như một chứng tích vừa buồn bă, vừa huy hoàng của một cơi đời” (1)

Như mọi người vẫn biết Trịnh Công Sơn đă để lại cho nền âm nhạc Việt Nam một khối lượng lớn nhạc phẩm (Trên 600 nhạc phẩm) có giá trị và được nhiều người ái mộ (không những trong nước mà cả ngoài nước). Thiết nghĩ nhạc của Trịnh Công Sơn đă đi vào ḷng người cách dễ dàng như thế không phải bởi số lượng nhạc phẩm nhưng bởi tính triết lư của từng ca khúc. Một triết lư nhân sinh cần được t́m hiểu và khai thác.


II. TRIẾT LƯ VỀ PHẬN NGƯỜI

1/ Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi

Người ta là ai? Là ǵ trong cơi đời này? Câu hỏi ngàn đời ấy luôn là vấn nạn mà mỗi người có một cách trả lời riêng theo suy tư của ḿnh. Đối với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn th́ cho rằng: Cuộc đời con người không ǵ khác hơn là hành tŕn của cát bụi, bởi trong nhạc phẩm “Cát bụi” Tác giả đă viết : “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai vươn h́nh hài lớn dậy…” Hạt bụi hoá kiếp, hạt bụi vươn dậy để rong chơi trong một kiếp người.

Hạt bụi hoá kiếp thành con người để mang lấy một sự sống, một hơi thở để rồi bao nhiêu năm làm kiếp con người là bấy nhiêu năm vươn tới sự tuyệt vời của chính nó. Nhưng mà một khi hạt bụi mang kiếp sống th́ cũng là khi nó đối diện với cái chết, cái điểm tận cùng của hành tŕnh trần gian, bởi v́ cuộc đời này ta thấy đâu đó trong niềm vui của tuổi trẻ và t́nh yêu, th́ cũng thấy đâu đó “Lau trắng trong tay” và đường trần là một chuyến chăn gói để “Mai kia chào đời ngh́n trùng cơn gió lên”. Dẫu cái nh́n ấy có thật buồn và đáng thương nhưng không hẳn bi quan bởi v́ trong cái nh́n ấy vụt sáng lên cái ư niệm “Cát bụi tuyệt vời”.

Mỗi người trên hành tinh này đă được Trịnh Công Sơn gọi là một hạt bụi, hạt bụi có khuynh hướng trở về với chính nó trên hành tŕnh riêng tư của ḿnh, chẳng ai giống ai. Có những hạt bụi bay vút lên cao trong cuộc sống để rồi cuối cùng lặng ch́m trong cái chết, có những hạt bụi b́nh lặng giữa đời rồi một mai cũng chết trong âm thầm. Hạt bụi Trịnh Công Sơn “ Xuất hiện giữa trần gian như một ẩn sĩ, với lời lẽ hư hư thực thực, đầy giằng xé, phủ nhận, nghi hoặc và tự khoác cho ḿnh một tấm áo choàng chấm gót cách biệt” (2). Hạt bụi ấy đă sống giữa đời như mọi người, và có lẽ như nhiều người khác Trịnh Công Sơn ư thức được thân phận bọt bèo của kiếp người nhưng sự hoá thân của nó th́ thật tuyệt vời, tuyệt vời v́ cùng với nhân loại “gơ nhịp không vơi”.

Chính từ chỗ ư thức được thân phận đời người, đời người chỉ xuất hiện một lần, trải qua một lần và cũng chết đi một lần, không có sự lặp lại lần thứ hai như quan niệm của triết gia Hecralite đă nói : “Không ai tắm hai lần trên một ḍng sông”(3).Cuộc sống này tựa hồ như những ḍng sông mang đầy ắp những sự kiện, nó biến đổi cách lạ lùng trước mắt chúng ta mà đôi khi ta không nhận ra được bằng khả giác, hoặc ta có cảm tưởng khó nhận ra các sự kiện diễn ra trong cuộc sống. Điều đó Trịnh Công Sơn đă nhận thức và biết rằng hạt bụi khi được hoá kiếp th́ chính là khởi điểm đi về cội nguồn qua “Bao niêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi” và cuối cùng đi vào cái “Chết của một ngày” (Cát bụi).

Hạt bụi tuy là đi về một cơi, nhưng nó tắm ḿnh trong ḍng sông cuộc đời, ca hát với cuộc đời, nói với đời về t́nh yêu, thứ t́nh yêu của con người, của cỏ cây, của muông thú… Và cũng nói với đời về nỗi đau khổ của kiếp nhân sinh, của cái định mệnh. Trịnh Công Sơn đă tin điều đó, nên trong một lần trả lời phỏng vấn Ông có nói : “Tôi tin rằng có một cái ǵ đó không xa xôi, cũng không gần gũi, cái đó chính là định mệnh, cũng như định mệnh chi phối cả một đời người, cũng như tôi đă sống và luôn nghĩ về cuộc đời, về con người” (4)

Như đă nói Trịnh Công Sơn là hạt bụi lặng lẽ với ngôn từ hư hư thực thực. Ông như một người làm vườn, âm thầm gieo trồng trong cô đơn những mùa táo ngọt mà ở đó trong sự quyến rũ thoát khỏi vườn địa đàng của Adam, Eva đă nếm trải một thứ quả cấm của t́nh yêu, thứ quả cấm mà hễ ăn vào một lần là mang măi một tin buồn. Nhưng nỗi đam mê ấy không thay thế được những điều lớn lao ở nơi nhạc Trịnh, đó là nỗi đam mê nhận thức đời sống với câu hỏi nghiệt ngă cuối cùng :Ta là ai trên cơi đời này? Nhạc của họ Trịnh đă giúp t́m lại và nh́n ra giá trị thực của đời người là trở về nơi nó hoá kiếp và không buông xuôi trước số phận.

Trên đại lộ lớn của t́nh yêu, của kiếp người. Trịnh Công Sơn đă giúp cho đời thấy được hạt bụi phận này hoá kiếp, rong chơi, mệt nhoài và chết đi ở một ngày theo quy luật con người là một hữu thể xă hội. Nó không phải từ không mà có nhưng nó được sinh ra và lớn lên trong một xă hội, được đặt trong một thế giới để h́nh thành và hoàn tất cuộc hiện sinh của ḿnh, và trong cuộc hiện sinh ấy luôn có mọi người đồng hành.

2/ Nhạc Trịnh Công Sơn nói đến Tứ diệu đế của nhà Phật

Người ta vẫn gọi Trịnh Công Sơn là một thiền sư du ca, tuy nhiên Ông không phải là một người ham mê nghiên cứu đạo Phật, mặc dầu Ông xuất thân trong một gia đ́nh theo đạo Phật. Hơn nữa Ông được sinh ra trong một thành phố có nhiều ngôi chùa cổ. Rồi thủa thiếu thời, v́ hoàn cảnh Trịnh Công Sơn được gởi vào một ngôi chùa, ở dó Ông phải đứng bên Ni-Sư già (chùa Hiếu Quang) để lật từng trang sách kinh cho sư phụ đọc. Dần dần tư tưởng của nhà Phật về kiếp nhân sinh đă thấm sâu vào con người họ Trịnh, thế là sau này tư tưởng ấy được thể hiện ra trong các ca khúc. Do đó nhạc của Ông có nói đến Tứ diệu đế của nhà Phật là điều hiển nhiên.

Có một truyền thuyết của nhà Phật nói rằng : Về nỗi khổ của kiếp người th́ kinh sách Phật Giáo có đến hàng vạn cuốn, nhưng cuối cùng được rút gọn trong bốn chữ đó là : SINH – LĂO – BỆNH – TỬ. Do ảnh hưởng của tư tưởng nhà Phật, nên nền tảng triết học trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn phảng phất màu sắc của phái thiền tông, nhất là những ca khúc được sáng tác khi Ông bước vào cái tuổi “Nhi bất hoặc”. Từ đó ta có thể nghe ra trong một số ca khúc của Ông có nhiều nỗi buồn như “Lời thánh buồn”, “Phúc âm buồn”, “Chợt buồn hồn dâng miên man” … Kể cả nỗi buồn của sự nỗi tiếng nữa. Tuy nhiên may thay nhờ có căn cơ tâm đạo, có bản lĩnh và tŕnh độ tu chứng, Ông mới có thể hoá giải được những hệ luỵ nhân sinh để biến thành “Chiếc lá cỏ ngồi hát rất tự do”, và t́m ra một lối đi về thanh thản cho cuộc đời ḿnh.

