TIỂU LUẬN
BẢO
BỘ
HAY
SỰ KHAI TRIỂN
PHẬT CHẤT ĐỂ ĐÓNG GÓP CHO
NỀN VĂN HÓA TÂM LINH CỦA NHÂN
LOẠI
- Kính
dâng lên chư Tổ, Ân sư Thích
Viên Đức,
Thích Quảng Trí
và những hành giả Du già,
đã và
đang âm thầm
nuôi dưỡng, duy trì và phổ
biến Mật
giáo tại Việt
- Kính tri
ân những tác giả các quyển
sách mà tôi
đã trích
đăng hay tham khảo khi viết bài
tiểu luận
nầy.
- Thương
tặng Thanh- người vợ và là
người bạn đạo
đồng hành.
"Trong
tất cả các pháp, tâm dẫn
đầu, tâm là chủ, tâm tạo
tác tất cả. Nếu đem tâm ô
nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc
hành động, sự khổ sẽ theo
nghiệp kéo đến như bánh xe lăn
theo chân con vật kéo xe. Nếu đem
tâm thanh tịnh tạo nghiệp nói năng
hoặc hành động, sự vui vẻ theo
nghiệp kéo đến như bóng theo
hình"
( Kinh Pháp cú,
phẩm Song yếu).
Tùy
duyên sự sự liễu
nhật dụng
hà khiếm thiểu?
nhất
thiết đản tầm thường
tự
nhiên bất điên đảo
Nghĩa:
Tùy duyên mọi
việc xong
hàng ngày đâu
sợ thiếu
tất cả là tầm
thương
tự nhiên hết
điên đảo
Thiền sư Chân Tịnh
Một buổi
chiều, sau một ngày đi làm về
mệt mỏi, tôi nằm trên bộ salon
ở phòng khách, thư giãn. Cố
để đầu óc trống rỗng
đề xua đuổi đi những va
chạm, phức tạp của đời
sống thường nhật còn vấn
vương. Mỗi ngày, tôi vẫn
thường làm như vậy, như một
cái bình ắc-quy đã bị hao
kiệt sau một ngày sử dụng,
giờ cần bù đắp lại
năng lực. Cuộc đời như
là cái biển bao la, có những
đợt sóng- sóng lớn,
sóng nhỏ. Sóng sau xô đẩy
sóng trước, rồi sóng sau lại
trở thành sóng trước kế
tiếp, nhưng thật ra lòng biển vẫn
yên lặng, dù có những lăn
xăn xao động vẫy vùng nỗi
trên mặt.
Nhìn qua cửa sổ, sau tấm màn.
Bên ngoài, nắng dịu bớt,
không khắc khe như vào lúc
giữa trưa. Không khí chung quanh thật
trong lành, êm dịu. Những dãy
cây vẫn im lìm, vươn lên cao theo
cùng năm tháng; lá đong đưa,
biết rằng đã có những
cơn gió thổi nhẹ. Vài con
bướm lượn nhởn nhơ
trên những đóa hoa hồng,
đậu, bay, đùa giỡn, tạo
thành bức tranh thật đẹp. Thiên
nhiên đã cho con người nhiều
cái đẹp, cái đẹp ẩn sau
những lớp bụi bậm của khổ
đau, phiền toái và chúng ta có
thể nhặt được cái đẹp
ở mọi nơi nơi. Có
người nói rằng: “Khi tâm an tịnh, không mảy may dấu
vết, thì cảnh vật chung quanh sẽ
trở mình sống động, có
hồn”. Có phải như vậy
chăng?
Ngay tại cửa sổ phòng khách,
đặt một cây đàn dương
cầm bằng gỗ “Hồng tâm”.
Cây đàn đã được
mua khi đứa con gái lớn của
tôi- Bảo Vương, còn học
lớp 8. Mỗi tuần có bà
Giáo sư Dương cầm đến
nhà dạy kèm cả lý thuyết,
nhạc lý và thực hành. Con gái
tôi đã có 5 năm học hay
thời gian dài vọc phá trên
phím đàn dương cầm, nhưng
vẫn còn đàn chưa khá. Bẳn
nhạc Soranate của Schubert chợt vang lên, do
nó vừa trổ tài, vì biết
tôi rất thích bản nhạc nầy.
Tiếng nhạc thánh thót, từng
nhịp nối nhau, trườn mình, dẫn
dắt đi sâu vào tâm hồn
người lắng nghe như từng giọt
mật thấm ướt. Ngọt lịm,
thoải mái, không tư lự ...như
là gom cả giang sơn, cả vũ trụ
lắng đọng trước mắt, trong
người, trong tim non. Ngồi bên cạnh
nó, trên cái ghế dài, là
đứa con trai tôi- Bảo Lân, đang
được chị nó vừa
đàn vừa dạy. Hai chị em rất
khác tánh nhau. Đứa chị thì
ham đọc sách, đàn, năng
động, diệu hiền v.v..Đứa
thì hãy còn ham chơi, im lặng, thích
thể thao, games, mặc dù học rất
giỏi. Hai cá
tánh đó, cần phải có bù
qua xớt lai, để quân bình.
Nhiều lần giải thích cho đứa
con trai tôi rằng: “Ngoài những
thứ con thích, con cũng cần nên
học thêm đàn. Giờ thì con
không thấy ích lợi, nhưng
lớn lên, khi con ra làm việc, gặp
những tình huống bức xúc, căng
thẳng, một bản nhạc mà con
đàn, có thể chuyên chở
đi những ưu sầu đang có
mặt...”. Nhưng nói gì thì nói,
cũng khó ép được nó,
trừ những lúc nó bỗng
yêu thích đàn, như ngày hôm
nay.
Nhìn hai đứa nó, tôi
chợt nghỉ đến con người
mình được chia ra làm hai cho hai
đứa con. Mỗi đứa giống
một phân nữa của tôi, chỉ
có khác là ba nó thì chậm
chạp, còn hai đứa lại quá lanh
lợi, thông minh. Tôi rất thích
âm nhạc, dù không biết nhạc
lý hay ca hát gì, nhưng vẫn thường
hay nghêu ngao ca hát, dù
chẳng có gì hay ho. Nhớ lúc
còn học Trung học Đệ Nhị cấp
tại Trường Tân Thạnh ở
Saigon trước kia, vào thập niên 60. Niên
học đó, tôi được
bầu là Trưởng lớp. Sau khi
tổ chức Tất niên xong, lớp
tôi rất được nổi tiếng. Thừa thắng xông
lên, vào dịp gần cuối niên
khóa, chúng tôi lên văn phòng
Hiệu Trưởng xin tổ chức buổi
văn nghệ Hè vừa để các
bạn học chia tay nhau, vừa tiễn biệt
một số bạn lên đường
tòng quân nhập ngũ. Được
Hiệu Trưởng của trường
chấp thuận, Hè năm đó,
chúng tôi tổ chức thật linh
đình, có dàn nhạc, trống
kèn v.v.. Đúng giờ khai mạc, sau khi
tôi đọc diễn văn tuyên bố
lý do xong và sau vài lời
giới thiệu, cảm tưởng v.v..của
các vị giáo sư của lớp;
một chương trình văn nghệ đặc
sắc bắt đầu. Tôi xin
được lên ca đầu tiên
(Có lẽ vì là Trưởng
lớp kiêm Trưởng ban Tổ
chức, nên không một ai phản đối
mà còn vỗ tay ủng hộ). Tôi nhớ
bản nhạc được trình bày
lúc đó là “Xin anh giữ trọn tình queâ”.
Vì tình hình chiến sự lúc
đó đang hồi khốc liệt, vì
sắp chia tay một số bạn bè lên
đường đi lính, hon nữa,
sự chết chóc, thương tích
của nạn nhân chiến tranh trong thời
cuộc mỗi ngày mỗi dày lên
trên báo chí, truyền hình v.v.
Sự sống chết không biết ra sao,
lẩn quẩn trong tâm tư tất cả mọi
người dân, làm cho mọi dự
tính, mọi ước vọng như vuột
khỏi đôi tay, thật sự làm
tôi xúc động. Tôi để
tất cả tâm hồn trong bản nhạc,
hát như chưa bao giờ mình hát,
nên nức nở, nghẹn ngào.
Vừa dứt bản nhạc, mọi
người vỗ tay nồng nhiệt.
Điệp- bạn cùng lớp học,
cũng là người trong Ban Tổ
chức và tay đàn guitar, ngoắt
tôi lại nói nhỏ: “Anh ca hay quá
xá quà xa”. Tôi khoan khoái trong
bụng, và hãnh diện nữa, cảm
thấy mình như một ca sĩ thứ
thiệt. Nhưng, Điệp nói tiếp, nhỏ
vừa đủ tôi nghe: “Anh Minh! Nếu mà anh đừng ca
thì hay hơn, vì anh ca không trúng
nhịp nên tôi đờn chạy theo
mệt quá, không biết chỗ nào anh
lên, chỗ nào xuống. Ca nghe buồn
não nuột, tiếc rằng không có
chuông mõ nhịp theo anh cho đúng
điệu”. Tôi cười vang
lên, chơi ác thiệt. Và từ
đó, tôi biết nhiều hơn về
chất nghệ sĩ và tiếng hát
muôn thuở của tôi. Tuy nhiên, xin
nói nhỏ cho nghe là tôi rất có
nhiều cảm xúc và biệt tài
làm thơ nữa, như bài thơ
tuyệt diệu sau (tự khen trước)
được sáng tác trong dịp
tổ chức tiệc tại nhà và Thanh-
vợ tôi đang chiên chả giò:
Tóc
em thoang thoảng mùi giò chả
ngửi
tới ngửi lui, đúng chả
giò
“Chàng cùng tử lại cất
bước ra đi. Một buổi sáng tinh
mơ, khi những giọt sương còn
đọng trên những nhánh lá. Chim
bắt đầu hót ví von để
báo hiệu một ngày mới. Một
ngày mà đối với tất
cả mọi người, là ngày
mới; nhưng với chàng Cùng
tử lại chảng có một ý
nghĩa nào. Cũng là một ngày
như mọi ngày. Một lần nữa,
chàng lại lê bước chân hoang
dại, thất thểu bước đi.
Đã bao ngày qua, không một hột
cơm trong bụng. Đói lả, mắt so
buồn, hoang vắng, thân hình tiều
tụy, một ý nghĩ không tha thiết
sống trên cõi đời nầy
nữa đang lởn vởn trong
đầu óc chàng. Sao cuộc
đời ta đau khổ như thế
nầy? Biết bao nhiêu là bất hạnh đổ
đốn đến...thát lạc cha mẹ,
không bà con thân thích, không một ai
muốn mướn làm để kiếm
tiền độ nhật. Mọi người
đều xua đuổi. Chàng khẻ than
thầm, chưa biết cách nào mà
giải quyết.
Một hôm, chàng dừng
bước trước một căn
nhà sang trọng, có nhiều tôi
tớ- gái lẫn trai. Tần ngần
trước cửa, bằng dáng
điệu đói khổ, thiểu não
cố ý cho có người thấy
động lòng, để xin chút cơm cho
qua bữa đói. Từ trong nhìn ra,
ông Trưởng giả- gia chủ- nhìn
thấy người thanh niên đang xin
ăn, chợt giật mình. Ông giật
mình là phải, vì người thanh niên
đó giống như là người
con trai mà ông đã thất lạc qua bao
nhiêu năm tháng. Lòng ông thật
bồi hồi xúc động, lẫn
nhiều lo lắng. Nếu nhận ra ngay là con
mình, có lẽ sẽ làm chàng ta lo
sợ. Thôi thì, trước nhất
cứ mướn nó làm
người gia công trong nhà
trước đã, rồi từ
từ tìm hiểu rõ thân thế
và nhận nhau sau. Và ông nói ý
định mướn chàng cùng
tử đó. Chàng thật là
cảm động lẫn lo sợ, vì
sự bất ngờ nầy. Và từ
đó, chàng chính thức
được ở trong căn nhà
của người phú hộ nầy.
Làm việc siêng năng, cực nhọc,
không từ nan bất cứ việc
gì để vừa lấy lòng gia chủ,
vừa có chỗ nuôi sống, ổn
định. Một ngày nọ, ông
Trưởng giả gọi chàng ta lại
và nói rằng: “Con làm việc
ở đây đã lâu. Ta nhận
thấy con siêng năng, cần mẫn và
lại thông thạo hết mọi việc trong
nhà nầy. Cho nên, ta quyết định
cho con làm quản gia. Từ nay, con phải
giúp ta quán xuyến mọi công chuyện
trong nhà, và đừng để ta
thất vọng”. Thật là vô cùng
mừng rỡ, vì điều
đó chàng ta chưa bao giờ dám
nghỉ tới, huống nữa là mong đợi.
