Tiến
Trình Chết Của Con Người
Nguyên Liên
TS Pháp
Luân 12
Số 12 tháng 2 â.l
Cổ thi có câu:
“Ta nay thấy người
chết
Trong lòng nóng
xót xa
Chẳng xót vì
kẻ chết
Vì phải
đến phiên ta”.
Bài
thơ nói lên tâm trạng lo âu đầy
sợ hãi của con người khi đối
diện với cái chết mà một ngày
nào đó sẽ đến phiên mình.
Cuộc sống thì quá mong manh, cái chết
lại chắc chắn. Do vậy, sống chết là
vấn đề lớn, chúng ta dù cố né
tránh cũng không thể thoát khỏi. Vì
thế, chúng ta hãy can đảm đối
diện với cái chết để tìm hiểu
tiến trình chết của con người như
thế nào? Sau khi chết con người đi về
đâu? Ngõ hầu trong cuộc sống hiện
tại chúng ta có sự định hướng
và chuẩn bị tư lương trước
một cuộc sắp đi xa này.
Trước
khi đi vào tìm hiểu về tiến trình
chết của con người, chúng ta thử sơ
lược qua một vài quan điểm của
các nhà khoa học, các nhà tôn
giáo và của đạo Phật nói về
cái chết và sau khi chết là hết hay
còn.
I. Quan điểm chết
của đạo Phật và các nhà khoa
học, các nhà tôn giáo khác.
Trạng
thái chết và sau khi chết con người còn
hay mất, nếu còn sẽ có sự tái sanh
như thế nào, luôn là vấn đề
nóng bỏng của các nhà tôn giáo,
các nhà khoa học cũng như của
đạo Phật. Có rất nhiều quan điểm
được trình bày xoay quanh chủ đề
này. Mỗi quan điểm đưa ra ít
nhiều có sự biện minh cho quan điểm
của mình là chính xác. Tựu trung,
chúng ta có thể phân biệt thành ba quan
điểm nổi bật trình bày trạng
thái chết và sau khi chết như sau:
1. Quan điểm của
các nhà khoa học (Duy vật)
Các
nhà khoa học cho rằng con người là
một dạng vật chất do tinh cha huyết mẹ
cấu thành. Thân mạng này sau khi chết
là hết, cát bụi sẽ trở về với
cát bụi. Như thế, các nhà khoa học chủ
trương chỉ có đời hiện tại
không có đời sau. Quan điểm này
đạo Phật gọi là “Đoạn kiến
ngoại đạo”.
Quan điểm con người sau khi chết là
hết, sẽ đưa đến những định
kiến sai lạc, đưa con người vào
việc sống gấp, cố tận hưởng mọi
khoái lạc, bất chấp những việc làm
đầy tội lỗi... bởi con người
không chịu trách nhiệm trước mọi
việc làm của mình. Chủ nghĩa hiện
sinh của Tây phương, hay đạo Ahum của
Nhật Bản... cũng từ quan điểm này
mà phát sanh.
2. Quan điểm của
các nhà tôn giáo (Duy tâm)
Các
nhà tôn giáo chủ trương con
người sau khi chết thân thể tan rã
và linh hồn sẽ đầu thai sang kiếp
khác. Quá trình đầu thai theo họ, xoay
quanh hai quan điểm sau:
Quan
điểm thứ nhất, cho rằng con người sau
khi chết tái sanh vào cảnh giới nào,
điều này hoàn toàn tùy thuộc
vào ý muốn của Thượng đế. Quan
điểm thứ hai là chúng sanh ở cảnh
giới nào sẽ tiếp tục tái sanh vào
cảnh giới đó. Ví như con người
sau khi chết sẽ đầu thai tiếp tục làm
người, loài trời sau khi chết sẽ tiếp
tục đầu thai làm trời...