Trước hết chữ SINH trong ca khúc Trịnh Công Sơn nói lên điều ǵ? SINH trong nhạc Trịnh là bước đầu của Tứ diệu đế. Ngày sinh cũng là niềm vui nhưng vui không mấy chốc mà thay vào đó là nỗi buồn. Vui v́ được hoá kiếp nên người, được nh́n thấy mặt trời, mặt người và vui v́ được nh́n thấy vạn vật cây cảnh. Nhưng buồn v́ là khởi điểm của hành tŕnh đi về cái chết. Chính khi tiếng khóc chào đời để báo hiệu sự hiện hữu cũng là tiếng khóc cho thân phận khổ đau của đời ḿnh. Thế nên trong ca khúc “Gọi tên bốn mùa” Trịnh Công Sơn có viết : “Tin buồn từ ngày Mẹ Cha mang nặng kiếp người”, hay như trong ca khúc “Cát bụi” Ông đă có cái nh́n buồn bă về cuộc đời, nên mới đặt câu hỏi:

“Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi?

Để một mai tôi trở về làm cát bụi”.

Hoá thân để rồi lăn lóc, bám víu vào cái trần gian tạm bợ; hoá thân để bị cuộc đời nhào nắn, vùi dập mới có thể thành người được.

Chính v́ SINH là một cú nhảy khởi đầu vào kiếp luân hồi, nên Trịnh Công Sơn cảm thấy chẳng mấy vui v́ thời điểm của nó quá ngắn ngủi đến độ con người chưa đủ ư thức về sự ra đời của ḿnh th́ đă bị chữ LĂO chiếm chỗ, chữ BỆNH rượt đuổi và kết thúc nơi chữ TỬ. Nhà tâm lư học hiện đại người Pháp tên là Merleau Bonty có nói rằng : “Người ta không thể sinh ra trước một phút để biết ḿnh ra đời như thế nào”. Không biết Trịnh Công Sơn có bị ảnh hưởng bởi tư tưởng này không mà sao thấy nhạc của Ông ít khi nói trực tiếp đến sự ra đời của kiếp người, mà chỉ nói qua h́nh ảnh hát ru một cách nào đó để làm dịu đi ư nghĩa gay gắt của sự ra đời bằng câu hát “ Tiếng khóc ban đầu c̣n đâu? C̣n đâu? C̣n đâu?” (Lời mẹ ru).

Khi chữ “SINH” chào vĩnh biệt th́ chữ “LĂO” lên ngôi. Con người được lớn lên từng giây phút và đi vào tiến tŕnh lăo hoá, mà lăo hoá là một quá tŕnh bất lực của con người. Thế giới biến đổi và con người cũng biến đổi, một sự biến đổi theo thời gian và chẳng có nhịp dừng. Ca khúc của họ Trịnh cũng nói khá nhiều về chữ LĂO bằng tất cả giọng buồn nản như những câu hát sau : “Có một bạc đầu tôi đi, tôi đi” (Có một ngày như thế), hoặc đi nhưng đi trong t́nh nghĩa phôi pha của “Từng tuổi xuân đă già, một ngày kia bến bờ … tóc xanh mấy mùa” (Phôi pha); hoặc đi qua chuyến đ̣ mà con sông cuộc đời là quán trọ, nhưng mà “Con sông đâu có ngờ ngày kia trăng sẽ già” (Biết đâu nguồn cội) để một khi mặt trời đổi hướng chuẩn bị tạm biệt sau một chu kỳ th́ “Chợt một chiều tóc trắng như vôi” (Cát bụi).

Nối tiếp chữ “LĂO” là chữ “BỆNH”. Nếu như LĂO là bất lực của con người trong cuộc sống th́ BỆNH là điều không thể tránh khỏi. Nó là t́nh trạng suy thoái của thân thể, bởi thân thể tiềm ẩn mầm mống của bệnh mà nhà Phật coi con người là một bệnh tiềm thể. Trịnh Công Sơn cũng như nhiều người khác, Ông mang sẵn trong ḿnh một mầm bệnh nên Ông có mặc cảm lâm bệnh trong bước đi của cơi luân hồi. Có nhiều ca khúc của Ông cũng nói đến chữ BỆNH khi mà con người không được mấy khoảnh khắc khoẻ mạnh, tính chính xác hoặc sự sáng suốt đáng tin cậy mà câu hát sau đây đă diễn tả: “Ngày thu đông phố xưa nằm bệnh” (Có nghe đời nghiêng) hoặc “Giật ḿnh ồ chiếc lá thu phai, chập chờn lau trắng trong tay.” (Chiếc lá thu phai), hoặc là “Nghe bao nỗi đau trên một bàn tay” (Tôi đang lắng nghe) và suốt cuộc đời quá khứ là “Ngày tháng trôi qua cơn đau mịt mùng” (Hoa vàng mấy độ). Không biết có phải do sưc khoẻ của Tác giả chẳng mấy dồi dào hay do nhiều đêm mất ngủ mà Ông đă có mặc cảm mang tính chất khổ hạnh “lâm bệnh” Chính là bản chất của cuộc đời.

Hành tŕnh cuối cùng của Tứ diệu đế là “TỬ”. J.P Sartre Le Muler th́ cho rằng : “Cái chết không thuộc về đời người, nó thuộc về vũ trụ, nó giống như bức tường trắng, trắng phờ, phẳng ĺ và vô nghĩa”. Ngược lại triết lư Đông Phương coi cái chết thuộc về đời người, nó gắn vào hữu thể, làm rỗng hữu thể. V́ mang sẵn mặc cảm lâm bệnh nên Trịnh Công Sơn nghĩ con người ta sẽ đi ra khỏi thế giới này lúc nào cũng được: “Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời” (Bên đời hiu quạnh) hay “Một hôm buồn lên núi nằm” (Tự t́nh khúc) và hầu như Ông biết được cái định mệnh : “Bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi, tay chia ly cùng đời sống” (Rơi lệ ru người) hoặc “Nh́n nhau ôi cũng như mọi người, có một ḍng sông đă qua đời …” (Có một ḍng sông đă qua đời).

Khi tiếng chuông gọi hồn đă điểm, cuộc rong chơi nay c̣n đâu, chỉ xin được “Úp mặt bùi ngùi” để trở về với cát bụi ngày 1-4 -2001. Như thế Trịnh Công Sơn đă xây dựng xong toàn bộ thế giới của ḿnh với bốn yếu tố nguyên thuỷ của nhà Phật là: SINH – LĂO – BỆNH – TỬ đều có tính hư vô. Nhưng Trịnh Công Sơn đă t́m cách hoá giải chúng bằng cách sử dụng báu vật của tâm hồn nửa ảo, nửa thực để Tứ diệu đế đi vào ca khúc của Ông một cách tự nhiên như thể “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cơi đi về” (Một cơi đi về).

Với một niềm hoài cổ, một cơi cô đơn, một chút xót xa day dứt, một lời khuyên như tâm t́nh, một thoáng rợn ngợp trước cơi hư vô, một tiếng thở dài cam chịu và một lời than trách nhẹ nhàng như không. Có bao nhiêu sắc thái khác nhau trong âm nhạc Trịnh Công Sơn, thứ âm nhạc vút lên giữa tồn tại và hư vô, tiền kiếp và mai hậu. Trịnh Công Sơn không đi trên ranh giới của các thái cực như một người làm xiếc, mà Ông đă tạo dựng trên đường biên mong manh đó cả một thế giới riêng. Có thể nói Trịnh Công Sơn là một thiền sư, một thiền sư đă “Ngộ” cái phù du tạm bợ của cơi thế và đă lựa chọn trước cho ḿnh những nghi lễ của nhà Phật để giă từ cơi tạm.

