TIỂU LUẬN
KIM CANG BỘ
HAY
TÍNH KHÔNG TRONG MẬT GIÁO
-
Kính dâng lên chư Tổ, Ân sư Thích Viên
Đức, Thích Quảng Trí và những hành giả Du già đã, đang âm thầm duy
trì và phổ biến Mật giáo tại Việt Nam.
-
Kính tri ân những tác giả các quyển
sách mà tôi đã trích đăng hay tham khảo khi viết tiểu luận nầy.
-
Thương tặng Thanh- người vợ và là
người bạn đạo đồng hành.
NĂM 2001
Diệu tánh hư vô bất khả phan
Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phát lô trung thấp vi càn
Dịch:
Rỗng không tánh diệu chẳng thể vin
Tâm ngộ rỗng không nào khó được
Sắc ngọc tươi nhuần trong núi cháy
Trong hầm lò lửa nở hoa sen
Thiền sư Ngộ Ấn
*********
Khoảng 5 giờ lái xe hay 340 dậm
từ New
Sự thực nầy đã nói lên phần nào sự trăn trở của nội tâm,
vì tất cả sự vật đều vô thường, mỗi sát na là mỗi đoạn đường trôi
qua, biến đổi. Mỗi người, ai cũng đều mang hy vọng nắm được những gì
trong tầm tay để cho là đạt được, dù biết là mong manh. Hai chuyến xe
khổng lồ cùng 2 chiếc xe nhà đã chuyên chở những đồ gia dụng cần
thiết đến nơi mới, một số lớn bỏ lại cho những người quen biết và
căn nhà được bán cho chủ mới. Thật gọn gàng, giản dị như nó đã đến
và nay đi. Mỗi đoạn đời đi qua, có những lúc ta thu góp thêm và đôi
khi lại có những mất mát như để làm cho sự quân bình của cuộc sống.
Khi xe bắt đầu lăn bánh, cơn mưa chợt ào tới, vội vã, không nặng
hột, nhưng theo đuổi suốt đoạn đường dài từ New
Trong cuộc hành trình nầy, chúng
tôi có một người bạn đồng hành- đó là con Mudita. Nó là con chim
két gốc ở Nam Mỹ, gồm năm màu, thật đẹp. Nó đến với gia đình tôi
vì có duyên với nhau. Lúc đầu, gia đình tôi bắt đầu chỉ nuôi một con
chim hoàng yến, sau thấy có một con, nó sẽ buồn nên tăng từ một
đến sáu con. Dịp nầy, đang lúc tang mẹ trong vòng 49 ngày. Mỗi thất
đều có những người bạn đạo, các bác quen biết v.v..đến tụng kinh để
cầu siêu, nhưng mỗi lần bắt đầu cho buổi lễ là cả một tràng nhạc
trỗi dậy. Tất cả các con chim đều
hót, hay nói đúng hơn, la hét om sòm...nên một hôm, sáu con chim
hoàng yến được đem đi đỗi để chỉ lấy mỗi con Mudita nầy. Nó rất hãnh
diện nhìn mọi người trong nhà, vì nghỉ rằng một mình nó có giá trị
những sáu con kia. Ít hét hơn, những mỗi lần hét lại to lớn hơn. Ít
phá hơn, nhưng khi vung cánh đập thì thức ăn văng khắp nơi. Cho nên, nó
cũng là đề tài sôi nổi trong nhà. Một khuynh hướng cho rằng, làm sao
dạy cho nó biết nói để rồi dạy nó niệm Phật. Nếu nó biết niệm
tên Phật, có lẻ kiếp sau sẽ hóa kiếp cao hơn là làm thân súc sanh;
với lại phải có duyên với mình nên mới có mặt trong gia đình nầy.
Nên nuôi nó cũng là làm phước vì bỏ ra, nó sẽ lang thang không có
gì để ăn vì là loại nuôi trong nhà. Khuynh hướng thứ hai cho rằng
nuôi như vậy là cầm tù nó, vì tất cả các loài đều muốn sống tự do
chứ không phải trong lồng. Nói gì khác cũng chỉ là ngụy biện mà
thôi. Con người mà ta dạy cho niệm Phật, biết nhân biết quả còn khó
huống gì là cầm thú. Khuynh hướng nào cũng có đầy đủ lý lẽ để
biện hộ cho mình; cho nên, cả hai luôn ầm ĩ chống lẫn nhau khi có dịp,
đó là cuộc chiến tranh lạnh. Cho đến một hôm, khuynh hướng thứ hai
thắng thế. Có nghĩa là phải thả con chim Mudita ra, phải thả nó
ra...Đã hai, ba ngày, tôi lẳng lặng đem lồng của con Mudita để ngoài
garage và để cửa lồng mở, nó có thể thản nhiên bay đi, tự do.. nhưng đừng cho người chủ trương khuynh
hướng thứ hai nhìn thấy. Nhưng ba ngày trôi qua, nó vẫn im lìm như mọi
chuyện bàn tán chung quanh về nó không có gì phải bận tâm. Và đến
ngày thứ tư, chuyện gì đến đã đến, con gái tôi học về sớm nên đi
đón em nó đi học, chở về nhà. Xe vừa vào garage, khám phá ra không
có bóng dáng Mudita trong lồng, dáo dác tìm kiếm, đồng thời trên cao
chót vót của cây Magnolia trước nhà, từng hồi két ! két ! của
Mudita vang lớn. Không biết đó là tiếng sung sướng vì lần đầu tiên
vượt thoát ra khỏi lồng hay vì bỡ ngỡ, lo lắng của Mudita, nhưng cũng
làm hai đứa nhỏ sốt ruột. Bảo Vương- con gái lớn tôi, chở em trai-
Bảo Lân, chạy đến trạm xe Cứu hỏa gần nhà nhờ những nhân viên
trong đó chạy đến giúp, vì xe Cứu hỏa có cái thang rất cao. Nhận
được phone của đứa con gái, từ chỗ làm tôi vội vã chạy xe về nhà
và vô cùng ngạc nhiên khi thấy trước nhà có xe Cứu hỏa, xe cảnh
sát và 5 - 6 người đang đứng dưới gốc cây, nhìn lên chót vót cao để
tìm cách đem Mudita xuống, nhưng không có cách nào được, vì khi thấy
bóng dáng người đến gần, Mudita lại càng trườn lên cao hơn. Hai đứa
con tôi khóc sướt mướt với sự vô vọng ấy. Và bỗng nhiên, Mudita
vụt cánh bay qua một cây khác, cao hơn, của nhà hàng xóm cách đó
mấy căn nhà. Tiếng kêu nó càng lớn hơn vì lần đầu tiên được vươn
cánh rộng trên bầu trời quang đãng và như để trêu ngươi mọi người
đang kiếm cách bắt lại nó.
Màn đêm từ từ buông xuống,
tiếng chim vẫn vang rền trên cao và mọi người không ai có thể chờ
đợi được nữa, về nhà. Hai đứa nhỏ đem tất cả những gì của Mudita để
ra khoảng sân rộng rãi sau nhà, lồng, thức ăn, đồ chơi v.v.. với hy
vọng nó sẽ bay trở lại?
Sáng sớm, mọi người trong nhà
tủa ra sân sau, nhìn quanh, tìm kiếm, với hy vọng thấy bóng dáng của
Mudita trở về, nhưng tiếng chim không còn và chung quanh vắng lặng.
Thế là Mudita đã bay đi thực sự... không một dấu vết lưu lại. Chỉ
một chút biểu hiện trong một khoảng không thời gian tạm gọi có,
nhưng nó lại lay động mạnh trong tâm thức mọi người về duyên hợp
duyên sanh và tánh không của mọi hiện tượng.
Tâm người bay nhảy giống như bóng
dáng của Mudita, mang trong thân tâm với tất cả màu sắc, như những
mâu thuẫn nội kết của nhiều kiếp tích lũy. Nếu được dung dưỡng hoặc
nếu không khéo dạy dỗ tâm để thuần thục, thì cả hai trạng thái đó
cũng đều đưa đến sự gò bó, ràng buộc tâm trong một nơi chốn nào
đó, vì tâm là khoảng trời mênh mông bao la, biến hiện vô cùng tận.
Một chút nắm bắt dù dưới tên gọi nào cũng là những ngăn trở,
chướng ngại của tâm, không từ đâu đến thì có đi về đâu? Cho nên,
tâm trở thành huyền ảo, mầu nhiệm, linh động... nên Mật giáo gọi
là thần thông diệu dụng hay Tánh không vì tất cả đều biểu hiện từ tâm. Tại sao lại đặt vấn đề
Tánh không trong Mật giáo. Dữ kiện đặt vấn đề đã là một sự sai
lầm vì Mật giáo siêu thoát, vượt qua những ràng buộc của ngôn ngữ
hoặc tư tưởng. Đặt vấn đề, có nghĩa là đem ra mổ xẻ, phân tích, lý
luận và minh chứng...Chiều sâu và chiều dày của tư tưởng là sự
đóng khung hay chôn chết thực tại. Tất cả những định hình, giả
thuyết, suy tư ...chỉ là giả danh, giả lập để chỉ nói về một khía
cạnh nào đó và càng lập ra nhiều giả thuyết, càng lôi kéo tâm
thức, trí thức vào vũng lầy hay mây mù của tư tưởng. Cho nên, ví dụ
như câu thần chú: Om- mani padme
hùm. Người hành giả trì tụng thần chú nầy, có thể đọc một
trăm lần hoặc ngàn hay triệu ức lần (biến) hoặc suốt đời trì tụng
chỉ đơn đọc một câu, không cần một sự lý giải hay phân tích, vì đó
là câu kinh vô tự hay vô phân
biệt của tâm.
Mật giáo phô bày tất cả mọi
thần thông diệu dụng như thần chú, pháp thuật, linh phù, ấn quyết
hay như các cảnh diệu hữu và
qua đó, nhiều người hiểu lầm cho là Mật giáo chỉ chú trọng đến pháp
thuật, thần thông và không có căn bản trí tuệ. Sự hòa hợp của Mật
giáo của Phật giáo vào các tôn giáo khác của từng địa phương khi du
nhập vào như Bà la môn, Ấn giáo ở Ấn độ, đạo Lão ở Trung hoa, đạo
Bonn ở Tây tạng, Thần đạo ở Nhật v.v.. càng tạo thành hỏa mù khó
phân biệt. Hơn nữa, vì là tông phái tu Bí Mật, nên chiều dày của
kinh điển của Mật giáo chứa nhiều pháp thuật, linh nghiệm hay sự bí
truyền, nghi quỷ, pháp nội ngoại hộ ma... lại được được bao bọc bởi
lớp vỏ thần thông, mặc dù thần thông hay sự linh nghiệm không phải
là cứu cánh của Mật giáo. Từ những căn bản nầy, ta cần tìm hiểu
để trả lời : Thực chất Mật giáo là gì? Cõi Diệu hữu trong Mật giáo
có chứa đựng Tánh không không? Làm sao biết được tư tưởng Tánh
không trong Mật giáo? Đâu là căn bản trí tuệ của Mật giáo? Mặc dù,
thực ra cũng không cần lạm bàn tới vì càng suy luận, minh chứng, sẽ
làm sai lệch Mật giáo.
Để hiểu đâu chính là chân Mật
giáo của đạo Phật vì khi đi sâu vào nghiên cứu các kinh thuộc Mật
tạng, ta nhận thấy lẫn lộn rất nhiều những học thuyết thần bí khác
vào trong Mật giáo đích thực. Tuy nhiên, trên phương diện giác ngộ hay
sự chứng đắc Tất địa, khi hành giả tu Mật giáo thành tựu Tam mật du
gia thì tâm tịch lặng, tháo tung tất cả những ràng buộc của tâm
thức, ánh sáng của Bổn tôn và hành giả tương ưng, dung hợp, và với
sự miên mật với Tri kiến Phật (Gia trì), sức đại nguyện độ sanh càng
mãnh liệt. Từ đó, nhìn sâu, nhìn kỹ toàn diện và nhận chân rằng:
Cứu cánh của đạo Phật, hay nói
riêng của Mật giáo, là giải thoát hay chứng đắc quả Phật, và vì
thể nhập vào kho báu vô tận của Chân tâm, nên từ đó người hành giả đem lòng làm
lợi ích đến chúng sanh với tình thương vô biên vô tận. Cho nên, nếu
các kinh điển hay phương pháp hành trì nào của Mật giáo v.v..có mục
đích giúp con người thể nhập với Chân tâm hay Tri kiến Phật và làm
lợi lạc cho mọi chúng sanh, thì đó chính thực là Mật giáo của đạo
Phật.
Chúng ta được biết, sự xuất
hiện của Đức Phật đã phá bỏ truyền thông phân chia giai cấp cũng
như những bất an, xáo trộn trong tư tưởng giải thoát của Ấn độ lúc
bấy giơ.ų Cái hạnh phúc an lạc, tự tại, siêu thoát cùng giáo lý
uyên thâm, trong sáng, bình đẳng của Đức Phật có từ lực rải khắp
mọi sinh linh. Do đó, tất cả những người có duyên tìm đến đức Phật
chỉ với mục đích giải thoát khỏi sự đè nặng của vô minh, chứng nhập
Phật quả. Nhưng khi Ngài còn tại thế thì bóng mát của Ngài như tàng
cây cổ thụ che mát muôn loài. Ý thức được sự Khổ (Đệ nhất Thánh đế), nhận rõ được
nguồn gốc Khổ là do Vô minh, cho nên tất cả mọi nỗ lực đều tập
trung vào vấn đề sanh tử nầy. Nhưng khi đức Thế Tôn nhập Niết bàn,
khoảng trống mênh mông bao trùm tất cả Tứ chúng. Vấn đề bây giờ
không phải chỉ còn là đoạn diệt vô minh phiền não mà còn làm sao
tìm thấy được sự hiện hữu của Đức Phật. Từ ước muốn sự hiện hữu
bất diệt của Đức Phật lịch sử, dù là trên phương diện tinh thần,
dần dần trực nhận ra sự hiện hữu của các đức Phật quá khứ hay
Pháp thân thường trụ, bất sanh bất diệt. Đức Phật Thích Ca chỉ là
Ứng thân để hóa độ chúng sanh ở cõi Ta-bà nầy. Mật giáo hay Đại
chúng Bộ đào sâu về quan niệm thứ hai nầy.
