Tiểu sử Đức ĐẠT-LAI LẠT-MA thứ
IV
Biển Xanh ( TS Pháp
Luân 24 )
Vào
lúc vị Đạt-lai Lạt-ma thứ III sắp
viên tịch, những người Mông Cổ
được Ngài hóa độ đã
cầu khẩn Ngài nán ở lại thêm
một thời gian nữa vì sự lãnh
đạo về tôn giáo của Ngài thật
sự hết sức cần thiết đối với
họ. Ngài đồng ý sự thỉnh cầu
ấy bằng cách hứa sẽ tái sinh ở
Mông Cổ. Một thời gian ngắn sau đó,
vào năm 1589, một cậu bé đã ra
đời trong Hoàng gia Altan Khan (cháu nội
lớn của Altan khan), và đã biểu hiện
một số dấu hiệu như nhìn thấy
được nhiều vị thần, nhận ra
được những vật dụng cá nhân
của đức Đạt-lai Lạt-ma thứ III,
biểu lộ rằng cậu ta chính là tái
sinh của đức Đạt-lai Lạt-ma thứ
III… Một ủy ban tìm kiếm ở Tây
Tạng đã được cử đến
đó để kiểm tra và chứng thực
về những dấu hiệu này. Một phái
đoàn rất đông ở trung tâm Tây
Tạng bao gồm cả những nhân viên cư
sĩ cao cấp và các đại diện của
ba chùa chính của phái Gelugpa và vị
thủ quỹ của đức Đạt-lai Lạt-ma
thứ III đã đến Mông Cổ, nhưng
họ đã bị thất bại trong việc
thuyết phục cha mẹ cậu bé cho phép
cậu ta trở về Tây Tạng với họ. Sau
đó, Ngài được đào tạo
cơ bản về tôn giáo tại Mông Cổ
do một số Tăng sĩ Tây Tạng
được gởi sang để dạy kèm cho
Ngài và Ngài đã được
đăng quang ở đó vào năm 1591.
Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IV
được đặt tên là Yonten Gyatso
(Biển Đức Hạnh), sau này được
biết đến như Tutob Yonten Gyatso (Nhà tinh
thông Yonten Gyatso), vì Ngài đã chứng
tỏ được sức mạnh tâm linh vĩ
đại của mình từ khi còn ở
độ tuổi niên thiếu. Sự xuất hiện
của Ngài ở Mông Cổ là để
thực hiện tiến trình củng cố và
đưa người Mông Cổ tiếp cận
với tôn giáo của Tây Tạng mà
không khiến cho họ cảm thấy bị phụ
thuộc vào Tây Tạng. Điều này
đã đưa đến mối quan hệ tinh
thần chặt chẽ giữa Mông Cổ và
Tây Tạng. Truyền thống Gelugpa cũng trở
nên có ưu thế ở Mông Cổ,
vượt trội hơn tất cả những uy thế
của truyền thống Sakya trước kia.
Vào
năm 1601, Yonten Gyatso cùng với phái đoàn
Tây Tạng và đoàn hộ tống Mông
Cổ đã rời khỏi Mông Cổ để đảm
nhận nhiệm vụ của Ngài ở trung tâm
Tây Tạng. Họ đã du hành dọc theo
Vạn Lý Trường Thành của Trung
quốc đến vùng Kokonor và Ngài
đã thuyết pháp tại đó. Họ
cũng dừng chân ở Tongkhor – nơi mà
đức Đạt-lai Lạt-ma thứ III đã
thiết lập một trạm ngoại giao ở
đó. Khi đến
Yonten
Gyatso tỏ ra có thiên hướng là một
học giả, mặc dù các tác phẩm
của Ngài không đáng kể lắm
nhưng Ngài đã dành hầu hết
thời gian cho việc nghiên cứu, tu tập và
giảng dạy. Ngài dường như trưởng
thành một cách chậm chạp, có vẻ
tự mãn và sinh lực hơi kém. Khi suy
xét ra thì mới biết đó là do
tình hình khá bình yên kể từ khi
Ngài đến Tây Tạng. Tuy nhiên, Ngài
cũng đảm đương hết những trách
nhiệm của mình bao gồm cả việc ban
phước lành cho các quan chức cao cấp
của Mông Cổ và Tây Tạng, đáp
ứng lại nhiều lời mời đi thỉnh
giảng, và chủ trì Đại Lễ Hội
Cầu Nguyện hàng năm… Vào 1615,
Hoàng đế Trung Quốc cũng mời Ngài
sang viếng thăm với mục đích cầu an
ban phước cho một ngôi chùa ở Nanking,
nhưng Ngài đã từ chối vì sức
ép của trách nhiệm.
