Tính
Triết Lư Trong Nhạc TrỊnh Công Sơn
[13/06/2006 - Tác giả: admin1
]
Nguyễn Văn Thiên
13.06.2006

H́nh: Chân dung của Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn do
Họa Sĩ Hồ Thành Đức vẽ.
- Nguồn :
I . DẪN
NHẬP
Âm nhạc bấy lâu nay là món ăn tinh thần bổ ích
cho con người và cuộc sống. Âm nhạc luôn
đồng hành và trung thành với con người qua bao
thời đại. Âm nhạc cũng như các trào lưu
nghệ thuật khác, luôn biến đổi không ngừng
với thời gian. Tuy nhiên, dù ở bất cứ nơi
đâu th́ âm nhạc cũng làm tṛn sứ mạng tô
điểm và phong phú hoá cuộc sống cho con
người.
Giống như ngôn ngữ, âm nhạc có thể
truyền đạt những cảm xúc như vui buồn,
ưu tư, phấn khởi hay hân hoan … Có thể nói: Âm
nhạc là ngôn ngữ trỗi vượt trên mọi ngôn
ngữ bởi lẽ nó có khả năng lay động
cả những tâm t́nh sâu kín nhất của con tim. V́
thế trong một bài văn xuôi có nhan đề :“T́nh yêu và
Tiếng hát” cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có
viết : “Có người đi đến cuộc đời
và ngẫm nghĩ : Nếu đời sống vắng bóng
âm nhạc và tiếng hát th́ như thế nào đây ? Ở
đâu có con người, ở đó có tiếng hát. Trên
mặt đất trần gian này, tiếng hát nhắc
nhở ta một điều giản dị: Tôi hát là tôi
hiện hữu. Tôi tồn tại cũng có nghĩa là tôi
mất đi. Tôi mất đi nhưng tiếng hát c̣n ở
lại, ở lại như một chứng tích vừa
buồn bă, vừa huy hoàng của một cơi đời” (1)
Như mọi người vẫn biết Trịnh Công
Sơn đă để lại cho nền âm nhạc Việt
Nam một khối lượng lớn nhạc phẩm (Trên
600 nhạc phẩm) có giá trị và được nhiều
người ái mộ (không những trong nước mà
cả ngoài nước). Thiết nghĩ nhạc của
Trịnh Công Sơn đă đi vào ḷng người cách
dễ dàng như thế không phải bởi số
lượng nhạc phẩm nhưng bởi tính triết lư
của từng ca khúc. Một triết lư nhân sinh cần
được t́m hiểu và khai thác.
II. TRIẾT LƯ VỀ PHẬN NGƯỜI
1/ Hạt bụi nào hoá kiếp
thân tôi
Người ta là ai? Là ǵ trong cơi đời này? Câu
hỏi ngàn đời ấy luôn là vấn nạn mà mỗi
người có một cách trả lời riêng theo suy tư
của ḿnh. Đối với cố nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn th́ cho rằng: Cuộc đời con
người không ǵ khác hơn là hành tŕn của cát bụi,
bởi trong nhạc phẩm “Cát bụi” Tác giả đă
viết : “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để
một mai vươn h́nh hài lớn dậy…” Hạt bụi
hoá kiếp, hạt bụi vươn dậy để rong
chơi trong một kiếp người.
Hạt bụi hoá kiếp thành con người để
mang lấy một sự sống, một hơi thở
để rồi bao nhiêu năm làm kiếp con người
là bấy nhiêu năm vươn tới sự tuyệt
vời của chính nó. Nhưng mà một khi hạt bụi
mang kiếp sống th́ cũng là khi nó đối diện
với cái chết, cái điểm tận cùng của hành
tŕnh trần gian, bởi v́ cuộc đời này ta thấy
đâu đó trong niềm vui của tuổi trẻ và t́nh
yêu, th́ cũng thấy đâu đó “Lau trắng trong tay” và
đường trần là một chuyến chăn gói
để “Mai kia chào đời ngh́n trùng cơn gió lên”.
Dẫu cái nh́n ấy có thật buồn và đáng
thương nhưng không hẳn bi quan bởi v́ trong cái nh́n
ấy vụt sáng lên cái ư niệm “Cát bụi tuyệt
vời”.
Mỗi người trên hành tinh này đă được
Trịnh Công Sơn gọi là một hạt bụi, hạt
bụi có khuynh hướng trở về với chính nó trên
hành tŕnh riêng tư của ḿnh, chẳng ai giống ai. Có
những hạt bụi bay vút lên cao trong cuộc sống
để rồi cuối cùng lặng ch́m trong cái chết,
có những hạt bụi b́nh lặng giữa đời
rồi một mai cũng chết trong âm thầm. Hạt
bụi Trịnh Công Sơn “ Xuất hiện giữa
trần gian như một ẩn sĩ, với lời
lẽ hư hư thực thực, đầy giằng xé,
phủ nhận, nghi hoặc và tự khoác cho ḿnh một
tấm áo choàng chấm gót cách biệt” (2). Hạt bụi
ấy đă sống giữa đời như mọi
người, và có lẽ như nhiều người khác
Trịnh Công Sơn ư thức được thân phận
bọt bèo của kiếp người nhưng sự hoá
thân của nó th́ thật tuyệt vời, tuyệt vời
v́ cùng với nhân loại “gơ nhịp không vơi”.
Chính từ chỗ ư thức được thân phận
đời người, đời người chỉ
xuất hiện một lần, trải qua một lần
và cũng chết đi một lần, không có sự
lặp lại lần thứ hai như quan niệm của
triết gia Hecralite đă nói : “Không ai tắm hai lần trên
một ḍng sông”(3).Cuộc sống này tựa hồ như
những ḍng sông mang đầy ắp những sự
kiện, nó biến đổi cách lạ lùng trước
mắt chúng ta mà đôi khi ta không nhận ra được
bằng khả giác, hoặc ta có cảm tưởng khó
nhận ra các sự kiện diễn ra trong cuộc
sống. Điều đó Trịnh Công Sơn đă
nhận thức và biết rằng hạt bụi khi
được hoá kiếp th́ chính là khởi điểm
đi về cội nguồn qua “Bao niêu năm làm kiếp
con người, chợt một chiều tóc trắng như
vôi” và cuối cùng đi vào cái “Chết của một ngày”
(Cát bụi).
Hạt bụi tuy là đi về một cơi, nhưng nó
tắm ḿnh trong ḍng sông cuộc đời, ca hát với
cuộc đời, nói với đời về t́nh yêu,
thứ t́nh yêu của con người, của cỏ cây,
của muông thú… Và cũng nói với đời về
nỗi đau khổ của kiếp nhân sinh, của cái
định mệnh. Trịnh Công Sơn đă tin
điều đó, nên trong một lần trả lời
phỏng vấn Ông có nói : “Tôi tin rằng có một cái ǵ
đó không xa xôi, cũng không gần gũi, cái đó chính là
định mệnh, cũng như định mệnh chi
phối cả một đời người, cũng
như tôi đă sống và luôn nghĩ về cuộc
đời, về con người” (4)
Như đă nói Trịnh Công Sơn là hạt bụi
lặng lẽ với ngôn từ hư hư thực
thực. Ông như một người làm vườn, âm
thầm gieo trồng trong cô đơn những mùa táo
ngọt mà ở đó trong sự quyến rũ thoát
khỏi vườn địa đàng của Adam, Eva đă
nếm trải một thứ quả cấm của t́nh
yêu, thứ quả cấm mà hễ ăn vào một lần
là mang măi một tin buồn. Nhưng nỗi đam mê ấy
không thay thế được những điều lớn
lao ở nơi nhạc Trịnh, đó là nỗi đam mê
nhận thức đời sống với câu hỏi
nghiệt ngă cuối cùng :Ta là ai trên cơi đời này?
Nhạc của họ Trịnh đă giúp t́m lại và nh́n ra
giá trị thực của đời người là trở
về nơi nó hoá kiếp và không buông xuôi trước
số phận.