Cũng cần ghi chú: Sự vắng bóng
của Đức Phật còn đưa đến sự phân chia các Bộ phái, nhất là khi đạo
Phật du nhập qua từng địa phương, từng quốc gia. Đạo Phật là tôn giáo
đầy sức sống mãnh liệt do tỉnh
giác, từ bi và trí tuệ. Cho nên, tại mỗi địa phương khi Phật giáo
đến, sức sống đầy sinh lực đó bám rễ và hòa đồng với nền văn
hóa, tư tưởng, tín ngưỡng của dân tộc đó và trở thành tôn giáo của
mỗi quốc gia với đầy đủ nội dung Phật chất. Vì thế, nhiều Bộ phái
đã xuất hiện và phát triển để thích ứng với hoàn cảnh và thời
đại, dù đã qua nhiều lần Kết tập Kinh điển để kiến giải những bất
đồng về giáo pháp và giới luật như:
-
Lần thứ nhất tại thành Vương-xá (Rajagrha)
sau khi Phật Nhập diệt, do Tôn giả MahaKassapa và 500 vị A-la-hán dưới
sự ủng hộ của vua A-xà-thế (Ajitasatra).
-
Lần thứ hai tại thành Phệ-xá-li
(Vesali) do 700 vị Tỳ-kheo họp (Sau khi Phật Nhập diệt 100 năm).
-
Lần thứ ba tại thành Hoa-thị
(Pataliputra) do Ngài Mục-kiền-liên-tử Đế-tu (Moggalipputa-Tissa) cùng
1000 Tăng chúng, dưới sự bảo trợ của vua Asoka (Sau khi Phập nhập
diệt hơn 200 năm)
-
Lần thứ tư tại Tịnh xá Hoàn Lâm
(Kundalavana-samgharama) do Ngài Vasumitra, Ngài Dharmatatra, Ghosa,
Buddhadeva và Pasva cùng 500 Tăng chúng, dưới sự bảo trợ của vua
Kamiska (Sau khi Phật diệt đô khoảng 600 năm)....
Sau nhiều
lần có sự kết tập Kinh diễn, tinh hoa
giáo pháp siêu thoát của Đức
Phật lại được khai triển vào tận chiều sâu và chiều rộng. Điều đó,
càng làm cho cây Phật giáo sống động, vững vàng, phát triển thích
hợp với mọi hoàn cảnh, mọi thời đại và tinh yếu của đạo Phật hay
Phật chất đã nuôi dưỡng tất cả các mạch sống giải thoát đó.
Giáo chủ của tông Mật - Đại
Nhật Như Lai hay Tỳ-lô-giá-na (Vairocana), là Thể tánh thanh tịnh hay Pháp thân, cũng là chỗ Sở y
bình đẳng của Báo và Ứng thân. Vì Pháp thân không có hình tướng,
nên khi thuyết giáo những pháp môn mầu nhiệm, bí mật, chỉ những vị
Đại Bồ tát mới thể nhập, lãnh hội được để truyền thừa. Trong kho
tàng Hiển giáo, tức những giáo pháp mà đức Phật Thích Ca giảng dạy
tùy theo căn cơ của chúng sanh, thì những kinh chú để gọi là lập nên
Mật giáo chỉ nằm rải rác trong các Kinh điển Nguyên thủy như Kinh
Khổng tước hay các Thần chú Thủ hộ trong các Bộ luật. Nhưng trong Bí
Mật giáo. còn gọi là Viên giáo, nguồn gốc từ Kinh tạng Đại thừa,
ngoài các kinh gốc căn bản như Kinh Đại Nhật, Kinh Kim Cang Đảnh, Tô
tất địa, còn có vô số các Kinh khác được truyền thừa bí mật.
Ngài Bồ tát Kim cang thủ hay Bồ
tát Phổ Hiền được truyền thọ từ Như Lai Đại Nhật, nhưng trên mặt
lịch sử, người làm cho Mật giáo khởi sắc và hưng thạnh, phải nói là
Ngài Bồ tát Long Thọ- được bên Đông Mật, tôn Ngài là Sơ Tổ của Mật giáo. Sở dĩ phải nhấn mạnh
đến Ngài Long Thọ, vì Ngài là người hiện diện trong thế kỷ thứ 3
trước Tây lịch, khi mà tư tưởng Đại thừa Phật giáo- trước đó tiềm
tàng trong giáo nghĩa của các Bộ phái, nay được thành hình. Ngài là
một Đại Luận sư cự phách về Tánh không. Điều đó có nghĩa khi phát
triển Mật giáo, giáo lý Tánh không hay Phật giáo quan của Ngài đã
ảnh hưởng sâu đạām trên mọi Kinh văn, luận giải của Mật giáo.
Trong tiểu luận Liên hoa bộ (viết năm 1988) và tiểu luận Yết ma
bộ (viết năm 2000), chúng tôi
nghiên cứu và thấy rằng Mật giáo được thành lập rõ rệt vào thế
kỹ VII và bắt nguồn từ các tông phái như tông Pháp tướng (Chỉ rõ chơn lý Nhị không và tất cả
các pháp đều do thức biến), tông Vô tướng với Kinh Bát nhã làm
đại biểu (Nói về Không-Vô tướng
để chỉ rõ các Pháp bổn lai không), tông Hoa nghêm (nói về Tỳ-lô Pháp giới, Sự Lý viên
dung hoặc Nhân quả, một mà đầy đủ mọi pháp, trùng trùng vô tận).
Do xuất phát từ những căn bản
đó, nên Mật giáo là tông phái triệt để thực hành, không chỉ vì đức
tin mà còn vì đã kinh qua quá trình thể nhập Hiển giáo. Tìm triết lý
Mật giáo thì nên tìm trong những kiến giải hay giáo thuyết của các
tông phái kể trên, hoặc giả, nếu người tu Mật giáo càng thâm nhập
vào Chân tâm hay thể nhập vào Bổn tôn, thì những lý giải, kiến
giải hay nhận thức về các Pháp, các trạng thái vi diệu của tâm hay
Ba Pháp ấn: Khổ-Không-Vô thường Vô ngã đều rõ ràng, trong
sáng.
Đạo Phật được gọi là Nhân bản
bởi sự xuất hiện của đức Phật là vì con người để chỉ rõ sự sai lầm
vọng chấp và khai mở một Đạo lộ hướng đến giải thoát khỏi vòng
trầm luân. Đức Phật cũng là một con người bình thương, nhưng vì Giác
ngộ nên được gọi là Phật. Cho nên, tất cả các pháp Phật giảng dạy
đều vì con người. "Phật pháp
bất ly thế gian pháp". Những gì có thể làm cho con người được
an lạc, hạnh phúc v.v..đều được sử dụng trong đạo Phật như là một
phương tiện thiện xảo để cứu độ sanh linh.
Mật giáo là một Tông pháo của
đạo Phật, nên cũng vì sự đau khổ bức bách của con người và chỉ con
đường đi đến giải thoát, mà thành lập. Tông Bí mật nầy chia làm năm
Bộ tượng trưng cho ngũ uẩn hay năm Trí đức có đầy đủ trong một thân
người. Kim cang Bộ là một trong năm Bộ của Mật giáo. Như đã nói,
đây chỉ là tạm phân chia để phối ứng hay nói về một khía cạnh của
các biến hiện tâm thức như ngũ căn, ngũ trần v.v..của con người.
Chứ con người là một hữu tình tổng thể, không có sự chia cắt, nên
Mật giáo cũng vậy, là tổng thể của các Bộ được tạm chia. Bước
chân vào Bộ Kim cang, ta nhận thấy được giải thích như sau:
* Kim cang boä :
- Hiện tượng giới: thuộc phương Đông,
mùa Xuân
Phong đại, đàn vuông.
- Trong Cơ thể: chủ Can (Gan), Cân
(Gân).
- Mùi vị và màu sắc: vị chua, màu xanh.
- Tâm học: Thức uẩn, Đại viên cảnh
trí.
- Chủ Bộ: Như Lai A-súc-bệ (Aksobhya),
Bồ tát
Kim cang Thủ hay Bồ tát Phổ Hiền.
- Chủng tự: Hùm hoặc Om- Ah Hùm.
Trong thiên nhiên, mỗi năm có
bốn mùa tuần tự như Xuân Hạ Thu Đông. Sau những tháng dài trầm mình
trong lạnh lẻo, khi gió Xuân bắt đầu thổi về, thì vạn vật đều như
bừng tĩnh dậy, sống động, hồi sinh. Những cành cây bắt đầu đâm chồi
nẩy tược. chim chóc reo vui. Mùa Xuân cũng là mùa của hy vọng, của
yêu đương tràn trề. Xuân là khởi đầu của một mùa mới và phương
Đông, khi vừng hồng vừa ló dạng cũng là bắt đầu của một ngày mới.
Mùa Xuân hay phương Đông cũng tượng trưng cho tuổi trẻ đầy sức sống,
đầy nhiệt tình, hăng say, cũng là những năm tháng gầy dựng sự
nghiệp cho tương lai. Tuổi trẻ lúc nào cũng đầy ước mơ, lý tưởng,
tinh khôi.
Trong cơ thể học, Phong trực thuộc
về can (Gan)- chủ về Mộc hay những hoạt động, vận động hoặc gân
cốt. Những người mà cơ năng gan điều tiết tốt, người vui vẻ, da mặt
hồng hào, không xanh mét hay hơi thở chua hôi. Càng lớn tuổi, gan suy
yếu từ từ, nên người già đi đứng, tay chân hay run rẩy. Tuy nhiên,
trong tất cả mọi cơ năng đều có sự chuyển động (Phong), chứ không
riêng gì Can. Nếu một cơ quan nào trong cơ thể mà không hoạt động, thì
báo hiệu sự suy tàn sắp đến. Phong còn biểu lộ qua ánh mắt đầy tươi
sáng hy vọng. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Can hoạt động điều
hòa, mắt sẽ luôn tươi nhuận, nhìn qua đôi mắt sẽ biết được tình
trạng sức khỏe (Bệnh chứng Hư hay Thực) hay tâm thần của một con
người. Những Du huyệt (Huyệt di động) trong cơ thể bị đau, rát, nhức
v.v...cũng có thể biết phần nào bệnh của cơ quan đó. Can còn chủsự
phẩn nộ, tính khí của con người. Một người khi đang tức giận, mắt đỏ
ngầu, mặt xanh mét, tay chân run rẩy "Nộ thương can= giận làm hại gan".
Can còn biểu hiện của sự can
đảm. Khi một người có gan tốt, thì ít khi sợ hãi cũng như can đảm để
đối phó với hoàn cảnh. Ghi chú: Can đảm khác với vô úy, vì can đảm
là trạng thái tinh thần biểu hiện sự xung khí, có ngã có nhân, có
sự tính toán, sự phản kháng. Vô úy thì ngược lại, vì đã diệt phiền
não, tâm không còn phân chia, vướng mắc, nên tất cả việc làm đều
vô ngại, lợi tha, không có bốn tướng (Nhân, ngã, tướng chúng sanh, tướng thọ giả) Khi nghiên cứu về thời sinh học
(Chronobiology), qua các "Nhịp sinh học", thì sự chuyển động
càng biểu lộ được nhận thấy rõ rệt
qua các sự biểu hiện liên đới giữa giờ giấc (Thời gian), sự
tuần hoàn của thiên nhiên (Không gian) v.v.. ứng với từng bộ phạān
cơ thể.
Đến Đạo học Đông phương như trong
Đạo đức kinh, chương 42 có nói: Vạn
vật phụ âm nhi bảo dương, xung khí dĩ vi hòa" mô tả đến tình
trạng rất linh động của sự sống vì sự sống là tập hợp tất cả
những mâu thuẫn nhưng luôn luôn dung hòa lẫn nhau. Nếu không có sự
mâu thuẫn thì không có Động. Ví dụ: Dương mộc mạnh hơn âm mộc sanh
Động, nếu Âm mộc mạnh hơn Dương sẽ sanh Tỉnh, Động và Tỉnh chính là
sự chuyển vận, biến hóa hay Phong Đại. "Tương phản nhi bất khả dĩ tương vô" xung đột nhưng
luôn luôn cần nhau. Trong Thiên can chỉ có 10 như Giáp Át Bính Đinh Mậu
Kỹ Canh Tân Nhâm Quí, nhưng Địa chi thì có 12 (Tý Sửu Dần v.v...) và
tháng Tý đã bắt đầu từ tháng 10 của năm cũ, chứ không phải tháng
đầu của năm mới. Sự sai biệt nầy để tạo thành sự chuyển động, sinh
sinh hóa hóa.
Do đó, sự chuyển động được gọi
là Phong, biểu tượng cho Thức uẩn, vì Thức là tánh biết biểu lộ của
năm giác quan, nhưng luôn phân biệt, giao động từ chập nầy đến chập
khác khi đối với cảnh. Thức (Vijnãna) là một trong năm uẩn mà trong
Lục thức thì đứng đầu (Thức uẩn) hoặc trong Bát thức, thì A-lại-gia
thức lại là Thức chủ. Thức uẩn do nhiều điểm khác nhau tập họp mà
thành và là tên gọi khác của Tâm và chính Thức biến hiện ra tất
cả vạn vật. nên được Tông Duy thức coi đó là Tâm vương.
Trong Kinh Uế Tích Kim Cang Thuyết
Thần Thông Đại Mãn Đà-la-ni Pháp Thuật Linh Yếu Môn kể: Khi Đức Phật sắp nhập Niết bàn tại
Thành Câu-thi-na, xứ Lực-xỉ-xanh, gần bên sông Bạc-đề, trong rừng
Sa-la song thọ.Tất cả chư Thiên, Đại chúng, Trời, Rồng đều than khóc,
buồn rầu và đều đến để cúng dường. Duy chỉ có ông Phạm-Vương Lễ-Kế
thì đang vui đùa cùng Thiên nữ, nên dù đã nghe tin Đức Như Lai sắp
vào Niết bàn, cũng không đến thăm hỏi.