Do đó, chàng càng cố gắng
nhiều hơn nữa, lo toan hết tất
cả mọi chuyện trong nhà từ trông
coi nhân sự, sổ sách giấy
tờ, mọi sự chi tiêu v.v...Cho
đến một hôm, ông Trưởng
giả lại gọi chàng và nói: “Này con ạ! Con chính
là đứa con trai thất lạc của
ta. Ta đã nhận biết con ngay ngày
đầu mới gặp, nhưng ta không
thể nói cho con biết liền
được, vì con sẽ bỡ ngỡ, sợ hãi, và
hơn nữa; con không biết thành
thạo hết tất cả những gì
mà ta muốn giao lại cho con. Cho nên, ta
đã dằn tấm lòng của
người cha thương con, mà tập cho
con mọi công chuyện trong những năm
tháng dài qua. Nay, con đã thành
thục tất cả mọi việc
và cũng đến lúc, cha con ta nhận
lại nhau. Con
chính là đứa con ruột mà ta
đã thất lạc từ lâu rồi
và nay, ta giao lại cho con tất cả
những gì mà cha có, để con
trở là chủ nhân của ngôi nhà
nầy”.
Câu chuyện trên đã
được Đức Phật nói
trong Phẩm thứ tư : Tín giải của
Kinh Pháp Hoa, để nói về giáo
lý cao siêu mà Ngài đã tìm
ra hay gia tài tâm linh vô giá mà
Đức Phật muốn chỉ bày cho
chúng sanh, đó là Tri Kiến Phật.
Và bàng bạc trong toàn bộ kinh Pháp
Hoa, cũng nói lên tư tưởng
thâm áo nầy để làm hiển
lộ Tánh Phật, đó là viên
ngọc vô giá mà mọi người
đều có mà lại bỏ quên hay
đó là gia tài pháp lạc của
mỗi chúng sanh.
Đại sư Thái Hư trong Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa Giảng Diễn lục của,
trang 124, giãi thích về ý nghĩa
của Phật Tri Kiến như sau:”Phật đã thân chứng
Nhất Chân Thực tướng là
sở chứng, Chánh trí năng
chứng Pháp tánh là năng
chứng. Cái Tri kiến Năng Sở
đồng thời, gọi là Phật Tri
kiến. Bởi vì Đức Phật
nhận thấy chúng sanh vốn có sẵn
đầy đủ thể tánh nầy,
nhưng bị 2 món chướng phiền
não và vô minh che khuất, như
đất đè phủ trên hạt
giống cỏ hay như quặng trong mỏ che
khuất vàng ròng. Cho nên, Ngài khai
hiển cho chúng sanh nhìn thấy Phật Tri
kiến và chúng sanh tự khai phát
và làm tăng trưởng Thể
tánh nầy”.
Trong Tự điển Phật học của
Đoàn trung Còn, trang 634, nói về
Phật Tri kiến như sau:"Đó là sự biết và
sự thấy của Phật, gồm đủ
Tam trí: 1-Nhất thiết trí của hai
hàng Thanh văn và Duyên giác.
2-Đạo chủng trí của hàng Bồ
tát. 3-Nhất thiết chủng trí của
hàng Như Lai và Phật lại có
Ngũ nhãn như Nhục nhãn, Thiên
nhãn, Huệ nhãn, Pháp nhãn và
Phật. Cho nên, Ngài biết tất cả
và do Phật tri kiến, Ngài hay khai thông
và chỉ bảo cho chúng sanh để
họ đắc nhập Phật Tri kiến".
Cuộc sống chúng ta
vì mê lầm nên đã bao lần
thay đổi hình dạng qua các ngả
luân hồi: Trời, người, a-tu-la,
địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh...
và nay, có duyên lớn
được làm thân người.
Do vọng tưởng, do kiến thủ, chấp
trước từ bao đời
và như chàng cùng tử, chúng ta
chấp nhận làm thân hèn mọn,
ôm những kiến chấp nhỏ nhoi đã
cho là đầy đủ và theo duyên
nghiệp, đưa cuộc đời lang thang
vô định. Có thể có đời
sống vật chất được sung
túc, có địa vị, có danh vọng
hay có tất cả những gì mà
một con người bình thường
ước muốn, nhưng rồi ra sao? Hay ta
có những lý tưởng cao
siêu, có đời sống nội
tâm dồi dào, có trình độ
tâm linh khả dĩ v.v..nhưng làm sao
chúng ta có thể chấp nhận
được, trong cái thân ngũ
uẩn, cái thân sanh diệt nầy lại
có cái Tánh giác, tánh Phật
thường hằng không sanh diệt, nhưng
đây chính là gia tài mà ông
Trưởng giả hay Đức Từ
phụ muốn chỉ lại cho chúng ta. Muốn
chấp nhận sức sống mãnh liệt
đó, điều trước nhất,
ta phải tin chắc rằng ta có đầy
đủ tánh Phật tiềm ẩn qua bao
lớp kiến thủ, nội kết của
vọng tâm và phải qua những
cửa "vô môn" để vọng
trần rơi rụng và hiển lộ Tri
Kiến đó. Chấp nhận
được điều nầy rất
là vô vàn khó khăn, bởi
vì chúng ta đã quen với
sự trói buộc trong ngôi nhà
lửa, quen với những sở
hữu, tham chấp, vọng kiến. Cho nên,
Ông Trưởng giả của Kinh Pháp Hoa
chỉ là người đánh
thức cái khả năng kỳ diệu
đó trong con người của chàng
Cùng tử và chính chàng Cùng
tử mới đích thực là
người phải khai triển và giác
ngộ Tánh Phật đó cho chính
mình.
Ngộ
được Phật Tri Kiến, tức
giải được bài toán của cuộc
lữ hành mà con người
đã giẫm bước qua bao nhiêu
kiếp, nương nơi sự ngộ nầy,
lần đi tới nhập Phật Tri kiến,
như khai Thủy giác đối với
bất giác.
Khi
sư tử con nhìn xuống hồ
nước và thấy hình dạng
của mình hiện ra rõ ràng và
khám phá ra thực tướng
mình là chúa tể của sơn lâm,
nó rùng mình một cách oai dũng
và rống một tiếng rền vang cả
rừng thẳm, để biết rằng uy
lực mầu nhiệm tiềm ẩn trong nó
vừa chợt nhận ra.
Và nơi đây, chúng ta lại
nghiên cứu đến Mật giáo
nói chung, và riêng Bảo Bộ trong Mật
giáo, làm thế nào khai triển
Tánh giác hay Phật chất trong con
ngườì chúng sanh để thể
nhập vào cảnh giới vi diệu của Đức
Phật và thân chứng như Ngài.
Sự dày đặc của vô minh
đã làm cho mọi loài luân
chuyển mãi trong vòng luân hồi sanh
tử, cho đến một lúc nào
đó, khi nhân duyên chín mùi,
và chợt hỏi lại chính thân
phận mình? Khi có sự tự tra
vấn cũng là bắt đầu
chàng Cùng tử đã dọn
đường để bước
đi trở về nhà. Cái cửa
“vô môn” là lối thoát khi
nhận chân được Phật Tánh
trong con người bình thường của
mình hay của mọi loài từ tình
lẫn vô tình. Khi câu hỏi
được đặt ra là: Cục
đá có tánh Phật hay không ?
Cũng là một sự tra vấn quyết
liệt, mạnh bạo của nghi vấn cuối
cùng về loài vô tình như một
xác quyết lần nữa, tánh phổ
quát của Chân tâm.
Bước chân của Đấng Cha
Lành đã khởi đầu đi
truyền bá cái Chân lý cao siêu
hay sự Giác Ngộ nầy, nhằm giúp
chúng sanh phá vỡ bản ngã
đã giam cầm con người,
để đạt Tri kiến Phật, cũng
chỉ vì lòng đại bi, nhìn thấy
mọi hàm linh đang lặn hụp trong bể
khổ điên đảo, vọng
tưởng.
Trải qua thời gian dài 49 năm, sau
khi Phật nhập diệt, vì để tùy
thuận chúng sanh, tất cả mọi Tông
phái đều nở rộ ra, nhưng
với mục đích duy nhất là
nhận ra và thành tựu “Con người Giác
Ngộ”. Mật giáo là một phần
đóng góp thêm vào sự
tự tra vấn nầy, điều
đó có nghĩa là khi thực
hành những Nghi quỹ Mật giáo,
người hành giả đã xác
quyết hay hoàn toàn có niềm tin vững
chắc vào Tánh giác của mình
và qua phương tiện nầy, cốt
để làm hiển lộ ra và, Mật
giáo đã xuất hiện như thế.
Giữa Bổn tôn và hành giả,
là sự ấn chứng lẫn nhau.
Bổn tôn là Tất địa mà
hành giả cần đạt tới, thể
nhập, trong lý tưởng Tự giải
thoát (Lý). Hành giả là sự
thể hiện Bổn tôn trong sự sống
phàm tục để hướng
đến Giác tha, Giác hạnh viên
mãn (Sự).“Các phương pháp
Tam Mật gia trì của Mật tông cũng
đều là pháp của Đức
Như Lai Đại Nhật, nghĩa là
phương pháp được
xướng khởi trên mặt quả hay
là trên sự chứng nghiệm
rồi. Chuyên tâm tu tập phương
pháp nầy tức được
công dụng vi diệu trên một sự kinh
nghiệm rồi. (Nhất
niệm gia trì nhất niệm Phật, niệm
niệm gia trì niệm niệm Phật ). Trong
một khoảng thời gian nhỏ nhất
như ý nghĩ dụng công thực
hành theo Mật tông, ngay trong khoảng khắc
đó đã thể hiện trọn vẹn
hình ảnh Đức Phật, liên
tục gia công hành pháp, tức
liên tục duy trì hình bóng
Đức Phật- tức thân là
Phật ngay khi hành”. ( Huyền luận Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa của Đại sư Thái Hư, Minh
Lễ dịch, tr. 89)
Về sự thành hình Mật
giáo như thế nào, vì đã
được trình bày trong các
Tiểu luận trước, nên không
lập lại. Nay, chỉ nói riêng về
Bảo bộ, là một Bộ trong năm
Bôï của Mật giáo.
Đến với Mật giáo là
đi xuyên qua bao lớp hiểu lầm,
nào là bùa chú, pháp thuật,
kỳ quái v.v..có lẽ do sự
diễn dịch của những nhà
nghiên cứu hoặc các hành giả-theo như ý mình-
về sự bí mật của Tông
phái nầy để tạo thêm huyền
hoặc và do đó, dán lên
nhiều nhãn hiệu sai khác, mà quên
đi cái bến bờ Giác ngộ hay
Tất địa của Tông phái nầy.
Khi nói đến Bảo bộ, sự
hiểu lầm càng đậm nét hơn.
Nhiều người nói rằng: “ Tu theo Bảo bộ là
để cầu tài bảo, giàu sang, phong
nhiêu v.v...” .Trong cuộc đời
vô thường nầy, mọi vật
đều luân chuyển và giả danh
tạm đặt. Nếu đời sống
giàu sang, quyền quý v.v...là cứu
cánh, là mơ ước cao nhất
của con người, thì Thái Tử
Siddharta đã không rời khỏi
Hoàng cung, từ bỏ vợ con,
từ bỏ ngôi vị cao nhất
nước- đó là trở
nên một vị Quốc Vương sau nầy,
để giữa đêm khuya, vào
rừng sâu, cạo bỏ râu tóc,
trở thành một đạo-sĩ, đi
tìm chân lý và chúng ta đã
có một vị Đại Giác. Cái
tấm lòng nầy, cái đại chí
đại nguyện nầy, chỉ với
mục đích duy là tìm con
đường giải thoát trầm
luân cho chính Ngài và cho tất cả
chúng sanh. Phải hiểu rõ tâm trạng
của Ngài sau khi đã đi qua bốn
cửa thành,ø chứng kiến
sự sanh, sự già, bệnh tật,
sự chết và sự quyết
định tối ư quan trọng nầy hẳn
phải cho một cái
gì cao quý hơn là vàng bạc,
châu báu hay giàu sang phú quý
hoặc dục lạc thường tình của
thế gian. Hiểu rõ như vậy, chúng ta
mới nhận thức được
rằng: “Bảo bộ
chính là kho tàng Tâm vô giá, hay
chính là Tri Kiến Phật, mà chính
Ngài đã tìm ra và trao lại cho
chúng ta”.
Tuy nhiên, cũng không phủ nhận
rằng: Có sự linh ứng mầu
nhiệm của Mật giáo hay có sự
chiêu cảm những phước báo
v.v...nhưng, đó chỉ là do sự
miên mật hành trì của hành
giả, nên “tội diệt thì
phước sanh” và chỉ là
những y báo
tùy thuộc vào sự tịnh hóa
nghiệp lực hay
chỉ là vi trần của chánh
báo trong mỗi người.
