TIẾNG
CƯỜI TRONG KINH BÁCH DỤ
Tác giả:
Nguyên Diên
Ngày gửi:
11/02/2006
( Trích : Đàm
thoại Phật Pháp )
Nói
đến kinh sách của đạo Phật, phần
đông cho rằng đó là những bài kinh dành cho các
người tu học theo đạo Phật đọc
tụng, hành tŕ, khuyến hóa người khác tu tập,
cầu nguyện cho kẻ c̣n người mất… thậm
chí phải cung kính trân trọng, đốt hương
lễ lạy chứ không ai dám đem ra kể cho vui
cửa vui nhà. V́ đây là Pháp bảo, một trong ba ngôi cao
quư nhất, đang hiện hữu trên cuộc đời
này. Quả thật đúng là như vậy!. Nhưng ở
đây, người viết nghĩ rằng: kinh Bách Dụ
được xem như là "một ngoại
lệ". Bởi bản kinh này bao gồm các câu chuyện
hài hước mà đức Phật đă kể ra trong quá
tŕnh hoằng hóa độ sanh của Ngài. Đành rằng
sau bất cứ mỗi câu chuyện cười nào cũng
mang lại một bài học cho các người đọc,
người nghe, tùy theo tŕnh độ nhận thức mà
cảm nhận câu chuyện đó có khác nhau. Tuy nhiên ở
bài viết này chỉ đề cập đến tài
năng kể chuyện cười của Đấng
Đạo Sư và các nhân vật góp nên tiếng
cười ấy.
Nói
đến đức Phật, chúng ta thường liên
tưởng ngay rằng, Ngài là bậc gíac ngộ giải
thoát, là Đấng Đạo Sư của trời,
người… cho nên mỗi lời tuyên thuyết của Ngài
được xem như là khuôn vàng thước ngọc làm
quy phạm cho tất cả Tăng Ni và tín đồ
Phật tử hậu thế noi gương học
tập, tu hành. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu thêm
rằng, ngoài những lời dạy bảo mang thông
điệp giải thoát giác ngộ cho tất cả chúng
sanh, Ngài c̣n là một người "có thừa"
năng khiếu kể chuyện, nhất là những câu
chuyện hài hước, làm vui nhộn thính chúng trong
đạo tràng. Về phương diện này, chứng
tỏ cho chúng ta thấy, trong quá tŕnh giảng dạy,
đôi khi thính chúng có những giây phút thiếu tinh tấn
hoặc giăi đăi, Ngài khích lệ họ bằng những
trận cười vô cùng thoải mái qua các câu chuyện
"tiếu lâm" trong kinh Bách Dụ. Không quá đáng khi
nhận xét rằng: ngài là một vị "Thầy"
vừa mẫu mực vừa nghiêm khắc, đoan chính và
cũng là người nghệ sĩ hài tài hoa. Lối
kể chuyện thật hóm hỉnh, bằng những h́nh
ảnh gợi cảm, thông báo gây cười ngay tiêu
đề của mỗi câu chuyện. Điển h́nh là các
câu chuyện: Bà Già Đánh Cọp, Cạo Râu Vua, Chặt Cây
T́m Trái, Giết Con Thành Gánh, Tưới Mía Bằng
Nước Mía… Bên cạnh đó, tính chất hài bàng bạc
hầu hết trong các nội dung của mỗi câu
chuyện. Nếu chúng ta có cơ hội và điều
kiện đem dựng chúng thành phim hoặc thành các tiểu
phẩm kịch cống hiến cho khán thính giả,
thiết nghĩ đây quả là một phương
tiện truyền đạo vô cùng thú vị. Mặt khác cho
chúng ta thấy rằng, phương pháp truyền
đạt của Ngài đến với thính chúng là một
phương pháp thực sự rất khoa học. Sự
cởi mở, thoải mái, thân thiện giữa thầy và
tṛ trong quá tŕnh dạy và học là điều rất
cần thiết, nó giúp cho cả hai thực sự hiểu
nhau, thông cảm cho nhau. Cũng chính điều này nên đă
mang lại hiệu quả rất lớn trong quá tŕnh
truyền trao giáo pháp, đặc biệt là các học tṛ của
ḿnh. Đây là phương pháp "vui để học"
và học để mở mang trí tuệ nhằm
vượt thoát những ràng buộc, khổ đau cho chính
bản thân ḿnh.