Quan
điểm tái sanh tùy thuộc ý muốn
của Thượng đế, hay hiện đời
làm loài gì đời sau sẽ đầu
thai tiếp tục làm loài đó. Quan
điểm này, đạo Phật gọi là
“Thường kiến ngoại đạo”.
3. Quan điểm của
đạo Phật
Đạo
Phật hoàn toàn không chấp nhận hai quan
điểm trình bày trên. Đạo Phật
cho rằng con người hay chúng sanh là một hợp
thể của năm uẩn. Do vậy, khi con người
chấm dứt thân mạng, phần sắc thân
sẽ tan rã, tứ đại trả về với
tứ đại nhưng phần tinh thần (thần
thức) thì không hoại diệt. Thần thức
đó sẽ tùy theo nghiệp thiện hay ác
đã tạo trong quá khứ mà thác sanh
một trong sáu cảnh giới luân hồi.
Trừ trường hợp người nào hiện
đời có công phu tu tập, dứt trừ
các hoặc nghiệp phiền não, thì sau khi
chết không còn tái sanh vào một trong
sáu cảnh giới luân hồi.
Như
thế, đạo Phật chủ trương chết
chỉ là một quá trình vận động
và thay đổi của con người từ một
dạng xác thân này sang một dạng
xác thân khác, dưới sự dẫn dắt
của nghiệp lực. Chỉ khi nào con người
tự chấm dứt được nghiệp, tức
đạt đến cảnh giới Niết-bàn
giải thoát, không còn lẩn quẩn trong
vòng sống và chết đầy bi ai khổ
lụy này.
II. Hiện tướng
chết của con người.
Thông
thường, tất cả chúng sanh nói chung
và con người nói riêng, trước khi
chết đều có các tướng chết
hiện ra. Những tướng chết hiện ra
đối với con người, nhân gian
thường gọi là “điềm” báo
hiệu cái chết. Một số người
thường hay cọ xát với việc sống
chết, khi nhìn vào một số biểu hiện
của người bịnh nặng nào đó,
họ có thể đoán định người
này sắp chết.
1. Hiện tướng chết
của chư thiên (Ngũ tướng suy hao).
Trước
khi tìm hiểu về các hiện tướng
chết của con người, chúng ta thử tìm
hiểu về các hiện tướng của chư
thiên. Theo trong các kinh dạy, một vị
thiên tử khi sắp chết sẽ có năm tướng
suy hao hiện ra. Thuật ngữ chuyên môn của
đạo Phật gọi là Ngũ tướng suy
hao.
a. Y phục
dính bụi: Do phước báo, thiên y của
thiên tử không bao giờ dính bụi,
nhưng khi có hiện tượng thiên y dính
bụi thì đó là tướng chết
của thiên tử hiện ra.
b. Vòng
hoa trên đầu héo: Mỗi vị thiên
tử đều có thiên quan làm bằng
vòng hoa báu, luôn tươi tốt, rực
rỡ, nhưng khi vòng hoa trên đầu tự
nhiên rũ héo, đó là tướng
chết của thiên tử hiện ra.
c. Hai
nách chảy mồ hôi: Hai nách của
thiên tử không bao giờ có mồ hôi
như con người, nhưng khi hai nách chảy
mồi hôi thì đó là tướng
chết của thiên tử hiện ra.
d. Thân
có mùi hôi: Thân thể của thiên
tử luôn có mùi thơm ngào ngạt
dễ chịu, nhưng khi trong thân bốc mùi
hôi khó chịu thì đó là
tướng chết của thiên tử hiện ra.
e. Không
thích ngồi trên chỗ ngồi của mình:
Trong cung điện mỗi vị thiên tử
đều có thiên tòa riêng biệt
và khi ngồi vào thì có cảm giác
an ổn khoái lạc, nhưng khi không thích
ngồi trên thiên tòa thì đó
là tướng chết của thiên tử hiện
ra.
2. Hiện tướng chết
của con người.