Lúc bấy giờ, chư Đại chúng liền nói: Ngày nay Như Lai vào
Niết bàn, vậy sao Phạm Vương không đến ư? Chắc Phạm Vương kia có tâm
ngã mạn. Do đó, hết thảy Đại chúng liền sai khiến trăm ngàn chúng
Tiểu Chú Tiên đến nơi kia, nhưng khi đến nơi rồi, mới thấy thành vách
chỗ đó làm bằng các thứ bất tịnh. Khi thấy như vậy, Chú Tiên kia
thảy đều phạm chú mà chết. Đại chúng ngạc nhiên chưa từng có, liền
thúc vô lượng Kim Cang cũng khiến trì chú mà đi, qua bảy ngày mà
không tới được. Đại chúng thấy vậy, lại thêm phần buồn rầu.
Khi đó, Đức Như Lai thương xót Đại chúng, liền dùng Đại Biến
Tri Thần lực nơi bên tay trái của quả tim mà hóa ra Kim Cang Bất
Hoại- Vị nầy từ chỗ ngồi trong Đại chúng, đúng dậy mà bạch rằng:
Tôi có Thần chú thu phục Phạm Vương kia". Nói xong, liền hiển
bày thần thông làm cho tam thiên đại thiên thế giới, sáu lần chấn
động, cung Trời, Rồng cùng các cung điện Quỷ Thần thảy đều sụp đổ.
Liền tự thân bay đến chỗ Phạm Vương kia, lấy tay chỉ, tức thì các thứ
vật xú uế đều biến làm đại địa. Sau đó, Ngài Kim Cang bảo với Phạm
Vương rằng: Ngươi thật là đại ngu si, Đức Như Lai sắp nhập Niết bàn,
sao ngươi không đến? Ngài liền lấy sức bất hoại Kim Cang mà chỉ,
Phạm Vương liền phát tâm, đến chỗ Đức Như Lai.
Tôi đã đọc bài Kinh nầy nhiều
lần, nhưng mỗi lần lại có cái nhìn hay kiến giải khác nhau và mỗi
lần như vậy thì tâm lại sáng hẳn như nhìn thấy rõ ràng hơn bổn tâm
của mình. Tôi không muốn nói đến sự linh nghiệm hay mầu nhiệm của
câu Thần chú, vì đó không thuộc phần của bài Tiểu luận nầy. Mặc
dù thần thông vẫn có qua sự hành trì miên mật một câu chân ngôn
và nhửng hình ảnh thần linh, trời, rồng, La-sát, quỹ v.v..hiện diện
đầy dẫy trong các kinh điển Phật giáo- nhất là Mật giáo, làm cho có nhiều người ngộ nhận cho là
đạo Phật đa thần. Tất cả những linh thể đó vẫn có và hiện diện ở
khăłp mọi nơi, có hình sắc và tư tưởng tùy theo biệt nghiệp, nhưng luôn luôn đói Pháp. Trong Kinh
nói rõ, các Thần linh đó thường đến nghe Đức Phật giảng Pháp, hộ
Pháp v.v..và cần cầu tu để thoát ra khỏi thân nghiệp báo đó. Cho
nên, nhìn rõ thực tướng đó và vì sợ chúng sanh lầm chấp, tin theo để
rồi rơi vào các cõi nầy và sẽ phải chịu luân hồi vì chưa ra khỏi
lục đạo, nên Đức Phật phủ nhận vì đó không phải là cứu cánh đưa
đến giải thoát và vì sự vượt qua bờ bên kia mới là tối quan trọng,
là sanh tử đại sự. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là dân tộc Ấn rất
kính trọng thần linh. Với dãy núi
Trong Phẩm Thập địa của Bát thập
Hoa nghiêm có nói: Mọi vật trong
tam giới đều do tâm tạo Đức Thế Tôn tượng trưng cho Tâm vương hay
A-lại-gia thức, còn Uế tích Kim Cang (Ucchusma) chính là ý thức, các
Đại chúng là Mạt na thức và Phạm vương là các Tâm sở biến hành.
Như chúng ta được biết, A-lại-gia
hay Tàng thức (Alayavijnana) có chức năng dung chứa các chủng tử
(bijas) tức hạt giống biểu hiện của tâm thức như thánh, phàm, thiện
ác, giải thoát hay luân hồi, dị biệt, đa thù v.v.... hay các hữu lậu
hoặc vô lậu. Tàng thức có ba tính chất như : 1- Năng tàng (Chủ thể dung chứa) 2- Sở tàng (Đối tượng được dung chứa ) và 3- Ngã ái chấp tàng ( Chấp ngã
thường hằng ). Vì thế, tâm được phân ra làm hai phần: Chủ thể nhận thức và đối tượng nhận
thức. Đầu tiên, tâm có tác dụng năng động như tàng trữ và bảo
trì, vì thế, nên có Năng tàng
(Chủ thể) và Sở tàng (Đối
tượng) và thứ hai, tác dụng thụ động như Chấp ngã- do Mạt-na thức
đem lại. Thức Mạt-na là thức thứ bảy, lấy chỗ dựa và lấy kiến
phần từ thức A-lại-gia, mà sanh ra và là gốc rễ của hai tư tưởng
chấp trước: Ngã và Pháp.
Do đó, khi Đại chúng (Mạt-na
thức) vì cảm thấy sự nhập Niết-bàn của Đức Phật là tối ư quan
trọng (Tâm chấp ngã, chấp tướng
sinh diệt) nhưng lại còn một vị Phạm vương không đến quy kính (các Tâm sở biến hành), nên
mới nỗi giận đem chú Tiên đến để hàng phục. Nhưng vì tâm đó là tâm
ngã chấp, còn chướng ngại, cho nên mới thấy thành quách làm bằng
uế (Tâm còn ô nhiễm, đầy trần
cấu, tham sân si), khiến các chú Tiên đều ngã lăn ra chết. Muốn
hàng phục các Tâm sở (Cetasika) nầy, cần phải nhờ đến Ý thức vì
Tâm sở chỉ là tác năng hoạt động của tâm gồm có nhiều loại khác
nhau như: Xúc, tác, ý, thọ tưởng, tư v.v...
Trước khi thức A-lại-gia hay Dị
thục thức trở thành Vô cấu thức hay Bạch tịnh thức (Amala vijnãna),
Mạt-na-thức cần chuyển các Tâm sở biến hành để phá bỏ Ngã chấp
và Pháp chấp, nhưng vì Thức nầy không có năng lực đoạn hoặc hay còn
kiến tư hoặc, chấp thủ, nên cần phải nhờ đến Ý thức. Ý thức nầy
đồng khởi lên cùng thức Mạt-na và thức A-lại-gia, nay đã được
chuyển thành Trí, nên biểu tượng như Kim Cang Bất Hoại do Đại Biến Tri
Thần. Chỉ có Trí tuệ nầy mới phá trừ được Ngã và Pháp chấp, chuyển
từ Mạt-na thức vào sâu trong A-lại-gia, gươm báu nầy cắt sạch gốc
rễ hữu và vô lậu trong Tàng thức, tạo thành tác dụng bình đẳng của
các Pháp. Vì biết rõ các Pháp chỉ là vọng huyễn, nên tự lặng lẽ
trở về với Tánh bình đẳng và chuyển hóa tâm ô nhiễm thành tâm
thanh tịnh. Đó chính là Kiên thực tâm hay cái tâm kiên cố, chẳng sanh
diệt, là Như Lai Tạng tâm. Hình ảnh Uế Tích Kim Cang xuất hiện từ nơi
tim của Đức Phật chỉ là Chân như
xuất triền và là phương tiện thiện xảo Thần thông Đại mãn
Đà-la-ni Pháp thuật Linh yếu môn như đề tựa của Kinh. Theo như Tông
Hoa Nghiêm giải thích: Tổng cai vạn
hữu chi nhất tâm= tức một tâm mà bao quát cả vạn hữu. Cái lý năng
tạo là tâm, Phật và chúng sanh là cái lý sở tạo. Cho nên, sự
giác ngộ đến từ nhận thức được Tâm không.
Cũng trong Kinh Kim quang Minh
(Suvarnaprabhasa Sutra) được coi là pháp môn Đốn Viên Đại Dụng và là
một trong những Bộ kinh thuộc Mật tông. Trong quyển 4, phẩm 16 nói về
Trưỡng giả Lưu Thủy: " Trong
nước của vua Thiên Quang Tự Tại, Ông Trưởng giả Lưu Thủy là vị thầy
thuốc thường hay chữa lành tất cả bệnh của chúng sanh, nhờ thân thể
được khỏe mạnh nên tất cả đều làm nhiều việc phước thiện, tu hạnh
bố thí. Ông có vợ tên là Thủy Không Long Tạng và hai người con là
Thủy Không và Thủy Tạng. Một hôm ông dẫn hai người con chu du thiên
hạ, từ thành thị đến thôn quê và đến một cái đầm lớn. Chợt thấy
các loại dã thú như cọp, beo, chồn, chó, chim, quạ...vừa thấy bóng
người liền bỏ chạy. Ông liền đi theo, một lúc thì thấy một cái ao
đang cạn nước, lại có nhiều cá đang giẫy giụa sắp chết. Khi ấy, có
vị Thọ Thần hiện bán thân, nói Trưởng giả Lưu Thủy rằng; Hãy mau
cứu chúng vì thật đáng thương. Tên ông được gọi là Lưu Thủy vì hai
lý do; 1- Thường hay khai thông dòng nước. 2- Cho nước để cứu chúng
sanh. Vì lòng từ bi, Trưởng giả chạy quanh tìm nước, nhưng không có.
Khi gặp cây đại thọ, liền bẻ nhánh đem trở lại che cho bầy cá đó.
Rồi đi tìm dòng nước xuất phát từ đâu, nhưng không được. Bổng thấy
con sông tên Thủ Sanh, có nhiều người ác vì muốn bắt cá nên lựa
chỗ hiểm, phá vỡ bờ đê, không cho nước xuồng. Trưởng giả liền chạy
về cầu cứu với Đại Vương, xin cho đem nước đến cứu số cá ấy. Được
vua cho sắc lẹānh ưng thuận, liền đem nhiều thớt voi cùng những người
ở chung quanh thành, đi đến con sông
gần bờ đê lấy nước, nhanh chóng chở nước và đổ xuống ao để cứu
các con cá. Sau đó, lại sai hai con về nhà lấy những thức ăn mà cá
có thể ăn được, vội đem ra cho cá ăn và lại còn vì cá mà nói kinh
điển Đại thừa thậm thâm vi diệu Mười hai nhân duyên và xưng danh
hiệu Phật Bảo Thắng. Các số cá nhờ nhân nầy mà được sanh lên cõi
trời Đao lợi. Những vị Thiên tử nầy (Thân kiếp trước là cá) vì nhớ ơn của Trưởng giả Lưu Thủy
nên đem chuỗi ngọc anh lạc và nhiều hoa đến cúng dường".
Sở dĩ nhắc đến phẩm kinh nói về
Trưởng giả Lưu Thủy, tôi muốn dẫn chứng vài bộ Kinh Mật tạng tiêu
biểu và nêu rõ tư tưởng Chân không trong các bộ Kinh Mật để xóa tan
những nghi vấn cho là tu Mật không có trí tuệ, vì chỉ chú trọng thần
thông. Qua nội dung Kinh, chỉ đề cập đến những công hạnh Bồ tát của
tiền thân đức Phật và thật khó cho chúng ta tìm thấy chỗ nào nói
đến nói cái Chân Không Diệu Hữu nầy? Phải chăng Không Tánh được
thể hiện qua lòng từ bi vô hạn của Trưởng giả Lưu Thủy không những
đối với con người mà cả đến loài bàng sanh như cá. Chỉ những con
người không còn chấp Ngã và chấp Pháp, những người mang trọn vẹn Tâm không mới thể hiện được tấm
lòng xót thương và xả thân vô úy như vậy. Trong Tam tạng Pháp số
viết: " Thấy nghe tánh động
thuộc nước = Quán thinh tánh động tắc thuộc ư thủy". Trưởng
giả Lưu Thủy như tên gọi là: Thường
hay khai thông dòng nước và, cho nước cứu chúng sanh. Do đó, tên
Lưu Thủy là muốn nói đến cái Tâm thức hay Tánh giác của mỗi người.
Trong dòng sông tâm thức của con
người, sự cuồn cuộn chảy của thức để làm cho con người có cái ảo
giác là mình hiện hữu. Hiện hữu qua sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp,
qua những gì mình gánh nặng, qua những tưởng tượng v.v... Cho nên, mọi
hiện tượng diễn biến khách quan hay nội tại luôn được sinh khởi từ
hạt giống thiện hay ác tiềm ẩn trong tâm thức và khi gặp thuận
duyên thì các hạt giống đó hiện hành. Vì thế, dòng nước của con
sông nầy có những lưu thủy sai biệt, có khi là nước lớn, nước ròng,
nước dậy sóng, nước lặng lẽ im lìm...ứng với những hoa quả của tâm,
nhưng tựu chung lại là:
1-
Nước quả báo:
Có hình sắc, tánh lỏng, nhìn thấy đặng và sức tàn phá của nó đi từ
địa ngục cho đến đệ nhị thiền. Do sự tưởng mà mỗi loại chúng sanh
theo vị trí của mình mà chấp trước, đau khổ, rồi trôi giạt trong sáu
nẻo.
2-
Nước ác nghiệp: Tuy vô hình, nhưng có sức lối cuốn chúng sanh làm nhiều tổn
hại, qua thân, ngữ, ý tác tạo.
3-
Nước phiền não: Nước nầy do lòng tham dục, sân hận, si mê chấp ngã, tuy
không hình tướng, nhưng nó tàn hại khốc liệt làm trôi lăn trong sanh
tử luân hồi.