Tất cả những điều ǵ xảy ra trong cuộc
sống xung quanh ta, nếu chúng bị "lệch
chuẩn" đều dẫn đến những bi
kịch hay hài kịch của cuộc đời. Hay nói các
khác là những suy nghĩ, hành động, việc làm,
lời nói, ứng xử, giao tiếp… của chúng ta hàng
ngày "vượt quá xa" những quy định mà xă
hội loài người cho phép, đều trở thành tṛ
cười cho thiên hạ. Ở đây chúng ta cũng
phải hiểu thêm rằng, bi kịch nếu vượt
quá ngưỡng cho phép cũng trở thành hài kịch. Do
đó bi hài kịch đều là những bài học quư giá
giúp chúng ta thanh tẩy tâm hồn. Sau mỗi lần
đọc, chúng ta không những hiểu biết thêm về
kiến thức mà c̣n giúp tự điều chỉnh về
các hành động, việc làm, lời nói và suy nghĩ
của chính ḿnh. V́ vậy, tính chất gây cười
của các câu chuyện được đức Phật
kể trong kinh Bách Dụ cũng không nằm ngoài thông
lệ đó.
Cuộc
sống của chúng ta muôn màu muôn vẻ, thiên h́nh vạn
trạng. Thế giới Ta Bà này là nơi cộng cư
của tất cả muôn loài, từ những động
thực vật bậc thấp cho đến bậc cao,
từ những chúng sanh đầy dẫy tham, sân, si cho
đến những bậc anh minh, hiền thánh. Chính
điều này, nên tuyến nhân vật gây cười trong
kinh Bách Dụ cũng đa dạng và phong phú.
Nhân
vật trong kinh đủ các thành phần, từ các loài thú
vật như rắn, chó trong câu chuyện (Đầu
Rắn Và Đuôi Rắn Tranh Căi, Chó Và Cây…) cho đến
những anh chàng ngáo ọp (Chuyện Người Ngu An
Muối, Khoanh Tay Chịu Đ̣n, Khát Không Uống
Nước, Giả Tiếng Oan Ương, Đui Mắt…).
Chuyện những tên nô bộc ngớ ngẫn lạ
thường khiến người khác phải bị
vạ lây, khổ thân (Chuyện Giữ Cửa,
Người Tớ Gái, Bị Đạp Rụng Răng,
Nếm Trái Tần Bà…). Những "anh hùng rơm" làm
công việc không đâu vào đâu như chàng Đông- Ki-
Sốt (Chuyện Giả Dạng Anh Hùng). Ngay cả các
người giàu có nhưng ngu dốt, keo kiệt cũng
bắt chước học làm sang. Ông ta muốn xây lầu ba
mà không muốn xây hai tầng dưới, rút cuộc làm tṛ
cười cho thiên hạ (Chuyện Phú Ông Cất Lầu);
hoặc ông nhà giàu thông thái, "khéo nói nhưng vụng
làm" và hậu quả là cười ra nước
mắt (Chuyện Chết Ch́m…). Những phụ nữ
thiếu chung thủy là mần móng dẫn đến những
tai họa phá tan hạnh phúc gia đ́nh (Chuyện Giả
Chết Dối Chồng, Ăn Bánh Độc…). Thậm chí
cả nhà vua cũng là đối tương làm tṛ
cười cho mọi người (Chuyện Muốn Con Mau
Lớn, Chặt Cây T́m Trái…). Ngay cả những vị
thần linh là đấng được mọi
người cung kính, vị nể cũng không tránh khỏi
được cái cười ư nhị của Ngài
(Chuyện Vị Tiên Lầm Lộn…)…
Phải
công nhận rằng, tuyến nhân vật trong kinh này
thật đa dạng và phong phú, đủ mọi thành
phần trong xă hội, đủ các độ tuổi và
giới tính. Mỗi câu chuyện mang một nội dung khác
nhau, chất bi hài trong mỗi câu chuyện nhiều hay ít
tuỳ thuộc mức độ xung đột tạo
thành đỉnh điểm. Các câu chuyện hài
thường mang tính giải trí và đồng thời nó
cũng mang một thông điệp phản ứng
ngược lại những bất cập, thái quá của
mọi tầng lớp trong xă hội. Chính những câu
chuyện này đă đóng góp một phần rất lớn
trong công cuộc hoằng hoá độ sanh của Ngài.
Nếu
chuyện cười là liều thuốc bổ giúp cho tinh
thần sảng khoái hoặc "cười là tống
tiễn quá khứ", một quá khứ đă từng làm
đau khổ cho nhau, do tham lam, sân hận, si mê là nhân chính và
được sự hỗ trợ đắc lực
của các căn nhạy bén, th́ chúng ta hăy đọc và
kể, rồi cùng nhau suy ngẫm các mẫu chuyện trong
kinh Bách Dụ để tiễn đưa những
điều không muốn ấy trôi đi theo quá khứ,
trả lại cho mỗi người một mùa xuân tràn
đầy những ước mơ, niềm tin và hy
vọng.