Cái Chánh báo hay Bảo bộ mà
người hành giả muốn đạt
được là Tất địa hay
thể nhập vào Phật Tánh và
đắc thành quả Phật. Vậy Bảo
bộ được khai triển như thế
nào để đạt được
đến bờ giác đó? và
để phá bỏ quan niệm sai lầm
nầy, cần nghiên cứu sâu vào
Bọâ nầy để biết từ
yếu tố hay nhân duyên nào hình
thành Bảo bộ và Bảo bộ là
biểu tượng cho cái gì ?
“ Suốt
thời gian của 7 ngày đầu khi
thành đạo, Đức Phật ngồi
không lay động dưới tàng
cây Bồ-đề để chứng
Hạnh Phúc Giải Thoát (Vinuuti Sukha). Trong
đêm cuối tuần, Ngài xuất
thiền và suy niệm về Mười hai
Nhân duyên (Paticca Samuppãda): Khi cái
nầy (Nguyên nhân) có, thì cái kia
(Kết quả) có. Với sự
phát sanh của cái nầy (Nhân), cái
kia (Quả) phát sanh.
Tùy thuộc vào Vô minh (Avijjã),
Hành (Sankhãrã), thiện hoặc bất
thiện phát sanh. Tùy thuộc nơi Hành,
Thức (Vĩnnãna) phát sanh. Tùy
thuộc nơi Thức, Danh Sắc (Nãma
Rũpa) phát sanh. Tùy
thuộc nơi Danh Sắc, Lục căn
(Slãyatana) phát sanh. Tùy thuộc nơi
Lục căn, Xúc (Phassa) phát sanh. Tùy
thuộc nơi Xúc, Thọ (Vedanã) phát
sanh. Tùy thuộc nơi Thọ, Ái Dục
(Tanhã) phát sanh. Tùy thuộc nơi Á
Dục, Thù (Upãdãna) phát sanh. Tùy
thuộc nơi Thủ, Hữu (Bhava) phát sanh.
Tùy thuộc nơi Hữu, Sanh (Jati) phát
sanh. Tùy thuộc nơi Sanh, Bệnh (Jara) Tử
(Marana) Phiền não (Soka) Ta thân (Pariveda) Đau
khổ (Dukkha) Âu sầu (Domanassa) và Thất
vọng (Upayãsa)
phát sanh.
Khoảng giữa đêm,
Đức Phật lại suy niệm
Mười Hai Nhân Duyên theo chiều
ngược lại: Khi nguyên nhân nầy
không còn thì quả nầy không
còn. Vời sự chấm dứt
của nhân nầy, quả nầy cũng
chấm dứt. Với sự chấm
dứt của Vô minh, Hành chấm
dứt. Với sự chấm dứt
của Hành, Thức chấm dứt.
Với sự chấm dứt của
Thức, Danh Sắc chấm dứt.
Với sự chấm dứt của Danh
Sắc,Lục căn chấm dứt.
Với sự chấm dứt của
Lục căn, Xúc chấm
dứt.Với sự chấm dứt
của Xúc, Thọ chấm dứt.
Với sự chấm dứt của Thọ,
Ái chấm dứt. Với sự
chấm dứt của Ái, Thủ chấm
dứt. Với sự chấm dứt
của Thủ, Hữu chấm dứt.
Với sự chấm dứt của
Hữu, Sanh chấm dứt. Với
sự chấm dứt của Sanh, Bệnh,
Tử, Phiền não, ta thân,Đau
khổ, Âu sầu và Thất vọng
chấm dứt. Như thế, toàn khối
đau khổ chấm dứt.
Và vào tuần lễ thứ
bảy, vào lúc bình minh sau đêm
Ngài đắc quả Vô Thượng,
Đức Phật đã nói:
“Xuyên qua nhiều
kiếp sống trong vòng luân hồi, Như
Lai thảnh thang đi, đi mãi. Như Lai đi
tìm mãi mà không gặp, Như Lai
đi tìm người thợ cất
cái nhà nầy. Lập đi lập lại
đời sống quả thật là
phiền muộn. Nầy hỡi
người thợ làm nhà, Như Lai
đã tìm được ngươi.
Từ đây, ngươi không còn
cất nhà cho Như Lai nữa. Tất
cả sườn nhà đều gãy,
cây đòn dong của người
dựng lên cũng bị phá tan. Như Lai
đã chứng quả Vô Sanh Bất
diệt và Như Lai đã tận diệt
mọi Ái dục." (Đức
Phật và Phật Pháp của Ngài
Nãrada Thera, Phạm kinh Khách dịch, trang 61- 66).
Trong Kinh Nhất Thiết Như Lai Bí Mật
Toàn Thân Xá-Lợi Bảo Khiếp
Ấn Đà-la-ni ghi rằng: “Một thời
Đức Phật ngự tại Maghada
(Ma-già-đà ), có một vị
Bà-la-môn tên Vô Cấu Diệu Quang,
đa văn thông tuệ, mọi người
ưa mến, thường tu pháp Thập
Thiện, quy tín Tam Bảo, tâm lành ân
trọng, trí tuệ vi tế, thường
hằng muốân chúng sanh
được viên mãn chúng sanh
được viên mãn lợi
lành, giàu có, phong nhiêu. Ông
đã đến thỉnh Phật và
đại chúng đến nhà để
thọ sự cúng dường.
Đức Phật im lặng, hứa khả.
Ngày hôm sau, Đức Thế Tôn
cùng chúng Tang đi đến nhà
của Bà-la-môn. Dọc đường,
Ngài ghé vào khu vườn cách
đường không xa, tên là Phong
Tài. Trong vườn có một cái
tháp, gai góc mọc đầy, cỏ
cây che lấp, gạch ngóc đổ
nát. Từ trên tháp phóng
đại hào quang, chiếu sáng rực
rỡ và phát tiếng khen ngợi
rằng: “Lành thay! Thích Ca Mâu Ni
ngày nay đã làm cực thiện
cảnh giới “.
Khi ấy, Đức Phật lễ
tháp mục kia, nhiễu quang ba vòng và
cỡi y trên thân để che Tháp,
mắt rơi đầy lệ. Đương
lúc bấy giờ, mười
phương chư Phật đều đồng
xem thấy và cũng đều rơi lệ
và đồng phóng hào quang
đến chiếu nơi tháp đó.
Tất cả đại chúng đều kinh
ngạc, Ngài Bồ Tát Kim Cang Thủ
đại diện thưa thỉnh Đức
Phật về nhũng nhân duyên vừa
xảy ra.
Bấy giờ Đức Thế
Tôn dạy: “Trong tháp kia tích
chứa đại toàn thân Xá-lợi
của Như Lai. Tất cả vô lượng
câu chi Như Lai Tâm Đà-la-ni Mật
Ấn Pháp Yếu nay ở tại trong
đó. Trăm ngàn câu chi Như Lai
toàn thân Xá-lợi nhóm tụ trong
đó, cho đến 84.000 ngàn pháp
uẩn cũng ở tại trong đó, 99
trăm ngàn vạn câu chi Như Lai
Đảnh Tướng cũng ở
tại trong đó. Do việc mầu nhiệm
nầy, cho nên chỗ tháp nầy có
đại thần nghiệm thù thắng oai
đức, hay mãn tất cả kiết
khánh trong thế gian. Đây không
phải là đống đất mà
là thù diệu Đại Bảo Tháp, do
nghiệp quả của chúng sanh kém
thiếu, cho nên ẩn che mà không hiện.
Do tháp ẩn chứa toàn thân Như
Lai không thể hủy hoại. Chẳng lẽ Kim
Cang Tạng Thân của Như Lai mà có
thể hoại diệt chăng? (tr.55- 62 )
Trong Kinh Bảo
Tất Địa Đà-la-ni, tr. 45: “Này Thiện nam
tử ! Các ông phải biết Như lai
Xá Lợi tức là vô
thượng trong thế gian khó có, các
hàng Bồ tát cũng còn khó
gặp gỡ, huống nữa thế gian
các loại phàm phu. Đó là Vô
Tướng Ma ni, là Chơn Tánh Như
YÙ Bảo Châu, là Bí Mật
Đại Tinh Tấn, là chỗ có
báu trang nghiêm của mười
phương cõi Phật. Vậy nên trong Kinh
nầy nói dụng vật đoàn viên (
tròn trịa ) có thể an trí Xá
Lợi. Như tâm hình ông, tâm
hình Phật, tâm ông tâm Phật xen nhau an
trí, thể ông thể Phật hỗ
tương dung thông, tánh tướng chen
nhau dung thông, tức chẳng phải Nhị
Phật thân...”
Những lời trong Kinh nầy biểu
lộ tấm lòng yêu thương rộng
lớn, bao la của Đức Thế
Tôn đối với muôn loài
chúng sanh, với những hình ảnh
trong Kinh biểu hiện bình dị, nhưng vô
cùng trang nghiêm, rực rỡ,
đầy xúc động, Phải chăng,
chỉ có Ánh sáng Thanh Tịnh hay cái
Tâm không uế nhiễm (Vô Cấu
Diệu Quang) mới là sự khởi
đầu và chấp nhận dấn thân
trong cuộc hành trình trở vể cõi
Tâm. Cho nên, từ ngôi tháp cổ
đã mục nát, sụp đổ,
Đức Phật dẫn dắt chúng ta
đi vào cõi tâm bao la, vô tận
(Ngôi Tháp trong vườn Phong Tài)
với nhân với quả, với
những hành động hay công
đức nào để có thể
tạo nên được ngôi Tháp.
Dù cho ngôi Tháp (Tâm) có bị
thời gian tàn phá, dù phiền
não có dậy lên như sóng cồn,
dù cuồng phong của vọng tưởng,
điên đảo có làm cho sụp
đổ mọi thành trì tâm
thức, thì ngôi Tháp vẫn còn đó
và toàn thân Xá lợi của
Như Lai vẫn còn đó. Ngôi
Tháp có thể cũ kỹ, đổ nát, biểu tượng
như là vô minh, là cấu uế,
triền phược, nhưng cũng là
ngôi Bảo tháp là Tâm, là
Phật tánh. Sự thanh tịnh, siêu
việt đến từ những gì
bình thường, giản dị và
xú uế, như hoa sen vươn lên
từ bùn nhơ để tỏa
hương thơm ngào ngạt. Cái gì
đã làm nên toàn thân Xá
Lợi của Đức Phật?
Đó không phải là những
thứ vật liệu, vật chất tầm
thường để cấu tạo nên
ngôi Tháp, vì
mọi hiện tượng hữu vi
đều vô thường- mà
là những công đức tu
hành của Ngài qua vô lượng
kiếp và thân chứng đắc
Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Đây chính là
thân Kim Cương bất hoại hay bất sanh
bất diệt, do đó, khi Đức
Phật lạy ngôi tháp mục kia, cũng
như là một biểu tượng
để nhắc nhở chúng ta
trở về với cái tâm
bất sanh bất diệt, hiển nhiên,
đó cũng là cái Tánh giác
tiềm ẩn trong mọi chúng sanh, trong mỗi
con người.
Tôi nhớ có đọc bài
kệ tán thán công đức
của Ngài Bồ tát Địa Tạng
trong phần đầu của Kinh Địa
Tạng mà mỗi lần đọc
đến, tôi đều xúc
động.
Chư
Phật ba đời đồng tán
ngưỡng
mười
phương Bồ tát thảy quy y
nhân
xưa bồi đấp chút duyên lành
nay con
tán dương chân công đức
Địa
Tạng Bồ tát đại từ bi
kết
tập duyên lành độ chúng sanh
rung
tích trượng mở toang cửa
ngục
nâng
minh châu soi khắp đại thiên....
( Kinh Địa
Tạng, bản dịch của Thầy Tuệ Hải
)
Tán thán công đức của
Bồ tát Địa Tạng hay tán
thán Tâm và chỉ có Tâm
trở về với Tâm mới
có đầy đủ đại nguyện
mở toang cửa ngục đã bao
đời che lấp Chân Tánh, giam
cầm con người trong ngục tối
của vô minh, mê lầm và từ
đó, nở rộ tấm lòng
từ ái đến muôn loài qua
biểu tượng Bồ tát Địa
Tạng.
Bảo bộ của Mật giáo xuất
hiện từ quan niệm về Tánh giác
nầy và cố khai thác từ trong
đám gạch vụn của trần cấu,
mê lầm tìm dấu vết và làm
hiển lộ Chân tâm. Vì trong chiều
sâu của Tâm, còn gọi là Tàng
thức hay thức A lại gia chứa
đầy đủ chủng tử của
vạn pháp hay hạt giống của thiện
ác, của sanh tử, Niết bàn v.v..