Trên đại lộ lớn của t́nh yêu, của
kiếp người. Trịnh Công Sơn đă giúp cho
đời thấy được hạt bụi phận
này hoá kiếp, rong chơi, mệt nhoài và chết đi
ở một ngày theo quy luật con người là một
hữu thể xă hội. Nó không phải từ không mà có
nhưng nó được sinh ra và lớn lên trong một xă
hội, được đặt trong một thế
giới để h́nh thành và hoàn tất cuộc hiện
sinh của ḿnh, và trong cuộc hiện sinh ấy luôn có
mọi người đồng hành.
2/ Nhạc Trịnh Công Sơn
nói đến Tứ diệu đế của nhà Phật
Người ta vẫn gọi Trịnh Công Sơn là
một thiền sư du ca, tuy nhiên Ông không phải là
một người ham mê nghiên cứu đạo Phật,
mặc dầu Ông xuất thân trong một gia đ́nh theo
đạo Phật. Hơn nữa Ông được sinh ra
trong một thành phố có nhiều ngôi chùa cổ. Rồi
thủa thiếu thời, v́ hoàn cảnh Trịnh Công Sơn
được gởi vào một ngôi chùa, ở dó Ông
phải đứng bên Ni-Sư già (chùa Hiếu Quang)
để lật từng trang sách kinh cho sư phụ
đọc. Dần dần tư tưởng của nhà
Phật về kiếp nhân sinh đă thấm sâu vào con
người họ Trịnh, thế là sau này tư
tưởng ấy được thể hiện ra trong
các ca khúc. Do đó nhạc của Ông có nói đến Tứ
diệu đế của nhà Phật là điều hiển
nhiên.
Có một truyền thuyết của nhà Phật nói
rằng : Về nỗi khổ của kiếp người
th́ kinh sách Phật Giáo có đến hàng vạn cuốn,
nhưng cuối cùng được rút gọn trong bốn
chữ đó là : SINH – LĂO – BỆNH – TỬ. Do ảnh
hưởng của tư tưởng nhà Phật, nên
nền tảng triết học trong âm nhạc của
Trịnh Công Sơn phảng phất màu sắc của phái
thiền tông, nhất là những ca khúc được sáng
tác khi Ông bước vào cái tuổi “Nhi bất hoặc”.
Từ đó ta có thể nghe ra trong một số ca khúc
của Ông có nhiều nỗi buồn như “Lời thánh
buồn”, “Phúc âm buồn”, “Chợt buồn hồn dâng miên
man” … Kể cả nỗi buồn của sự nỗi
tiếng nữa. Tuy nhiên may thay nhờ có căn cơ tâm
đạo, có bản lĩnh và tŕnh độ tu chứng,
Ông mới có thể hoá giải được những
hệ luỵ nhân sinh để biến thành “Chiếc lá cỏ
ngồi hát rất tự do”, và t́m ra một lối đi
về thanh thản cho cuộc đời ḿnh.
Trước hết chữ SINH trong ca khúc Trịnh Công
Sơn nói lên điều ǵ? SINH trong nhạc Trịnh là
bước đầu của Tứ diệu đế.
Ngày sinh cũng là niềm vui nhưng vui không mấy chốc
mà thay vào đó là nỗi buồn. Vui v́ được hoá
kiếp nên người, được nh́n thấy mặt
trời, mặt người và vui v́ được nh́n
thấy vạn vật cây cảnh. Nhưng buồn v́ là
khởi điểm của hành tŕnh đi về cái
chết. Chính khi tiếng khóc chào đời để báo
hiệu sự hiện hữu cũng là tiếng khóc cho thân
phận khổ đau của đời ḿnh. Thế nên
trong ca khúc “Gọi tên bốn mùa” Trịnh Công Sơn có
viết : “Tin buồn từ ngày Mẹ Cha mang nặng
kiếp người”, hay như trong ca khúc “Cát bụi” Ông
đă có cái nh́n buồn bă về cuộc đời, nên
mới đặt câu hỏi:
“Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi?
Để một mai tôi trở về làm cát bụi”.
Hoá thân để rồi lăn lóc, bám víu vào cái trần
gian tạm bợ; hoá thân để bị cuộc
đời nhào nắn, vùi dập mới có thể thành
người được.
Chính v́ SINH là một cú nhảy khởi đầu vào
kiếp luân hồi, nên Trịnh Công Sơn cảm thấy
chẳng mấy vui v́ thời điểm của nó quá
ngắn ngủi đến độ con người
chưa đủ ư thức về sự ra đời
của ḿnh th́ đă bị chữ LĂO chiếm chỗ,
chữ BỆNH rượt đuổi và kết thúc nơi
chữ TỬ. Nhà tâm lư học hiện đại
người Pháp tên là Merleau Bonty có nói rằng : “Người
ta không thể sinh ra trước một phút để
biết ḿnh ra đời như thế nào”. Không biết
Trịnh Công Sơn có bị ảnh hưởng bởi
tư tưởng này không mà sao thấy nhạc của Ông
ít khi nói trực tiếp đến sự ra đời
của kiếp người, mà chỉ nói qua h́nh ảnh hát
ru một cách nào đó để làm dịu đi ư nghĩa
gay gắt của sự ra đời bằng câu hát “
Tiếng khóc ban đầu c̣n đâu? C̣n đâu? C̣n đâu?”
(Lời mẹ ru).
Khi chữ “SINH” chào vĩnh biệt th́ chữ “LĂO” lên
ngôi. Con người được lớn lên từng giây
phút và đi vào tiến tŕnh lăo hoá, mà lăo hoá là một quá tŕnh
bất lực của con người. Thế giới
biến đổi và con người cũng biến
đổi, một sự biến đổi theo thời
gian và chẳng có nhịp dừng. Ca khúc của họ
Trịnh cũng nói khá nhiều về chữ LĂO bằng
tất cả giọng buồn nản như những câu
hát sau : “Có một bạc đầu tôi đi, tôi đi” (Có
một ngày như thế), hoặc đi nhưng đi trong
t́nh nghĩa phôi pha của “Từng tuổi xuân đă già,
một ngày kia bến bờ … tóc xanh mấy mùa” (Phôi pha);
hoặc đi qua chuyến đ̣ mà con sông cuộc
đời là quán trọ, nhưng mà “Con sông đâu có ngờ
ngày kia trăng sẽ già” (Biết đâu nguồn cội)
để một khi mặt trời đổi
hướng chuẩn bị tạm biệt sau một chu
kỳ th́ “Chợt một chiều tóc trắng như vôi”
(Cát bụi).
Nối tiếp chữ “LĂO” là chữ “BỆNH”. Nếu
như LĂO là bất lực của con người trong
cuộc sống th́ BỆNH là điều không thể tránh
khỏi. Nó là t́nh trạng suy thoái của thân thể,
bởi thân thể tiềm ẩn mầm mống của
bệnh mà nhà Phật coi con người là một bệnh
tiềm thể. Trịnh Công Sơn cũng như nhiều
người khác, Ông mang sẵn trong ḿnh một mầm
bệnh nên Ông có mặc cảm lâm bệnh trong bước
đi của cơi luân hồi. Có nhiều ca khúc của Ông
cũng nói đến chữ BỆNH khi mà con người
không được mấy khoảnh khắc khoẻ
mạnh, tính chính xác hoặc sự sáng suốt đáng tin
cậy mà câu hát sau đây đă diễn tả: “Ngày thu
đông phố xưa nằm bệnh” (Có nghe đời
nghiêng) hoặc “Giật ḿnh ồ chiếc lá thu phai,
chập chờn lau trắng trong tay.” (Chiếc lá thu phai),
hoặc là “Nghe bao nỗi đau trên một bàn tay” (Tôi
đang lắng nghe) và suốt cuộc đời quá
khứ là “Ngày tháng trôi qua cơn đau mịt mùng” (Hoa vàng
mấy độ). Không biết có phải do sưc khoẻ
của Tác giả chẳng mấy dồi dào hay do nhiều
đêm mất ngủ mà Ông đă có mặc cảm mang tính
chất khổ hạnh “lâm bệnh” Chính là bản chất
của cuộc đời.