Thiên
tử trước khi chết có ngũ tướng
suy hao, còn con người trước khi chết
có những hiện tướng gì? Theo trong
Thọ mai gia lễ, hiện tướng chết của
con người đại để chia thành ba
phần, đó là biến tướng, cử
chỉ thay đổi và lời nói khác
thường.
a. Biến tướng (dung
mạo có sự biến đổi).
- Hai
vầng thái dương tối đen, quanh miệng
có màu vàng hoe bao bọc.
-
Lưỡi đen hoặc trở nên xanh lè. -
Đầu sống mũi xiên vẹo.
- Hai gò
má tự nhiên bị lệch.
- Hai mắt
long lanh sáng ngời.
- Mắt
ưa nhìn trộm, nhưng khi người khác
nhìn lại thì tránh đi.
b. Cử chỉ thay
đổi.
- Thích
cạy răng và gãy móng tay.
- Hay
vuốt mắt và vuốt tóc.
- Ưa
vân vê tà áo cho có nếp vuông.
- Hay
nói lảm nhảm một mình và liếm
môi.
- Những
người bịnh tự nhiên từ bàn chân
đến đầu gối sưng lên rồi xẹp
xuống hai lần.
c. Lời nói khác
thường:
- Hay
nói chuyện nhân nghĩa vu vơ để tỏ
rõ lòng mình.
- Hay
nói chuyện chán đời.
- Hay
nói chuyện mai hậu.
- Hay thở
dài chép miệng, con mắt lờ đờ
ưa ngó xa xăm.
- Tự
nhiên nói chuyện hậu sự, chia của
cải cho người khác.
Như
vậy, nếu người bịnh có một trong
vài hiện tướng kể trên, tức
tướng chết hiện ra, báo hiệu
người này sắp chết. Với các
hiện tướng như thế, người trợ
niệm cần phải nắm rõ để tùy
cơ nghi niệm Phật trợ niệm cho người
sắp chết, mới được thành tựu.
3. Giải thích về
một số hiện tượng khác trước khi
chết.
Ngoài
ra, có một vài hiện tượng biểu
hiện của con người trước khi chết,
như tự nhiên đột tỉnh, bắt chuồn
chuồn, thở mang cá, chết đi sống lại,
khi chết hộc máu... Giải thích các
hiện tượng này đại để như
sau:
Hiện
tượng người bịnh nằm mê man,
đột nhiên tinh thần có sự tỉnh
táo, thân thể tự nhiên khỏe mạnh,
hoặc nói cười sảng khoái... đây
là hiện tượng bừng tỉnh trước
khi chết. Cũng như ngọn đèn trước
khi tắt, ánh lửa tự nhiên rực sáng,
hiện tượng người bịnh tự nhiên
đột tỉnh cũng như thế. Thông
thường người bịnh rơi vào
trường hợp này thì khoảng hai tiếng
đồng hồ sau sẽ chết.
Hiện
tượng bắt chuồn chuồn là tay
người hấp hối quơ cào trên
không... đây là một hình thức
thể hiện sự cố gắng kháng cự
lại cái chết, cố gắng níu kéo
sự sống của người hấp hối. Bởi
vì, phần nhiều con người ai cũng
đều tham sống sợ chết. Hiện tượng
thở mang cá: con cá thở bằng mang, hơi
thở của nó rất yếu và chậm.
Người hấp hối ở thời điểm
thở mang cá tức hơi thở đã
đuối dần, để rồi chuyển qua giai
đoạn tắt hơi.