Qua phẩm kinh nầy, cũng làm cho
chúng ta liên tưởng đến Phẩm thứ 27 Diệu Trang Nghiêm Bổn sự của
Kinh Pháp Hoa. Trưởng giả Lưu Thủy khai thông nguồn nước như thế nào?
và đem nước cứu chúng sanh ra sao? Chúng
sanh của Lưu Thủy là loài cá và ông đã vì chúng mà nói pháp thâm
sâu là Mười hai nhân duyên và xưng danh hiệu Phật Bảo Thắng. Loài
cá nầy phải chăng tượng trưng cho những vọng thức sai lầm của mọi
người làm chúng ta giẫy giụa trong sự mù mờ chân lý, chìm đám trong
nghiệp lực. Nhờ đã giác ngộ phần nào chân lý nên biến thành tiếng
nói của nội tâm (Hình ảnh bán phần
của vị Thọ thần hiện ra) và nhờ đó, như nhắc nhở cho chúng ta vững
tâm tìm về nguồn nước của Chân như. Trong Năm tướng thành thân, thì đây là Thông đạt tâm, vì biết
rõ Phật tánh sẵn có nơi mình, thuộc Tín tâm vị. Nên từ đây, phải gia
trì tâm Bồ-đề khiến cho chắc bền như Kim cang, mới nhập được vào thể là Kim cang tâm, và từ Kim cang
tâm nầy sáng rực hình ảnh Bổn tôn của Chân tánh. Trưởng giả Lưu
Thủy có vợ tên là Thủy Không Long Tạng, phải chăng đó là thức A-lại-gia.
Tôi còn nhớ trong Thiền sử Việt
Kim cang bộ là Trí tuệ ba-la-mật
xuất phát từ đất Tâm hay A-lại-gia thức. Nơi đó, có đầy đủ những
chủng tử thiện, ác, vô ký. Do sự miên mật tu hành từ từ chuyển hóa
vùng đất nầy thành chất mầu mỡ nuôi dưỡng bông hoa của Tâm, đó là Trí tuệ và Từ bi. Chất liệu làm
nên, nuôi bón Tâm lại là những phiền não, nghiệp chướng, những
thất tình, lục dục và có thể nói, nếu không có những chất liệu
nầy, thì Trí tuệ và Từ bi không có. Vì thế, trong Kim cang giới lập
nên nghĩa tức thân thành Phật
xuất phát từ nơi chốn uế trược, phiền não nầy, sau khi đã thanh tịnh
hóa Tâm. Có nghĩa: Lục đại vô
ngại thường tương ưng, bốn thứ mandala không rời khác, ba mật gia trì
mau chóng hiện, đế võng trùng trùng là tức thân. Cho nên, thâm
nhập Kim cang giới là vén màn Không tánh và là phát triển toàn
diện con người giải thoát, qua sự thể nhập đó. Tất cả đòi hỏi sự
thâm tín chư Phật, đó là đất hay nền tảng của Chân tâm. Thâm tín chư Phật giai sung mãn.
Sung mãn cái gì? Vì không hiểu rõ
hay không tin chắc là mình cũng có Phật tánh nên sẽ thành Phật, thì
mình đã làm nghèo nàn đi hay làm lui sụt con đường đi đến Giác ngộ.
Điều đó, không có nghĩa là Tánh Phật bị hủy diệt, nhưng khi một niệm
móng lên tin tưởng từ tánh giác, Phật tánh sẽ bừng lên sung mãn
trong lòng mỗi người. Cho nên, cũng có nghĩa là cần phải vun bồi
mảnh đất (Địa hay Thổ) của Tâm
Theo kinh Tỳ-lô-giá-na thì Đàn
vuông là biểu tượng cho Địa (Prithina) - vì tướng đất vuông. Trong đời
sống của con người, địa hay đất là môi trường sinh sống ảnh hưởng
đến con người. Những biến động, những hoạt cảnh của môi trường, sinh
thái v.v..ảnh hưởng đến sự sanh sống của con người về mặt
tâm-sinh-lý. Tuy nhiên, cũng những biến động đó, cũng có thể làm
con người tìm lại được những mảnh đất mầu nhiệm của Chân tâm. Trong
lịch sử của nhân loại, đã có biết bao nhiêu con người bình dị chỉ nghe
tiếng lá rơi, tiếng nước chảy, tiếng cuốc đất ...mà tâm bừng lên
Giác ngộ. Chỉ khi nào, chúng ta không còn quá nhiều phân biệt, cắt
đoạn, phân chia hết thực tại, chúng ta mới không hiểu về Đất. Vì
đất là chung cho tất cả mọi loại, không phân biệt nên có nghĩa là
luôn bình đẳng. Trong đàn pháp Mật giáo, đàn vuông tượng trưng cho
Đất, có nghĩa là bình đẳng, trong đó chư Tôn biểu tượng cho hữu tình,
còn các pháp khí v.v...biểu tượng cho phi tình (tình dữ vô tình), nhưng cũng từ tâm khởi sinh hay mọi tâm
pháp đều đã lựa chọn phân minh và quyết định không sai, nên có tánh
bình đẳng, được gọi là Trí Ấn của Như Lai. Qua cặp mắt trí tuệ của
bậc chứng ngộ, Ngài Đại sư Chí Tường đã căn cứ vào Kinh Hoa nghiêm,
phân tích các sự tướng ra Thể Tướng Dụng làm thành hai môn Bình đẳng
và Sai biệt như sáu tướng sau: 1- Tổng
tướng: Một mà chứa nhiều đức như thân người có một mà chứa
nhiều cơ quan. 2- Biệt tướng:
Nhiều đức nhưng mỗi đúc mỗi khác như trong thân người mỗi căn đều
khác nhau. 3- Đồng tướng: Nhiều
đức nhưng lại chống trái nhau hay nhiều thứ làm thành một tổng thể.
4- Dị tướng: Nhiều nghĩa đối nhau,
mỗi thứ mỗi hình loại khác nhau. 5-Thành
tướng: Nhiều cái duyên khởi mà thành một tổng thể. 6 - Hoại tướng: Mỗi thứ trụ ở vị trí
của mình mà chẳng di động như các căn ở vị trí của mình mà tự dùng.
Các pháp nầy nhìn vào thể tính, thì mỗi một đều có sáu tướng, hoặc
ngược lại, nhưng lại viên dung. Vì các pháp viên dung, nên các pháp
tức là nhất chân pháp giới vô tận duyên khởi.
Trong Kiên Lao Địa Thiên Nghi quỷ
(thuộc Mật tạng do Ngài Thiện Vô Úy dịch từ Phạn ra Hán và Thầy
Thích Viên Đức dịch ra Việt văn) nói rằng: " Bấy giờ Kiên Lao Địa Thiên và Công Đức Thiên đều cùng nhau
từ tòa ngồi đứng dậy, bạch Phật rằng: "Kinh bạch Thế Tôn! Nếu
có Tỳ-kheo Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, đồng nam hay đồng nữ
v.v..thường nhiếp ngũ căn, buộc niệm chí tâm, lễ bái cúng dường và
niệm tụng chơn ngôn của con. Con hằng thường xuất ra khỏi đất mùi
hương thơm làm tươi nhuận kẻ ấy, khiến cho trong thân của họ tăng ích
thọ mạng và địa tinh khí sung mãn đầy đủ. Trong thân người hành giả
được đắc sắc lực, đắc niệm đắc hỷ, đắc tinh tấn, đại trí tuệ, đại
biện tài, tam minh lục thông. Người trời đều ái kính, đắc đại phước
đức không thể so sánh cùng tận, thí như phước đức của Chuyển Luân
Thánh Vuong, ở nơi nào thì cũng như vườn Viên Quán của Trời Đao lợi.
Đời nầy, đời khác, muôn đời không cùng cực, được sự đa quảng đại
phước...Như vậy, nên buộc niệm, đi dứng nằm ngồi, tâm không theo
ngoại duyên nào khác."
Hai vị Kiên Lao Địa Thiên
và Công Đức Thiên đều đồng nói lên lời nguyện cùng Đức Phật, nếu
có người nào nhiếp tâm trì chú nầy thì đắc được những pháp như Kinh
đã nói rõ. Làm sao chỉ có buộc niệm, không duyên theo ngoại cảnh mà
đắc được được tam minh (1- Túc mẹānh
minh: Biết tướng sanh tử của mình và mọi người trong đời trước. 2-
Thiên nhãn minh: Biết tướng sanh tử đời vị lai của mình và người. 3-
Lậu tận minh: Trí biết các khổ tướng và đoạn mọi phiền não) và
lục thông, rồi được người trời đều ái kính? Phước báo nào lại đầy
đủ để theo hành giả trong muôn đời không cùng cực? Phải chăng đây
muốn nói về Chân tâm, vì trong Tâm chứa đầy đủ tất cả muôn vật,
muôn pháp và là kho tàng phước báu mà không có gì có thể so sánh
được. Muốn đạt được hay thể nhập vào Tánh giác nầy, hành giả cần
phải có tâm kiên cố như đất và
luôn luôn sống hoài với Tri kiến
nầy (Kiên Lao Địa Thiên) thì tự nhiên muôn hạnh, muôn công đức
v.v...đều trang nghiêm trên thân tâm hành giả. Chỉ có tâm kiên cố,
dũng mãnh, không gián đoạn như vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi
ghế cao Như Lai v.v...của tư tưởng
Nhất thừa Pháp Hoa, thì Tánh Giác mầu nhiệm nầy sẽ tràn đầy trong
tâm hành giả như hương thơm (Giới,
định, tuệ, giải thoát giải thoát tri kiến) từ đất của Tâm xông lên tẩm ướp, chuyển thân
hành giã từ thân uế trược thành thân thanh tịnh như Kiên Lao Địa Thiên hay Kim Cang Bất Hoại.
Trong Đại Nhật kinh sớ giải thích:
Đây là từ nơi bổn hiện ra tích, tu
nhân hướng quả. Tất cả đều là thể của Như Lai Đại Nhật vì nếu như Như
Lai chỉ trụ nới pháp tư chứng, thì không thể độ sanh. Vì sao vậy? Bởi
vì các pháp nhiệm màu nầy vượt khỏi tầm tư, thoát ra từ trong vô
sanh, làm sao chỉ bày được. Do đó, Như Lai mới dùng thần lực gia trì,
hiện tướng thân khẩu ý khắp trong đường sanh tử. Nếu lìa phương tện
ấy, chư Phật không thể khai thị bổn địa của mình cho các vị Bồ tát
Thượng thủ, huống là các loại hữu tình. Thế nên, biết đó tức là
thân Phổ môn, thân Pháp giới hay thân Kim cang giới vậy.
Phẩm thứ 15 "Tùng địa dõng xuất" của Kinh
Pháp Hoa còn nói rõ hơn: " Lúc
bấy giờ, các vị Bồ tát từ các phương khác lại, đông hơn số cát của
tám sông Hằng, ở trong đại chúng, đồng đứng dậy chấp tay bạch Phật:
"Kính bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn cho chúng con nguyện, sau khi Phật
diệt độ, sẽ rộng nói kinh Pháp Hoa ở khắp thế giới Ta-bà, để gia
tăng tinh tấn và hộ trì cho nhng người đọc tụng, sao chép, cúng dường
kinh nầy." Phập đáp: " Này Thiện nam tử! Các ông không cần
lo hộ trì Kinh nầy. Vì sao? Vì thế giới Ta-bà đã có số Bồ-tát đông
như các của sáu muôn sông Hằng. Mỗi Bồ-tát đều có quyến thuộc
cũng đông như vậy. Những Bồ-tát và quyến thuộc đó, sau khi ta diệt
độ, sẽ có khả năng gìn giữ, đọc tung, rộng nói Kinh nầy".
Khi Phật nói lời nầy xong, trong ba ngàn đại thiên quốc độ ở
thế giới Ta-bà, đất đều rung nứt và từ trong lòng đất, vô lượng
ngàn muôn ức Bồ-tát đồng thời vọt lên. Các Bồ-tát ấy, thân như
vàng ròng, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, ánh sáng khôn lường, trước
kia trú trong hư không ở chỗ thấp nhất của thế giới Ta-bà, nay nghe
lời của Phật Thích Ca, nên từ chỗ thấp đó mà phát hiện
đến...."
Đây là bức tranh vô cùng hùng
tráng, tuyệt diệu để nói về Chân tâm và là niềm cảm hứng vô tận
cho những người con Phật đang bước theo vết chân Ngài. Mỗi người đều
có Phật tánh và do đó, sẽ trở thành vị Phật. Đây là sự chuyển mình
tối ư quan trọng khi nhận ra Tánh giác nầy. Trong mảnh đất Tâm màu
mỡ đó có đầy đủ những đức tánh từ, bi, hỷ, xả, tinh tấn, nhẫn
nhục v.v..và dù trải qua bao sóng gió của vô minh, nghiệp thức thổi
đến, dù mang nhiều hình dáng khác nhau trong sanh tử luân hồi, cái
Đất Tâm đó vẫn thường hằng, bất biến, kiên cố. Cho nên, khi sống
hoài với Tri kiến Phật, thì muôn đức hạnh từ Tâm sẽ bừng lên như
một điều tự nhiên khi trăng không còn bị mây che, sẽ trong sáng trên
bầu trời.
Trong Kim cang bộ, Đất Tâm hay Tri
kiến Phật được Kim cang đảnh kinh sớ lý giải ra 2 nghĩa:
-
Bền chắc
không thể hư hoại, ví cho chân lý bí mật không thể nghỉ bàn của thật
tướng, thường còn, không hư hoại hoặc ví như bản thể vô nhiễm, bất
sanh bất diệt của chúng sanh. Đây là ý nghĩa của Cực lý Pháp thân.
-
Năng dụng
vì Trí dụng của Như Lai phá tan tất cả phiền não, làm hiện rõ thật
tướng, dụ như chất sắc bén của kim cang có thể cắt những chất cứng
rắn nhất. Đây là tiêu biểu cho đệ
nhất nghĩa Không.
Cho nên, Kim cang bộ tương ưng với Chân như
xuất triền, vì lẽ đó, Kim cang đảnh sớ nói: Giác trí Như Lai như hoa sen nở ra, còn
tâm tánh chúng sanh vì mê chướng, nên như hoa sen khép lại".
Do đó, hành giả thường quán tâm
thành vầng trăng tròn sáng để làm hiển lộ Bổn Tâm thanh tịnh- tâm
mà dù trải qua sáu nẻo hay bốn loài vẫn không bị nhiễm ô, vì đó là
Trí tuệ hay Tuệ giác của muôn loài chúng sanh. Do vậy, Chân Tâm được
định nghĩa gồm 3 ý sau: Vì tâm thanh
tịnh như vầng nguyệt nên 1- Tự thể trong sạch vì lìa bợn nhơ tham
nhiễm. 2- Mát mẻ vì lìa tham sân si. 3- Sáng suốt vì lìa sự tối tăm
". Cho nên, quán tâm để nhận rõ "đâu là khách, đâu là
chủ" và phải làm sáng tỏ ngọn đèn Trí tuệ nầy. Bằng cách nào?