3/ Âu cũng là một cơi đi về

Hành tŕnh đời người là đi từ sinh đến tử, từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, đó là “Một cơi đi về” theo suy nghĩ của Trịnh Công Sơn. Nhạc phẩm “Một cơi đi về” rất triết lư về kiếp nhân sinh, trong đó Tác giả như muốn mời gọi con người lần theo dấu vết của đời ḿnh, điểm lại những thăng trầm trên đoạn đường đă đi qua, và mời gọi chúng ta chiêm niệm về cơi đi về ấy.

Dù có bức xúc, phẩn nộ, xót xa, nhức nhối hay cảm thông trước những cảnh tang thương của đất nước, của phận người th́ nhạc Trịnh vẫn đẩy cho đến tận cùng sụ rung cảm của trái tim, của người nghệ sĩ, do đó ca khúc của Ông luôn thắm đượm một một triết lư về đời người. Đời người có một chuỗi rong chơi nhưng đời người cũng là một cơi đi về.

Có người cho rằng do quê hương của Trịnh Công Sơn ở Huế, nơi mà Ông có nhiều kỷ niệm của cái thưở ban đầu lưu luyến; nơi mà cảnh vật thơ mộng như muốn réo gọi Ông hăy viết cho đời, hăy hát với đời những bài t́nh ca để khoả lấp những khoảng không đáng sợ và làm sống lại một đời người. Nhưng v́ thời cuộc Người nhạc sĩ tài hoa này phải lưu linh nay đây mai đó qua những miền thân yêu của đất nước : Huế, Bảo Lộc, Đà Lạt, Sài G̣n, … Điều đó đă khiến cái hồn quê ấy cứ cháy âm ỉ trong tim, nên càng nh́n vào cuộc đời chẳng mấy êm đẹp th́ ca khúc của Ông lại càng triết lư hơn về “Một cơi đi về” để vơi bớt ḷng khao khát trở về nơi quê cha đất tổ. Nhưng mà “Cơi đi về” của Trịnh Công Sơn là cơi đi về của cả một kiếp người chứ không hẳn là cơi đi về nơi quê hương mà thôi. V́ thực ra “Hơn 600 ca khúc của Ông bao hàm gần như trọn gói những cuộc hội hè trần thế, những buổi lễ cầu kinh, những thăng trầm lịch sử, những cốc rượu ngọt ngào và đắng chát của t́nh ái, những đoá hoa phù dung trong cuộc rong chơi kỳ thú của trí tưởng tượng, những khoảnh khắc hạnh phúc, những nhịp đập của thời gian … Nhưng có một t́nh yêu lớn, sâu lắng và bàng bạc ở nhiều ca khúc như Trịnh Công Sơn đă thú nhận trong băng nhạc ru t́nh Huế thân yêu quê quán đời Ông vẫn luôn là một cơi đi về”. (5)

Dù quan niệm trần gian này là cơi tạm, là phù du nhưng cái nghịch lư nơi Ông là muốn tạm lâu hơn. Đó cũng là triết lư cuộc đời của Ông và trong một ca khúc Ông viết : “Tôi là ai mà yêu quá cuộc đời này? Tôi là ai mà c̣n trần gian thế?”. Mà dẫu có yêu quá cuộc đời này mấy đi nữa th́ chính Ông lại ư thức cùng đích đời người không ǵ khác hơn là “Sống ở thác về”, nên rất nhiều lần Trịnh Công Sơn có nói rằng : “Thí dụ bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi, tay chia ly cùng đời sống” (Rơi lệ ru người).Và cũng chính “Sự nhạy cảm thường trực về tính hữu hạn của đời người, đă thúc đẩy trầm tư âm nhạc của Trịnh Công Sơn tiếp cận với ư thức cát bụi, với tâm thức lăng du qua cơi đời vô thường, nỗi hoài niệm về nơi “ Nguyên quán vĩnh hằng” (Bên đời hiu quạnh) mà từ đó vào cuối cuộc hành tŕnh của phận người, Trịnh Công Sơn rẽ hướng t́m về nguồn cội minh triết của Phương Đông, níu lấy cái tâm của ḿnh để sống với đồng loại bằng : “Con tim yêu thương vô t́nh chợt gọi, Lại thấy trong ta hiện bóng con người” (Một cơi đi về)” (6).

Câu hát : “Em đi qua chuyến đ̣ …” Tác giả như muốn nhắn gởi một thông điệp cho mọi người biết đâu là nguồn cội. V́ rằng dù khi trăng đang nằm ngủ hay trăng c̣n trẻ th́ biết đâu một ngày kia trăng sẽ già. Mặt khác lúc c̣n ở trong bào thai mẹ là như ở trong thiên đàng vậy, nhưng khi thoát ra ngoài rồi là đấu tranh, là đối diện với cuộc đời, cuộc đời sẽ chất lên :

“Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt,

Rọi suốt trăm năm một cơi đi về”. (Một cơi đi về)

Với bao nhiêu năm rồi mà Ông vẫn c̣n măi ra đi, ra đi để gào thét với cỏ cây, ra đi với những “Cơn say thật nhẹ”. Ông đă đi qua bốn mùa, đă để lại sau lưng “Con sông” và “Mây che trên đầu, nắng trên vai”, và Ông c̣n để lại cả :

“Con tinh yêu thương vô t́nh chợt gọi,

Gọi suốt trăm năm một cơi đi về” (Một cơi đi về).

Nhưng Ông vẫn chưa t́m ra được cuộc hội ngộ. Sáu mươi năm cuộc đời tuy cũng ngắn ngủi, nhưng sáu mươi năm cuộc đời cũng vừa đủ cho Người nhạc sĩ tài hoa này để lại cho đất nước nhiều ca khúc mang tính triết lư phận người để hát ru chuyến đ̣ đời ḿnh. V́ thế người ta nghe nhạc Trịnh Công Sơn không chỉ bằng cung điệu trầm bổng hoặc lời ca, nhưng c̣n bằng cảm xúc nhức buốt và bằng cả suy tư triết lư nữa. Bởi v́ mỗi khi nghe nhạc Trịnh th́ người nghe như t́m lại được chính họ trong ca khúc ấy, t́m thấy được nỗi cô đơn vô cùng của phận ḿnh như :

“Ngày tháng nào đă ra đi khi ta c̣n ngồi lại

… Từng người t́nh bỏ ta đi như những ḍng sông nhỏ

… Ôi tiếng buồn rơi đều

… Nh́n lại ḿnh đời đă xanh rêu” (T́nh xa).

Như Tác giả đă nói : “Mỗi bài ca của tôi là một lời tỏ t́nh với cuộc sống, một lời nhắn nhủ thầm kín về những nỗi niềm tuyệt vọng, và cũng là một nỗi ḷng tiếc nuối khôn nguôi đối với buổi chia ĺa cùng mặt đất mà tôi đă một thời chia sẽ những buồn vui cùng mọi người”. (7) Với triết lư sống của Trịnh Công Sơn Và những ca khúc Ông để lại cho đời, giờ đây Ông đă sang bên kia nấm mồ để đi về một thế giới khác. Chắc hẳn hơn những người con sống Ông đă biết rơ bên kia thế giới có ǵ mà lúc c̣n ở trần gian Ông muốn biết. C̣n chúng ta, những người đang lần gót trên một cơi đi về như Trịnh Công Sơn đă từng đi và cùng hát lên với Ông câu hát :

“Bao nhiêu năm rồi c̣n măi ra đi

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt

Rọi suốt trăm năm một cơi đi về” (Một cơi đi về).