Hiện
tượng chết rồi sống lại, do vì con
người mới chết, thời điểm hơi
thở mới tắt, nhịp tim tuy ngưng đập,
nhưng thần thức của người này
vẫn chưa ra khỏi thể xác, ở giai
đoạn này con người được
tính là chưa chết. Vì thế họ
có thể tỉnh lại, sống lại. Hiện
tượng người chết khi có người
vào tự nhiên hộc máu, đấy là
giữa người chết và người sống
đó, khi sống có sự oán hận
lẫn nhau, hoặc đôi khi người chết
có nhiều việc oan ức chưa kịp bày
tỏ, khiến tâm thức cảm thấy bực
tức, sân hận, biểu hiện ra bằng hình
thức máu hộc ra bên ngoài...III. Trạng
thái chết
Trạng
thái chết và sau khi chết là một
vấn đề khó lý giải, nếu không
nói là việc làm không tưởng
đối với hạng người chưa chứng
ngộ như chúng ta. Do vậy, tất cả
những vấn đề được đặt ra
và trình bày trong bài viết này
chúng tôi đều y cứ theo kinh điển.
1. Các nguyên nhân
dẫn đến cái chết
Ngọn
đèn dầu tắt là do bốn nguyên
nhân, một là dầu hết, hai là bị
gió thổi, ba là vừa hết dầu lại
có ngọn gió thổi, và bốn là do
nguyên nhân khách quan khác. Cũng vậy, con
người sở dĩ chết, theo đạo Phật
cũng không ra ngoài một trong bốn nguyên
nhân sau:
a. Sự
kiệt lực của nghiệp tái tạo: Thân
mạng con người sở dĩ tồn tại là
do nghiệp. Khi năng lực nghiệp (làm
người) từ quá khứ đã hết
thì những sanh hoạt của nguồn cơ thể
ở trong đó cũng chấm dứt
b. Tuổi
thọ hết: Tuổi thọ dài hay ngắn tùy
theo phước báo của mỗi cảnh giới. Khi
tuổi thọ con người đã hết, thường
tuổi thọ của con người trong giai đoạn
hiện nay trung bình là bảy mươi lăm
tuổi, dù nghiệp lực chưa chấm dứt con
người cũng phải chết.
c. Nghiệp
tái tạo và tuổi thọ đồng chấm
dứt: Khi nghiệp tái tạo (nghiệp làm
người) và tuổi thọ đồng một
lúc chấm dứt thì con người phải
chết.
d. Một
nghiệp lực ngược chiều ngăn chặn nghiệp
tái tạo: Trường hợp nghiệp tái
tạo chưa hết, tuổi thọ chưa chấm
dứt, nhưng do một nghiệp lực ngược
chiều thật mạnh ngăn chặn nghiệp tái
tạo, rơi vào trường hợp này, con
người cũng chết. Những cái chết
đột ngột, bất đắc kỳ tử...
đều rơi vào tình huống này.
Trong kinh
Dược sư có nêu chín thứ chết
yểu (ăn không đúng lượng, ăn
thức ăn không tiêu, ăn không tiêu
lại ăn nữa, vật sống không nôn ra,
vật chín lại giữ lâu, không gần
thầy thuốc, với việc đã qua không
biết nên giảm hay nên tăng, chẳng phải
thời làm hạnh bất tịnh, chẳng phải
lượng làm hạnh bất tịnh) cũng
thuộc trường hợp này.
Sự
chấm dứt thân mạng của con người
không thoát ra ngoài một trong bốn
trường hợp kể trên. Do vậy, chúng ta
dễ cảm nhận được thân phận mong
manh “đèn treo trước gió của
đời người”. Chỉ có việc xả
- ly huyễn thân chứng đắc Pháp thân,
chúng ta mới có thể an tâm yên
nghỉ, mới là làm xong việc lớn.
Nào, ai là bạn tri âm!
2. Tiến trình chết
của sắc than
Khi con
người chết, trải qua hai tiến trình
là tiến trình chết của sắc thân
và tiến trình chết của tâm thức. Sắc
thân con người hay chúng sanh vốn do tứ
đại (đất, nước, gió, lửa)
giả hợp mà thành. Do vậy, khi thân
này mạng chung tứ đại sẽ trở về
với tứ đại. Nói cách khác,
tiến trình chết của con người là
tiến trình phân tán của tứ
đại. Tiến trình chết nơi sắc
thân con người lần lượt diễn bày
như sau:
a.