Trong Mật giáo hay Kim cang bộ,
người hành giả cần dùng Tam nghiệp để cúng dường Phật tâm như thân,
khẩu, ý. Thân nghiệp thì ngồi an tỉnh, tay bắt Aįn. Khẩu nghiệp thì
tụng chân ngôn. Ý nghiệp thì quán tưởng hình ảnh Bổn tôn hay Chủng
tự để vào Định. Bởi vì thân khẩu ý là môi trường tạo tác ra
nghiệp. Do nhờ Tam lực như 1- Ngã
công đức lực do công đức giữ gìn giới hạnh 2- Như Lai gia trì lực
làm cho thêm kiên cố 3- Pháp giới lực của mười phương ba
đời chư Phật hộ trì. Người hành giả lần vào trong chiều sâu của nội
Tâm. Mọi vọng động đều tỉnh lặng, mọi giả tướng đều tan biến, kiến
tư hoặc trở thành vô nghĩa và những tác động của ngũ trần không
còn hấp lực. Cho nên, khi Tam mật tương ưng tức lúc đó hành giả đang
cúng dường Đức Phật của chính mình và trú ngụ đồng với chư Phật.
Cũng có thể nói, hành giả trở về với công đức Pháp thân của mình.
Do đó, trong Ngũ Chủng Tu pháp,
Kim cang bộ thuộc pháp Tăng ích
(Vathikarana), vì trong Pháp thân hành giả có đầy đủ muôn hạnh
muôn đức, phước báu, trí tuệ. Đó là viên ngọc Như ý Ma-ni và cũng
là hạnh của bố thí ba-la-mật. Pháp Tăng ích đưa đến Bố thí, chứ
không đề cao bản ngã; đó là nét đặc thù của Mật giáo hay Kim cang
bộ. Tại sao như vậy? Tăng ích do nhờ nhiếp phục ngoại cảnh và điều
phục tâm: Cảnh thì giả hợp, duyên sanh, không thật. Tâm thì thanh tịnh
vì các niệm phân biệt đều tan biến trong biển Giác. Tăng ích tạo
thành hai món tư lương trên bước đường đến quả Phật, đó là Phước và
Trí. Do đó, vì Tánh giác nhìn rõ thực tướng của muôn loài, tâm Tăng
ích (Tâm từ bi) từ đây sanh do vì thương xót sự đau khổ trầm luân của
chúng sanh, nên cần ban vui cứu khổ từ tư lương Tăng ích. Trong Tam cú
pháp môn nói: Tâm Bồ-đề là
chân, Đại bi là căn bản, Phương tiện làm cứu cánh tương ưng với
Thắng nghĩa môn, Hạnh nguyện môn và Tam ma địa môn. Nhưng nếu chỉ
có Tâm Bồ-đề lại không chịu tiến bước, có nguyện mà không hạnh,
thì làm sao thành tựu được thân Kim cang. Cho nên, từ gốc lầy Bồ đề
làm tâm, quán thấy các pháp đều không tự tánh, dứt trừ vọng niệm,
từ nơi Chân thật tánh khởi ra diệu dụng, muốn muôn loài đều đầy
đủ. Cho nên, hạnh nguyện của Tâm Bồ-đề là những Sở hành và Đại nguyện của tâm nầy. Đó là hình ảnh Bồ
tát Phổ Hiền với viên Châu Ma-ni Như yŁ.
Chày Kim cang cũng cùng ý nghĩa
nầy. Chúng ta có thể thấy chày Kim cang một chia (Như Lai Đại Nhật), năm chia (Ngũ trí Như Lai hay năm Trí đức) gồm bốn chia chung quanh là
bốn Như Lai và chia giữa là Như Lai Đại Nhật. Chia ở giữa là quan
trọng nhất, vì tượng trưng cho Chân Tánh hay Trí Tuệ Bát nhã mà người
hành giả đắc nhập để an lạc và Bất Động giữa biển thức đầy xao
động hay ngũ uẩn lăng xăng. Đó là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Tất cả đều do tâm phát
khởi, cũng như đất mà tất cả muôn vật đều nhờ đó phát sinh. Tất
cả ấn chú, linh phù, quán tưởng hay các mandala đều do tâm xuất
hiện. Có nắm bắt được Tánh không
thì mới nhận ra được sự duyên sanh duyên hợp, sự vô thường của mọi
hiện tượng, mới nghiên cứu được triết lý Mật giáo vì nó vượt qua
mọi suy luận, lý luận, tư duy thường tình. Nếu không, Mật giáo sẽ bị
hiểu lầm là tất cả những gì nó biểu hiện như pháp thuật, bùa chú,
cầu đảo v.v...mà đã có nhiều người lầm tưởng. Cũng có nhiều hành
giả, sau thời gian hành trì chân ngôn, chợt thấy nhiều linh cảnh hiện
ra nhứ ánh lửa sáng, làn khói xẹt, chày kim cang bay bổng lên, thấy
mặc áo trắng, thấy Bổn tôn xuất hiện v.v.. và tự cho là chứng đắc,
vì đã có ấn chứng và thủ chấp những hiện tướng đó, mà quên rằng
những hiện tướng linh diệu đó đều xuất phát từ tâm khi "chế tâm nhất xứ" bước vào
đất thanh tịnh. Nhưng tu lâu dài, và thâm hiểu Kim cang bộ thì tất cả
những hình ảnh đó đều biến mất. Xin đừng sợ hãi hay lo lắng mà lui
sụt tâm tinh tấn và tâm bồ đề. Theo Thiền sư Nhất Hạnh: "Trước cần khởi tưởng, tưởng được hiện
tiền, nhiên hậu lấy Bát-nhã soi mà thấy nó không thật, tức đượcļ
bất tư nghị đại dụng". Và trong Luận Đại thừa khởi tín nói:
"Đương niệm duy tâm, cảnh giới
tức diệt". Phải biết rằng tất cả những nhân tố hợp lại như
trên đều rỗng không, chỉ tạm đật tên, nên chúng không có tự tánh,
vì thế không thật hoặc vô truļ, vì tùy duyên mà hiện
khởi. Vì quán thấy rõ tự tánh của các Pháp trong tam giới là không,
nên Ngã cũng không, Pháp cũng không và cả hai Ngã Pháp đều rỗng
không (Câu không), hành giả tức thì trở về với Bổn tâm thanh tịnh
của mình, trụ Vô sở đắc pháp.
Trong kinh Vô Lượng Thọ có nói: " Chư Bồ tát ở cõi Cực Lạc của
Đức Phật A-di-đà quán niệm thấy tam giới đều như nhau, trống không,
không có gì hết". Còn riêng trong Luận Đại Trí Độ của Ngài
Long Thọ, phần thứ 20 nói: "Tất
cả các pháp đều do nhân duyên sanh ra, tức không có tự tánh. Đã
không có tự tánh tức là Không. Hễ minh nhận ra Không thì các sở
kiến đều tiêu diệt". Cũng như trong Phẩm Nhân duyên sanh của
bộ Trung quán luận, Ngài còn nói: Các
pháp không tự sanh. Cũng không từ cái khác sanh. Không cộng sanh
cùng không phải không sanh. Cho nên biết đó là vô sanh . (Chư
pháp bất tự sanh. Diệc bất tùng tha sanh. Bất cộng bất vô sanh. Thị
cố tri vô sanh). Cái tư tưởng Chân Không Bát nhã nầy phát triển
mạnh trong tư tưởng Long Thọ, nhằm phá bỏ sự chấp trước sai lầm-
những điều mà Đức Phật khi tại thế thường khuyên bảo đệ tử phải
tránh xa. Tư tưởng của Ngài đã thấm nhuần và tạo thành cái lý luận
thuần nhất, phong phú và nòng cốt trong Mật giáo, nhất là Bộ Kim
cang- Bộ nhấn mạnh vào Chân đế hay Trí tuệ Bát nhã. Tư tưởng nầy cho
rằng các Pháp do nhân duyên kết hợp mà thành, tự nó không thể
sanh. Nhưng nó cũng không phải từ cái khác sanh vì tự nó đã không
sanh, làm sao do cái khác sanh. Hiện tượng các pháp sanh thành tựu và
tăng trưởng không ngoài bốn duyên, đó là: 1- Nhân duyên: Mọi vật thành hình đều do nhiều yếu tố kết
hợp. 2- Thứ đệ duyên: Mọi sự
xuất hiện đều có những trợ duyên liên hệ. 3- Sở duyên duyên: Những trợ duyên nầy giúp những duyên kia,
liên kết nhau. 4- Tăng thượng duyên:
Nhiều nguyên nhân, duyên thúc đẩy ngày càng nhiều, làm cho duyên
tăng trưởng lên thành hiện hữu. Trên
mặt tương đối, thì vạn hữu dị biệt có sanh khởi có tăng trưởng, có
thành hoại, tụ tán, đó là lý nhân duyên vô thường biến động
(Anicca). Nhưng trên mặt tuyệt đối, thì không thấy sự sai biệt của
vạn hữu, vì đồng qui nhất thế chơn không, Nhất thế đó là Chơn như
Pháp Tánh (Không Tánh) . Từ những quan niệm trên, trong vấn đề
gai góc là ngũ ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay với sáu chủng
như: Đất, nước, gió, lửa, hư không, thức, hoặc sự sanh, trụ, hoại,
diệt, các tác nghiệp v.v...cũng được đặt ra những đả phá tương tự.
Ví dụ: Tìm nguyên nhân của một pháp hay các pháp, không có một
nguyên nhân nào gọi là nguyên nhân nhất định, cứu cánh. Nhược
ly ư sắc nhân. Sắc tắc bất khả đắc. Nhược đương ly ư sắc. Sắc nhân
bất khả đắc = Nếu lìa xa nhân của sắc. Thời sắc pháp không thể
có. Nếu hiện lìa bỏ sắc pháp. Thời nhân của sắc không có .
Tổ Long Thọ là một con người
chứng đắc được Tánh không, thấu suốt tận nguồn cội của Tâm, nhưng
vì thương xót những chấp chướng của những người đang bước trên đường
đến giải thoát, dù ở bất cứ thời đại hay quốc thổ nào và muốn họ
thoát ra khỏi những mây mù tri kiến nầy. Cho nên, với những lý luận
sắc bén- thể hiện một nội tâm tự
tại, từ bi, an lạc- Ngài rất triệt để đả phá đến tận căn
nguồn, để không còn gì bám víu, nơi đó mới hiển lộ được Chân Tánh.
Phân tích tư tưởng Tánh không
trong Kim cang bộ thật là khôi hài, nếu không có thấu rõ tường tận.
Vì một bên là phá chấp toàn triệt, đẩy người hành giả trong một
vùng hoang vu, không có một cái gì gọi là có, dù chỉ là tên gọi.
Ánh sáng Vô lượng quang phải là ánh sáng không cùng cực, chiếu rọi
từng những hạt nhỏ vi vi trần, mới soi tỏ rõ muôn vật không có tự
tánh riêng biệt. Còn một bên là - Kim cang bộ, sử dụng tối đa tất
cả cái hữu như vào trong cái bẫy thiên la đại võng, mỗi thoáng, mọi
cử động, ngay cả sự dậy khởi vi tế của một tâm thức thì đã là
vướng mắc. Dù thế, nếu hiểu rõ
thì Kim cang bộ chính là cái tư tưởng Chân không ở trên, để mổ xẻ
sự vật ra hầu đem đến cái nhìn tường tận về cái không, cái vô ngã
hay tự tánh vô tánh (Nihsvabhava) của nó, hoặc tất cả muôn Pháp đều
do thức biến hiện để đả phá triệt để những sai lầm, thiên chấp. Đễ
năm căn không chạy theo năm trần, phương pháp trì chú là sự thôi
thúc tâm lại, không cho duyên ra ngoài, để từ từ đi đến giải quyết
vấn đề Vô ngã. Dùng cái tưởng như
Quán tưởng, để lôi kéo những pháp hợp lại thành một thực thể,
nhưng thực thể đó lại do nhiều nhân tố hợp thành, nên không tự
tánh riêng biệt, biến chuyển vô thường, sanh diệt để giải quyết vấn
đề Pháp duyên sanh.
Khi đã thể nhập được Không tánh,
thì hành giả đã có cái nhìn hoàn toàn khác hẳn về các pháp, dù nó
vẫn mang những hình sắc như trước. Cái nhìn đó thấu rõ được tận
nguồn gốc duyên hợp, thực tánh của vũ trụ vạn hữu hay thấy "như thực tướng, như thực
tánh" và tùy duyên hóa độ chúng sanh, vì không còn có gì
ngăn trở bước chân của người hành giả. Do đó, trong phẩm Pháp Định thứ hai mươi bảy của kinh Hoa Nghiêm
viết: "Chư Phật tử! Đại tam
muội nầy thể tánh bình đẳng không phân biệt, có thể làm cho Bồ-tát
biết bất khả thuyết bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha tưởng sai
khác và khi đã rõ biết như vậy, liền khiến chúng sanh được mười thứ
bất không. Đây là mười:
1- Kiến bất không,
vì làm cho chúng sanh
phát sanh thiện căn. 2- Văn bất không,
vì làm cho chúng sanh được thành thực. 3- Đồng trụ bất không, vì làm cho chúng sanh tâm điều phục.
4- Phát khởi bất không, vì làm
cho chúng sanh làm đúng như lời, thông đạt tất cả các nghĩa. 5-
Hạnh bất không, vì làm cho vô biên
thế giới đều thanh tịnh. 6- Thân cận bất không, vì ở chỗ bất khả thuyết chư Phật, làm dứt nghi ngờ cho bất
khả thuyết chúng sanh. 7- Nguyện bất không, vì theo sở niệm của chúng sanh khiến làm việc cúng dường
thù thắng, thành tựu các nguyện. 8-Thiện xảo pháp bất không, vì làm cho đều được trụ nơi trí thanh
tịnh giải thoát vô ngại. 9- Mưa pháp vũ bất không, vì nơi bất khả thuyết căn tánh chúng
sanh, phương tiện khai thị hạnh nhất thiết trí khiến trụ Phật đạo. 10-
Xuất hiện bất không, vì hiện vô
biên tướng, làm cho tất cả chúng sanh đều được soi sáng."