Hành tŕnh cuối cùng của Tứ diệu đế là
“TỬ”. J.P Sartre Le Muler th́ cho rằng : “Cái chết không
thuộc về đời người, nó thuộc về
vũ trụ, nó giống như bức tường
trắng, trắng phờ, phẳng ĺ và vô nghĩa”.
Ngược lại triết lư Đông Phương coi cái
chết thuộc về đời người, nó gắn
vào hữu thể, làm rỗng hữu thể. V́ mang sẵn
mặc cảm lâm bệnh nên Trịnh Công Sơn nghĩ con
người ta sẽ đi ra khỏi thế giới này lúc
nào cũng được: “Một lần nằm mơ tôi
thấy tôi qua đời” (Bên đời hiu quạnh) hay
“Một hôm buồn lên núi nằm” (Tự t́nh khúc) và hầu
như Ông biết được cái định mệnh :
“Bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi, tay chia ly cùng
đời sống” (Rơi lệ ru người) hoặc
“Nh́n nhau ôi cũng như mọi người, có một ḍng
sông đă qua đời …” (Có một ḍng sông đă qua
đời).
Khi tiếng chuông gọi hồn đă điểm,
cuộc rong chơi nay c̣n đâu, chỉ xin được
“Úp mặt bùi ngùi” để trở về với cát
bụi ngày 1-4 -2001. Như thế Trịnh Công Sơn đă
xây dựng xong toàn bộ thế giới của ḿnh với
bốn yếu tố nguyên thuỷ của nhà Phật là:
SINH – LĂO – BỆNH – TỬ đều có tính hư vô.
Nhưng Trịnh Công Sơn đă t́m cách hoá giải chúng
bằng cách sử dụng báu vật của tâm hồn
nửa ảo, nửa thực để Tứ diệu
đế đi vào ca khúc của Ông một cách tự nhiên
như thể “Trên hai vai ta đôi vầng nhật
nguyệt, rọi suốt trăm năm một cơi đi
về” (Một cơi đi về).
Với một niềm hoài cổ, một cơi cô
đơn, một chút xót xa day dứt, một lời khuyên
như tâm t́nh, một thoáng rợn ngợp trước cơi
hư vô, một tiếng thở dài cam chịu và một
lời than trách nhẹ nhàng như không. Có bao nhiêu sắc
thái khác nhau trong âm nhạc Trịnh Công Sơn, thứ âm
nhạc vút lên giữa tồn tại và hư vô, tiền
kiếp và mai hậu. Trịnh Công Sơn không đi trên ranh
giới của các thái cực như một người làm
xiếc, mà Ông đă tạo dựng trên đường biên
mong manh đó cả một thế giới riêng. Có thể
nói Trịnh Công Sơn là một thiền sư, một
thiền sư đă “Ngộ” cái phù du tạm bợ của
cơi thế và đă lựa chọn trước cho ḿnh
những nghi lễ của nhà Phật để giă từ
cơi tạm.
3/ Âu cũng là một cơi đi
về
Hành tŕnh đời người là đi từ sinh
đến tử, từ lúc cất tiếng khóc chào
đời cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, đó là
“Một cơi đi về” theo suy nghĩ của Trịnh Công
Sơn. Nhạc phẩm “Một cơi đi về” rất
triết lư về kiếp nhân sinh, trong đó Tác giả
như muốn mời gọi con người lần theo
dấu vết của đời ḿnh, điểm lại
những thăng trầm trên đoạn đường
đă đi qua, và mời gọi chúng ta chiêm niệm về
cơi đi về ấy.
Dù có bức xúc, phẩn nộ, xót xa, nhức nhối hay
cảm thông trước những cảnh tang thương
của đất nước, của phận người
th́ nhạc Trịnh vẫn đẩy cho đến
tận cùng sụ rung cảm của trái tim, của
người nghệ sĩ, do đó ca khúc của Ông luôn
thắm đượm một một triết lư về
đời người. Đời người có một
chuỗi rong chơi nhưng đời người cũng
là một cơi đi về.
Có người cho rằng do quê hương của
Trịnh Công Sơn ở Huế, nơi mà Ông có nhiều kỷ
niệm của cái thưở ban đầu lưu
luyến; nơi mà cảnh vật thơ mộng như
muốn réo gọi Ông hăy viết cho đời, hăy hát
với đời những bài t́nh ca để khoả
lấp những khoảng không đáng sợ và làm sống
lại một đời người. Nhưng v́ thời
cuộc Người nhạc sĩ tài hoa này phải lưu
linh nay đây mai đó qua những miền thân yêu của
đất nước : Huế, Bảo Lộc, Đà
Lạt, Sài G̣n, … Điều đó đă khiến cái hồn
quê ấy cứ cháy âm ỉ trong tim, nên càng nh́n vào cuộc
đời chẳng mấy êm đẹp th́ ca khúc của
Ông lại càng triết lư hơn về “Một cơi đi về”
để vơi bớt ḷng khao khát trở về nơi quê
cha đất tổ. Nhưng mà “Cơi đi về” của
Trịnh Công Sơn là cơi đi về của cả một
kiếp người chứ không hẳn là cơi đi về
nơi quê hương mà thôi. V́ thực ra “Hơn 600 ca khúc
của Ông bao hàm gần như trọn gói những cuộc
hội hè trần thế, những buổi lễ cầu
kinh, những thăng trầm lịch sử, những
cốc rượu ngọt ngào và đắng chát của
t́nh ái, những đoá hoa phù dung trong cuộc rong chơi
kỳ thú của trí tưởng tượng, những
khoảnh khắc hạnh phúc, những nhịp đập
của thời gian … Nhưng có một t́nh yêu lớn, sâu
lắng và bàng bạc ở nhiều ca khúc như Trịnh
Công Sơn đă thú nhận trong băng nhạc ru t́nh
Huế thân yêu quê quán đời Ông vẫn luôn là một cơi
đi về”. (5)
Dù quan niệm trần gian này là cơi tạm, là phù du
nhưng cái nghịch lư nơi Ông là muốn tạm lâu
hơn. Đó cũng là triết lư cuộc đời
của Ông và trong một ca khúc Ông viết : “Tôi là ai mà yêu quá
cuộc đời này? Tôi là ai mà c̣n trần gian thế?”. Mà
dẫu có yêu quá cuộc đời này mấy đi nữa
th́ chính Ông lại ư thức cùng đích đời
người không ǵ khác hơn là “Sống ở thác về”,
nên rất nhiều lần Trịnh Công Sơn có nói rằng
: “Thí dụ bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi,
tay chia ly cùng đời sống” (Rơi lệ ru
người).Và cũng chính “Sự nhạy cảm
thường trực về tính hữu hạn của
đời người, đă thúc đẩy trầm tư
âm nhạc của Trịnh Công Sơn tiếp cận
với ư thức cát bụi, với tâm thức lăng du qua cơi
đời vô thường, nỗi hoài niệm về
nơi “ Nguyên quán vĩnh hằng” (Bên đời hiu
quạnh) mà từ đó vào cuối cuộc hành tŕnh của
phận người, Trịnh Công Sơn rẽ
hướng t́m về nguồn cội minh triết của
Phương Đông, níu lấy cái tâm của ḿnh để
sống với đồng loại bằng : “Con tim yêu
thương vô t́nh chợt gọi, Lại thấy trong ta hiện bóng
con người” (Một cơi đi về)” (6).
Câu hát : “Em đi qua chuyến đ̣ …” Tác giả như
muốn nhắn gởi một thông điệp cho mọi
người biết đâu là nguồn cội. V́ rằng dù
khi trăng đang nằm ngủ hay trăng c̣n trẻ th́
biết đâu một ngày kia trăng sẽ già. Mặt khác
lúc c̣n ở trong bào thai mẹ là như ở trong thiên
đàng vậy, nhưng khi thoát ra ngoài rồi là đấu
tranh, là đối diện với cuộc đời,
cuộc đời sẽ chất lên :
“Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt,
Rọi suốt trăm năm một cơi đi về”.