Địa đại lấn áp thủy đại:
Đầu tiên người bệnh cảm thấy
cơ thể nặng nề, mệt mỏi, các
đốt xương trong thân nhức mỏi vô
ngần. Thế nên bịnh nhân có các
hiện tượng như tay chân co rút, gân
mạch run rẩy... Đây là trạng thái
địa đại lấn áp thủy đại.
b. Thủy
đại lấn áp hỏa đại: Tiếp theo
bệnh nhân cảm thấy như có một
luồng hơi lạnh từ ngoài xâm nhập
vào cơ thể, khiến toàn thân lạnh
cóng tợ như nằm trên băng tuyết...
Thế nên bệnh nhân có các hiện
tượng: hơi thở buốt lạnh, tứ chi
lóng cóng... Đây là trạng thái
thủy đại lấn áp hỏa đại.
c. Hỏa
đại lấn áp phong đại: Giai đoạn
này mạng sống chỉ còn một nửa.
Bấy giờ người hấp hối cảm nhận
như một luồng hơi cực nóng từ
bên ngoài thổi vào thiêu đốt cơ
thể, sự nóng bức còn hơn ngồi
trên hố lửa... Thế nên bệnh nhân
có hiện tượng sắc mặt ửng
đỏ, ngực ran nóng, tinh thần tối tăm.
Đây là trạng thái hỏa đại
lấn áp phong đại.
d. Phong
đại phân ly: Sau cùng, bệnh nhân cảm
nhận như có một luồng gió cực
mạnh thổi bạt làm cho cơ thể tan nát
như vi trần, đau đớn rã rời.
Đến giai đoạn này xác thân
đã chết, bốn đại đều phân
tán, các giác quan đều bại hoại,
chỉ còn thần thức chuẩn bị lìa
khỏi thân để tùy theo nghiệp duyên
đã tạo trong quá khứ và hiện
tại mà tái sanh vào các cảnh giới
tương ứng.
Sự
chấm dứt thân mạng của con người
quả thật là vô cùng đau đớn.
Nỗi đau đớn khi tứ đại phân
tán, trong kinh đức Phật đã dùng
rất nhiều ví dụ để diễn bày.
Đại để Ngài dạy rằng, nỗi
khổ của con rùa bị đem đốt trên
đống lửa cũng không thể sánh
bằng nỗi khổ đau của con người khi
tứ đại phân ly. Trong sự đau đớn
tột cùng của xác thân ấy mấy ai là
người có thể làm chủ, có thể
an lòng nhớ Phật niệm Phật. Nếu
chúng ta suốt đời không nỗ lực
dụng công tu hành thì làm sao thoát ra
khỏi cảnh “Thiên đường hữu
lộ vô nhân vấn. Địa ngục vô
môn hữu khách tầm”.
3. Tiến trình chết
của tâm thức
Sau khi
tứ đại phân ly, tâm thức người
chết rơi vào trạng thái hôn muội
mà không có chiêm bao. Bấy giờ minh
liễu ý thức không có tác dụng
hiện khởi, không thể biết được
cảnh sở duyên của sáu chuyển thức.
Tâm thức của con người sẽ tùy theo
sự chỉ đạo của Nghiệp đã tạo,
từ đó diễn tiến Hiện tượng
của nghiệp và Biểu hiện lâm chung
có đau khổ hay hạnh phúc dẫn dắt
thần thức đi tái sanh.
Theo Phật giáo, có ba giai đoạn xuất
hiện cho con người thấy khi sắp lâm chung,
đó là Nghiệp, Hiện tượng của
nghiệp và Biểu hiện lâm chung.