Có nhận thức rõ được
Tánh Phật nơi mình và sống
với Tánh giác đó,
mới không bị đuổi theo
những vọng tưởng sanh tử,
nhận giặc làm con và trôi giạt theo
dòng luân hồi như chúng ta
đã lang thang mãi trên con
đường bất định và
nếu không có tấm lòng từ bi
nầy, ta sẽ mãi mãi đi về
đâu? Cho nên, chẳng lạ khi các
vị Phật, các vị Thượng sư,
các Bồ tát, các Tổ ...đã
không ngần ngại đi vào chốn
ngũ trược ác thế, dùng
nhiều phương tiện thiện xảo
để đưa chúng sanh qua bờ
Giác, chấm dứt cuộc hành
trình trầm luân.
Mật giáo chia ra 2 phần, gọi là:
Thai tạng giới và Kim cang giới.
Căn cứ theo Kinh Đại Nhật và
Kinh Kim Cang Đảnh, thì Bảo bộ thuộc
Thai tạng giới vì lẽ Thai tạng
giới gồm đủ:
1-
Ẩn
phú : Lý thể ẩn tàng trong phiền
nảo
2-
Hàm
tàng : Lý thể chứa đầy
đủ công đức, ví như thai
mẹ hàm tàng thân con.
Sở dĩ chúng tôi cần
nhấn mạnh đến phần nầy, vì
như Kinh Bảo Tất Địa Đà la ni
được trích dẫn ở
trên, đã nói: “Vật dụng đoàn viên có
thể an trí Xá-lợi, như tâm
hình ông tâm hình Phật, tâm ông
tâm Phật xen nhau an trí, thể ông thể
Phật hỗ tương dung thông, tánh
tướng dung thông, tức chẳng
phải Nhị Phật thân”. Thai tạng
là Thai bào, tiêu biểu cho Chân Tâm
chứa đầy đủ Tánh Bi
Trí, và Thai nhi chính là hành giả.
Thai bào hình tròn, an trú hay ẩn
tàng Tánh giác vì Tánh giác
ví như mặt trăng tròn sáng.
Người hành giả thể nhập
vào Chân tâm và từ đó
hiển lộ Tánh Phật. Thể nhập có
nghĩa là hỗ tương dung thông,
tánh Bi Trí từ đó
được sanh ra, trong Chân tâm.
Để diễn đạt Phật Tri
Kiến, Mật giáo thường dùng ngôn ngữ của
biểu tượng, chứ không
dùng ngôn ngữ thường
dùng hàng ngày vì ngôn ngữ
nầy kẹt vào nhị
nguyên ( phân hai như: có không,
trái phải v.v..) lại từ tâm hạn
hẹp do tham ái, thủ chấp, hữu
tướng, không thể nói trọn
vẹn Trí Phật. "Tâm
hành xứ diệt, ngôn ngữ
đoạn đạo". Chỉ rõ lý
Bình đẳng chân như không thể
trình bày bằng ngôn ngữ cũng
như không thể dùng trí phân biệt
có thể hiểu nổi. Đến
với chân lý rốt ráo
đó, thì con đường ngôn
ngữ bình thường bị cắt
đoạn và cái chỗ của tâm
hành hay tâm niệm, tức cái tâm
lưu chuyển đã bị diệt. Đây
là cảnh giới không thể nghỉ
bàn.
Cho nên, ngôn ngữ biểu
tượng là ngôn ngữ của
Giới Định Huệ, vắng bật
gốc rễ của khổ đau nên có theå diễn
đạt Tánh giác. Cũng như, Thần
chú hay chơn ngôn là biểu
tượng đơn giản nhưng tột
cùng, là máu thịt của ngôn
ngữ, nơi không còn ngôn
ngữ. Từ luận giải căn bản
nầy mới dẫn đi sâu vào
Bảo bộ.
*
Bảo bộ ở phương
Mẫu tự là chữ LÃM ( ),
Hỏa đại, mùa Hạ, sắc đỏ,
thuộc tâm (tim). Đàn hình Tam giác.
Mùa Đông tưởng như
chôn vùi tất cả mọi vật
dưới sức lạnh tê cóng hay
dưới lớp tuyết dày
đặc, phủ khắp nơi. Mọi vật
như ẩn hình, co cụm lại, chịu
đựng cái lạnh thấu xương,
để rồi một lúc nào
đó, lại bừng bừng sống
dậy theo bước chân của nàng
Xuân. Mọi vật như tỉnh giấc, sống
dậy, những cành cây ưởn
mình, mỉm cười hé nụ lá,
nụ bông, chim chóc hót ca. Cái
sức sống mãnh liệt nhất của
mùa Xuân lại là Hạ.
Mùa Hạ đem sinh khí sung mãn cho
khắp vũ trụ. Tiếng nhạc ve cất
lên inh ỏi, đệm thêm cho cái
không gian oi bức càng bức xúc
hơn. Màu đỏ rực của ánh
mặt trời vừa ló dạng, như
một sức sống từ từ
bừng dậy và hoàn mãn ở
cao độ vào giữa trưa của
một ngày. Đó cũng là sự
trưởng thành của tuổi thanh
niên, chín mùi, đầy sinh
động, đầy sức sống.
Cũng là cái Thần tinh anh của con người,
biểu lộ trên gương mặt.
Người Thần đủ, gương
mặt tươi sáng, Sự hoạt
động, náo nhiệt, ồn ào,
sức nóng, mưa dầm dề, như hòa
lẫn nhau, tạo thành nét đặc
thù của hè.
Ai
kêu con quốc gọi vào hè
cái
nóng nung người nóng nóng
ghê ( Tản Đà)
Mùa hè được tô
đậm bằng màu sắc đỏ
rực rỡ, do cái nóng oi
bức hay do con tim nóng bỏng, cuồng
nhiệt, được bơm bởi
dòng máu đỏ. Khi con tim ngừng
đập, thì máu huyết ngưng lưu
thông, tất cả mọi cử động
đều dừng lại và đôi
mắt không còn chớp chớp
vì e lệ hay xúc động.
Con tim có những lý lẽ của
nó. Đúng vậy! Về phương
diện sinh lý của cơ thể, chúng ta
ăn nhiều thức ăn có nhiều
dầu mỡ, nhất là mỡ
của động vật v.v...lại ít vận
động, dè chừng, lý lẽ
của con tim lúc đó là cao máu,
nhồi máu cơ tim...Về tâm lý,
nếu thường xuyên bị căng
thảng (stress) lo âu,
con tim sẽ trả lời bằng
đứt gân máu, bại liệt,
đau thần kinh, mất ngủ vì lưu
lượng máu đưa về não bị giảm, bế tắt. Cơn
vui nhiều quá cũng làm tim mệt mỏi
(Hỷ thương tâm
). Tiếng sét ái tình, những
tình cảm lãng mạn ...có làm cho
chúng ta trở thành thi sĩ, nhạc
sĩ hay văn
sĩ bất dắt
dĩ, và con tim lúc nầy có thể
khiến ta rên rỉ là trái tim mình
trở thành một
trái tim khô, trái tim mùa đông,
mùa hạ hay thu, rướm máu, ghẻ
lở, bên lề v.v...hay là gì
đi nữa cho đầy đủ hình
ảnh thê lương, ảm đạm nhưng
chỉ biết rằng những triệu chứng
đó dễ dàng đưa chúng ta
đến nơi an nghỉ ngàn thu.
Trong màu sắc của Năm căn,
sắc đỏ là Tinh tấn căn hoặc
Niệm căn, mang ý nghĩa đại
dũng, tinh tấn, nhẫn nhục, chánh
niệm, nên tâm thường thanh tịnh,
quang minh hiển chiếu.
Bảo
bộ có Đàn hình tam giác thuộc
pháp Hàng phục, như cái khuông
chụp hay ẩn chứa mọi vật, làm
hàng phục các ma oán cản ngăn con
đường đến bờ
giãi thoát, do đó, cũng là
nơi chứa những tốt đẹp,
phước huệ vô biên. Đàn
tam giác cũng là biểu tượng
của hỏa, đó là ngọn lửa
của tam muội, của chánh định và
3 góc cạnh của Đàn tam giác
đều nhau, gồm
Giới-Định-Huệ như ngọn
lửa có khả năng thiêu đốt
hay nghiền nát những vọng
tưởng vô minh. Do đó, không
lạ gì khi vị Hành giả vào
Đàn, thường quán
tưởng chữ Lãm (ở
trên) biến hình thành ngọn lửa
từ đỉnh đầu đốt
cháy xuống toàn thân hành giả,
tan ra thành vi trần.
Bảo bộ chủ của Hỏa đại,
sức nóng có trong vạn vật hay trong
con người cũng chủ cho Tâm hay
Chân như.
Trong Kinh Kim Cang nói rằng:" Như lai giả, vô sở tùng lai
diệc vô sở khứ, cố danh Như
Lai : Gọi là Như Lai, có nghĩa là
không từ đâu đến và
cũng không đi về đâu".
Năm vị Phật trong Mật giáo
tượng trung cho lục đại hay năm
uẩn trong một sinh vật, như con
người, đã chuyển hóa
từ Thức thành Trí. Một trong năm vị
Phật của Mật giáo, Đức
Phật Bảo Sanh là đứng vào hàng
thứ ba. Ngài ở phương
Trong Mật giáo, tay trái thuộc
Đại bi và tay phải thuộc Trí
tuệ.
Trong Ngũ trí sở sanh tam thân: Phật Bảo Sanh là
Thân nghiệp, Bồ tát Hư Không
Tạng là Khẩu nghiệp, Kim Cang Quân
Đồ lị là YÙ nghiệp. Hiểu
được Biểu tượng nầy
là hiểu được Tam mật (thân,
khẩu, ý) tương ưng. Thân thể
nhập vào Bổn tôn, tức Phật
Bảo Sanh hay Chân Tánh Bình Đẳng,
thì Khẩu cũng qui thuận, không còn
tạo nghiệp nên tất cả biến thành hư
không, và YÙ như thanh kiếm Kim
Cương chặt đứt mọi phiền
não, tịnh được ý
nghiệp.
Bây giờ, chúng ta nghiên
cứu tiếp bộ Kinh thường
được coi là biểu tượng
của Bảo bộ, đó là Kinh Phật
thuyết Đại Kiết Tường
Thiên nữ Thập nhị danh hiệu
(Trích trong Mật Tạng VN số 34, trang 383,
dịch Hán ra Việt: Huyền Thanh):
"Một thời
Đức Bạc-già Phạm ngự
ở thế giới An lạc ('Sukhavati).
Bấy giờ Bồ tát Ma-ha-tát Quán
tự Tại đi đến nơi Phật
ngự, cúi lạy sát dưới
chân Đức Phật rồi ngồi
một bên.
Lúc đó,
Bồ tát Ma-ha-tát Đại Kiết
Tường Thiên nữ cũng
đến nơi Phật ngự, cúi
đầu lễ dưới chân
Đúc Phật rồi ngồi sang một
bên.
Khi ấy, Đứùc Thế Tôn
muốn đem sự lợi ích cho
các hữu tình có phước
mỏng, nghèo túng nhìn thấy Thiên
nữ Kiết Tường, liền nói
với Bồ tát Ma ha tát Quán
Tự Tại rằng: "Nếu có Bật
sô, Bật sô ni, Cận sự nam, Cận
sự nữ cùng với các
loài hữu tình biết
được 12 danh hiệu của Thiên
nữ Đại Kiết Tường
nầy mà hay thọ trì, đọc tụng,
tu tập, cúng dường, diễn nói
cho người khác nghe thì hay từ
bỏ tất cả nghiệp chướng
nghèo túng, hưởng
được sự phú quý, tài
sản dư thừa".
Bấy giờ, tất cả Tám
Bộ Trời Rồng trong họâi
đều khác miệng cùng lời,
nói rằng:"Như lời chân
thật không hư dối của Đức
Thế Tôn, chúng con nguyện nghe 12 Danh hiệu.
Nguyện xin Đức Thế Tôn từ
bi diễn nói".
Đức Phật bảo:"Các
ngươi hãy lắng nghe! Nay ta sẽ vì
các ngươi mà nói, đó
là: 1-Kiết Khánh(Laksmi) 2-Kiết
Tường('Srì) 3-Liên Hoa(Padme) 4-Nghiêm
Sức(Vasìni) 5-Cụ
Tài(Dhànàdhipati) 6- Bạch Sắc(Gauri)
7-Dại Danh Xưng(Mahà Yasa) 8-Đại Quang
Diệu(Mahà Jyoti) 9-Thí Thực Giả 10-Thí
Ẩm Giả 11-Bảo Quang(Ratna Prabha) 12-Đại
Kiết(Mahà 'Srì). Và, Ngài liền
nói Đà-la-ni Đại Kiết
Tường là:
Tadyathà: 'Srìni 'srìni sarva kàrya
sàdhani sini sini alaksmi nà'saya svàha).