Chủng tự đã xuất
hiện trong giai đoạn nầy. Vì là thể tánh của chân ngôn, nên
mỗi chủng tự thấy riêng biệt nhưng lại dung chứa chung tất cả. Chủng
tự lại là biểu hiện hay tiếng nói
im lặng của Chân Tâm. Do đó, quán tưởng và chứng đắc chủng tự
tức nhảy thẳng vào trong Tánh giác, phá bỏ hàng rào Năng Sở, Bỉ
Thử, Có Không...tịch nhiên trong cõi hư không bao la vô tận của Tâm.
Kim cang bộ biểu lộ bằng chủng
tự là Hùm
(
) vì chủng tự nầy tổng nhếp
tất cả chân ngôn, bao gồm Ba môn giải thoát như :1- Không giải thoát môn. 2-Vô tướng giải thoát môn. 3- Vô nguyện giải thoát môn. Hùm tụ
nơi quả tim, ánh sáng màu xanh, bao gồm cả Từ và Bi. Chữ Hùm tức
Pháp thân, và Báo thân (A) và Hóa thân (
Chủng tự là Om- Ah Hum ( ).
bao gồm:
- Om ( ) là Đức Trí của
thân hay Kim cang thân nghiệp và là khởi nguyên của vũ trụ vạn hữu
hay Phật Tỳ-lô-giá-na, tượng trưng cho Hóa thân, là Kim cang thân
nghiệp.
- A ( ) .Trong những đợt sóng sanh tử luân hồi,
khi tiếng khóc của bé sơ sanh ra đời, chào đón cuộc đời mới bằng
chữ A. Khi vừa sanh ra là chúng ta đã đang bước đi lần vào cửa tử,
để nói lên cuộc đời là vô thường, biến đỗi. Chữ A cũng có nghĩa
là bất, vô, phi. Cho nên, trong A tự quán có tác dụng: 1-
Vì vốn không sanh, nên dứt tai
ương. 2- Vì vôn không sanh, nên đầy đủ tất cả công đức, làm tăng ích. 3- Vì vốn không sanh, nên
tất cả tội đều không thật, tạo hàng
phục. 4- Vì vốn không sanh, nên các pháp đều không sanh, khiến nhiếp triệu. Cho nên, chữ A là Như
Lai Vô Lượng Thọ, tức Báo thân, thuộc Kim cang ngữ nghiệp
- Hùm ( ):Vì chữ Hùm tổng
nhiếp Kim cang bộ, nên đó là Trí tuệ Bát nhã, thấu rõ các pháp và
từ chủng tự này xuất sanh tất cả vạn hữu từ cõi sắc đến Vô sắc
cho đến chư Bồ tát, chư Phật. Vì thế, nên Hùm là Như Lai Bất Động,
tức Pháp thân, thuộc Kim cang tâm nghiệp. Do đó, khi nhập vào chủng
tự Hùm tức nhập vào Trí tuệ Ba-la-mật, tức hiện chứng bồ-đề, tức
đắc Vô sanh tam muội, vì Trí tuệ Kim cang nầy là vô đẳng, vô thủ, vô
trước, vô trụ, vô biểu tướng, tức là hư không bình đẳng tất cả trí vô sở đắc.
Trong Đàn (Mandala) của Kim cang bộ
được phân bố như sau:
-
Trung ương : Như Lai Đại
Nhật.
-
Đông phương
: Như Lai A-súc
-
-
Bắc phương : Như Lai Bất Không Thành Tựu
-
Tây phương : Như Lai Vô Lương Thọ
Kim cang bộā lấy Hàng Tam Thế Tôn
làm Giáo lệnh luân thân vì Chư Phật và Bồ tát vẫn thường dùng 2
thân như Chánh pháp luân thân
với hình tướng đầy đủ đức tướng trang nghiêm, từ bi hòa nhã. Nhưng
nếu vì lợi ích chúng sanh hay vì giữ gìn chánh pháp, lại hiện thân Giáo lịnh luân thân với hình dáng
phẩn nộ, kinh sợ v.v...để hàng phục các ma oán làm chướng ngại. Kinh
còn nói Hàng tam thế minh vương là hóa thân của Phật A-súc-bệ,
khiến trừ nội ngoại ma, chặt đứt phiền não tam độc và có sức gió
thổi dẹp các chướng. Tất cả các phiền não, nghiệp chướng nầy đều
xuất phát từ Tâm, cho nên Phật A-súc-bệ dùng Xúc-địa-ấn tay buông
thõng xuống chạm đất, đại địa đều rúng động để nói lên ý nghĩa ánh
sáng của Trí tuệ rọi chiếu vào vọng tâm, thì bao nhiêu nghiệp thức
đó đều tan biến tựa như bị hàng phục và nhiếp hóa, đó là Vô chướng
ngại pháp giới tâm. Và cũng bởi vì Chân tâm không ngoài vọng tâm,
nên hành giả tu Kim cang bộ thường dùng sức quán tâm thành vầng
trăng tròn sáng làm cho tâm cảnh sáng suốt. Trong tâm hành giả
tượng hình như trái tim tám cánh dụ như tám thức ứng với tám vị Phật
ở tám phương. Khi Thức trở thành Trí thì toàn thể là Vô cấu Tịnh thức,
và tâm cảnh sáng suốt, không loạn, nên tượng hình như hoa sen nhiếp
trì chày Kim cang
Mật giáo cũng như các tông phái
khác trong đạo Phật, nhưng lại đưa ra nhiều phương tiện thiện xảo để
tùy căn cơ chúng sanh mà độ hay hướng dẫn giải thoát. như " Trước dùng dục câu dắt, sau dùng trí
để độ". Đó là lý do tại sao trong Mật giáo có biết bao
nhiêu là câu chân ngôn đáp ứng nhu cầu của con người như chú cầu
Vãng sanh, chú cầu Tài bảo, quan chức, cầu con, cầu trí tuệ, cầu
thần thông...Tất cả chẳng qua vì bi nguyện hay tình thương rộng lớn bao
la, chẳng thể nhìn thấy sự đau khổ bức thiết của con người mà làm
ngơ được. Phải chăng đây cũng chính là hình ảnh của Bồ tát Quán thế
âm biến ra bao nhiêu là thân hình để độ chúng sanh.
Tuy nhiên, đến với Mật giáo sau
khi đã tắm mình trong Hiển giáo. đừng nghỉ rằng phải là những câu
chú như là Nhất tự (Brum), Lục tự (
Dĩ
nhiên, không phải nói hoài về Tánh không là hiểu và thâm
nhập được Tánh không. Đó là một kinh nghiệm thực chứng, càng đi sâu
vào tâm thì nhận thức được bản thể hay hư không vô tận của muôn
vật hay mọi tâm pháp. Đó là đoạn đường đi thật đơn giản nhưng lại
vô cùng thâm sâu như đã nói rõ ràng trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Tịnh
Hạnh thứ mười một: "Lúc bấy
giờ Bồ tát Trí Tuủ hỏi Bồ tát Văn-thù-sư-lợi rằng: Bồ tát làm thế
nào được thân ngữ ý không lỗi lầm, không tổn hại, không hữu hoại,
không dao động, được bất thoái chuyển, được vô nhiễm, thanh tịnh? Bồ
tát làm thế nào để mình là chỗ y tựa, cứu độ, chỗ về, chỗ đến,
là đuốc, là sáng, là soi, là dẫn đạo, thắng đạo, phổ đạo cho tất
cả chúng sanh?
Bồ tát
Văn-thù-sư-lợi trả lời rằng: " Nếu Bồ tát khéo dụng tâm, thời
được tất cả công đức thắng diệu, nơi Phật pháp được tâm vô ngại,
trụ nơi đạo của tam thế chư Phật, nương theo chúng sanh thường không
bỏ rời, thông đạt các pháp tướng, dứt các điều ác, dầy đủ hạnh
lành, sẽ được hình sắc như Bồ tát Phổ Hiền, đầy đủ các hạnh, được
tự tại. Do đó, nên dụng tâm rằng:
-
Ở nhà,
nên nguyện chúng sanh biết nhà tánh, không khởi sự bức ngặt.
-
Hiếu thờ
cha mẹ, nên nguyện chúng sanh kính thờ chư Phật, hộ dưỡng tất cả.
-
Nếu được
ngũ dục, nên nguyện chúng sanh nhổ mũi tên dục. rốt ráo an ổn.
-
Nếu có
bố thí, nên nguyện chúng sanh bỏ được tất cả, lòng không ái trước
v.v..".
Tất cả
những lời nguyện nầy được thực hành ở
trong Thiền môn như Tỳ-ni nhật
dụng, trong mọi nơi chốn, chỗ sạch cũng như chỗ dơ và trong các oai
nghi như đi, đứng, nằm, ngồi (hành trụ, toạ, ngọa). Không phải chỉ có
bấy nhiêu kệ thôi, nhưng còn rất nhiều, rất nhiều bài kệ khác nhau
để thích ứng với mọi tâm thức biến chuyển của con người. Khởi lên vọng
tâm như thế nào, thì có bài kệ tỉnh giác để cảnh sách thích ứng. Cho
nên, nếu tâm còn nhiều vọng động, lăng xăng duyên theo ngoại cảnh
hay chạy theo sáu trần, thì những bài kệ nầy giúp hành giả giữ tâm
không tán loạn để nhập vào trong chánh định. Như đã nói trên, tất
cả đều do tâm biến hiện. Cho nên, những bài kệ trên chỉ là phương
tiện để dẫn dắt tâm, cho đến một lúc nào, tùy theo sức định, một
sự đột biến nào đó thức tĩnh tâm hành giả, làm bùng vỡ cả đại
địa, vừng trăng Thủy giác từ xa xưa lại hiện về. Cái Tâm đó trống
không vì tịnh lặng, không còn mảy may bóng trần, vạn pháp ung dung vui
đùa như một trò "Du hý thần
thông". Người hành giả hành trì chân ngôn cũng cùng một ý
trên. 1- Cần phải khởi Phát tâm
tức sơ phát tâm Bồ-đề để cầu quả Phật. 2- Hành trì bằng tam mật tương ưng để hướng về Phật đạo. 3-
Chứng Bồ-đề do nhân hướng giải
thoát, nên đạt quả đức. 4- Đắc Tất
địa do quả hưởng được và 5- Sức Đại
nguyện tức đem phương tiện cứu cánh viên mãn của bốn đức trên
mà làm lợi ích chúng sanh. Đặt nền tảng trên Năm căn bản đức ở
trên, người hành giả khéo thôi thúc cái tâm để duyên theo một Thần
chú, miên mật để nhờ sự gia - trì
của Bổn tôn từ tâm hiện ra, làm dứt mọi vọng niệm và làm hiển
lộ Trí giác Kim cang của mình. Đây là một hành trạng của một cùng
tử trở về nhận lại gia tài từ người cha thân yêu. Nhận lại, có
nghĩa là gia tài đó của mình mà mình đã để quên lâu ngày trong góc
nào đó, nay vì thấm thía sự đau khổ, trầm luân của kiếp người, mà
nhớ tìm lại.
Chúng ta lại đi đến một vấn đề
là: Nếu nói đạo Phật là con đường đưa đến Giác ngộ. Câu hỏi đặt ra
la:ų Giác ngộ cho ai? Điều đó, muốn nói đến con người, dù trên Lý
vẫn nói: Tình dữ vô tình, đồng
thành Phật đạo, nhưng con người là cao cả nhất. Tất cả kinh điển
của đạo Phật được gọi là " Chư Pháp Thắng Nghĩa = Paramartha )
đều vì mục đích duy nhất là " Chỉ
đường cho con người đạt đến hoàn toàn giác ngộ " Tuy mỗi con
người đều có tiềm ẩn Chân Tánh kiên cố bất hoại, nhưng vì vọng tâm
tạo thành chấp thủ, kiến thủ quyện nhau và dày lên theo nhiều đời
nhiều kiếp trong sanh tử luân hồi. Những nội kết nầy tạo nên mỗi
đời người đều có biệt nghiệp trong cái cộng nghiệp của cộng đồng nhân
loại, và tạo thành căn cơ hoàn toàn sai biệt. Cho nên, Đức Phật
dùng mọi phương tiện để đưa chúng sanh đến bờ Giác. Qua Kim Cang Bộ
là điểm xoáy mạnh vào chiều sâu của A-lại-gia thức như thanh gươm
báu trí tuệ đốn ngả hết những gốc rễ vọng niệm chất chứa ở trong
và mọi hình thái của nghi quỷ cũng như ấn pháp, linh phù, kiết giới,
quán tưởng, phụng thỉnh, sám hối, phụng tống v.v...cũng chỉ là để
thanh lọc thân tâm để nhảy vào biển Tỳ-lô Tánh hải hay Pháp thân.