III. TRIẾT LƯ VỀ T̀NH YÊU

1/ Sống trên đời cần có một tấm ḷng

Có lẽ đây là vấn đề căn cốt mà Trịnh Công Sơn khao khát và ấp ủ thực hiện. Tấm ḷng của Ông không ǵ khác hơn ngoài hai chữ yêu thương mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có nói : “Dù những trầm tư của Tác giả có đi xa đến đâu, Th́ trong ca khúc của Trịnh Công Sơn có một cơi dành riêng cho t́nh yêu, nó làm tươi lại những bông hoa đầu tiên mà con người đă hái mang theo từ vườn địa đàng, đánh thức cả một trời mộng mơ, tưởng chừng đă quá xa xôi trong đời người để đưa một người t́nh đến lâu đài cổ xưa trong rừng, êm đềm, giản dị mà cao sang lạ thường” (8). Thực tế, bấy lâu nay Trịnh Công Sơn được giới ái mộ trao tặng danh hiệu là kẻ du ca về t́nh yêu, bởi v́ nơi con người của Nhạc sĩ và trong từng ca khúc của Ông luôn đượm thắm t́nh yêu, quê hương và thân phận.

Chỉ với chữ “T́nh” thôi mà trong tuyển tập “Em c̣n nhớ hay Em đă quên” th́ đă đếm được khá nhiều rồi, nào là T́nh xót xa, T́nh khúc ơ-bai, T́nh nhớ, T́nh sầu, … Những chữ T́nh ấy hàm chứa rất nhiều điều Ông muốn nói với đời, muốn chia sẽ với đời. Tuy rằng bấy nhiêu chữ T́nh chưa nói hết tính triết lư nơi nhạc của Ông, Nhưng đă thể hiện phần nào tấm ḷng của Ông đối với con người.

Trịnh Công Sơn có một tấm ḷng rất nhạy cảm trước những cái hay, cái dở và đau thương của đời người, nên Tác giả cũng đưa những nhạy cảm ấy vào trongcakhúc của ḿnh. Nếu ai nghe qua băng ghi âm trong đêm nhạc của Trịnh Công Sơn ở Paris đêm 20 – 7 – 1987 th́ sẽ nghe được câu nói : “Chắc chắn một điều, bài nào của Trịnh Công Sơn mà không có chữ T́nh, chữ Yêu, chữ Tin, … th́ đó không phải là nhạc Trịnh”. Lời nói trên có lẽ không quá lắm đâu bởi lẽ chính họ Trịnh cũng tâm sự : “Chúng ta làm cách nào để nuôi dưỡng t́nh yêu, để t́nh yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời”

Trái tim của Trịnh Công Sơn thường cháy bỏng ngọn lửa của một tấm ḷng yêu thương cho dù đơn phương hay song phương; cho dù đa phương hay vô định th́ Ông vẫn luôn nói : “Sống trên đời cần có một tấm ḷng …” dẫu có lúc Ông đau đớn thốt lên rằng : “Từng người t́nh bỏ ta đi như những ḍng sông nhỏ, ôi những ḍng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa”. Nhưng trong Ông luôn có một tấm ḷng, tấm ḷng của sự cho đi và tha thứ, cảm thông và cao thượng, tấm ḷng của Trịnh Công Sơn là như vậy đó.

Nhiều người cho rằng trên cơi trần gian này không có ǵ ngoài quy luật cả. C̣n Trịnh Công Sơn th́ cho rằng h́nh như t́nh yêu cũng có lúc ngoại lệ bởi : “T́nh yêu có thể nâng bổng con người, nhưng cũng có lúc nó nhấn ch́m kẻ háu hức, do đó Ông không tin những người quá lạc quan khi nói về t́nh yêu ở thể khẳng định. Người ta có thể tin rằng ḿnh được yêu và cũng có thể hiểu nhầm ḿnh không được yêu … Nếu có người nào đó thách thức tôi một tṛ chơi nghịch ngợm, th́ tôi sẽ mang t́nh yêu ra mà đánh đố” (9). T́nh yêu có lúc là “Mật ngọt trên môi” nhưng có lúc lại “Mật đắng trong đời”, có lúc lại là “T́nh yêu vô tội, để lại cho ai?”. T́nh yêu là mật đắng trong đời khi con người không sống với nhau bằng tấm ḷng. Đứng trước một t́nh yêu hạn hẹp và ích kỷ như vậy nên Trịnh Công Sơn mới mời gọi con người sống bằng t́nh nhân loại, một thứ t́nh rộng hơn, quảng đại hơn : “T́nh yêu như biển, biển rộng hai vai” để gánh đỡ cho đời chứ không kêu gọi thứ t́nh yêu hạn hẹp : “Như tay người lạc lối” (Lặng lẽ nơi này).Tuy nhiên dẵu t́nh yêu có rộng hay hẹp, sâu hay cạn.. . th́ không ai đem t́nh yêu ra mà kết án cả bởi: “ T́nh yêu vô tội, để lại cho ai, buồn như giọt máu, lặng lẽ nơi này, …” (Lặng lẽ nơi này). Chính v́ t́nh yêu trong Ông là cái ǵ rất đáng trân trọng và yêu quư nên Ông sợ mất, sợ không giữ được nó cho ḿnh nữa, nên nỗi ám ảnh lớn nhất đối với Ông là cái chết như có lần Ông đă nói : “Sự sống và sự chết trở thành vấn đề lớn trong đời sống tinh thần của tôi, có lẽ suy cho cùng, từ đâu mà ra cái suy nghĩ đó, do tôi quá yêu cuộc sống, sợ mất nó, mất mát một cái ǵ mà ḿnh từng có trong cuộc đời, đă từng đi qua và từng t́m thấy như t́nh yêu, như cái ǵ đẹp nhất trong cuộc sống” (10). Từ chỗ đó Ông luôn nhớ đến t́nh dù “T́nh ngỡ có quyên đi, nhưng ḷng cố lạnh lùng … T́nh ngỡ có phôi pha nhưng t́nh vẫn c̣n đầy, hay là t́nh ngỡ sóng xa đưa nhưng t́nh vẫn trong nhau” (T́nh nhớ).

Có thể nói rằng Trịnh Công Sơn – một con người tài hoa với nhiều ca khúc nói lên ḷng bao dung, nhân hậu, được trải rộng trên quê hương, con người và cuộc sống. Tất cả có thể gói gọn trong bốn câu hát và cũng là câu hỏi đặt ra cho cuộc đời.

“Sống ở trên đời cần có một tấm ḷng.

Để làm ǵ em biết không?

Để gió cuốn đi !”.

2/ Cuộc sống không thể thiếu t́nh yêu

Đến với Trịnh Công Sơn hay đến với ca khúc của Ông là đến với ngôn từ của yêu thương . Có lẽ định mệnh bắt Ông phải yêu, phải thương nên định mệnh cũng trao vào tay Ông cây viết và đặt vào người Ông một con tim yêu thương để Ông viết nên những t́nh khúc yêu thương. T́nh yêu mà Ông viết không phải là một thứ t́nh yêu mơn trớn kiểu rẻ tiền mà là “T́nh yêu như vết cháy trên da thịt người”, t́nh yêu quê hương và t́nh yêu phận người. Với quê hương th́ lắm chuyện để mà nói, để mà mô tả : Chiến tranh, đau khổ, cảnh nghèo, nụ cười, nước mắt, … Rất tiếc hơn một nửa cuộc đời của Ông nằm trong giai đoạn đất nước bị chiến tranh, nên cảnh đau thương do hậu quả chiến tranh gây ra nhan nhản khiến Ông không chịu nổi và không thể ngủ yên trong bóng đêm đen ấy. Ông đă ray rứt viết nên những ca khúc phản ảnh cái đau thương của người dân đất Việt, mà hai tập “Ca khúc da vàng” và “Kinh Việt Nam” là điển h́nh.