Khi Đức Thế Tôn nói
Đà-la-ni nầy xong, liền bảo Bồ
tát Quán tự tại
rằng:"Đà-la-ni Đại Kiết
Tường với 12 Danh hiệu nầy hay
trừ sự nghèo túng cùng
tất cả mọi việc chẳng lành, bao
nhiêu điều nguyện cầu đều
được đầy đủ, sẽ
mau được tất cả tài bảo,
sự giàu có, tốt lành, an vui v.v..."
Không biết trước kia, khi Kinh
nầy được truyền ra, thì
sự tin tưởng, đọc tụng,
thọ trì cũng như sự linh nghiệm
như thế nào. Nhưng, hoàn cảnh
khoảng hai thập niên cuối thế kỷ 20 rất
là bức bách. Do đó, khi bộ
Kinh được Thầy Thích Viên
Đức dịch từ Hán ra Việt
văn vào năm 1980, thì cả một
làn sóng người người
trì tụng, cầu xin sự gia hộ
để thoát được hoàn
cảnh khốn cùng v.v...
Vẫn biết khi tâm cầu chí
thành tất có ứng, vì
đó cũng là hạnh nguyện của
chư Phật, chư Bồ tát v.v...Nhưng, qua sự
dồn dập của rất nhiều
người thọ trì, đọc tụng
...chỉ vì sự hạn hẹp, chật vật
cũng như mưu cầu tư sinh cho
đời sống, mà không hiểu
ý nghĩa của Kinh, của phương tiện
thiện xảo trong Mật giáo, thực
sự, làm cho những hành giả của
Tông Mật rất lo ngại, vì sẽ
dẫn đi thật xa, vượt ra khỏi
tư tưởng chính yếu và
cứu cánh của Mật giáo.
Điều nầy, nhiều lần tôi
có trình bày cùng Thầy Dịch
giả Thích Quảng Trí, sau khi Thầy
Viên Đức viên tịch.
Trong phần nói về Thiên nữ
Kiết Tường trong MT PGVN số 2, trang 369.
Chúng ta biết Ngài có tên Phạn
là 'Srì Mahàdevi, được gọi
là vị Thần hay ban bố phước
đức. Là Ái phi của
Trời Na-la-diên (Nàrayana Deva), mẹ
của Thần Ái dục(Kàma). Cha tên
là Long vương Đức-xoa-ca (Taksaka
Nàga Ràja), mẹ tên là Ha-lị
Đế mẫu (Hrtye Màtr), anh là
Trời Tỳ-sa-môn (Vai'sravana). Thiên
nữ nầy trong tư tưởng của
Ấn độ, được chuyển
hóa vào trong Phật giáo, và rất
quan trọng trong Mật giáo.
Cho nên, trong Sao ghi rằng: Vào thời Phật Tỳ-bà-thi,
Bồ tát nầy là cô gái tên
Nguyện Sa làm 3 cái bánh phước
điền phụng cúng Đức Phật
và phát thệ rằng:"Đời
sau, con làm Bồ tát Mãn Nguyện,
lúc thành Đẳng Chánh Giac sẽ
mang hình thể nữ, diện mạo đoan
chánh, đu tướng trăng tròn,
ban phước cho tất cả chúng sanh,
nguyện chẳng bỏ thân nữ, chẳng
bỏ cõi Diêm phù đề, nguyện
cứu chúng sanh".
Trong Kinh Đại Kiết Tường ghi
rằng:"Này
Thiên nữ Kiết Tường!
Ngươi sẽ ở thế giới
Kiết Tường Bảo Trang nghiêm
thành Đẳng Chánh Giác, hiệu
là Như Lai Ứng cúng Chánh
Đẳng Giác Kiết Tường Ma-ni
Bảo Sanh". Còn trong Thiên Vương
Niệm tụng pháp ghi: Bồ
tát Quán Thế Âm thị hiện
hình Thiên nữ tên là Kiết
Tường Thiên, nên cư ngụ tại
Thế giới Cực Lạc. Bộ
Quyết Nghi sao thì cho rằng:" Thiên nữ Kiết Tường
đồng thể với Đức
Như Lai Bảo Sanh, nên có trú xứ
ở phương
Chúng tôi cố ý dẫn
chứng 3 Bộ Kinh căn bản để
nói về Bảo Bộ, đó là Kinh
Nhất Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn
thân Xá-lợi Bảo Khiếp Ấn
Đà-la-ni, Kinh Bảo Tất Địa
Đà-la-ni và Kinh Đại Kiết
Tường Thiên nữ Thập nhị
Danh Hiệu và qua các bộ Kinh nầy,
chúng ta biết được gì về
Bảo Bộ và từ đó,
đưa ra thông điệp quan trọng nào
để khai phát Tánh Phật trong mỗi
chúng sanh để đóng góp cho
nền văn minh con người.
"Vào lúc
bình minh, sau đêm Ngài đắc
quả Vô Thượng. Đức
Phật nhìn nhận cuộc đi lang thang bất
định trong trong nhiều kiếp sống
quá khứ đầy khổ đau
phiền não. Ngài phải đi bất
định và do đó, phải chịu
khổ đau, bởi vì chưa tìm ra
người đã xây dựng
cái nhà- tức thể xác
nầy.Trong kiếp sống cuối cùng,
giữa khung cảnh cô đơn tịch
mịch của rừng thiêng, lúc đi
sâu vào công trình thiền
định mà Ngài đã dày
công trau dồi từ xa xôi trong quá
khứ. Ngài khám phá ra anh thợ
cất nhà hằng mong mỏi muốn biết.
Anh thợ nầy không phải ở
ngoài, mà ở sâu kín bên trong
Ngài. Đó là ái dục, sự
tự tạo, một thành phần tinh thần
luôn luôn ngủ ngầm bên trong tất
cả mọi người. Ái dục xuất
phát bằng cách nào thì không
thể biết. Cái gì ta tạo ra, ta có
thể tiêu diệt.
Cái sườn của căn nhà
tự tạo ấy là những ô
nhiễm (kilesas) như tham (lobha) sân (dosa) si (moha)
ngã mạn ((mãna) tà kiến (ditthi)
hoài nghi (vickicchã) dã dượi
(thĩna) phóng dật (uddhãcca) không
biết hổ thẹn (ahirika) không biết
sợ (anottappa). Cây đòn dong chịu
đựng cái sườn là vô
minh, căn nguyên xuất phát của mọi
dục vọng. Phá vỡ được
cây đòn dong vô minh bằng trí
tuệ tức là đã làm sập
được căn nhà. Suờn
và đòn dong là những vật liệu
mà anh thợ dùng để xây
cất cái nhà không đáng cho ta ham
muốn. Nếu hết vật liệu tức
nhiên anh thợ không còn cất
nhà được nữa. Khi cái nhà
đã bị phá tan tành thì cái
tâm đã đạt đến trạng
thái vô lậu, vô sanh bất diệt,
là Niết bàn". (Trích trong Đức Phật và
Phật Pháp của Đại Đức
Nàrada Thera, Phạm kim Khánh dịch, tr.66 ).
Giáo lý tối thượng mà
Đức Phật khám phá, cốt
lõi đó là đạo lý
duyên khởi, nói rõ sự
tương duyên tương sanh của tất
cả mọi hiện tượng trong vũ
trụ, cho đến người:
Cái
nầy có thì cái kia có
cái
này sanh thì cái kia sanh
cái
nầy không thì cái kia không
cái
nầy diệt thì cái kia diệt
Từ giáo lý Duyên khởi
nầy đưa đến sự tháo
gỡ những khúc mắc đã
đưa chúng ta làm người
lữ khách trong bao nhiêu kiếp qua,
đắm chìm trong vô minh và đau
khổ, do sự chấp ngã vì vô minh.
Không có một cái gì hoàn
toàn độc lập, mà chúng luôn
luôn nương dựa vào nhau để
hiện hữu. Do đó, chúng vô
thường và luôn sanh diệt, biến
dạng, điều kiện hóa theo những
nhân duyên phối hợp. " Biết được
thực tướng là vô
tướng, thoát ly niệm, thoát ly
hết thảy ngã tướng, hiển bày
thực tướng vô tướng.
Vì thời gian thực tính là
vô ngã nên quá khứ, hiện
tại là một, thời gian vô
lượng và khoảnh khắc là
một. Vì không gian thực tướng
là vô ngã, nên xa gần là
một, rộng hẹp là một. Vì không
gian và thời gian là vô ngã,
nên đều dung nhiếp nhau, nên vô
ngại. (Tư tưởng Kinh Pháp Hoa,
Thích Chơn Thiện, tr.29).
Trong bài Chuyển Pháp Luân
đầu tiên khi đắc quả Vô
Thượng Bồ Đề, Đức
Phật nhấn mạnh đến Thánh
đế đầu tiên- đó là
Khổ (dukkha), một trong Tứ Diệu Đế.
Đời
sống hiện tại của chúng ta quả
có đau khổ và sự khổ đau
nầy đã theo đuổi con
người qua bao nhiêu kiếp sống
và dù có khoác qua bất kỳ
hình thức nào dù buồn vui,
hạnh phúc, giàu sang, phú quí mạnh
khỏe, sắc đẹp v.v...nhưng hiện
hữu của chúng là vô
thường. Mọi sự vật luôn
luôn biến đổi và càng nhìn
ra được sự biến chuyển
đó, ta càng sợ hải. Do chấp
vào thân, ta sợ sanh, già, bệnh,
chết, sợ mong cầu không
được, lầm tưởng cuộc
đời nầy thường còn
và đi tìm nơi chốn để
bám víu. Tất cả mọi hành
động, mọi suy nghĩ v.v...đều như
để tự lừa dối chính
mình về muôn vật đều
thường còn, nhất là
những gì mình sở hữu,
càng cố bám giữ, nên
đều được suy diễn như
một thái độ chấp hữu,
thủ chấp. Chúng ta tin bất cứ
điều gì để chỉ có mục
đích duy nhất cho sự chấp thủ
đó, vô tình lại đem tất
cả đất cát, rác rưới,
phiền não, lo âu v.v..phủ dầy lên
viên ngọc Chân Tánh. Dù vậy, Chân
Tánh nầy không vì thế bị dơ
bẩn, vẫn không sinh không diệt, không
bị điều kiện hóa hay bị chi
phối bởi không-thời gian.
Đó là viên ngọc Ma ni Như YÙ
hay bản lai diện mục của chúng ta.
Đức Phật đã trải qua
vô lượng kiếp tu hành và
thành Đạo. Tuy nhiên, có những
kiếp sống, là một chúng sanh
thường tình, Ngài đã
từng đau khổ như chúng ta. Nhưng,
sau khi kinh qua những thống khổ nầy,
Ngài nhìn rõ được
thực tướng của nó và
từ đó, Ngài dấn thân
vào cuộc hành trình từ bỏ....
Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện
ghi nhận quả Phật từ Duyên
khởi:
Chư
Phật lưỡng túc tôn
tri
pháp thường vô tánh
Phật
chủng tùng duyên khởi
thị
cố thuyết nhất thừa
dịch:
Chư Phật viên mãn đức và
trí
hiểu
biết các pháp rỗng không tự
ngã
quả
Phật đến từ duyên khởi
nên
chỉ nói pháp nhất thừa
Chính cái thân cấu
tạo bởi năm uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành và thức) nầy
là nguyên nhân của sự khổ.
Có 3 nguyên nhân chủ yếu làm
nhân cho sự khổ, thúc đẩy
bởi ái dục hay vô minh:
1-
Ái
dục thỏa mãn cho dục lạc.
2-
Ái
dục vào đời sống, mở
rộng cái ngã.
3-
Ái
dục phá hủy những điều
không vừa ý
Những
hành động thể hiện bởi
Ái dục tạo ra
nghiệp, chi
phối toàn diện con người qua qua
thân, miệng, ý và gây ra những
hành động thiện hoặc ác, tạo cho
đời sống an lạc hay phiền
nảo. Tác ý
tức nghiệp. Có Ái dục
tức có Vô minh, có Vô minh
nên tạo thành Ái dục, tham
đắm, đây là 2 sợi dây
chằng chịt nối kết nhau làm
thành 12 nhân duyên.
Trong lý mê ngộ nhân quả nói
rằng: Trong pháp Tứ đế, cái
nhân của mê vọng là Tập
đế, cái quả của mê vọng
là Khổ đế, cái nhân của
chứng ngộ là Đạo đế
và cái quả của chứng ngộ
là Diệt đế. Thánh đế
thứ hai (Tập đế) và thứ
ba (Diệt đế) là hai giai đoạn quan
trọng bậc nhất, sau khi nhận thức
được sự Khổ, tìm ra
đồi mối của của nó, và Đạo
đế là hậu quả tất nhiên
của hai Thánh đế trên.