Thâm hiều và thực hành Kim cang Bộ là bước đi những bước vào chiều
sâu thăm thẳm của Cái Tâm để nhận ra Chân lý hay Cái Không tự
tánh của mọi Pháp, mọi Tâm. Cho nên, trong Kim cang bộ, sự quán
tưởng, ngoại nội hộ ma, Ấn pháp, Linh phù... được thành lập vì để
đối trị với vọng thức, vọng nghiệp. Có
thể là quán tưởng chủng tự LAM (
) như ngọn lửa đốt cháy từ đỉnh đầu xuống tới chân hành giả
biến thành vi trần, tưởng thân uế thành thân thanh tịnh. Có thể là
quán vị Bổn tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, ban cho hành giả những pháp
yếu linh dược. Có thể là quán tưởng vị Sứ giả Bất Động hay Đồng tử
v.v.. xuất hiện để sai khiến . Từ tư tưởng, từ tâm trở thành
hiện thực. Trước vì vọng tâm làm cho sai lạc, thấy giả cho là chân,
thấy vô thường cho là thường v.v..Nay, cũng từ vọng niệm đó, thành
sự quán tưởng thanh tịnh chuyển hóa vọng niệm thành Chân niệm và từ
Chân quán nầy, hành giả sẽ đắc định. . Nhung, dù cho sự quán tưởng
được thành tựu, đó cũng chỉ là một khối tư tưởng thanh tịnh, trong
sáng và cũng cần phải xả bỏ. Nếu không, chúng ta sẽ rơi vào sự
chấp thủ khác, dù là thanh tịnh. Cũng như một nhà bác học do tư
tưởng nên sáng chế ra những sản phẩm vật chất và sản phẩm nầy như
một thành tựu của tư tưởng. Nhưng, nếu vì coi trọng sản phẩm nầy và
cho là cứu cánh, nhà bác học đó đã đóng khung tư tưởng của mình
trong sự hạn hẹp, nhỏ nhoi của hiện thực, trong khi thực tại thì rộng
bao la vô tận. Cho nên, cứu cánh là đắc Định, từ đó sanh ra Tuệ giác
nhìn thấy rõ Đất tâm và giải thoát khỏi vọng chấp, vô minh. Nếu
tâm thanh tịnh, không vướng mắc, vạn pháp sai biệt kia đều tiêu tan
như bọt sóng trong biển cả, hòa lẫn vào lòng đại dương bao la của
Pháp thân.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Tâm người như thợ vẻ, tạo vô số ngũ
ấm. Tất thảy trong thế gian không pháp nào không tạo, ngay cả tâm
Phật cũng vậy. Như Phật và chúng sanh, tâm Phật và chúng sanh, đều
không sai biệt. Cho nên, vì còn mê nên gọi là chúng sanh, ngộ
là Phật hay ngoài tâm không có chúng sanh hoặc ngoài tâm cũng không
có Phật
Con người là chủ nhân của hạnh
phúc hay đau khổ của đời mình. Tất cả đều hàm ẩn trong A-lại-gia
thức (Tâm địa) và từ nơi đó, đâm chồi nẩy nở đều tùy thuộc vọng
chấp hay cái tưởng của con người. Chỉ khi nào phiền não hay nghiệp
chướng không chỗ đất để sanh trưởng, thì khi đó mới đắc được Tánh
không, mới đạt được Tánh trí bình đẳng, và do đó mới thể nhập được
Chơn lý bình đẳng. Khi đã trực nhận được Tánh không qua Trí Ấn mầu
nhiệm của Kim cang bộ, hành giả mới thực sự phát cái tâm nầy vì
lợi ích cho chúng sanh và đi trên đường thênh thang của Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác
Tuy nhiên, đây là một lộ trình
dài đăng đẳng tùy theo tâm niệm và do vì mỗi người đều mang theo bao
nhiêu là nghiệp thức, do vô minh sai lầm từ bao nhiêu kiếp. Tất cả
đều do lòng tham đắm, yêu thích và bám giữ sanh ra. Ái dục hay Khát
ái (Trishnã) thường đi cùng vô minh và nghiệp, vì từ đó sanh ra phiền
não, khổ đau. Ái dục được chia làm
3 loại như: 1- Dục ái là sự khát
khao thu tiếp không cùng tận 2- Hữu ái do từ dục ái sanh ra, không
bao giờ thỏa mãn 3- Vô hữu ái là vì nghỉ rằng chết là hết, nên
thường hưởng lạc. Vì ái dục, nên đưa đến tình trạng sống bất an, sợ
sệt.
Sự sợ hãi, bất an thường làm cho
những bất thiện khởi lên theo mười sáu trường hợp sau đây như trong
Kinh Sợ hãi và Khiếp đảm (Bhayabherava Suttra) kể:
1-Thân nghiệp
không thanh tịnh. 2- Khẩu nghiẹāp không thanh tịnh. 3- Ý nghiệp không
thanh tịnh. 4- Mạng sống không thanh tịnh. 5- Ái dục và tham dục mãnh
liệt. 6- Tâm đầy sân hận và ác ý. 7- Bị chi phối bởi hôn trầm,
thụy miên. 8- Tâm thường giao động, không an tịnh. 9- Hay do dự, nghi
ngờ. 10- Tự tán hủy tha = khen mình chê người. 11- Run rẩy sợ hãi. 12-
Tham đắm lợi danh. 13- Lười biếng, không tinh tấn. 14- Không giữ niệm.
15- Tâm tán loạn. 16- Ngu độn si ám.
Nếu tâm thường vướng mắc, cưu
mang như những trường hợp trên, thì dù sống trong rừng sâu, trú xứ xa
vắng, trong thành thị hay bất cứ nơi đâu, cũng đều cảm thấy bất an,
sợ hãi. Bởi vì chúng ta sợ cái rỗng không, tỉnh lặng, bình dị
v.v...nên bằng cách gom góp, vun xới, bồi đắp cho gia tài hiện hữu,
nên tâm thường trực tranh đấu, bất an, lo sợ. Làm sao tránh được tâm
bất an nầy? Phải nhận rõ đó chỉ là những bóng trần xuất hiện của
tâm thức, rỗng không. Khi tâm thanh tịnh, thì những huyễn cảnh kia sẽ
diệt như những đợt sóng trào dâng, nay trở lại lặng lẽ hiền hòa
trong lòng đại dương bao la.
Kim cang bộ đặt lại vấn đề nhận
thức của con người, vì đó là Trí tuệ xuất phát từ Chân tâm hay Tánh
Trí Bình Đẳng, đưa mọi người đến và trở thành một con người bình
thường trong cuộc đời ô trược nầy, nhưng siêu thoát, an lạc, vượt
lên trên tất cả mọi tâm cảm, xúc cảm bệnh hoạn. Nếu không thoát
khỏi những xáo trộn của tâm thức, mặc dù đã hiểu rằng đó chỉ là
giả hợp, hay nghiệp chướng hoặc là vọng, thì con người vẫn còn đắm
mình trong vòng vị kỷ.
Khi nhận thức được sự đau khổ và
sự mõng manh giới hạn của kiếp người, khi biết rằng trong chiều sâu
của nội tâm, có một cái thường
hằng, bất sanh bất diệt hay Phật tánh. Tánh đó thoát ra khỏi mọi
nghiệp lực. Chúng ta đến với đạo Phật khi đã nhận chân được điều
nầy và khi đi sâu và tắm mình trong Hiển giáo, tìm cho mình một Đạo
lộ dấn bước. Người hành giả sau đó, đến với Mật giáo với tâm đại
bi- đại nguyện. Không có hai tâm nầy vì nẩy sanh ra từ trình độ thâm
nhập chân tâm, thì người hành giả chỉ lao đầu để ôm từ những ảo
tưởng nầy qua những ảo tưởng khác, dù được khoác lên trên đó là
thần thông, pháp thuật hay gì đi nữa, vì đã biến Mật giáo- một tông
phái đặt nặng trên thực tu và thực chứng và Tất địa là cứu cánh,
thành một trò ảo thuật rẻ tiền. Tất cả chỉ là phù phiếm, rỗng
không, chỉ một cơn gió thoảng qua có thể xô đẩy hết tất cả thành
trì, dù là vô cùng kiên cố vì được xây đấp lâu đời của thành kiến
về ngã chấp.
Cho nên, người hành giả cần phải
phát nguyện: Ngã kim phát tâm bất
vị tự cầu nhân thiên phước báu, Thanh văn, Duyên giác nãi chí quyền
thừa, chư vị Bồ tát, duy y tối thượng thừa, phát bồ-đề tâm, nguyện
dữ pháp giới chúng sanh nhất thời đồng dắc
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-miệu-tam-bồ-đeą.(Annuttarasàmasambudhi). Chỉ
có Vô thượng Chánh đẳng chánh giác hay Tối thượng thừa., đó chính
là vị Thượng sư Kim cang cần phải quy y, đạt tới và là niềm đam mê
tuyệt vời của người hành giả tu Mật giáo cần phải xả thân chứng
đắc và vì lợi ích hoá độ chúng sanh.
Qua sự trình bảy ở trên, chúng
tôi muốn nói một phần sự hiểu biết nhỏ nhoi của mình về Mật giáo
và Kim cang bộ chỉ là một phần của tổng thể tông Bí Mật hay một
phần nhánh trong tâm thức của một con người hay một hành giả. Từ Trí
tuệ sáng suốt nầy, làm tâm của hành giả rủ bỏ tất cả những phiền
não, nghiệp chướng v.v...những đám mây vô minh tự lâu đời lâu kiếp
bao phủ, dù nó không có thực tánh,
nhưng vì chấp thủ do ái dục, nên trở thành thực theå- sẽ tan biến
đi dưới ánh sáng của Như Lai Đại Nhật. Và tấm kiếng Chân tâm nầy
soi rõ tất cả mười phương thế giới, vô lượng vô biên các cõi vi
trần...và nhận rõ tất cả như ràng buộc nhau, trong nhau và có nhau
như tinh thần Kinh Hoa Nghiêm Cái
nầy có, cái kia có. Cái nầy không, cái kia không. Từ nhận thức
triệt để nầy, giáo lý duyên sanh (Paticcasamupàda) giúp nhìn thấu rõ
tánh rỗng không hay vô ngã của mọi tâm pháp, người hành giả mới
đủ năng lực để vào đời làm lợi ích chúng sanh.
Xã hội càng ngày càng nhiều
biến chuyển, nhất là trong thời buổi thông tin thần tốc như hiện nay.
Một xã hội sản sinh ra trào lưu xem phương tiện là cứu cánh, chỉ cần
ôm thủ cho thật nhiều tiện nghi và quên mất phần tâm linh. Chúng ta
sợ hãi, lo lắng, nên cố tạo ra những phần nổi bám vào để vá víu
cho cái nội tâm bệnh hoạn, trống vắng. Càng trống vắng, càng thấy
cô đơn, bơ vơ dù đang chất chứa nhiều của cãi hoặc kiến thức, và
càng cô đơn, ta càng có nhiều tưởng tượng và tạo thêm nhiều sản
phẩm, tiện nghi để chiếm hữu. Đó là cái hữu ngã được tăng trưởng
và tạo thành bởi ái dục, bởi tham sân si. Phải chăng chúng ta đã
đầu tư quá nhiều cho sự tiến bộ của kỹ nghệ để tạo ra những tiện
nghi vật chất và để rồi bị điều kiện hóa hay tha hóa bởi chúng, vì
ta thiếu sót trong việc đầu tư thêm về tinh thần? Xã hội bị kỹ nghệ
hóa thiếu phẩm chất tinh thần, tạo nên những xung năng (Pulsion),
những sự dồn nén (Repression), những sự căng thẳng tinh thần (Stress),
tạo nên những tâm trạng hoang mang, tư lự, khó khăn trong sự sống
toàn diện của con người. Nói lên
điều đó không có nghĩa là chúng ta chống xã hội, chống sự tiến bộ
của nhân loại, nhưng chỉ muốn đặt lại sự quân bình cho sự tiến bộ
xã hội. Dù là mang hia thần kỳ mau lẹ, nhưng cũng cần phải đi bằng
đôi hia hoặc bằng hai chân Vật chất lẫn Tinh thần. Con người là một
tổng thể hài hòa, quân bình về cả hai phương diện như trên mới đạt
được hạnh phúc. Chúng tôi thường đi du lịch hằng năm và đã thăm
viếng qua nhiều quốc gia với những nền văn hóa khác nhau. Có những
quốc gia kiến tạo những nơi chốn biểu hiện rực rỡ nền văn hóa kỳ
diệu như thành phố
Tuy nhiên, tôi cũng đã nhìn thấy
biết bao nhiêu là hình ảnh đẹp tuyệt vời, đầy nhân tính của những
con người mang đầy sự hy sinh, những con người rất bình dị trong cuộc
đời, đã quên mình chỉ vì mục đích giúp tha nhân. Họ có thể là những
người mẹ tận tụy, hy sinh cả cuộc đời và chia xẻ gánh nặng với
chồng vì gia đình và sự nuôi dưỡng đàn con nên người, Của những
nguờì cha với những giọt mồ hôi đổ xuống như những giọt nước mắt vì
hạnh phúc, tương lai của mái ấm gia đình. Của những đứa trẻ bán báo
hay làm bất cứ nghề gì để kiếm thêm tiền phụ cho bữa ăn của gia
đình đang túng thiếu. Của những cặp tình nhân đang yêu nhau tha thiết,
dám hy sinh tất cả, ngay đến sinh mạng để đạt được tình yêu và sống
bên nhau Của những nhà giáo tận tụy trao truyền kiến thức, đạo đức
vì tương lai của những mầm non đất nước. Những nhà văn viết lên
những tác phẩm chuyên chở những nội tâm, những trăn trở về cuộc
đời. về thân phận, về cuộc sống làm sao cho có ích lợi, ý nghĩa
v.v..lưu truyền lại cho đời. Những nhà viết sử chân chánh viết lại
tất cả những gì đúng sai của lịch sử một cách trung thực để làm bài
học kinh nghiệm hữu ích cho các thế hệ mai sau. Những nhà làm thiện
nguyện đi đến các làng mạc hẻo lánh, nơi nghèo khó, trại tỵ nạn
hoặc nơi đang có chiến tranh chết chóc v.v..để săn sóc, an ủi, chia
xẻ nỗi đau khổ với đồng loại bằng tất cả sự chân tình. Những nhà
làm chính trị tìm các phương kế để làm rạng rỡ dân tộc và làm cho
dân chúng được an cư lạc nghiệp v.v..