(Một cơi đi về)
Với bao nhiêu năm rồi mà Ông vẫn c̣n măi ra đi,
ra đi để gào thét với cỏ cây, ra đi với
những “Cơn say thật nhẹ”. Ông đă đi qua
bốn mùa, đă để lại sau lưng “Con sông” và “Mây
che trên đầu, nắng trên vai”, và Ông c̣n để
lại cả :
“Con tinh yêu thương vô t́nh chợt gọi,
Gọi suốt trăm năm một cơi đi về”
(Một cơi đi về).
Nhưng Ông vẫn chưa t́m ra được cuộc
hội ngộ. Sáu mươi năm cuộc đời tuy
cũng ngắn ngủi, nhưng sáu mươi năm
cuộc đời cũng vừa đủ cho
Người nhạc sĩ tài hoa này để lại cho
đất nước nhiều ca khúc mang tính triết lư
phận người để hát ru chuyến đ̣
đời ḿnh. V́ thế người ta nghe nhạc
Trịnh Công Sơn không chỉ bằng cung điệu
trầm bổng hoặc lời ca, nhưng c̣n bằng
cảm xúc nhức buốt và bằng cả suy tư
triết lư nữa. Bởi v́ mỗi khi nghe nhạc
Trịnh th́ người nghe như t́m lại
được chính họ trong ca khúc ấy, t́m thấy
được nỗi cô đơn vô cùng của phận
ḿnh như :
“Ngày tháng nào đă ra đi khi ta c̣n ngồi lại
… Từng người t́nh bỏ ta đi như những
ḍng sông nhỏ
… Ôi tiếng buồn rơi đều
… Nh́n lại ḿnh đời đă xanh rêu” (T́nh xa).
Như Tác giả đă nói : “Mỗi bài ca của tôi là
một lời tỏ t́nh với cuộc sống, một
lời nhắn nhủ thầm kín về những nỗi
niềm tuyệt vọng, và cũng là một nỗi ḷng
tiếc nuối khôn nguôi đối với buổi chia ĺa
cùng mặt đất mà tôi đă một thời chia sẽ
những buồn vui cùng mọi người”. (7) Với
triết lư sống của Trịnh Công Sơn Và những ca
khúc Ông để lại cho đời, giờ đây Ông
đă sang bên kia nấm mồ để đi về
một thế giới khác. Chắc hẳn hơn những
người con sống Ông đă biết rơ bên kia thế
giới có ǵ mà lúc c̣n ở trần gian Ông muốn biết.
C̣n chúng ta, những người đang lần gót trên
một cơi đi về như Trịnh Công Sơn đă
từng đi và cùng hát lên với Ông câu hát :
“Bao nhiêu năm rồi c̣n măi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cơi đi về”
(Một cơi đi về).
III. TRIẾT LƯ VỀ T̀NH YÊU
1/ Sống trên đời
cần có một tấm ḷng
Có lẽ đây là vấn đề căn cốt mà
Trịnh Công Sơn khao khát và ấp ủ thực hiện.
Tấm ḷng của Ông không ǵ khác hơn ngoài hai chữ yêu
thương mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có
nói : “Dù những trầm tư của Tác giả có đi xa
đến đâu, Th́ trong ca khúc của Trịnh Công Sơn
có một cơi dành riêng cho t́nh yêu, nó làm tươi lại
những bông hoa đầu tiên mà con người đă hái
mang theo từ vườn địa đàng, đánh
thức cả một trời mộng mơ, tưởng
chừng đă quá xa xôi trong đời người
để đưa một người t́nh đến lâu
đài cổ xưa trong rừng, êm đềm, giản
dị mà cao sang lạ thường” (8). Thực tế,
bấy lâu nay Trịnh Công Sơn được giới ái
mộ trao tặng danh hiệu là kẻ du ca về t́nh yêu,
bởi v́ nơi con người của Nhạc sĩ và
trong từng ca khúc của Ông luôn đượm thắm
t́nh yêu, quê hương và thân phận.
Chỉ với chữ “T́nh” thôi mà trong tuyển tập
“Em c̣n nhớ hay Em đă quên” th́ đă đếm
được khá nhiều rồi, nào là T́nh xót xa, T́nh khúc
ơ-bai, T́nh nhớ, T́nh sầu, … Những chữ T́nh
ấy hàm chứa rất nhiều điều Ông muốn
nói với đời, muốn chia sẽ với
đời. Tuy rằng bấy nhiêu chữ T́nh chưa nói
hết tính triết lư nơi nhạc của Ông, Nhưng
đă thể hiện phần nào tấm ḷng của Ông
đối với con người.
Trịnh Công Sơn có một tấm ḷng rất nhạy
cảm trước những cái hay, cái dở và đau
thương của đời người, nên Tác giả
cũng đưa những nhạy cảm ấy vào
trongcakhúc của ḿnh. Nếu ai nghe qua băng ghi âm trong
đêm nhạc của Trịnh Công Sơn ở Paris đêm
20 – 7 – 1987 th́ sẽ nghe được câu nói : “Chắc
chắn một điều, bài nào của Trịnh Công
Sơn mà không có chữ T́nh, chữ Yêu, chữ Tin, … th́
đó không phải là nhạc Trịnh”. Lời nói trên có
lẽ không quá lắm đâu bởi lẽ chính họ
Trịnh cũng tâm sự : “Chúng ta làm cách nào để nuôi
dưỡng t́nh yêu, để t́nh yêu có thể cứu
chuộc thân phận trên cây thập giá đời”
Trái tim của Trịnh Công Sơn thường cháy
bỏng ngọn lửa của một tấm ḷng yêu
thương cho dù đơn phương hay song
phương; cho dù đa phương hay vô định th́
Ông vẫn luôn nói : “Sống trên đời cần có một
tấm ḷng …” dẫu có lúc Ông đau đớn thốt lên
rằng : “Từng người t́nh bỏ ta đi như
những ḍng sông nhỏ, ôi những ḍng sông nhỏ, lời
hẹn thề là những cơn mưa”. Nhưng trong Ông
luôn có một tấm ḷng, tấm ḷng của sự cho đi
và tha thứ, cảm thông và cao thượng, tấm ḷng
của Trịnh Công Sơn là như vậy đó.
Nhiều người cho rằng trên cơi trần gian này
không có ǵ ngoài quy luật cả. C̣n Trịnh Công Sơn th́
cho rằng h́nh như t́nh yêu cũng có lúc ngoại lệ
bởi : “T́nh yêu có thể nâng bổng con người,
nhưng cũng có lúc nó nhấn ch́m kẻ háu hức, do
đó Ông không tin những người quá lạc quan khi nói
về t́nh yêu ở thể khẳng định.