Cái gì để chúng ta hiểu
được hay thọ nhận ra Khổ
đế và từ đó,
bước đi những bước
trên lộ trình giải thoát. Đó
chính là ý thức. “YÙ thức chỉ cho
toàn bộ tâm thức, tiềm
thức, hiện thức. YÙ thức như
một mũi giáo chọc thủng, đi
sâu vào tâm thức như một
sự soi ngược lại. Cho nên, ý
thức bản ngã là trực nhận
về nó. ” (Triết học Tánh
Không của Tuệ Sỹ, tr. 75). YÙ
thức là con ngựa bất kham "tâm viên ý mã",
nhưng khi đã chuyển thành Trí,
nó nhìn ra được gương
mặt xưa nay của mình và YÙù
thức đã chu toàn trách nhiệm
trong Bình đẳng Tánh trí.
Trực nhận ra nó, ta mới
nhìn ra đâu là gốc rễ của
sanh tử, của Niết bàn và
Phiền não - Hạnh phúc qua một sự
chuyển y.
Qua Bộ Kinh Nhất thiết Như Lai Bí
mật Toàn thân Xá lợi Bảo
Khiếp Ấn Đà-la-ni, chúng ta nhận
thấy, Ngài đã đưa tay chỉ
rõ mặt trăng, đó Chân Tâm.
Đức Phật đã đảnh
lễ ngôi tháp củ được coi
là chứa toàn thân Xá-lợi
của Đức Phật. Ngài đã
mở cửa cho thấy được
trong cái thân vô thường của
mọi chúng sanh, dù luân chuyển,
trầm luân qua bao nhiêu kiếp sống,
nhưng tận cùng trong cái thân nầy
có cái bất sanh bất
diệt-Đó là Tánh Phật.
Đảnh lễ tháp như biểu
tượng cho cái không gian và
thời gian vô cùng vô tận,
Tánh Phật nầy vẫn còn nguyên
vẹn như viên ngọc Vô Tướng Ma
ni, Chơn Tánh Bảo châu v.v..mà chỉ
vì chúng sanh bị nghiệp chướng,
báo chướng nặng nề nên
không nhìn ra được. Và
ở đây, như một lần
nữa nhắc nhở cho chúng ta
đừng quên Tánh Phật của mình,
vì khi quên, chúng ta lại thêm một lần
bước lang thang trên con
đường vô định.
Nhận thức được như
vậy, chúng ta mới hiểu rõ của
ý nghĩa của Bảo bộ trong Mật
giáo, và mới can đảm thể
nhập vào con đường "vô môn" tìm
lại con người muôn thuở của
mình.
Trong kinh Pháp cú số 276,
Đức Phật dạy rằng: "Các người
hãy tự mình cố gắng, Như lai
chỉ là người chỉ
đường". Qua hình ảnh
của Đấng Từ phụ đắc
quả thành Chánh Giác dưới
cội cây Bồ-đề và qua những
Giáo pháp còn lưu truyền lại
đến nay, và đã biết bao con
người đã vượt ra khỏi
cái không gian hạn hẹp của thân
xác, nhận ra và hằng sống trong
Tánh Phật của mình, chúng ta thật
là có đại nhân duyên
lớn, thừa hưởng pháp
nhủ đó. Thật là hạnh phúc
biết bao, khi biết hạt giống Tánh
Phật có nơi mình. Nhận lấy
chủng tử hay hạt giống Phật có nghĩa
là gom tất cả điều thiện do
thân khẩu ý, các sở hành
để đưa đến quả Phật
và nối tiếp sự nghiệp của
Phật là Giác tha.
Hình ảnh của Thiên nữ
Đại Kiết Tường nơi
đây lại soi sáng thêm ý nghĩa
của Bảo bộ. Nơi nào có Ngài
là nơi đó có Ngài Hắc
Ám nữ. Tại sao vậy? Bởi vì
chúng ta đang sống trong sự
đối đãi, nhị nguyên: có
không, vinh nhục, thăng trầm, phiền
não -Bồ đề v.v...Cho nên, không có Hắc
ám nữ thì không có Thiên
nữ Kiết Tường. Giải
thoát từ nơi phiền nảo, ly
trần cấu từ nơi uế nhiễm,
lìa vọng tức chân, đó
không phải là lấy cái nầy
bỏ cái kia, mà chỉ là sự
chuyển y của tâm thức. Cho nên,
tất cả trần cấu đều
trở thành báu vật như Như
YÙ Bảo Châu hay Như Lai Kiết
Tường Ma Ni Bảo Sanh.
"Thiên nữ Kiết Tường
cũng là Như Lai Ứng cúng
Chánh Đẳng Giác Kiết
Tường Ma-ni Bảo Sanh, Ngài cũng
là hiện thân của Bồ tát
Quán Thế Âm. Ngài còn được
coi là phân thân của Như Lai Bảo sanh.
Ngài không chỉ có 12 Danh hiệu, 108 Danh
hiệu, mà là có đầy đủ
muôn đức, vì đó là
Tâm Phật, hay Tánh Giác nơi mọi
chúng sanh.
Chủng tử là 'SRÌ (
), tam-ma-da hình là viên ngọc Như
ý. Chủng tử nầy gồm có:
- SA tự môn là
Pháp Thân, Bổn Tánh Tịch bất
khả đắc, trừ tâm sai biệt
của các pháp, nhiếp tất cả
diệu lý bình đẳng của
Pháp.
- RA tự môn là
Báo Thân, Ly trần bất khả
đắc, tức trừ sự nhơ
bẩn của trần nhiễm, nhiếp tất
cả phước đức trí
tuệ.
- Ì tự môn là
Hóa Thân, Tự tại bất khả
đắc, tức trừ tất cả tai
họa, nhiếp quả viên mãn cứu
cánh.
Đây là Tam Thân Nhất Thể.
Thường cùng với 3 loại
tương ưng nầy mà nhiếp tất
cả pháp. Đó đây, ngang dọc
nhiếp trì, trùng trùng vô
lượng bình đẳng, không cao
thấp. Rốt ráo lìa tướng, do
lìa tất cả tướng, cho nên
chứng Tự Chứng Tam Bồ
Đề của chư Phật, các Pháp
Chân Tục thảy đều
được hiện tiền .
Chủng tử nầy cũng gồm
thâu cả Ba Bộ là Phật bộ, Liên
Hoa bộ và Kim Cang bộ."( trích MT PGVN tr. 374 - 375).
Theo thiển kiến của chúng tôi,
như qua những trích dẫn từ Kinh
điển Mật giáo liên hệ
đến Bảo bộ, chúng ta đã
nhận thức rõ ý nghĩa của
Bảo bộ. Đó là biểu tượng
cho Chân Tâm Thường Hằng, Bất
sanh Bất diệt. Phật bộ là Thể
Tánh hay Phật Tri Kiến, Liên hoa bộ
biểu hiện cho Từ Bi, Kim cang bộ biểu
trưng cho Trí Tuệ và cả 3 đều
nhập chung trong Bảo bộ. Bảo Bộ cũng
bắt nguồn và sanh khởi từ
sự chuyển hóa tam độc tham, sân,
si, để trở thành Viên ngọc
báu. Phân tách ra để có thể
tạm nhận ra phần nào của biểu tượng,
nhưng tất cả chỉ là Một và
có sẵn đủ trong tâm con
người. Ví dụ như viên ngọc Ma
Ni Như YÙ, chiếu sáng khắp mọi nơi,
mọi phương chốn và tùy tâm
ứng nguyện của chúng sanh để
bố thí, nhưng tựu trung chỉ là
đồng trong thể của viên ngọc. " Biết được
Chủng tử, Tam hình, Bổn tôn là
đều chỉ cho Như YÙ Bảo Châu,
Thiên nữ Kiết Tường là
thực thể của Bảo Châu. tức
là Bổn Tâm của Đức
Phật
Tỳ-lô-giá-na" ( như trên, MT
PGVN, tr. 375). Và
cần nhấn mạnh rằng, Bảo bộ
tức là lộ trình đã trở
về căn nhà của Bổn tâm,
được thọ hưởng
được cái Gia tài Vô giá
mà Đức Phật đã chỉ
dạy. Cho nên, Bảo bộ thâu nhiếp
cả Đại thừa, Tiểu thừa,
Kim cang thừa v.v.v
Vì lẽ đó, trong Kinh Pháp
Bảo Đàn, khi nghe được Tổ
Huệ Năng trong thốt lên rằng:
“Nào
dè tự tánh vốn sẵn thanh tịnh
Nào
dè tự tánh vốn không sanh diệt
nào
dè tự tánh vốn sẵn đầy
đủ
nào
dè tự tánh vốn không lay
động
nào
dè tự tánh có công năng sanh
ra muôn pháp
chúng"
Chúng ta mới hiểu
được là trong Tâm có tất
cả những yếu tố làm nên
một vị Giác ngộ. Tâm phàm phu
ví như hoa sen chưa nở, Tâm Phật
là hoa sen đã hé nở và
đây là sen tâm của Phật tánh.
Trong Khế Kinh ghi :"Vô
bất tùng thử pháp giới
lưu, mạc bất hoàn qui thử pháp
giới : Không một pháp nào
chẳng từ tâm nầy lưu xuất
và không một pháp nào chẳng
trở về tâm nầy". hoặc :"Thị pháp trụ
pháp vị, thế gian tướng
thường trụ : Pháp nào vẫn an
trụ địa vị của pháp nấy, tướng
thế gian là tướng thường
trụ".( Đại thừa Khời
tín luận của Tổ Mã Minh, tr, 23- 25).
Trong Kinh Đại Nhật nói:" Ai muốn tu thành Phật
đều phải có đủ: Bồ
đề tâm, làm nhân. Đại bi
làm căn, tức hạnh và Phương
tiện làm cứu cánh, tức
quả".
Tâm Bồ
đề tức là trực tâm hay
là nguyên ủy của Bảo bộ.
Trực tâm: Ví như pháp thân,
thân tâm ví như pháp đại
thừa, pháp giải thoát. Bồ
đề tâm ví như Trí tuệ
Bát nhã. Trực tâm (Giới)
thân tâm (Định) Bồ đề
tâm (Huệ).
Khi hiểu được thân
người là vô thường,
biến đổi vì do nhân duyên
hòa hợp nên thành. Hiểu rõ
được khổ đau, phiền nảo
là do chấp ngã và nhận thức
được ra lý duyên khởi
của vạn pháp. Người hành
giả nhìn ra Phật tánh nơi chính
mình và của chúng sanh, nhưng tấm
lòng vì những chúng sanh vẫn
còn đang vẫy vùng trong biển
nghiệp, lưu lạc trong ba cõi, sáu
đường, nên họ phát Bồ
đề tâm nguyện độ sanh,
để cùng nhau vượt bể khổ,
đúng theo tinh thần Đại thừa
hay Bồ tát đạo.
Trong phần Tiểu dẫn khi dịch Văn
phát Bồ đề tâm của Ngài
Thật Hiền, Thầy Thích Trí Quang có
nói:" Trong Tam tạng,
Bồ đề tâm được
nói một cách trang trọng, không hơn
thì bằng mà thôi, chứ không
kém một pháp nào. Phát Bồ
đề tâm, nói đơn giản
là trước hết lập cái
chí nguyện mong cầu Tuệ giác Vô
thượng Bồ đề, kế
đó phát triển Tuệ giác ấy,
cuối cùng, phát hiện bản thể
của Tuệ giác ấy là Chân như.
Giai đoạn trước hết, chí
nguyện mong cầu Tuệ giác Vô
thượng Bồ đề hàm có 2
tính chất: Thượng cầu Phật
đạo, hạ hóa chúng sanh.Như vậy,
đối với người học
Phật, phát Bồ đề tâm không
những là bước đầu,
mà còn là căn bản, không
những là căn bản mà còn
là cứu cánh.
Về lý do phát Bồ đề
tâm, ngoài nổi thống khổ sanh
tử mà mình mục kích và
ý thức, có 2 việc mà kinh luận
đề cập nhiều nhất, đó
là tự biết mình có thể
làm Phật, và, tha thiết hơn cả,
nghỉ đến sự suy tàn của
Phật pháp" (trang
8 ).