Giữa cái cảnh người nô lệ da vàng phải tủi sầu nuốt nhục khi thấy cảnh nồi da nấu thịt; người da vàng vừa là chủ nhân của một phần đất nước nhưng cũng là nô lệ của một phần đất nước. Cảnh sào xáo như thế cứ diễn ra từng ngày, th́ ngay những lúc đó Trịnh Công Sơn “Đă vẽ ra thời buổi sau chiến tranh mà con người có quyền hưởng thụ và có nghĩa vụ tô bồi. Những dự phóng này nảy nở trên nền tảng làm bằng những h́nh ảnh mất mát, cái bấp bênh của những ǵ đang có, nỗi bất lực không yêu được bội phần” (11).

C̣n về phận người th́ đây luôn là vấn nạn, là chủ đề tư tưởng, là triết lư trong nhạc Trịnh. Có lẽ Trịnh Công Sơn là người viết nhiều về phận người, về cơi đời vô thường này. Người nhạc sĩ tài hoa này trong những phút xuất thần đă đồng hoá với vạn vật trong đời sống, có khi là cỏ cây hay mục đồng, có khi là sâu bọ hay ngọn gió, hạt mưa tan giữa đời, có khi là ḥn cuội, là cát vẫn bụi lầm, … Nhưng trong khi cỏ suốt đời là cỏ, ḥn cuội trọn kiếp vẫn là ḥn cuội th́ con người mỗi phút mỗi chực vong thân.

Trịnh Công Sơn quả là một nhạc sĩ khá sâu sắc và bao dung, Ông hiểu rất rơ giá trị của kiếp sống trước cái vô tận của vũ trụ nên ḷng Ông rất độ lượng đến nỗi “Yêu em phụ rẫy t́nh ta, yêu em thêm t́nh phụ, yêu em ḷng chợt từ bi bất ngờ … Yêu em cả khi em phụ bạc để rồi cảm thấy trái tim từ bi độ lượng … Có lẽ chính cái tinh thần cao thượng nhân ái đến mức có vẻ như thủ tiêu đấu tranh trong Anh, làm cho những ca khúc của Anh mang màu sắc Phật giáo, giai điệu đều đều, trầm buồn như kinh cầu mà rất đọng trong ḷng người nghe” (12).

Rất nhiều người thích hát nhạc Trịnh v́ nhạc Trịnh có cái ǵ đó cô liêu, man man rất khó cắt nghĩa, hát nhạc Trịnh ta như thấy có cái ǵ đó sao xuyến trong tâm hồn, hát nhạc Trịnh ta như đối diện với chính ḿnh vậy. Chắc chắn trong nhạc Trịnh Công Sơn phải có một thứ t́nh yêu tạm gọi là chân thật và một cảm xúc rất tinh tế, th́ Ông mới có thể viết nổi những lời lẽ có đủ sức rung cảm ḷng người và đủ sức để chuyên chở t́nh yêu của con người trên lộ tŕnh đời người.

Có thể nói rằng t́nh yêu trong nhạc Trịnh là nhịp đập trong con tim thứ hai của họ Trịnh. Đối với Ông không có t́nh yêu th́ không có ca khúc, không có t́nh yêu th́ cuộc đời vô nghĩa, dẫu màu sắc của t́nh yêu là đau khổ hay hạnh phúc. V́ vậy trong hồi ức của ḿnh Tác giả tâm sự : “V́ có t́nh yêu nên mới có âm nhạc, v́ có khổ đau nên mới có âm nhạc, v́ có hạnh phúc nên mới có âm nhạc, do đó khi tôi viết một bài hát ca tụng t́nh yêu, hạnh phúc hoặc than thở về một nỗi tuyệt vọng nào đó th́ h́nh như tôi không mắc phải một lỗi lầm nào cả” và Anh tiếp lời “ Tôi không có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng, nhưng đời đă tặng cho tôi món quà ấy, th́ tôi không thể không nhận và khi nhận rồi th́ ḿnh phải có trách nhiệm đối với mọi người. V́ thế tôi đă cố gắng làm thế nào để có thể trong những bài hát của ḿnh chuyên chở được một thông điệp của ḷng nhân ái đến với mọi người” (13).

IV. ĐAU KHỔ VÀ KHÁT VỌNG

1/ Đau khổ của cái chết

Không giống Phạm Duy hay Văn Cao khi nói về đau khổ đời người. Trịnh
Công Sơn đă chăm chú cúi xuống các hiện hữu bằng tất cả kinh nghiệm sống của ḿnh, bằng tất cả cảm nghiệm sâu xa đến những nỗi bất hạnh của cái chết. Cái chết là đau khổ cuối cùng của đời người, do đó dù sống ở đời có vinh hoa phú quư hay nghèo nàn đói khổ, có quyền cao chức trọng hay thấp cổ bé họng ǵ nữa th́ cũng chỉ một lần đau khổ cuối đời, thế nên ai cũng mong vơi đi nỗi đau cuộc đời bằng cái chết nhẹ nhàng thanh thản, nhưng khổ thay đời lại không cho con người ước nguyện đó. Ḷng ích kỷ hẹp ḥi, và nếu không muốn nói là nhẫn tâm của con người đă khiến cho những cái chết đau thương tức tưởi. Người ta chỉ sinh ra một lần và cũng chết đi một lần, nhưng Trịnh Công Sơn th́ cho thấy “Người chết hai lần thịt da nát tan” ( Ngụ ngôn mùa đông).

Nhiều người ca ngợi nhạc Trịnh là nhạc của yêu thương, nhạc của ḷng từ bi. Điều đó không sai nhưng thử hỏi trong nhạc của Ông có chỗ nào nói đến căm thù không? Xin thưa là có đấy, nhưng thứ căm thù của Trịnh Công Sơn là căm thù v́ quá yêu; một thứ căm thù đầy khả năng thanh lọc, nó cao hơn thứ hận thù tầm thường. Sự căm thù đó là một sự đau khổ trong tâm hồn Ông. Lúc Ông căm giận th́ khác nào người mẹ giận con, giận v́ tê tái đau đớn, giận v́ thấy như chính ḿnh có lỗi vậy. Hát lên đoạn nhạc sau đây ta như thấy sự khổ đau củaTrịnh Công Sơn như thế nào khi viết lên nó :

“Chiều đi lên đôi cao hát trên những xác người

Tôi đă thấy, tôi đă thấy

Những hố hầm đă chôn vùi thân xác anh em

Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh

Chị vỗ tay hoan hô hoà b́nh

Người vỗ tay cho thêm nhịp nhàng

Người vỗ tay xa dần ăn năn …”

Có bao giờ chiến tranh lại mang đến hạnh phúc không? Chắc hẳn ít nhiều ǵ cũng gây ra đau thương, chết chóc, nhưng trong nhạc Trịnh ta thấy người mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh, thiết nghĩ người mẹ v́ thấy quá khổ đau không c̣n biết làm ǵ hơn ngoài cái vỗ tay điên loạn để ca mừng chiến tranh. Chiến tranh đă làm cho “Xác người nằm trôi sông, trôi trên ruộng đồng, trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co”. Xác người chết rải rác từ thị thành đến nông thôn, có nghĩa là đau khổ đă trải rộng từ nông thôn đến thành thị. Trịnh Công Sơn đă dệt những đau khổ ấy thành câu chuyện ngụ ngôn, đây không phải là câu chuyện ngụ ngôn mang tính cách giáo huấn một giáo lư nào đó, nhưng câu chuyện ngụ ngôn mùa đông diễn tả cảnh đau thương chết chóc của người con dân đất Việt. Một mùa đông không tuyết rơi, không lạnh buốt như ở Châu Âu nhưng mà:

“Một ngày mùa đông

Một người Việt Nam

Thôi lên đồi non

Súng từ thị thành

Súng từ ruộng làng

Nổ xé da con

Phố chợ thật buồn

Cuộn dây gai chắn

Chắc mẹ hiền lành

Rồi cũng tủi thân” (Ngụ ngôn mùa đông).