Người ta có thể tin rằng ḿnh được yêu
và cũng có thể hiểu nhầm ḿnh không được
yêu … Nếu có người nào đó thách thức tôi một
tṛ chơi nghịch ngợm, th́ tôi sẽ mang t́nh yêu ra mà
đánh đố” (9). T́nh yêu có lúc là “Mật ngọt trên
môi” nhưng có lúc lại “Mật đắng trong
đời”, có lúc lại là “T́nh yêu vô tội, để
lại cho ai?”. T́nh yêu là mật đắng trong đời
khi con người không sống với nhau bằng tấm
ḷng. Đứng trước một t́nh yêu hạn hẹp
và ích kỷ như vậy nên Trịnh Công Sơn mới
mời gọi con người sống bằng t́nh nhân
loại, một thứ t́nh rộng hơn, quảng
đại hơn : “T́nh yêu như biển, biển rộng
hai vai” để gánh đỡ cho đời chứ không
kêu gọi thứ t́nh yêu hạn hẹp : “Như tay
người lạc lối” (Lặng lẽ nơi này).Tuy
nhiên dẵu t́nh yêu có rộng hay hẹp, sâu hay cạn.. . th́
không ai đem t́nh yêu ra mà kết án cả bởi: “ T́nh yêu vô
tội, để lại cho ai, buồn như giọt máu,
lặng lẽ nơi này, …” (Lặng lẽ nơi này). Chính
v́ t́nh yêu trong Ông là cái ǵ rất đáng trân trọng và yêu quư
nên Ông sợ mất, sợ không giữ được nó
cho ḿnh nữa, nên nỗi ám ảnh lớn nhất
đối với Ông là cái chết như có lần Ông
đă nói : “Sự sống và sự chết trở thành
vấn đề lớn trong đời sống tinh
thần của tôi, có lẽ suy cho cùng, từ đâu mà ra cái
suy nghĩ đó, do tôi quá yêu cuộc sống, sợ mất
nó, mất mát một cái ǵ mà ḿnh từng có trong cuộc
đời, đă từng đi qua và từng t́m thấy
như t́nh yêu, như cái ǵ đẹp nhất trong cuộc
sống” (10). Từ chỗ đó Ông luôn nhớ đến
t́nh dù “T́nh ngỡ có quyên đi, nhưng ḷng cố lạnh
lùng … T́nh ngỡ có phôi pha nhưng t́nh vẫn c̣n đầy,
hay là t́nh ngỡ sóng xa đưa nhưng t́nh vẫn trong
nhau” (T́nh nhớ).
Có thể nói rằng Trịnh Công Sơn – một con
người tài hoa với nhiều ca khúc nói lên ḷng bao dung,
nhân hậu, được trải rộng trên quê
hương, con người và cuộc sống. Tất
cả có thể gói gọn trong bốn câu hát và cũng là câu
hỏi đặt ra cho cuộc đời.
“Sống ở trên đời cần có một tấm
ḷng.
Để làm ǵ em biết không?
Để gió cuốn đi !”.
2/ Cuộc sống không thể
thiếu t́nh yêu
Đến với Trịnh Công Sơn hay đến
với ca khúc của Ông là đến với ngôn từ
của yêu thương . Có lẽ định mệnh
bắt Ông phải yêu, phải thương nên định
mệnh cũng trao vào tay Ông cây viết và đặt vào
người Ông một con tim yêu thương để Ông
viết nên những t́nh khúc yêu thương. T́nh yêu mà Ông
viết không phải là một thứ t́nh yêu mơn trớn
kiểu rẻ tiền mà là “T́nh yêu như vết cháy trên da
thịt người”, t́nh yêu quê hương và t́nh yêu
phận người. Với quê hương th́ lắm
chuyện để mà nói, để mà mô tả : Chiến
tranh, đau khổ, cảnh nghèo, nụ cười,
nước mắt, … Rất tiếc hơn một nửa
cuộc đời của Ông nằm trong giai đoạn
đất nước bị chiến tranh, nên cảnh đau
thương do hậu quả chiến tranh gây ra nhan
nhản khiến Ông không chịu nổi và không thể
ngủ yên trong bóng đêm đen ấy. Ông đă ray rứt
viết nên những ca khúc phản ảnh cái đau
thương của người dân đất Việt, mà
hai tập “Ca khúc da vàng” và “Kinh Việt
Giữa cái cảnh người nô lệ da vàng phải
tủi sầu nuốt nhục khi thấy cảnh nồi
da nấu thịt; người da vàng vừa là chủ nhân
của một phần đất nước nhưng
cũng là nô lệ của một phần đất
nước. Cảnh sào xáo như thế cứ diễn ra
từng ngày, th́ ngay những lúc đó Trịnh Công Sơn
“Đă vẽ ra thời buổi sau chiến tranh mà con
người có quyền hưởng thụ và có nghĩa
vụ tô bồi. Những dự phóng này nảy nở trên
nền tảng làm bằng những h́nh ảnh mất mát,
cái bấp bênh của những ǵ đang có, nỗi bất
lực không yêu được bội phần” (11).
C̣n về phận người th́ đây luôn là vấn
nạn, là chủ đề tư tưởng, là triết
lư trong nhạc Trịnh. Có lẽ Trịnh Công Sơn là
người viết nhiều về phận người,
về cơi đời vô thường này. Người
nhạc sĩ tài hoa này trong những phút xuất thần
đă đồng hoá với vạn vật trong đời
sống, có khi là cỏ cây hay mục đồng, có khi là sâu
bọ hay ngọn gió, hạt mưa tan giữa đời,
có khi là ḥn cuội, là cát vẫn bụi lầm, … Nhưng
trong khi cỏ suốt đời là cỏ, ḥn cuội
trọn kiếp vẫn là ḥn cuội th́ con người
mỗi phút mỗi chực vong thân.
Trịnh Công Sơn quả là một nhạc sĩ khá sâu
sắc và bao dung, Ông hiểu rất rơ giá trị của
kiếp sống trước cái vô tận của vũ
trụ nên ḷng Ông rất độ lượng đến
nỗi “Yêu em phụ rẫy t́nh ta, yêu em thêm t́nh phụ, yêu
em ḷng chợt từ bi bất ngờ … Yêu em cả khi em
phụ bạc để rồi cảm thấy trái tim
từ bi độ lượng … Có lẽ chính cái tinh
thần cao thượng nhân ái đến mức có vẻ
như thủ tiêu đấu tranh trong Anh, làm cho những ca
khúc của Anh mang màu sắc Phật giáo, giai điệu
đều đều, trầm buồn như kinh cầu mà
rất đọng trong ḷng người nghe” (12).
Rất nhiều người thích hát nhạc Trịnh v́
nhạc Trịnh có cái ǵ đó cô liêu, man man rất khó
cắt nghĩa, hát nhạc Trịnh ta như thấy có cái
ǵ đó sao xuyến trong tâm hồn, hát nhạc Trịnh ta
như đối diện với chính ḿnh vậy. Chắc
chắn trong nhạc Trịnh Công Sơn phải có một
thứ t́nh yêu tạm gọi là chân thật và một
cảm xúc rất tinh tế, th́ Ông mới có thể
viết nổi những lời lẽ có đủ sức
rung cảm ḷng người và đủ sức để
chuyên chở t́nh yêu của con người trên lộ tŕnh
đời người.
Có thể nói rằng t́nh yêu trong nhạc Trịnh là
nhịp đập trong con tim thứ hai của họ
Trịnh. Đối với Ông không có t́nh yêu th́ không có ca
khúc, không có t́nh yêu th́ cuộc đời vô nghĩa, dẫu
màu sắc của t́nh yêu là đau khổ hay hạnh phúc. V́
vậy trong hồi ức của ḿnh Tác giả tâm sự :
“V́ có t́nh yêu nên mới có âm nhạc, v́ có khổ đau nên
mới có âm nhạc, v́ có hạnh phúc nên mới có âm
nhạc, do đó khi tôi viết một bài hát ca tụng t́nh
yêu, hạnh phúc hoặc than thở về một nỗi
tuyệt vọng nào đó th́ h́nh như tôi không mắc
phải một lỗi lầm nào cả” và Anh tiếp
lời “ Tôi không có tham vọng trở thành một
người viết ca khúc nổi tiếng, nhưng
đời đă tặng cho tôi món quà ấy, th́ tôi không
thể không nhận và khi nhận rồi th́ ḿnh phải có
trách nhiệm đối với mọi người. V́
thế tôi đă cố gắng làm thế nào để có
thể trong những bài hát của ḿnh chuyên chở
được một thông điệp của ḷng nhân ái
đến với mọi người” (13).