Đây là những bậc xả ly,
những người muốn ra khỏi tam
giới, dù mang bất cứ hình
thức nào, nhưng tâm hạnh của
họ là sự từ bỏ. Vì
sự chứng đắc Tuệ giác,
vì phát nguyện độ sanh, vì
sợ suy tàn của Phật pháp- có
nghĩa là hạt giống Phật sẽ không
còn. Đòi hỏi sự xả ly,
vì không có sự từ bỏ
thì không có sự chứng
đắc, vì vẫn còn sự
chấp trước dù dưới mang
danh nghĩa cao đẹp như hạnh phúc hay
phiền não. Cho nên, sự từ
bỏ hay xả ly là căn bản của lộ
trình giải thoát, đưa tâm mình
đến cõi giới rộng bao la.
Càng xả ly, từ bỏ bao nhiêu
thì sự phì nhiêu của tâm linh
tràn đầy bấy nhiêu. Không gian
của tâm sẽ rộng hơn, không còn
sự nhỏ nhoi của tâm địa hạn
hẹp, vướng chấp. Cho đến khi
sự từ bỏ tuyệt đối,
không còn một vướng mắc
nào, thì chính đó là sự
tròn đầy của Bảo bộ.
Bởi vì trong vùng trời cao rộng
của Chân Tâm, đó là một
tài nguyên hay kho tàng vô giá,
xài bất tận, vì nó không hình
tướng, không một dung chứa
nào, nên nó vô cùng vô tận.
Tâm vô cùng thì kho tàng cũng
vô cùng tận. Ngươi chứng
đắc là người bơi lội
và hành sử kho tàng nầy một
cách vô ngại.
Qua đó, họ có lòng
hướng dẫn cho mọi người
được mở rộng tâm
giới hay nhãn giới để
nhìn thấy Chân tánh, thấy rõ
“Bản lai diện mục” của mình. Tuy
nhiên, điều nầy cũng thật
là vô cùng khó khăn, như
đối với người nghèo
cùng tận lại nói kho báu trong nhà
có thể xài vô tận, trong khi
người nầy chưa ý thức
thế nào là kho báu và việc
trước mắt là cần nắm ngay
những cái hiện hữu, sở
hữu trước mắt. Sự xả
bỏ là một điều cay đắng,
mất mát với họ. Sự
đối nghịch nầy là do nghiệp
thức người đó còn
đong đưa giữa hai bờ: Giải
thoát hay luân hồi.
Trong Tư tưởng Kinh Pháp Hoa của
Thầy Chơn Thiện, trang 26: " Giáo nghĩa trọng tâm của Kinh
là Lục đọâ Ba la mật của
Bồ tát hay gọi là giáo nghĩa
duyên khởi và Tứ đế
được hành ở cấp
độ rốt ráo với đại
nguyện độ sanh. Tại đây, ý nghĩa
khai-thị-ngộ-nhập hiển lộ:
- Phật tri kiến là tri
kiến giải thoát ở cuối
đường Lục độ ba la mật (khai
thị)
- tự mình thấy
rõ điều đó là ngộ
Phật tri kiến
- hành viên mãn lục
độ để thành tựu trí
tuệ vô ngã,
- viên mãn với
tâm đãi từ đại bi là nhập
Phật tri kiến"
Khi đã ngộ Nhập Phật Tri kiến,
như đã nói ở trên: Lý
tưởng độ sanh của Bồ tát
là những cuộc dấn thân vào
các cõi bất toàn, khổ đau
như là một chặng đường sau
cùng của giải thoát. Người
hành giả giải trừ
được Ngũ ác kiến, gồm
có: Thân kiến:
tin chắc là thường có cái
thân. Biên kiến:
thường chấp một bên như tin
chắc sau khi chết, ngã thể đoạn
diệt hoặc thường tồn tại. Tà kiến: không
tin có lý nhân quả, dứt
đường thiện căn. Kiến thủ kiến: cho những
ý kiến trên là chân lý
cứu cánh, rồi chấp
trước. Giới
cấm thủ kiến: lấy những
điều giới cấm phi lý làm
nhân để sanh thiên, hưởng
lạc. Đó là 5 lợi sử trong
thập sử. Cho nên, khu dứt
được ngũ kiến liền
đắc Đệ nhất nghĩa không,
gọi là vô sở đắc và đi
sâu vào Phật trí với 6 hạnh:
Bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Trong
sáu hạnh nầy, lấy Trí tuệ
làm đầu. Như Kinh Lăng Nghiêm
nói:"Tam vô lậu
học là: Nhiếp tâm là giới,
nhân giới sanh định, nhân
định phát huệ".Vì trí
tuệ soi sáng được mọi hạnh
nguyện, thoát ra khỏi 4 tướng:
nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả.
Trong Bộ Mật tông của Đại sư
Hoằng Pháp, Phần Lập Đàn, tr. 45
nói rằng:"Những
vị tu hạnh Du già, muốn thành
tựu Pháp Thế gian và Xuất
thế gian, trước nhất cần phải
phát tâm Bồ-đề, vào Hải
hội Mạn-đà-la của chư Phật,
giữ giới thanh tịnh, xa lìa vọng
duyên, nghiệp thân-khẩu-ý
thường như thật, hiểu rõ
lý tánh tướng. Những vị
như thế, mới có thể kiến
lập Mạn-đà-la để làm
lợi ích cho mình và người"
Điều nầy cũng đồng
với tư tưởng trong Kinh Pháp
Hoa:" Vào Như Lai,
mặc áo Như Lai v.v...". Pháp xuất
thế gian hay thế gian là hạnh nguyện
của Bồ tát, từ tâm phát
Bồ-đề và nhập vào Thể
Tánh của chư Phật và hiểu rõ
tường tận thực tướng,
thực tánh của các Pháp, xa lìa
vọng duyên v.v...mới kiến lập
được Mạn-đà-la hay cõi
Tâm, cõi Phật. Cõi Tịnh độ
nầy được tạo thành do và
bởi chúng sanh. Trong Kinh Duy Ma Cật, tr. 16
– 18 , Liên hoa Tịnh huệ dịch) : "Do tâm thanh tịnh nên
quốc độ thanh tịnh, do tâm bình
đẳng, không cấu uế nên các
cõi báu trang nghiêm"
Nghi quỹ Thọ Bồ đề Tâm
giới cũng đồng nghĩa như
trên, phát tâm Vô Thượng
Bồ Đề:
Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền
não vô tận thề nguyện đoạn
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học
Phước
trí vô cùng thệ nguyện tu
Như
Lai vô số thệ phụng sự
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện
thành
Do phát tâm, nên xa
lìa ngã tướng và pháp
tướng, hiển rõ Bản giác
Chân như, khiến Chánh trí Bình
đẳng hiện tiền, được
phương tiện hay khéo cùng tròn
đủ Hạnh Phổ Hiền".( Mật Tông, tr.62).
Do dấn thân theo lý tưởng
Tự giác, Giác tha nầy, hành
giả sử dụng biết bao phương
tiện để độ sanh, và Giác
hạnh viên mãn. Cho nên, trong Mật Tạng
ký nói rằng:” Mỗi
vị Bồ tát đều có 3 thân,
tức Tự tánh luân thân, là
Pháp thân của Phật trụ ở tự
tánh. Chánh pháp luân thân là
Chân thực thân để dùng
tráp pháp độ người.
Giáo lệnh luân thân là thân
nhận giáo lệnh của Phật hóa hiện
thành Phẫn nộ hình để hàng
phục chúng sanh ương ngạnh”.
Tất cả đều là phương
tiện thiện xảo để đưa
đến cứu canh duy nhất là: Đồng thành Phật
đạo.
Đem đạo để chuyển hóa
cuộc đời, bởi vì
đời cũng chính là Đạo,
trong cái đời sống
thường tục. Nơi trong phiền não,
uế trược có sự hiển
hiện của Bồ đề, Niết bàn,
chỉ chuyển y, Chuyển những tham sân si,
chấp thủ, tham ái do quán
tưởng hay dùng câu chân ngôn
đi sâu vào tạân hang ổ của
phiền não, sanh diệt để nhổ
những gốc rễ của sanh tử,
khổ đau nầy và nương theo
giới định huệ và tâm
Đại bi. Mật giáo qua thân khẩu
ý tương ưng, đạt đến
Giới-định-huệ, nhưng rất coi
trọng tâm Đại Bi vì đó
là nguyện và sở hành. Mật
tâm nầy cũng rất là nguy hiểm,
nếu không khéo sử dụng sẽ
rơi vào pháp thuật thần thông,
tạo thêm nhiều si mê, chấp thủ
và tham ái, ôm phương tiện làm
cứu cánh và tạo thành nỗi
khổ luân hồi. Trong khi, Mật giáo
miên mật cốt để dùng Mật
nhủ rửa sạch, chuyển y cái gốc
rễ nầy để thoát ra khỏi vọng
chấp, chứng ngộ Chân Tánh.
Kinh Viên Giác, trang 10 : "Nói về Nhân địa tu hành
của các Đức Như Lai. Khi Bồ
tát Văn Thù hỏi Phật: Các vị
Bồ tát đối với đại
thừa đã phát tâm Bồ
đề rồi, làm sao xa lìa các
bệnh (trừ vọng) khiến cho chúng
khỏi đọa vào đường
tà kiến"
Khi Đức Phật trả lời
Ngài Văn Thù: Ta có đại
đà la ni tên là Viên giác,
từ tánh giác nầy mà sanh ra
tất cả các Pháp thanh tịnh như Chân
như, Bồ đề, Niết bàn, Ba la
mật v.v..Do đây, mà vĩnh viễn
đoạn trừ vô minh, được
sáng suốt thanh tịnh viên mãn,
nên mới được gọi là
Phật". Do đó, để thể
nhập vào Bảo bộ hay Tánh Viên
Giác, chúng ta phải hiểu gốc rễ
khổ đau nào đã đưa
đến trầm luân, đoạn cắt
đường Bồ đề.
Cái khổ nạn nặng nề nhất,
đó là cái chấp ngã, chấp
pháp, vì không nhìn rõ
được thực tướng
của sự vật do duyên sanh. Do đó,
sanh ra phiền não. Phiền não nầy
gồm:" Căn bản
phiền não và tùy phiền não
cả hai đều do tâm sanh, do vọng chấp
và đó là cội guồng phát
sanh tam giới, tạo nên vô số
pháp giới thiên sai vạn biệt.
- Tâm phiền não tạo
nên cõi tâm địa địa
ngục
- Tâm thanh tịnh tạo
nên canh giời thanh tịnh, Niết bàn.
(Kinh Duy Ma Cật, trang 29 ).
" YÙ thức được
ngũ uẩn là không, do nhiều duyên
hợp thành. Cho nên, người
hành giả không còn bị ràng
buộc trong ngũ uẩn. Trong một bài thuyết
pháp đầu tiên, Đức Phật
nói:"Này các
Tỳ kheo, thế nào là khổ?
Đó chính là ngũ uẩn. Mọi
sự vật ràng buộc trong ngũ uẩn
là khổ". Đặc tính của
ngũ uẩn luôn luôn biến đỗi.
Những gì vô thường
đều là khổ".(Trích trong
Tứ Diệu đế, Thầy Thích
Mãn Giác, tr.12).
Lý duyên sanh chi phối mọi hiện
tượng của vũ trụ cũng như giữa
con người và vạn hữu. Mọi
hiện tượng giới đều
bị chi phối bởi sự duyên sanh
duyên diệt nầy. Người hành
giả khi thấu rõ Phật Tri kiến, nhận
thức các pháp hữu vi
đều vô thường nên xa lìa
trần cấu, do đó phá vỡ
được ngã và pháp chấp.
Chúng tôi cũng xin nói qua về
sự tu bố thí: Trong đạo Phật,
có nhiều nhà nghiên cứu hoặc
học giả cho rằng: Càng bố thí
nhiều thì càng có nhiều
phước báu và những
người giàu có, nhiều
phước báu thì dễ tu.
Đứng trên phương diện tục
đế, có thể đúng một
phần, nhưng trên phương diện chân đế,
vấn đề mới lại xảy ra.
Chúng ta đều biết, cứu cánh
của đạo Phật giải thoát khỏi
sanh tử luân hồi, bên cạnh
đó là phước huệ song tu.
Vì thế, Đức Cồ Đàm
được gọi là Đấng
Lưỡng Túc Tôn, hàm ý
đầy đủ Phước Trí
Nhị nghiêm. Nếu cho rằng: cứ tu
phước và hồi hướng
tất cả về quả vị Phật thì
chắc chắn sẽ thành Phật hoặc
giả, người nhiều phước báu
sẽ dễ tu thiền hơn. Theo thiển ý,
đó là cái nhìn của biên
kiến, nhị nguyên hay giới hạn theo
một mặt nhìn hoặc nói để
khuyến khích sự bố thí Còn
nói đến Bố thí ba-la-mật,
thì đó là khía cạnh khác
của vấn đề, vì nếu đã
gọi là Bố thí ba-la-mật, thì
người hành giả dù là
hiện thân bình thường, nhưng
không còn là con người bình
thường như chúng ta, mà là
những vị đã và đang
hành hạnh của Bồ tát, vì
giác ngộ cảnh giới bất nhị
và biết cuộc đời là
huyễn hóa. Có nghĩa là trên
cầu thành Phật, dưới hóa
độ chúng sanh.