Đúng là Trịnh Công Sơn không có chủ trương làm chính trị, và không có chủ trương tuyên truyền một học thuyết nào cả. Nhưng Ông muốn dùng ngôn ngữ của âm nhạc đẻ diễn tả cái đau khổ bất hạnh của con người, nhất là của người Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh. Những đau thương ấy khi được viết thành nhạc, thành bài ca và được ca lên th́ nghe lạnh buốt như chuyện ngụ ngôn mùa đông vậy.
2/ Ca khúc da vàng

Đă sinh ra đời th́ ai cũng có gia đ́nh, tổ quốc của ḿnh cả. Gia đ́nh và tổ quốc là cái nôi bao bọc và nuôi dưỡng ta lớn lên từng ngày, nên ta có bổn phận bảo vệ giống ṇi và không được phép đánh mất đi hồn nước là phẩm vật cao quư nhất. Người Việt Nam vốn tự hào là con Rồng cháu Tiên, là máu đỏ da vàng th́ cớ sao lại để da vàng biến sắc, máu đỏ đổi màu. Trịnh Công Sơn viết nên những ca khúc da vàng cũng chỉ muốn bảo tồn cái hồn nước ấy thôi. Ông được nhiều người ái mộ chẳng phải v́ Ông là một nhân vật nổi tiếng hay giàu có ǵ, cũng chẳng phải quyền cao chức trọng, nhưng v́ ca khúc của Ông đụng chạm đến cái ǵ xem ra có vẻ thiêng liêng của những con người có cùng màu da sắc tộc.

Ca khúc da vàng là tuyển tập nói nhiều về màu da của tổ tiên, của con dân nước Việt; nói nhiều về hồn sông, hồn nước. Trong quảng thời gian mà quê hương ch́m trong chiến tranh, bom đạn, quê hương như một kẻ nô lệ, một loại nô lệ ngủ quyên th́ Trịnh Công Sơn thức tỉnh bằng lời ca đi t́m quê hương:
“Người nô lệ da vàng ngủ quyên trong căn nhà nhỏ

Đèn thắp th́ mờ, ngủ quyên đă bao năm

Ngủ quyên đă bao năm

Ngủ quyên không thấy quê hương” (Đi t́m quê hương).

Nói đến người Việt Nam là nói đến nữ tính v́ đây là một đặc điểm của người Việt. Nhạc Trịnh đi vào cái nữ tính qua bước chân của người con gái Việt Nam da vàng. Người nữ da vàng Việt Nam không phải là những minh tinh màn bạc kiểu Birgitte – Bardort hay như Raquel. Welek nhưng mà:

“Người con gái Việt Nam da vàng,

yêu quê hương như yêu đồng lúa chín.

Người con gái Việt Nam da vàng,

yêu quê hương nước mắt lưng ḍng.

Người con gái một hôm qua làng,

đi trong đêm, đêm vang ầm tiếng súng.

Người con gái chợt ôm tim ḿnh,

trên da thơm vết máu loang dần.

Người con gái Việt Nam da vàng,

mang giấc mơ quê hương là kiếp sống …”

(Người con gái Việt Nam, ca khúc da vàng)


Cùng đồng hành với thời gian, người con gái Việt Nam da vàng đă trở nên người Mẹ Việt Nam, Mẹ da vàng. Người Mẹ đă được Trịnh Công Sơn làm nổi bật trong bốn giai điệu đó là : “Ca dao của Mẹ” (1970); “Lời ru của Mẹ” (1974); “Huyền thoại Mẹ” (1987) và cuối cùng là “Mẹ yêu dấu của cuộc đời” (1999). Ca dao của Mẹ nói lên h́nh ảnh ẩn dụ về Mẹ Việt Nam của những năm tháng đầy bom đạn, máu lửa. Mẹ phải đau khổ “Ngồi ru con đong đưa vơng buồn, đong qua tuổi ṃn … Mẹ dạy cho con tiếng nói quê hương, Mẹ nh́n con đi phút giây bàng hoàng”. Rồi trong giai đoạn của cuộc chiến khi đổ nát và lưu vong nơi đô thị tạm chiếm đă ở đỉnh cao th́ lời Mẹ ru đă là h́nh ảnh t́m về êm ả, an ủi của cội nguồn Việt Nam : “Lời Mẹ ru con đến những khu vườn … ru con trưa nắng ( í.a), ru con một đời nghe cũng mỏi ṃn, ru con giấc hiền cho Mẹ đợi trông”. Rồi bước sang giai đoạn h́nh ảnh người Mẹ đau khổ, hy sinh được rơ nét trong “Huyền thoại Mẹ – Đêm trông đèn ngồi nhớ lại từng câu chuyện ngày xưa … Mẹ về đứng dưới mưa … Mẹ ch́m dưới gian nan …”. Và cuối cùng là người Mẹ yêu dấu đă để lại cho con một gia tài mà trong đó là “Ruộng đồng xương khô hay một núi đầy mồ; nhà cháy từng hàng hay những tiếng khóc than”. Dẫu là ǵ đi nữa nhưng Mẹ vẫn dạy cho con một nguyên lư sống ở đời:

“Mẹ dạy con tiếng nói thật thà

Mẹ mong con chớ quên màu da

Con chớ quên màu da

Nước Việt xưa

Mẹ trông con mau bước về nhà

Mẹ mong con lũ con đường xa

Ôi lũ con cùng cha

Quên hận thù” (Gia tài của Mẹ).

Người Mẹ Việt Nam là như thế đó. Người Mẹ da vàng từ trong khổ đau cứ muốn đi t́m lại quê hương đă đắm ch́m trong nô lệ và bị chia cắt, ḷng Mẹ bao la tha thiết kêu gọi :

“Người nô lệ da vàng bước đi

Đi về đầu non, đi về biển xanh

Đi khâu vá non sông Việt Nam

Đă qua hai mươi năm liền thịt xương

Phơi trên đồi núi

Đi cho thấy quê hương” (Đi t́m quê hương).

Cho đến bây giờ người ta khó t́m thấy trong nhạc Trịnh có được h́nh ảnh những cánh diều tuổi thơ hồn nhiên rong chơi trên những cánh đồng b́nh yên, hoặc khó t́m thấy trong nhạc Trịnh một chùm khế ngọt sau buổi trưa hè. Nhưng người ta dễ t́m thấy một quê hương với một gia tài khốn khổ của Mẹ, một quê hương có người con gái mất trí, người điên trong thành phố, người con trai đổ máu nơi trận địa hay người phu quét đường dừng chỗi lắng nghe … Chắc hẳn Mẹ Việt Nam phải đau xót lắm khi nh́n thấy một quê hương như thế. Trong thời khói lửa của trận địa, người ta nghe nổi lên ca khúc da vàng như lời đ̣i quyền được sống như một con người và đ̣i không c̣n cảnh :

“Một ngày dài trên quê hương

Một chiều sương qua thành phố

Một người ngồi nghe bom nổ …”

Phải nói một điều rằng Trịnh Công Sơn rất nhạy cảm với những đau thương, chết chóc, chiến tranh. Có lẽ Ông đă chứng kiến tận mắt và nếm mùi đau khổ của cuộc đời đa tạp này từ tấm bé nên Ông có những kinh nghiệm và bức xúc để viết nên ca khúc da vàng. Tuy Trịnh Công Sơn viết nhạc dễ như lấy ở trong túi áo ra nhưng những bài ca Ông viết chất chứa một nỗi đau nhức nhối của chính Tác giả nói riêng và cho cả con dân đất Việt nói chung. Ông không chịu nổi cảnh :

“Đại bác đêm đêm dội về thành phố

Người phu quét đường dừng chổi lắng nghe …

Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy

Đại bác qua đây con thơ buồn tủi …”

V́ : “Từng chuyến ban đêm con thơ giật ḿnh

Hầm trú tan hoang ôi da thịt vàng …”

Và càng không chịu nổi cảnh :

Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn …

Hàng vạn chuyến xe đang mang lựu đạn

Hàng vạn chuyến xe đang vô thị thành

Từng vùng thịt xương có Mẹ có Em …” (Đại bác ru đêm)

“Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng

Đứng trước t́nh cảnh đất nước đau thương bởi chiến tranh, và đứng trước khổ đau của phận người, Trịnh Công Sơn không dấu nổi cái tâm trạng xót xa của ḿnh khi phải chứng kiến cái chết của đồng loại nên Ông than khóc cho cái mảnh đời khốn khổ ấy, những mảnh đời phải quằn quại trong tiếng bom rơi đạn nổ. Vậy giọt nước mắt nào Ông khóc? Đó chẳng phải là “Giọt nước mắt thương dân, dân ḿnh phận long đong” đó sao, Ông khóc bằng giọt nước mắt có vị mặn của lời than thở :

“Ôi quê hương đă lầm than

Sao c̣n c̣n chiến tranh

Mẹ già hết chờ mong

Mẹ già đă ngủ yên

Mẹ già đă ngủ yên” (Du mục).