IV. ĐAU KHỔ VÀ KHÁT VỌNG
1/ Đau khổ của cái
chết
Không giống Phạm Duy hay Văn Cao khi nói về đau
khổ đời người. Trịnh
Công Sơn đă chăm chú cúi xuống các hiện hữu
bằng tất cả kinh nghiệm sống của ḿnh,
bằng tất cả cảm nghiệm sâu xa đến
những nỗi bất hạnh của cái chết. Cái
chết là đau khổ cuối cùng của đời
người, do đó dù sống ở đời có vinh hoa
phú quư hay nghèo nàn đói khổ, có quyền cao chức
trọng hay thấp cổ bé họng ǵ nữa th́ cũng
chỉ một lần đau khổ cuối đời,
thế nên ai cũng mong vơi đi nỗi đau cuộc
đời bằng cái chết nhẹ nhàng thanh thản,
nhưng khổ thay đời lại không cho con
người ước nguyện đó. Ḷng ích kỷ
hẹp ḥi, và nếu không muốn nói là nhẫn tâm của
con người đă khiến cho những cái chết
đau thương tức tưởi. Người ta
chỉ sinh ra một lần và cũng chết đi một
lần, nhưng Trịnh Công Sơn th́ cho thấy
“Người chết hai lần thịt da nát tan” ( Ngụ
ngôn mùa đông).
Nhiều người ca ngợi nhạc Trịnh là nhạc
của yêu thương, nhạc của ḷng từ bi.
Điều đó không sai nhưng thử hỏi trong
nhạc của Ông có chỗ nào nói đến căm thù
không? Xin thưa là có đấy, nhưng thứ căm thù
của Trịnh Công Sơn là căm thù v́ quá yêu; một
thứ căm thù đầy khả năng thanh lọc, nó
cao hơn thứ hận thù tầm thường. Sự
căm thù đó là một sự đau khổ trong tâm
hồn Ông. Lúc Ông căm giận th́ khác nào người
mẹ giận con, giận v́ tê tái đau đớn,
giận v́ thấy như chính ḿnh có lỗi vậy. Hát lên
đoạn nhạc sau đây ta như thấy sự
khổ đau củaTrịnh Công Sơn như thế nào
khi viết lên nó :
“Chiều đi lên đôi cao hát trên những xác
người
Tôi đă thấy, tôi đă thấy
Những hố hầm đă chôn vùi thân xác anh em
Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh
Chị vỗ tay hoan hô hoà b́nh
Người vỗ tay cho thêm nhịp nhàng
Người vỗ tay xa dần ăn năn …”
Có bao giờ chiến tranh lại mang đến hạnh
phúc không? Chắc hẳn ít nhiều ǵ cũng gây ra đau
thương, chết chóc, nhưng trong nhạc Trịnh ta
thấy người mẹ vỗ tay reo mừng chiến
tranh, thiết nghĩ người mẹ v́ thấy quá
khổ đau không c̣n biết làm ǵ hơn ngoài cái vỗ tay
điên loạn để ca mừng chiến tranh. Chiến
tranh đă làm cho “Xác người nằm trôi sông, trôi trên
ruộng đồng, trên nóc nhà thành phố, trên những đường
quanh co”. Xác người chết rải rác từ thị
thành đến nông thôn, có nghĩa là đau khổ đă
trải rộng từ nông thôn đến thành thị.
Trịnh Công Sơn đă dệt những đau khổ
ấy thành câu chuyện ngụ ngôn, đây không phải là
câu chuyện ngụ ngôn mang tính cách giáo huấn một giáo
lư nào đó, nhưng câu chuyện ngụ ngôn mùa đông
diễn tả cảnh đau thương chết chóc
của người con dân đất Việt. Một mùa
đông không tuyết rơi, không lạnh buốt như
ở Châu Âu nhưng mà:
“Một ngày mùa đông
Một người Việt
Thôi lên đồi non
Súng từ thị thành
Súng từ ruộng làng
Nổ xé da con
Phố chợ thật buồn
Cuộn dây gai chắn
Chắc mẹ hiền lành
Rồi cũng tủi thân” (Ngụ ngôn mùa đông).
Đúng là Trịnh Công Sơn không có chủ trương
làm chính trị, và không có chủ trương tuyên truyền
một học thuyết nào cả. Nhưng Ông muốn dùng
ngôn ngữ của âm nhạc đẻ diễn tả cái
đau khổ bất hạnh của con người,
nhất là của người Việt
2/ Ca khúc da vàng
Đă sinh ra đời th́ ai cũng có gia đ́nh, tổ
quốc của ḿnh cả. Gia đ́nh và tổ quốc là cái
nôi bao bọc và nuôi dưỡng ta lớn lên từng ngày,
nên ta có bổn phận bảo vệ giống ṇi và không
được phép đánh mất đi hồn nước
là phẩm vật cao quư nhất. Người Việt
Ca khúc da vàng là tuyển tập nói nhiều về màu da
của tổ tiên, của con dân nước Việt; nói
nhiều về hồn sông, hồn nước. Trong
quảng thời gian mà quê hương ch́m trong chiến
tranh, bom đạn, quê hương như một kẻ nô
lệ, một loại nô lệ ngủ quyên th́ Trịnh Công
Sơn thức tỉnh bằng lời ca đi t́m quê
hương:
“Người nô lệ da vàng ngủ quyên trong căn nhà
nhỏ
Đèn thắp th́ mờ, ngủ quyên đă bao năm
Ngủ quyên đă bao năm
Ngủ quyên không thấy quê hương” (Đi t́m quê
hương).
Nói đến người Việt
“Người con gái Việt
yêu quê hương như yêu đồng lúa chín.
Người con gái Việt
yêu quê hương nước mắt lưng ḍng.
Người con gái một hôm qua làng,
đi trong đêm, đêm vang ầm tiếng súng.
Người con gái chợt ôm tim ḿnh,
trên da thơm vết máu loang dần.
Người con gái Việt
mang giấc mơ quê hương là kiếp sống …”
(Người con gái Việt
Cùng đồng hành với
thời gian, người con gái Việt
“Mẹ dạy con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da
Con chớ quên màu da
Nước Việt xưa
Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha
Quên hận thù” (Gia tài của Mẹ).
Người Mẹ Việt
“Người nô lệ da vàng bước đi
Đi về đầu non, đi về biển xanh
Đi khâu vá non sông Việt
Đă qua hai mươi năm liền thịt
xương
Phơi trên đồi núi
Đi cho thấy quê hương” (Đi t́m quê
hương).
Cho đến bây giờ người ta khó t́m thấy
trong nhạc Trịnh có được h́nh ảnh những
cánh diều tuổi thơ hồn nhiên rong chơi trên
những cánh đồng b́nh yên, hoặc khó t́m thấy trong
nhạc Trịnh một chùm khế ngọt sau buổi
trưa hè. Nhưng người ta dễ t́m thấy một
quê hương với một gia tài khốn khổ của
Mẹ, một quê hương có người con gái mất
trí, người điên trong thành phố, người con
trai đổ máu nơi trận địa hay người
phu quét đường dừng chỗi lắng nghe …
Chắc hẳn Mẹ Việt Nam phải đau xót lắm
khi nh́n thấy một quê hương như thế. Trong
thời khói lửa của trận địa, người
ta nghe nổi lên ca khúc da vàng như lời đ̣i quyền
được sống như một con người và
đ̣i không c̣n cảnh :
“Một ngày dài trên quê hương
Một chiều sương qua
thành phố
Một người ngồi nghe
bom nổ …”
Phải nói một điều rằng Trịnh Công
Sơn rất nhạy cảm với những đau
thương, chết chóc, chiến tranh. Có lẽ Ông đă
chứng kiến tận mắt và nếm mùi đau khổ
của cuộc đời đa tạp này từ tấm bé
nên Ông có những kinh nghiệm và bức xúc để
viết nên ca khúc da vàng. Tuy Trịnh Công Sơn viết
nhạc dễ như lấy ở trong túi áo ra nhưng
những bài ca Ông viết chất chứa một nỗi
đau nhức nhối của chính Tác giả nói riêng và cho
cả con dân đất Việt nói chung. Ông không chịu
nổi cảnh :
“Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi
lắng nghe …
Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy
Đại bác qua đây con thơ buồn tủi …”
V́ : “Từng chuyến ban đêm con thơ giật ḿnh
Hầm trú tan hoang ôi
da thịt vàng …”
Và càng không
chịu nổi cảnh :
Cửa nhà Việt
Hàng vạn chuyến xe đang mang lựu đạn
Hàng vạn chuyến xe đang vô thị thành
Từng vùng thịt xương có Mẹ có Em …”
(Đại bác ru đêm)
“Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Đứng trước t́nh cảnh đất
nước đau thương bởi chiến tranh, và
đứng trước khổ đau của phận
người, Trịnh Công Sơn không dấu nổi cái tâm
trạng xót xa của ḿnh khi phải chứng kiến cái
chết của đồng loại nên Ông than khóc cho cái
mảnh đời khốn khổ ấy, những mảnh
đời phải quằn quại trong tiếng bom rơi
đạn nổ. Vậy giọt nước mắt nào Ông
khóc? Đó chẳng phải là “Giọt nước mắt
thương dân, dân ḿnh phận long đong” đó sao, Ông khóc
bằng giọt nước mắt có vị mặn của
lời than thở :
“Ôi quê hương đă lầm than
Sao c̣n c̣n chiến tranh
Mẹ già hết chờ mong
Mẹ già đă ngủ yên
Mẹ già đă ngủ yên” (Du mục).