Nhân
dân Mông Cổ đã rất buồn khi
nhìn thấy đức Đạt-lai Lạt-ma của
nước họ phải ra đi, tuy nhiên, nỗi
đau buồn ấy cũng đã được xoa
dịu phần nào khi Ngài phái người
đại diện sang Mông Cổ. Đó là
tái sinh của một bậc cao tăng
được xem là hiện thân của
đức Phật vị lai Di-lặc. Ngài đã
được trao tặng tước hiệu là
Maidari Hutuhtu. Vị hiền giả mới này
được đưa đến cư ngụ ở
Urga dưới sự bảo trợ của những
người Mông Cổ thuộc bộ tộc Khalkha.
Một cuộc tranh cãi đã nổi lên khi
vị trí tinh thần của vị hiền giả
này liên quan đến số phận của
bậc cao tăng chùa Mông Cổ ở Gahdan,
khiến cho vị thủ lĩnh Bộ tộc của
họ dường như đang kề cận bên
bờ vực chiến tranh.1 Vị lãnh tụ
người Mông Cổ thuộc bộ tộc Celeuth -
một đảng đối lập khác - đã
hòa giải thành công những rắc rối
ấy, do sự giúp đỡ đó, nên
vị này đã được Hoàng
đế Trung Quốc ban tặng tước hiệu
Phật giáo: “Ta Kausri” và đã đóng
một vai trò nổi bật trong thành phần
lãnh đạo của Tây Tạng.
Phái
Karmapa Mũ đỏ ở Tây Tạng - những
người được vua Karma Tensung Wangpo bảo
trợ - đã không hài lòng khi thấy
phái Gelugpa trở nên có ưu thế kể
từ lúc đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IV
quang lâm và đăng quang ở Tây Tạng.
Họ đã gởi các tin nhắn và
làm thơ phú đến đức Đạt-lai
Lạt-ma, điều này bị các thuộc
hạ của đức Đạt-lai Lạt-ma cho
rằng đó là thái độ cục
bộ do sự thiếu hiểu biết, thái
độ kẻ cả và còn là một
sự lăng nhục đối với Ngài. Vì
thế, những kỵ binh của Đạt-lai Lạt-ma
đã tấn công vào các trại ngựa
và nhà cửa của những người
thuộc phái Karmapa Mũ đỏ. Để trả
đũa, vua Karma Tensung Wangpo đã xâm chiếm
Lhasa vào năm 1605, trục xuất những
người lính gác Mông Cổ. Và trong cuộc
đấu tranh giành quyền lực sau đó,
một số huyện thuộc trung tâm Tây Tạng
đã bị chiếm đóng.
Năm
1607, Đạt-lai Lạt-ma viếng thăm miền Nam
Tây Tạng và qua năm sau Ngài đến
Tsang nơi mà Ngài được thỉnh cầu
đảm trách chức vụ lãnh đạo
chùa Tashi Lhunpo. Khi là viện chủ của Drepung,
Ngài đã nhận được tước
hiệu danh dự, sau đó tiếp tục những
chuyến thuyết giảng ở các chùa
thuộc phái Gelugpa. Karma Tensung Wangpo - vua của xứ
Tsang - không ủng hộ và cũng không
cản trở các hoạt động này của
Ngài. Trên đường trở về trung
tâm Tây Tạng, đức Đạt-lai Lạt-ma
thứ IV đã dừng lại ở chùa Gongkhor.