Trong hỗn mang của biển nghiệp,
phước báo chỉ làm nhẹ
bớt dòng nghiệp, nhưng không có
nghĩa là nghiệp lực không còn
tác dụng. Chỉ có trí tuệ do
sự tu tập thiền định, do miên
mật trong sự quán tưởng
thành thục, thể nhập vào Bổn
tôn và chứng ngộ được
tánh không, thì nghiệp lực không
còn giá trị tác dụng. Điều
đó, có nghĩa là sức
nghiệp vẫn còn đó, nhưng người
hành giả đã nhận biết
thực tánh của nó, nên không
còn bị nó chi phối. Do đó,
nếu không thực tu và không
khéo uyển chuyển giữa
phước huệ song tu, thì đó,
cũng sẽ là nguyên nhân của
đời thứ ba và chúng ta
không biết mình sẽ ra sao?
Cuộc sống càng ngày càng
xáo trộn, đảo điên, lẫn
lộn giữa phương tiện và
cứu cánh. Mỗi ngày có biết
bao nhiêu cảnh địa ngục xảy ra, trong
tâm mọi người, trong môi
trường xã hội chung quanh. Nếu gọi
đó là nền văn minh hiện
đại, xu hướng phải tiến
triển như vậy, thì đó là
sự sa đọa trầm trọng của
tâm thức con người.
Đời sống văn hóa của
nhân loại cần phải có một nền
văn hóa nhân bản với chiều sâu, có
thể chuyển hóa những phiền
não, tham sân si, vọng chấp, thủ
kiến, tham ái ...đã, đang và
sẽ dẫn con người đến
chỗ diệt vong, để chúng trở
thành những tinh hoa, tâm linh, giải
thoát và về
chiều rộng, đưa con người
đến chỗ gần nhau trọng nhau, hiểu
nhau, trong tinh thần tương duyên tương
sanh, vì đã thoát ra khỏi
những ràng buộc hẹp hòi của 3 độc
nầy.
Nền văn hóa tâm linh đó
không nhất thiết phải là tôn
giáo vì nếu chỉ vì tôn giáo
độc tôn, quá khích v.v...mà
đưa con ngươi đến sự
hủy hoại lẫn nhau, để bảo vệ
sự chấp thủ hay tôn giáo của
mình, thì tôn giáo đó không
cần thiết.
Trong suối nguồn tâm linh của nhân
loại, có đạo Phật. Diệu pháp
của Đức Phật có thể
cứu giúp chúng sanh thoát khỏi
khổ đau, vượt ra khỏi
đời sống đen tối, hạn
hẹp của vô minh. Đạo Phật có
thể hòa mình theo từng văn
hóa của mỗi quốc gia để đem
tư tưởng Giác ngộ, từ bi,
trí tuệ làm lành mạnh tâm linh con
người. Chúng ta có thể không
cần xem đạo Phật như là một
tôn giáo, nhưng là con
đường đưa đến giải
thoát, và Đức Phật chỉ
là một người chỉ
đường.
Chúng ta có thể áp dụng
giáo pháp của Đức Phật qua sự
kinh nghiệm của mình và nếu giáo
pháp đó đưa chúng ta ra khỏi
tâm cảnh mê lầøm, rối ren,
thì chúng hãy tin theo. Đó cũng
là lời Phật dạy.
Qua những phân tích, trình bày
ở trên. Với kiến thức
hạn hẹp, với sự tu học còn
yếu kém, chúng tôi chỉ xin nêu
lên một số Kinh và với nhận
xét riêng của mình về lý tưởng
giải thoát của Bảo bộ trong Mật
giáo. Với sự tiến triển
của tin học, truyền thông v.v.. con
người như gần lại với nhau,
nhưng vì còn bị đói kém
tâm linh, chúng ta lang thang trong sự thù
hằn, đố kỵ, ganh ghét, quá
khích đã làm cho sự gần nhau
nầy trở thành nguy hiểm,
đáng sợ. Do đó, nói
đến Bảo bộ là nói đến
sự hóa giải nầy bằng sự
Giác ngộ Chân Tâm.
Những hành giả của Mật
giáo, qua Bảo bộ, là những
người có niềm tin chắc là
mình có Phật tánh và tất cả
mọi người đều là Phật
sẽ thành. Do đó, họ
được khai
thị, ngộ và nhập Tri Kiến Phật, và
đường đi của họ là
sự đồng hành vói mọi
người trên tâm lộ rộng mênh
mông, và những gì thái quá,
cố chấp không còn đất
đứng.
Vì nhận thức rõ mình có
Tánh Phật, và vạn vật đều
có mặt do duyên sanh, không tự
tánh, vô thường. Cho nên, trong khi
thọ Bồ đề Tâm giới, họ
phát nguyện rằng:
- Không lui sụt tâm
Bồ, vì phòng ngại cho sự thành
Phật.
- Không bỏ ngôi Tam
bảo, quy y theo ngoại đạo, vì
đó là tà pháp.
- Không hủy báng Tam
bảo và giáo điển Đại
thừa, vì làm như thế là
trái với Phật tánh.
- Đối với
những kinh điển Đại thừa
rộng sâu, chỗ mình không thông
hiểu cũng không sanh lòng phỉ báng,
vì đó chẳng phải là cảnh
giới của phàm phu.
- Đối với chúng
sanh đã phát Bồ đề tâm,
không nói những điều làm cho
họ thoái tâm, trở về
với Nhị thừa, vì làm như
thế là đoạn hạt giống Tam
bảo.
- Đối với
những kẻ chưa phát tâm Bồ
đề, cũng không nói pháp
khó tin hiểu của Đại thừa,
khiến họ nghi ngại rồi thoái tâm
trở lại Nhị thừa, vì làm
như thế là trái với bổn thệ.
- Trước hạng
người Nhị thừa và kẻ
tà kiến, không nên vội nói
pháp Đại thừa sâu mầu,
vì e họ sanh lòng nghi báng mà mang
tội nặng.
- Không khởi các
pháp tà kiến, vì như thế là
đoạn căn lành.
- Trước kẻ ngoại
đạo, không nên nói mình
được giới mầu Vô
thượng Bồ đề, khiến họ
sanh lòng ganh giận, tìm cầu giới
ấy không được rồi về sau
không thể phát tâm Bồ đề,
vì làm như thế cả hai đều
tổn hại.
- Những điều
gì có tổn hại hoặc không
lợi ích cho chúng sanh đều
chẳng nên tự làm, bảo người
làm, thấy kẻ khác làm vui theo,
bởi như thế là trái với
pháp lợi tha và lòng từ
mẫn.
Do thọ giới
pháp nội
chứng thanh tịnh vô lậu của chư
Phật, nhập vào Nhất thế trí. Những
hành giả nầy đem Tứ nhiếp
pháp để tùy thuận chúng sanh
mà làm lợi lạc cho họ,
đó là Bố thí, Ái
ngữ, Lợi hành, Đồng
sự.
- Vì muốn điều phục nghiệp
tham lam, bỏn sẻn từ vô thỉ,
để làm lợi ích chúng sanh,
nên họ Bố thí.
- Vì muốn điều phục
những phiền não, giận hờn,
kiêu mạn từ vô thỉ, để
làm lợi ích chúng sanh, nên
phải thực hành Ái ngữ.
- Vì muốn làm lợi ích cho
chúng sanh để tròn đủ bản
nguyện, nên phải tu pháp Lợi
hành.
- Vì muốn gần gũi Đại
thiện tri thức, để làm cho tâm
lành không bị gián đoạn, nên
phải thực hành môn Đồng
sự.
(Trích trong
Phần Thọ Bồ đề Tâm
giới, trong Đông Mật của
Đại sư Hoằng Pháp, tr.64 - 65).
Do đó, Mật giáo- một
phương tiện đưa đến giải
thoát trong Đạo Phật, tồn tại như
một bóng mát của cây Từ bi
phủ lấp cả bầu trời mê
lầm, vọng tưởng, đảo
điên. Và điều càng nghịch
lý hơn nữa, khi xã hội càng
văn minh, khoa học kỹ thuật càng
tiến bộ vượt bực, thì
sự mầu nhiệm của Mật giáo
càng hiển lộ đẹp đẽ,
siêu thoát, dẫn đường cho
nhân loại trong cuộc sống an lạc, hạnh
phúc.
Với kiến thức hạn hẹp,
lại dám nói đến vấn
đề to lớn nầy, là Bảo
bộ hay sự khai triển Phật chất
để đóng góp cho nền văn
hóa tâm linh nhân loại. Cho nên,
không khỏi có những sai lầm do
sự hiểu biết kém cỏi hoặc
nghiên cứu chưa tới nơi
tới chốn, hay suy diễn không
đúng, kính mong các vị cao minh vui
lòng chỉ giáo cho.
Xin một chút tấm lòng là:
Cầu cho mọi người khi đọc qua
Tiểu luận nầy, xin nhận ra Phật tánh
nơi mình, đó là Bảo bộ hay gia
tài vô giá mà Đấng Cha Lành
trao lại, hãy khai triển, sống, thể
nhập để làm lợi ích cho
mình và cho mọi người.
Mong lắm thay
!
Viết xong ngày 14.01.2004
(ngày 23.12.Quý Mùi)
tại Đất lành (
NHỮNG SÁCH THAM KHẢO
-
Mật Tông của Đại sư
Hoằng Pháp. Dịch giả: Thầy Thích
Quảng Trí, 1980.
-
Thiền luận của Thiền sư Daisetz Teitoro
Suzuki, Thầy Tuệ Sỹ dịch, 1970.
-
Khảo nghiệm Duy thức
học, Soạn
giả: Thầy Thích Thắng Hoan, 1992.
-
Trung quán Luận của Nagarjuna. Biên dịch
& giải thích: Thầy Thích Quảng
Liên, 1994.
-
Kinh Tô Tất Địa. Dịch giả: Thầy
Thích Viên Đức.
-
Triết học về Tánh
không. Khảo
luận: Thầy Tuệ Sỹ, 1970.
-
Những câu hỏi
thông thường về Đạo Phật. Thầy Thích Thiện
Châu, 1997.
-
10 ngày thiền tập. Thiền sư Kim Triệu, 1997.
-
Pháp ngữ. H.T. Duy Nhân. Dịch giả:
Nguyên Chon - Nhật Đạo, 1995.
-
Cách nhìn của Phật
giáo đối với vấn đề
Luân hồi
của Đại sư Tịnh Vân. Dịch
giả: Thích hạnh Bình - Nguyên Khuê -
Thích Thanh Hòa.
-
Mở con mắt Thiền. Thích Thông Phương,
PL.2546.
-
Phật học từ diễn. Cư sĩ Đoàn trung
Còn, 1963.
-
Tứ Diệu Đế. Thầy Thích Mãn
Giác, 1983.
-
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Giảng diễn lục.
Đại sư Thái Hư giảng. Dịch
giả: H.T. Trí Nghiêm, 1970.
-
Từ diễn Phật học
Hán Việt.
Phân viện nghiên cứu Phật học,
1994.
-
Mật Tạng Phật giáo
Việt
-
Kinh Chuẩn Đề
Đà-la-ni.
Dịch giả: Thầy Thích Viên
Đức, 1973.
-
Phật học phổ thông. Soạn giả: Thầy
Thích Thiện Hoa, 1964.
-
Trao cho thời đại
một nội dung Phật chất của
Thầy Thích Đức Nhuận,
-
Nguyên nhân Luận. H.T. Khánh Anh, 1952.
-
Tư tưởng Kinh Pháp
Hoa. Thầy Thích
Chơn Thiện, 1999.
-
Phật giáo Việt Nam. Gs.
Nguyễn đăng Thục, 1974.
-
Đức Phật và
Phập pháp.
Đại Đức Narada Thera. Dịch giả:
Phạm kim Khánh.
-
Kinh Nhất thiết Như Lai
Bí mật Toàn thân Xá lợi
Bảo khiếp Ấn Đà-la-ni. Dịch giả: Thầy
Thích Viên Đức.
-
Kinh Bảo tất Địa
Thành Phật Đà-la-ni. Dịch giả: Thầy
Thích Viên Đức.
-
An introduction to Buddhist Esoterism. Tác giả: Benoytosh Bhattacharya.
-
Shingon-Japanese esotoric Buddhism. Tác giả: Taiko Yamasaki.
Shambala 1988.
-
Foundations of Tibetan Mysticism. Lama Anagarika Govinda, 199ó.