Nói ǵ đi nữa th́ ca khúc Da vàng vẫn toả ra t́nh
yêu thương quê hương, đất nước. Ca
khúc da vàng không chỉ là những nỗi đau của Tác
giả và của người Việt Nam nhưng c̣n là
lời mời gọi về ư thức, trách nhiệm
của một công dân khi đứng trước cảnh
chiến tranh, đau thương của đất
nước, người dân phải có trách nhiệm làm sao
để :
“Khi đất nước tôi không c̣n giết nhau
Trẻ con đi hát đồng giao ngoài đường
…”
V. NHẬN ĐỊNH ĐÔI NÉT ĐẶC SẮC TRONG
NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN
1/ Mỗi nhạc phẩm là
một triết lư sống
Có thể nói mỗi nhạc phẩm của Trịnh Công
Sơn khi được hát lên đây đó th́ cung
điệu trầm bổng của nó chuyển tải
đến người nghe một thứ triết lư nào
đó, và làm cho người nghe phải suy tư về
những ǵ ḿnh được nghe. Điều đó
khiến nhiều người phải thú nhận rằng
nhạc của họ Trịnh là nhạc của triết
lư và mỗi bài nhạc là một triết lư sống.
Điều thú nhận của nhiều người như
đă nói có thể là một điều khẳng
định đúng. Nó đúng v́ chúng ta không khoác lên nhạc
của Ông một triết lư nhưng tự bản chất
của nhạc mang tính triết lư. Nó mang tính triết lư
bởi v́ nó dính dáng đến đời người và
người đời, nó dính đến chuyện t́nh yêu
và cuộc sống, nó dính đến chuyện tồn
tại và hiện hữu hay vô thường … Những
chuyện đó đều là những chuyện của
triết lư.
Như mọi người đă biết, đối
vơi Trịnh Công Sơn th́ cuộc đời là cơi
tạm, là phù du cát bụi, là “Sinh kư tử quy”, là những
ǵ liên quan đến phận người. Mà “Thân phận
con người th́ vừa cao cả, vừa bi đát,
vừa thấy những tia sáng loé lên, vừa ḍ dẫm
bước đi trong bóng tối, vừa là tiếng kêu vô
vọng, vừa là sự thúc bách “Sống c̣n” tự thâm sâu”
(14). Tất cả đều được Trịnh Công
Sơn cưu mang trong từng câu ca, từng điệu
nhạc. Nếu chúng ta chú tâm một chút th́ sẽ cảm
nghiệm được những ǵ mà Nhạc sĩ
muốn thể hiện qua con người (từ em bé
đến cụ già), qua vạn vật cỏ cây, qua
chiến tranh, hận thù, …
Như Trịnh Công Sơn đă nói : “Ca khúc là đời
sống thứ hai của tôi, sau cái thân thể mà cha mẹ
đă sinh thành”, mà Ông là con người triết lư th́ ca khúc
của Ông cũng mang màu sắc chiêm niệm triết
học là điều hiển nhiên. Ngay những nhan
đề của nhiều ca khúc cũng nói lên điều
đó như : Cát bụi, Lời thiên thu, Một cơi đi
về, Bên đời hiu quạnh, Đêm thấy ta là thác
đổ, Nguyệt ca, Những con mắt trần gian,
Đoá hoa vô thường, Mỗi ngày tôi chọn một
niềm vui, …
Mặt khác nhạc củaTrịnh Công Sơn không
đơn thuần chỉ là nhạc, mỗi bài hát không
đơn giản là sự kết nối của từ
ngữ cho ra bài hát mà c̣n là chuyện kể ngắn, mỗi
bài là một chương khúc của truyện dài không có
kết thúc mà vẫn cứ mở ra như một vết
thương ḷng.
Ngôn ngữ trong ca khúc hầu như lúc nào cũng có
một điều ǵ đó bắt người nghe phải
suy tư, phải triết lư. Cái triết lư mà Ông muốn
nói đă biến thành hơi thở, máu thịt, thành cái
hồn của chính Tác giả, nên khi ông bức xúc, đau
xót hay cảm hứng viết ra th́ lời lẽ như
một ḍng sông suy tư triết lư tuôn tràn. Như mọi
người đă rơ, Trịnh Công Sơn không hề có lư
luận ǵ về triết học, hát lên từng ca khúc ta
thấy rơ điều đó nhưng mà chính triết học
đă hoà tan trong Ông một cách tự nhiên rồi qua suy
tư, qua lời nhạc, qua tiết điệu mà
được thể hiện ra nơi từng nhạc
phẩm.
Nhạc của ông nó triết lư ở chỗ cho con
người nhận ra thân phận, nhận ra lẽ
sống đời người và cái nét đẹp trong ca
khúc của Ông vượt lên trên ḷng hận thù, ích kỷ
của con người. Bởi Ông cho rằng trần gian là
“Cơi tạm”, là “Đêm trọ”th́ cớ sao ḿnh sống mà
lại không có một tấm ḷng, một t́nh yêu của con
người đối với con người.
Nghe nhạc Trịnh ta có cảm nhận như trong ca
khúc Ông viết có điều ǵ đó sao xuyến, cái
nỗi sao xuyến của kiếp người âư mà. Cho nên
: “Không có đoạn truyện ngắn (ca khúc) nào kết
thúc có hậu như trong truyện cổ tích mà ngược
lại đó là những loại “T́nh sầu”, “T́nh xa”, “T́nh
nhớ”, … Không c̣n là cái đẹp của đối
xứng, vuông tṛn, thuỷ chung. Bởi cùng nhau tắm
gội trong biển bấp bênh của thời đại,
con người xót xa khám phá ra cái đẹp chông chênh, cái ma
lực của chén đắng. Đời dành riêng cho
kẻ nào đă lên tới đỉnh buồn và xuống
tới vực thẳm … Con người sinh ra là đă thua
cuộc … Là khoác lên sự thua cuộc ấy một
gương mặt người do từng cá nhân đắp
dập lấy … Là những ǵ nhiều người từng
quy nạp cho ca khúc Trịnh Công Sơn” (15)
Tắt một lời, nếu như con người
thời nay h́nh như đă đánh mất đi cái cảm
nhận sâu thẳm của một người trèo núi
ngồi bên bờ vực thẳm, th́ ca khúc của
TrịnhCôngSơn lại là bài kinh cầu bên bờ vực
thẳm. Nó có sức lay động ư thức về thân
phận ởbất cứ một ai mê muội định
t́m một chỗ ẩn trốn an toàn ở đời. Và
v́ vậy ca khúc của Trịnh Công Sơn không hẳn
chỉ là những bông hồng dâng tặng cho đời mà
chứa đựng tất cả những tâm trạng lo
âu, sao xuyến của một con người nhạy
cảm nh́n ra thế giới hiện đại.