Nói ǵ đi nữa th́ ca khúc Da vàng vẫn toả ra t́nh yêu thương quê hương, đất nước. Ca khúc da vàng không chỉ là những nỗi đau của Tác giả và của người Việt Nam nhưng c̣n là lời mời gọi về ư thức, trách nhiệm của một công dân khi đứng trước cảnh chiến tranh, đau thương của đất nước, người dân phải có trách nhiệm làm sao để :

“Khi đất nước tôi không c̣n giết nhau

Trẻ con đi hát đồng giao ngoài đường …”


V. NHẬN ĐỊNH ĐÔI NÉT ĐẶC SẮC TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN

1/ Mỗi nhạc phẩm là một triết lư sống

Có thể nói mỗi nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn khi được hát lên đây đó th́ cung điệu trầm bổng của nó chuyển tải đến người nghe một thứ triết lư nào đó, và làm cho người nghe phải suy tư về những ǵ ḿnh được nghe. Điều đó khiến nhiều người phải thú nhận rằng nhạc của họ Trịnh là nhạc của triết lư và mỗi bài nhạc là một triết lư sống. Điều thú nhận của nhiều người như đă nói có thể là một điều khẳng định đúng. Nó đúng v́ chúng ta không khoác lên nhạc của Ông một triết lư nhưng tự bản chất của nhạc mang tính triết lư. Nó mang tính triết lư bởi v́ nó dính dáng đến đời người và người đời, nó dính đến chuyện t́nh yêu và cuộc sống, nó dính đến chuyện tồn tại và hiện hữu hay vô thường … Những chuyện đó đều là những chuyện của triết lư.

Như mọi người đă biết, đối vơi Trịnh Công Sơn th́ cuộc đời là cơi tạm, là phù du cát bụi, là “Sinh kư tử quy”, là những ǵ liên quan đến phận người. Mà “Thân phận con người th́ vừa cao cả, vừa bi đát, vừa thấy những tia sáng loé lên, vừa ḍ dẫm bước đi trong bóng tối, vừa là tiếng kêu vô vọng, vừa là sự thúc bách “Sống c̣n” tự thâm sâu” (14). Tất cả đều được Trịnh Công Sơn cưu mang trong từng câu ca, từng điệu nhạc. Nếu chúng ta chú tâm một chút th́ sẽ cảm nghiệm được những ǵ mà Nhạc sĩ muốn thể hiện qua con người (từ em bé đến cụ già), qua vạn vật cỏ cây, qua chiến tranh, hận thù, …
Như Trịnh Công Sơn đă nói : “Ca khúc là đời sống thứ hai của tôi, sau cái thân thể mà cha mẹ đă sinh thành”, mà Ông là con người triết lư th́ ca khúc của Ông cũng mang màu sắc chiêm niệm triết học là điều hiển nhiên. Ngay những nhan đề của nhiều ca khúc cũng nói lên điều đó như : Cát bụi, Lời thiên thu, Một cơi đi về, Bên đời hiu quạnh, Đêm thấy ta là thác đổ, Nguyệt ca, Những con mắt trần gian, Đoá hoa vô thường, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, …

Mặt khác nhạc củaTrịnh Công Sơn không đơn thuần chỉ là nhạc, mỗi bài hát không đơn giản là sự kết nối của từ ngữ cho ra bài hát mà c̣n là chuyện kể ngắn, mỗi bài là một chương khúc của truyện dài không có kết thúc mà vẫn cứ mở ra như một vết thương ḷng.

Ngôn ngữ trong ca khúc hầu như lúc nào cũng có một điều ǵ đó bắt người nghe phải suy tư, phải triết lư. Cái triết lư mà Ông muốn nói đă biến thành hơi thở, máu thịt, thành cái hồn của chính Tác giả, nên khi ông bức xúc, đau xót hay cảm hứng viết ra th́ lời lẽ như một ḍng sông suy tư triết lư tuôn tràn. Như mọi người đă rơ, Trịnh Công Sơn không hề có lư luận ǵ về triết học, hát lên từng ca khúc ta thấy rơ điều đó nhưng mà chính triết học đă hoà tan trong Ông một cách tự nhiên rồi qua suy tư, qua lời nhạc, qua tiết điệu mà được thể hiện ra nơi từng nhạc phẩm.

Nhạc của ông nó triết lư ở chỗ cho con người nhận ra thân phận, nhận ra lẽ sống đời người và cái nét đẹp trong ca khúc của Ông vượt lên trên ḷng hận thù, ích kỷ của con người. Bởi Ông cho rằng trần gian là “Cơi tạm”, là “Đêm trọ”th́ cớ sao ḿnh sống mà lại không có một tấm ḷng, một t́nh yêu của con người đối với con người.

Nghe nhạc Trịnh ta có cảm nhận như trong ca khúc Ông viết có điều ǵ đó sao xuyến, cái nỗi sao xuyến của kiếp người âư mà. Cho nên : “Không có đoạn truyện ngắn (ca khúc) nào kết thúc có hậu như trong truyện cổ tích mà ngược lại đó là những loại “T́nh sầu”, “T́nh xa”, “T́nh nhớ”, … Không c̣n là cái đẹp của đối xứng, vuông tṛn, thuỷ chung. Bởi cùng nhau tắm gội trong biển bấp bênh của thời đại, con người xót xa khám phá ra cái đẹp chông chênh, cái ma lực của chén đắng. Đời dành riêng cho kẻ nào đă lên tới đỉnh buồn và xuống tới vực thẳm … Con người sinh ra là đă thua cuộc … Là khoác lên sự thua cuộc ấy một gương mặt người do từng cá nhân đắp dập lấy … Là những ǵ nhiều người từng quy nạp cho ca khúc Trịnh Công Sơn” (15)

Tắt một lời, nếu như con người thời nay h́nh như đă đánh mất đi cái cảm nhận sâu thẳm của một người trèo núi ngồi bên bờ vực thẳm, th́ ca khúc của TrịnhCôngSơn lại là bài kinh cầu bên bờ vực thẳm. Nó có sức lay động ư thức về thân phận ởbất cứ một ai mê muội định t́m một chỗ ẩn trốn an toàn ở đời. Và v́ vậy ca khúc của Trịnh Công Sơn không hẳn chỉ là những bông hồng dâng tặng cho đời mà chứa đựng tất cả những tâm trạng lo âu, sao xuyến của một con người nhạy cảm nh́n ra thế giới hiện đại. Điều khiến cho ca khúc của Trịnh Công Sơn sống măi trong ḷng người là ở chỗ Trịnh Công Sơn không định làm một triết lư cho âm nhạc nhưng màmỗi ca khúc của Ông là một triết lư sống vậy.