Những thông tin liên lạc giữa Ngài
và Lama Karmapa Mũ đỏ - người cũng
đang cư ngụ gần đó - cho thấy
rằng có thể có một cuộc gặp
gỡ để trao đổi về vấn đề
hòa giải giữa hai phái. Tuy nhiên, các
thuộc hạ của cả hai vị Lama này
đều không mong muốn như thế. Vì
vậy, đức Đạt-lai Lạt-ma buộc phải
rời khỏi Drepung, dập tắt mọi hy vọng
của sự giải hòa.
Vào
năm 1610, dòng dõi Phagmotru những người
bảo trợ của phái Gelugpa trở nên
phấn chấn và phục hồi sự hưng
thịnh của họ nhờ sự thành công
của phái Gelugpa kết hợp với sự hiện
diện của đức Đạt-lai Lạt-ma. Họ
đã tấn công vào Tsang và làm
chủ toàn bộ lưu vực
Shakabpa2
nói rằng, dân chúng đều đồng
cảm với nhà vua bởi vì vua có thể
thắng cuộc một cách thanh thản thay vì
ông phải trở về Shigatse một cách
hết sức thất vọng. Vào năm 1616,
đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IV bị bệnh
thấp khớp, phải đi đến những suối
nước nóng để chữa trị. Đầu
năm 1617, Ngài viên tịch ở Drepung khi vừa
tròn 28 tuổi. Vài kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng Ngài bị nhiễm
độc. Lễ hỏa táng của Ngài do Lobsang
Chokyi Gyaltsen chủ trì. Hài cốt của
Ngài được phân bố giữa chùa
Drepung, thân phụ của Ngài là một trong
những nhà bảo trợ người Mông
Cổ.
Trong
suốt cuộc đời ngắn ngủi của
mình, Ngài đã duy trì sự quan tâm
chủ yếu vào những vấn đề
tâm linh và thể
hiện được là một người có
năng lực tâm linh đích thực. Những
vấn đề về chính trị đều do
các thuộc hạ của Ngài điều
khiển với sự thành công không
đáng kể; đúng hơn là họ
đã góp phần tạo nên những áp
lực căng thẳng trong nội bộ của Tây
Tạng. Mối liên kết mạnh mẽ với
Mông Cổ do đức Đạt-lai Lạt-ma thứ
III khởi xướng và được củng
cố thêm bởi sự tái sinh của Ngài
là đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IV -
đã bị đổ vỡ ở Tây Tạng
vì sự quan tâm của người Mông
Cổ đối với nguồn gốc tinh thần
của họ.3 Trung quốc đã bị chiếm
đóng do chính những cuộc xung đột
trong nội bộ, điều đó cho thấy trong
tình hình này chỉ còn mối quan
tâm ngoại vi duy nhất là Tây Tạng.4 Giai
đoạn này như đang chuẩn bị cho sự
ra đời của một trong những nhà chính
trị năng động nhất, nhân vật tâm
linh vĩ đại nhất từ trước đến
nay - sẽ xuất hiện ở Châu Á.
Phỏng dịch theo
phần: “A History of Dalai Lamas within the Context of Their
Times” của tác giả Ardy Verhaegen. ( Phật
lịch 2549 - Ban tu thư Phật Việt - Email:
bantuthu@phatviet )
Chú
thích: 1. Sở dĩ điều này xảy ra
là do vào thời ấy ở Mông Cổ
nếu nhân vật nào trở nên nổi
tiếng hơn thì thường có ưu thế
hơn về quyền lực chính trị - lời
người dịch. 2. Người giữ chức vụ
Bộ trưởng bộ Tài chánh của Tây
Tạng. 3. Người Mông Cổ cho rằng
đức Đạt-lai Lạt-ma là người
của đất nước họ, là nguồn
gốc tâm linh của họ, nhưng vì
người Tây Tạng nên họ không giữ được
Ngài lại Mông Cổ, vì thế, mối
thiện cảm giữa hai quốc gia dần dần
bị rạn nứt - lời người dịch. 4.
Tây Tạng lúc này dường như trở
thành miếng mồi duy nhất của Mông
Cổ.