Điều khiến cho ca khúc của Trịnh Công Sơn
sống măi trong ḷng người là ở chỗ Trịnh
Công Sơn không định làm một triết lư cho âm
nhạc nhưng màmỗi ca khúc của Ông là một
triết lư sống vậy.
2/ Chính Tác giả là con
người triết lư
Đă là con người th́ dù là người học
thức hay kẻ ngu si, dù là người giàu sang hay kẻ
bần cùng, th́ ai cũng có một triết lư sống.
Trịnh Công Sơn không chỉ là một con người mà
c̣n là một nhạc sĩ được nhiều
người biết đến và ái mộ, chắc hẳn
cái triết lư sống của Ông hoà điệu
được triết lư sống của nhiều
người. Đă là con người, mang kiếp phận
người, kiếp cát bụi th́ luôn trăn trở, sao
xuyến, loay hoay trên cơi tạm trần gian trong cái cơi đi
về. Dẫu biết trần gian là cơi tạm, cuộc
đời là một chuỗi ngày khổ đau thế
nhưng Trịnh Công Sơn lại muốn sống lâu
hơn, nhiều hơn, v́ thế mà có khi cùng một lúc Ông
muốn sống với con người nơi đây nơi
đó, ngồi nơi này Ông lại nhớ nơi kia, Ông
thích những chuyến tàu xuyên suốt Huế – Sài G̣n – Hà
Nội, Ông thích những chuyến xe đậu rồi
lại đi, thích rút ngắn không gian giữa rừng và
biển, thích rút ngắn thời gian giữa lạ và quen
cùng muốn xua tan những cánh dơi thù nghịch …
Điều đó cũng cho ta thấy Ông quả là con
người của triết lư.
Trịnh Công Sơn đă được nhiều
người ái mộ và tôn vinh. Đó là cái nghiệp dĩ
mà Ông không chọn lựa. Ta hăy thử lắng nghe một
cách tâm t́nh tâm sự của Ông để thấy cái
triết lư sống của Ông : “Tôi không đến với
âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Những ca
khúc đầu tiên từ những đ̣i hỏi tự nhiên
của t́nh cảm thôi thúc bên trong. Tôi rất yêu âm nhạc
nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham
muốn trở thành nhạc sĩ … Trên mặt đất
nghệ thuật nhỏ nhắn này, tôi t́m thấy tự do
và nghĩ rằng ở đây tôi có thể bày tỏ
được với người khác về những
niềm vui và nỗi buồn của cuộc sống …
Với ca khúc, tôi là người t́nh của thiên nhiên, là
người bạn của em bé. Qua ca khúc, tôi đă
đến gần và đi xa những chuyện t́nh, đă
tham dự vào nỗihân hoan của đời người
và đă gánh nhẹ những phiền muộn …” (16).
Một người bạn của Trịnh Công Sơn
tên là Thanh Tùng có viết về Ông trong bài có nhan đề :
“Anh đă vắt kiệt t́nh yêu cho đời” một câu
như sau : “Trịnh Công Sơn, người Việt
Điều khá thú vị nơi Nhạc sĩ tài hoa này là
Ông tự coi ḿnh là “Tên hát rong giữa đời”. Ông đi
qua miền đất này để hát lên những linh
cảm của ḿnh về những giấc mơ đời
hư ảo. Nhưng điều đặc biệt
của “Tên hát rong” là luôn ư thức được về
thân phận của kiếp người, một ư thức
mà Ông nuôi dưỡng và tâm nguyện từ lâu rồi :
“Sống giữa đời này chỉ có thân phận và t́nh
yêu. Thân phận th́ hữu hạn, t́nh yêu th́ vô cùng. Chúng ta
làm cách nào để nuôi dưỡng t́nh yêu để t́nh
yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá
đời” (18).
Như đă tŕnh bày ở trên, có thể nói rằng Trinh
Công Sơn là con người của triết lư v́ thế
nhạc phẩm của Ông có tính triết lư là điều
hiên nhiên. Cũng vấn đề con người, t́nh yêu,
cuộc sống th́ trong tác phẩm của các nhạc sĩ
khác là một bài ca, một ca khúc nhưng đối với
Trịnh Công Sơn ngoài h́nh thức là một ca khúc c̣n là
một triết lư sống, một thứ triết lư
rất gần gũi với con người, đụng
chạm đến con người và đi vào cuộc
sống con người cách tự nhiên nhẹ nhàng không
cưỡng ép, không áp đặt như chính Tác giả tâm
sự : “Tôi thích triết học, v́ thế tôi muốn
đưa triết học vào trong ca khúc của ḿnh, một
thứ triết học nhẹ nhàng mà ai cũng có thể
hiểu được như ca dao hoặc lời mẹ
ru … Tôi cố gắng làm như thế nào để trong bài
hát của ḿnh chuyên chở được một thông
điệp của ḷng nhân ái đến mọi
người.” (19)
3/ Nét đặc trưng trong
cách thể hiện
Mỗi h́nh thức biểu hiện khác nhau của âm
nhạc đều có nét đặc trưng và sức
sống riêng, có hơi thở riêng và công chúng riêng. Trịnh
Công Sơn có cách nói và cách diễn tả riêng của ḿnh
đối với con người, cuộc sống, vạn
vật, … Như mọi người đă biết trong một
nhạc phẩm ngoài phần nhạc, c̣n có thêm phần
lời ca, mà lời của Trịnh Công Sơn đọc
lên nghe như một bài thơ, lúc hát th́ nghe như một
ca khúc, thơ và nhạc hoà quyện với nhau rất khó
phân biệt. Lời trong nhạc Trịnh th́ không tuỳ
tiện nhưng được chọn lọc và luôn ẩn
chứa trong nó một triết lư nào đó. Điều nên
nói ở đây là Trịnh Công Sơn đă t́m
được những giai điệu phù hợp nối
kết với nhau “Có khi lời tách riêng đó là những
đoạn thơ hoặc là truyện thơ tâm sự
về một giọt mưa, giọt nắng, về
một vùng biển đầy ắp sự vắng mặt
… Nhạc tách riêng có khi nhún nhảy như loại
đồng dao hay thanh b́nh ca, có khi lại rất thích
hợp với ánh đèn màu và khói thuốc của vũ
trường, cũng có khi ḍng nhạc Trịnh Công Sơn
gần gũi với thánh ca thanh thoát” (20).
Trịnh Công Sơn đă tạo ra cho ḿnh một h́nh
thức thể hiện âm nhạc riêng, một thứ âm
nhạc có thể phủ sóng được nhiều
người, từ những người nông dân ít học
đến giới trí thức. Cái ma lực của nhạc
Trịnh không hẳn ở lời, cũng không hẳn
ở nhạc mà ở sự hoà quyện rất đặc
biệt giữa lời và nhạc. Rất nhiều
người đặt câu hỏi tại sao nhạc
Trịnh được nhiều người ưa thích
đến thế? Có lẽ một phần là do sự
sắp đặt tài t́nh giữa nhạc và lời, mặt
khác là do ở lời được viết thành thơ,
mỗi nhạc phẩm là một bài thơ, mà thơ
đối với người Việt
“Đường nào quạnh hiu tôi đă đi qua
Đường về t́nh tôi có nắng rất la đà
Đường thật lặng yên ḷng không ǵ nhớ
Giật ḿnh nh́n quanh, ồ phố xa lạ.” (Bên
đời hiu quạnh)
Nhưng ở bài thơ khác th́ tác giả lại dùng thể
thơ năm chữ như :
“Môi nào hăy c̣n thơm
Cho ta phơi
cuộc t́nh
Tóc nào hăy c̣n xanh
Cho ta chút
hồn nhiên
Tim nào có b́nh yên
Ta rêu rao
đời ḿnh