2/ Chính Tác giả là con người triết lư

Đă là con người th́ dù là người học thức hay kẻ ngu si, dù là người giàu sang hay kẻ bần cùng, th́ ai cũng có một triết lư sống. Trịnh Công Sơn không chỉ là một con người mà c̣n là một nhạc sĩ được nhiều người biết đến và ái mộ, chắc hẳn cái triết lư sống của Ông hoà điệu được triết lư sống của nhiều người. Đă là con người, mang kiếp phận người, kiếp cát bụi th́ luôn trăn trở, sao xuyến, loay hoay trên cơi tạm trần gian trong cái cơi đi về. Dẫu biết trần gian là cơi tạm, cuộc đời là một chuỗi ngày khổ đau thế nhưng Trịnh Công Sơn lại muốn sống lâu hơn, nhiều hơn, v́ thế mà có khi cùng một lúc Ông muốn sống với con người nơi đây nơi đó, ngồi nơi này Ông lại nhớ nơi kia, Ông thích những chuyến tàu xuyên suốt Huế – Sài G̣n – Hà Nội, Ông thích những chuyến xe đậu rồi lại đi, thích rút ngắn không gian giữa rừng và biển, thích rút ngắn thời gian giữa lạ và quen cùng muốn xua tan những cánh dơi thù nghịch … Điều đó cũng cho ta thấy Ông quả là con người của triết lư.

Trịnh Công Sơn đă được nhiều người ái mộ và tôn vinh. Đó là cái nghiệp dĩ mà Ông không chọn lựa. Ta hăy thử lắng nghe một cách tâm t́nh tâm sự của Ông để thấy cái triết lư sống của Ông : “Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Những ca khúc đầu tiên từ những đ̣i hỏi tự nhiên của t́nh cảm thôi thúc bên trong. Tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành nhạc sĩ … Trên mặt đất nghệ thuật nhỏ nhắn này, tôi t́m thấy tự do và nghĩ rằng ở đây tôi có thể bày tỏ được với người khác về những niềm vui và nỗi buồn của cuộc sống … Với ca khúc, tôi là người t́nh của thiên nhiên, là người bạn của em bé. Qua ca khúc, tôi đă đến gần và đi xa những chuyện t́nh, đă tham dự vào nỗihân hoan của đời người và đă gánh nhẹ những phiền muộn …” (16).

Một người bạn của Trịnh Công Sơn tên là Thanh Tùng có viết về Ông trong bài có nhan đề : “Anh đă vắt kiệt t́nh yêu cho đời” một câu như sau : “Trịnh Công Sơn, người Việt Nam viết t́nh ca hay nhất thế kỷ đă qua đời”. Câu nói ấy có quá đề cao Trịnh Công Sơn hay không th́ tuỳ ở Tác giả nhưng người viết nghĩ rằng : Dẫu sao đi nữa th́ Trịnh Công Sơn vẫn là người đạt đỉnh cao trong lĩnh vực này, và điều mà đưa Ông lên đỉnh cao ấy không phải là bởi số lượng nhiều nhạc phẩm được sáng tác nhưng bởi tính triết lư trong từng ca khúc và chính Tác giả cũng là con người của triết lư đúng như Thanh Tùng đă nhận định : “Sự thông thái, tính bao dung, sự từng trải, tính khiêm nhường đă tạo nên một Trịnh Công Sơn có phong cách của một nhà hiền triết khổ hạnh, một nhân cách có cá tính độc đáo nhưng lại hoà đồng và rất gần gũi” (17).

Điều khá thú vị nơi Nhạc sĩ tài hoa này là Ông tự coi ḿnh là “Tên hát rong giữa đời”. Ông đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của ḿnh về những giấc mơ đời hư ảo. Nhưng điều đặc biệt của “Tên hát rong” là luôn ư thức được về thân phận của kiếp người, một ư thức mà Ông nuôi dưỡng và tâm nguyện từ lâu rồi : “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và t́nh yêu. Thân phận th́ hữu hạn, t́nh yêu th́ vô cùng. Chúng ta làm cách nào để nuôi dưỡng t́nh yêu để t́nh yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời” (18).

Như đă tŕnh bày ở trên, có thể nói rằng Trinh Công Sơn là con người của triết lư v́ thế nhạc phẩm của Ông có tính triết lư là điều hiên nhiên. Cũng vấn đề con người, t́nh yêu, cuộc sống th́ trong tác phẩm của các nhạc sĩ khác là một bài ca, một ca khúc nhưng đối với Trịnh Công Sơn ngoài h́nh thức là một ca khúc c̣n là một triết lư sống, một thứ triết lư rất gần gũi với con người, đụng chạm đến con người và đi vào cuộc sống con người cách tự nhiên nhẹ nhàng không cưỡng ép, không áp đặt như chính Tác giả tâm sự : “Tôi thích triết học, v́ thế tôi muốn đưa triết học vào trong ca khúc của ḿnh, một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai cũng có thể hiểu được như ca dao hoặc lời mẹ ru … Tôi cố gắng làm như thế nào để trong bài hát của ḿnh chuyên chở được một thông điệp của ḷng nhân ái đến mọi người.” (19)

3/ Nét đặc trưng trong cách thể hiện

Mỗi h́nh thức biểu hiện khác nhau của âm nhạc đều có nét đặc trưng và sức sống riêng, có hơi thở riêng và công chúng riêng. Trịnh Công Sơn có cách nói và cách diễn tả riêng của ḿnh đối với con người, cuộc sống, vạn vật, … Như mọi người đă biết trong một nhạc phẩm ngoài phần nhạc, c̣n có thêm phần lời ca, mà lời của Trịnh Công Sơn đọc lên nghe như một bài thơ, lúc hát th́ nghe như một ca khúc, thơ và nhạc hoà quyện với nhau rất khó phân biệt. Lời trong nhạc Trịnh th́ không tuỳ tiện nhưng được chọn lọc và luôn ẩn chứa trong nó một triết lư nào đó. Điều nên nói ở đây là Trịnh Công Sơn đă t́m được những giai điệu phù hợp nối kết với nhau “Có khi lời tách riêng đó là những đoạn thơ hoặc là truyện thơ tâm sự về một giọt mưa, giọt nắng, về một vùng biển đầy ắp sự vắng mặt … Nhạc tách riêng có khi nhún nhảy như loại đồng dao hay thanh b́nh ca, có khi lại rất thích hợp với ánh đèn màu và khói thuốc của vũ trường, cũng có khi ḍng nhạc Trịnh Công Sơn gần gũi với thánh ca thanh thoát” (20).

Trịnh Công Sơn đă tạo ra cho ḿnh một h́nh thức thể hiện âm nhạc riêng, một thứ âm nhạc có thể phủ sóng được nhiều người, từ những người nông dân ít học đến giới trí thức. Cái ma lực của nhạc Trịnh không hẳn ở lời, cũng không hẳn ở nhạc mà ở sự hoà quyện rất đặc biệt giữa lời và nhạc. Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao nhạc Trịnh được nhiều người ưa thích đến thế? Có lẽ một phần là do sự sắp đặt tài t́nh giữa nhạc và lời, mặt khác là do ở lời được viết thành thơ, mỗi nhạc phẩm là một bài thơ, mà thơ đối với người Việt Nam là một phần của cuộc sống, thơ đă ăn sâu vào cuộc sống, đồng hành với cuộc sống. Thơ trong nhạc Trịnh có cái ǵ đó riêng biệt, lời thơ có khi bát ngát mênh mông và mới lạ, có khi lại u uẩn trầm buồn, có lúc lại bay bỗng lăng mạn thanh thoát, đôi khi lại đan xen với những nghiệt ngă của suy tư triết lư … Đa số nhạc phẩm ông viết dưới thể thơ tự do không bị g̣ bó bởi luật lệ. Xin lấy vài đoạn thơ để chứng minh điều nói trên như :

“Đường nào quạnh hiu tôi đă đi qua

Đường về t́nh tôi có nắng rất la đà

Đường thật lặng yên ḷng không ǵ nhớ

Giật ḿnh nh́n quanh, ồ phố xa lạ.” (Bên đời hiu quạnh)

Nhưng ở bài thơ khác th́ tác giả lại dùng thể thơ năm chữ như :


“Môi nào hăy c̣n thơm

Cho ta phơi cuộc t́nh

Tóc nào hăy c̣n xanh

Cho ta chút hồn nhiên

Tim nào có b́nh yên

Ta rêu rao đời ḿnh