Còn những người mệnh danh là con
Phật, chúng ta sẽ làm gì? Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni đã bỏ tất cả
ngai vàng điện ngọc, tột đỉnh giàu sang, vợ đẹp con khôn... để tìm Con đường hạnh phúc chân chính cho
muôn loài chúng sanh. Cuộc đời Ngài là một bức tranh hùng tráng,
một bài thơ đẹp dài vô tận mà không có gì có thể diễn tả hết
được và Đạo lộ mà Ngài tìm ra, mở rộng thênh thang chung cho tất cả
mọi loài hữu tình- không phân biệt
màu da, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, quốc gia... nếu muốn đạt
Giác ngộ và thành Phật như Ngài. Chúng ta vì lòng cảm khái, tôn kính
vô cùng trước hình ảnh Đức Phật và nhận thức rằng mình cũng có
Phật tánh, nên đến với đạo Phật và bước chân trên Đạo lộ đó. Đạo
Phật nói chung, hay Mật giáo nói riêng, đòi hỏi mỗi người phải thực
tu, thực chứng vì đó không phải là tư tưởng triết lý suông, mà là
con đường Kiến Tánh thành Phật. Trong phẩm Minh Pháp thứ 16 của Kinh
Hoa Nghiêm có nói: " Người thực
hiện hạnh Bồ tát nên an trụ bất phóng dât, an trụ vô sanh nhẫn, an
trụ đại từ bi, an trụ đầy đủ các môn ba la mật, an trụ đại hạnh,
đai nguyện, an trụ xảo phương tiện, an trụ dũng mãnh lực, an trụ trí
tuệ quán sát tất cả các pháp đều vô trụ như hư không. Cho nên, Bồ
tát phải khéo quán sát tùy nơi mình có tất cả pháp môn, có thậm
thâm trí tuệ, tùy nhơn đã tu, tùy quả đã được, tùy cảnh giới hay
tùy lực dụng hoặc tùy chỗ thị hiện của mình, tùy mình phân biệt,
tùy mình đã được, đều khéo quán sát biết tất cả các pháp đều tự
tâm sanh mà không sở trước. Biết được như vậy là vào Bồ-đề địa hay
khéo an trụ. Do đó, Bồ tát cần: Một là khéo viên mãn hạnh
phước-trí, hai là trang nghiêm đạo ba-la-mật, ba là tí tuệ sáng suốt
chẵng tùy tha ngữ, bốn kính thờ thiện hữu luôn không xa lìa, năm
thường hành tinh tấn không giải đãi, sáu khéo an trụ Như Lai thần
lực, tu không mõi mệt các căn lành, tám là thân tâm lợi trí dùng
các pháp đại thừa để tư trang nghiêm, chín là đối với các môn của
các địa tâm không trụ, mười là đồng một thể tánh với thiện căn
phương tiện của ba đời chư Phật. Bởi vậy, phải thường siêng năng tu
tập không ngừng nghỉ, không mỏi mệt và dùng đại công đức mà tự
trang nghiêm vào Bồ-tát địa."
Cũng cần nói rõ một lần nữa là
đạo Phật rất chú trọng thực tế, đặt nặng trên sự tu chứng bằng
những bước chân vững mạnh trên nền đất của Tâm. Chúng ta có thể
mang nhiều bằng cấp, nhiều kiến thức với sở học uyên thâm hoặc
hiểu nhiều kinh sách cùng các lý giải v.v.. nhưng nếu trong nội tâm
vẫn còn đầy dẫy sự tham chấp, ích kỷ hoặc hỷ nộ ái ố vô chừng,
thì chúng ta chưa thấm nhuần được giáo lý thâm sâu của Đức Phật hay
là chưa dẫm chân được trên lộ trình của Kim cang giới. Có một ngày
tại chùa Thiền Tịnh ở Thủ Thiêm, Thủ đức- nơi Thầy Thích Viên Đức
hoằng truyền Mật giáo lúc còn sanh tiền. H.T. Thích Phước Trí (tức
Thầy Bổn sư của Thầy Viên Đức) có kể chúng tôi nghe một câu chuyện
sau: " Có một vị Tăng vì đang
thời kỳ tu học, bỗng phát nguyện lớn muốn độ khắp cả chúng sanh vì
quán thấy sự khổ đau của kiếp nhân sanh. Nên, người lên trình với
Thầy mình với ý tưởng như vậy và cầu xin Thầy truyền cho Pháp nào
có thể mau biết được Tha tâm thông để ông biết tâm niệm của mọi
người mà dễ hóa độ. Vị Thầy nhiều lần khuyên can đệ tử nhưng vị nầy
vẫn quyết tâm như vậy. Vì lòng thương và vì muốn dạy cho đệ tử hiểu
được giáo pháp thực sư của đức Phật, nên vị Thầy đồng ý truyền Bí
pháp đó. Sau nhiều tháng chí thành hành trì, vị Tăng đã đạt được
pháp thuật Tha tâm thông tức hiểu biết tâm của mọi người. Nhưng,
cũng từ đó vị Tăng bỗng cảm thấy tự mình đau khổ và rối bời tâm
trí, vì khi gặp người nào và đọc tâm niệm của họ, ông đâm ra sợ
hãi vì những ý tưởng của họ- dù được mang danh dưới hình thức nào-
người hiền hay kẻ ác. Rốt cuộc, chưa độ được ai, nhưng vị Tăng lại
chạy đến Thầy mình và cầu xin được cứu độ. Vị Thầy nói rằng: Nếu
Tâm con chưa an tịnh, còn đầy phiền não, ái dục, tham sân si, thì dù
con có đạt được thần thông nào đi nữa, con vẫn bị đau khổ và luân
hồi vì chính những gì con có."
Cho nên, tùy theo trình độ tu chứng, từng cánh hoa sen của Tâm
thức sẽ nở, cho đến lúc bùng vỡ để biểu lộ cái Chân Không trong
mọi Tâm Vật: Đó là Hoa khai Kiến
Phật. Chúng ta mới cảm thấy lòng Bi Nguyện tràn ngập trong cả
thân tâm. Bấy giờ, trước sự đau khổ vì vô minh, vì hận thù, vì kiến
chấp... của chúng sanh, người hành giả không thể nói: Tôi phải làm, tôi cần làm, tôi muốn
làm vì nầy vì nọ...mà người hành giả chỉ làm vì một sự thật đơn
giản: Sự đau khổ hay hạnh phúc của
kẻ khác chính là hạnh phúc hay đau khổ của chính mình, và hơn nữa, đó
là những vị Phật tương lai cần phải kính trọng, phụng sự. Là
những nhà văn hóa tâm linh, tự chúng ta phải thể nhập được Kim cang
giới, bởi vì Kim cang giới là Trí tuệ Bát-nhã, xuất phát từ sự thực
hành Sáu độ Ba-la-mật (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định, trí tuệ). Cho nên, như đã nói ở trên, Mật giáo thường đòi hỏi
người hành giả phải có Đại bi và
Đại nguyện, nếu không sẽ bị kẹt luẩn quẩn trong những pháp thuật
thần thông, nói gì đến cứu độ kẻ khác. Cặp phạm trù nầy là điểm
tuyệt diệu huyền bí do thể nhập Kim cang giới. Điều đó cũng có nghĩa
bước chân người hành giả phải song hành bằng Phước và Trí để trang
nghiêm thân và là mật nhủ tưới tẩm Tâm từng mỗi sát na. Phải có
tích sản Tâm linh, chúng ta mới có đầy đủ chất liệu an lạc, hạnh
phúc từ nội tâm đem đến cho đời, nếu không, chúng ta sẽ bị vong thân hay chấp trước, rồi chìm đắm
trong những việc làm của chúng ta.
Trong Ngũ Phật Kiết ma ấn, Đức Phật A-súc-bệ dùng Xúc-địa ấn,
tay phải buông thỏng xuống đụng đất như nói lên ý phải tiếp xúc
thẳng vào Bản thể Thanh tịnh nầy thì chất liệu của Phật tâm hay giải
thoát mới lan tràn và hòa nhập cùng hành giả thành một thể và
đồng thời mở rộng tâm bồ-đề kiên cố và sống hoài với Đất Tâm
nầy (Xúc địa) vì tất cả Thánh-phàm, thiện ác, phiền não-Niết bàn
v.v. cũng đều từ đây ra. Cho nên, giải thoát hay thành Phật cũng
phải từ cõi đất Ta-bà ô trược nầy. Đứcų Phật A-súc-bệ (Aksobhya)
là Chủ Bộ của Kim cang bộ tức Như Lai Bất Động. Hiện diện giữa cuộc
đời nầy, Ngài Bất động (chẳng
động) Vô động (không động), Vô nộ (không giận), Vô sân nhuế (không hờn tức) và
chuyển cuộc đời nầy thành quốc độ Hoan hỷ Người hành giả theo bước
chân Ngài, qua Kim cang bộ, phải thể nhập hạnh đức của Ngài làm
Diệu sắc thân của mình, để có cái nhìn thấu suốt bản chất của các
hiện tượng tâm và vật, để từ đó nhận rõ ràng các yếu tố của tâm
như bát phong hay những phiền toái của cuộc đời, tâm thiện hay tâm
bất thiện v.v... chỉ là phân bón thêm cho gốc rễ giải thoát của
mình, đó được gọi là Đối trị Tất đàn. Nhờ vậy, mới giải quyết được
tận căn nguyên, gốc rễ của khổ đau, những nhân tố làm nên khổ đau
và các ảo tưởng sai lầm chấp ngã, mới đầy đủ duyên tố kiến tạo
được cho mình và người một dòng sinh mạng kỳ diệu, để cuộc đời được
an lạc, hạnh phúc thực sự.
Trong Ngũ trí sở sanh, thì Thân nghiệp của Đại viên cảnh trí
Chủ bộ truyền thừa của Bộ Kim cang lại là Ngài Bồ tát Phổ Hiền,
điều đó nói lên sự ứng thân đem đại nguyện- sau khi thâm nhập Kim
cang giới tức Trí tuệ Ba-la-mật- để phụng sự cuộc đời, và nỗ lực
hướng dẫn con người đến Chân Hạnh Phúc. Như đã nói, Đại Hạnh (Đại
Bi) và Đại Trí (Đại nguyện) là lý tưởng tinh thần của người hành
giả Mật giáo hay Bộ Kim cang.
Để kết luận cho bài Tiểu luận Kim cang
bộ hay Tánh không trong Mật giáo nầy, chúng tôi xin đón nhận mọi sự
phê bình hay góp ý về những gì đã được trình bày ở trên. Vì căn cơ
kém cỏi, hơn nữa đối với sự huyền diệu, thâm sâu, bao la của giáo
pháp Đức Phật nói chung, của Mật giáo nói riêng, sự hiểu biết của
tôi chỉ hạn hẹp như hạt cát so với số cát của sông Hồng. Tuy nhiên,
vì lòng tin tưởng, hâm mộ và có duyên với Tông phái Bí Mật nầy,
tôi mạo muội viết ra những gì mình nhận thức được. Cầu xin cho Trí
tuệ sắc bén như Kim cang nầy được khai triển sáng rực rỡ trong tâm
của mọi người, ở khắp mọi nơi nơi. Trong cuộc sống của con người,
bấy lâu nay chúng ta đã chấp Tự ngã như một sự hiện hữu thực sự
và để rồi tham chấp nó và quên rằng Tự ngã chỉ là một dòng sóng
ý niệm của Sắc (thuộc phần vật chất) và Danh tức là Tâm (thuộc
phần tinh thần như thọ, tưởng, hành, thức). Cố gắng để đạt được
nhận thức Tự ngã chỉ là duyên sanh duyên hợp, là một chặng đường
rất gay go, đòi hỏi phải nhẫn nhục, phải tinh tấn, phải bố thí, phải
trì giới, phải thiền định. Để từ đó, ánh đèn trí tuệ của Kim cang bộ
mới tỏ hiện, tất cả mọi người mới thực sự nhận rõ được chân
tướng Vô thường, Khổ, Không Vô ngã của mọi vạn pháp, nên đồng đem tấm lòng chung sống, đối với và chia
xẻ nhau trong tinh thần Kim cang giới.
Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành
cảm tạ và cáo lỗi đến những vị Thầy, những bậc thức giả, học giả
v.v..đã có những tác phẩm tuyệt diệu mà qua đó, tôi đã đọc lấy ý
tưởng, cắt xén hay trích đoạn ...để soạn thành tập Tiểu luận nhỏ bé
này.
Xin trân trọng cảm ơn.
Viết xong ngày 12.05.2001
kỷ niệm ngày đứa con gái tôi
Nguyễn Hà Bảo Vương
tốt nghiệp
at
Viết tại thất Thanh Minh,
thành phố
NHỮNG
SÁCH THAM KHẢO
-
Thiền
luận của Thiền sư Daisetz Teitoro Susuki. Dịch giả Tuệ Sỹ, 1970.
-
Khảo
nghiệm Duy thức học. Soạn giả H.T. Thích Thắng Hoan, 1992.
-
Trung quán
Luận của Nagarjuna. Biên dịch & Giải thích: H.T. Thích Quảng
Liên, 1994.
-
Đại thừa
Phật giáo Tư tưởng luận của Kimutra Taiken. Dịch giả H.T. Thích
Quảng Độ, 1969.
-
Kinh
Tô-tất-địa. Dịch giả Thầy Thích Viên Đức.
-
Pháp hoa
Huyền nghĩa do Chánh Trí Mai thọ Truyền. Ấn quán sao Mai 1964.
-
Kinh Đại
thừa Bản sinh Tâm địa quán. Dịch giả H.T. Thích Thanh Cát, 1989.
-
Nagarjuna's
Letter. Translated by Geshe Lobsang Tharchin & Artemus B. Engle,
1979.
-
Kinh Uế
Tích Kim cang. Dịch giả Thầy Thích Viên Đức, 1974.
-
Hiển Mật
Viên thông thành Phật Tâm yếu. Dịch giả Thầy Thích Viên Đức,
1972.
-
Shingon-
Japanese Esoteric Buđhism. Tác giả Taiko Yamasaki, 1988.
-
A manual of
Ritual Fire Offerings. Tác giả Sharpa Tulku & Michael Perrott,
1988.
-
Kinh Kim
Quang Minh. Dịch giả H.T. Thích Thiện Trì, Pl 2515.
-
Trung Luận. Dịch giả
Sư cô Thích nữ Chân Hiền, 1974.
-
Kinh Hoa
Nghiêm. Dịch giả H.T. Thích Trí Tịnh, Pl. 2510.
-
Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa giảng lục. Thái Hư Đại sư giảng. Dịch giả H.T.
Thích Trí Nghiêm, 1970.
-
Kinh Tô bà hô Đồng tưū. Dịch giả
Thầy Thích
Quảng Trí, 1982.
-
Triết học
về Tánh không. Khảo luận:Tuệ Sỹ
1970.
-
Lược sử
Phật giáo Ấn độ. Biên soạn Thầy
Thích Thanh Kiểm, Pl 2523.
-
Phật học Từ diễn của Cư
sĩ Đoàn trung Còn,
1963.
-
Từ điển
Phật học Hán Việt của GHPGViệt
-
Tư tưởng
Lão Trang trong Y thuật Đông phương
của BS Trần văn Tích, 1974.
-
Đông y
Xybecnêtic. BS Trần văn Tích, 1981.
-
Thời châm
cứu học. BS Nguyễn văn Thang, 1982.
-
Orderly
Chaos của Chõgyam Trungpa, 1991.
cùng các kinh sách trong Mật
tạng PG Việt