Nghiệp
là những hành động thường ngày
huân tập, đến khi lâm chung tâm thức
sẽ nhớ lại rõ ràng. Hiện tượng
của nghiệp là những biểu tượng
xuất hiện trong tâm thức người lâm
chung dưới hình thức sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp. Biểu hiện lâm chung
là dấu hiệu có tương quan đến
cảnh giới mà người chết sắp
tái sanh, khiến họ có những biểu lộ
lo âu hoặc vui mừng.
Một người lâm chung và tái sanh vào
cảnh người thì đối tượng
của phần tư tưởng cuối cùng là
nghiệp lành. Hiện tượng của nghiệp
này là họ thấy mình đang lễ
Phật hay làm việc bố thí... Biểu
hiện lâm chung là thân không bệnh
khổ, sanh lòng chánh tín, quy y Tam bảo...
Tâm
thức tái sanh đó gọi là Tán hữu
tâm hay Sanh tử tâm. Tâm này vô
cùng nhạy cảm, có công năng dẫn
dắt thần thức đi tái sanh vào các
cảnh giới tương ưng. Cảnh giới
thác sanh khổ đau hay hạnh phúc hoàn
toàn tùy thuộc vào nghiệp lực hiện
tiền mà mỗi người đã tác
tạo và những sự trợ duyên hộ
niệm của Tăng Ni cùng Phật tử lúc
thần thức chuẩn bị tái sanh.
IV. Xác định cảnh
giới tái sanh
Con
người lúc sắp chết do sự diễn
tiến của nghiệp và hiện tượng
của nghiệp mà có biểu hiện lâm
chung mỗi người mỗi khác. Cũng như khi
sắp chết, xác thân sẽ có những
chỗ nóng ấm sau cùng. Tìm hiểu
biểu hiện lâm chung và hơi nóng đi ra
cuối cùng trên xác thân người
chết, chúng ta có thể biết được
cảnh giới họ đang chuẩn bị tái sanh.
Việc xác định cảnh giới tái sinh
của người sắp chết có thể dựa
vào hai hình thức sau.
Xác
định dựa vào hơi nóng sắc thân
Con
người khi chết toàn thân lạnh dần,
chỗ nào trên cơ thể còn hơi
nóng sót lại là nơi đó thần
thức xuất ra khỏi thân. Chỗ nóng sau
cùng trên cơ thể người chết
giúp chúng ta xác định được
cảnh giới tái sanh của họ. Bài kệ
trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận
đã chỉ rõ cho chúng ta vấn đề
này.
Đảnh sanh cõi
Thánh, mắt sanh Trời
Bụng nóng Ngạ
quỷ, tim nóng Người
Bàng sanh nóng ở
nơi đầu gối
Nóng ở bàn chân
Địa ngục thôi.
Ví
như chúng ta sờ vào cơ thể người
mới chết, nếu thấy toàn thân lạnh
hết, chỉ còn hơi nóng ở đỉnh
đầu, tất biết người đó
được vãng sanh Tịnh độ. Hoặc
như toàn thân lạnh hết nhưng còn
hơi nóng giữa hai con mắt, tức biết
người đó sẽ tái sanh về cảnh
trời. Hoặc toàn thân lạnh hết nhưng
hơi nóng vẫn còn nơi ngực, tức
biết được người đó sẽ
tiếp tục tái sanh vào cảnh người...
Các cảnh giới còn lại chúng ta có
thể xác biết qua hơi nóng còn sót
lại nơi nào trên cơ thể người
mới chết như bài kệ trên đã
trình bày.
Có điều, chúng ta cần nên
tránh sự hiếu kỳ quá đáng,
tìm kiếm hơi nóng làm động
chạm cơ thể người chết, khiến họ
phát sanh phiền não rất dễ đọa
lạc. Việc dò biết hơi nóng này,
nên để những vị tu hành có
định lực cao, các Ngài có năng
lực vận chuyển hơi nóng đi lên,
xác định cảnh giới sắp tái sanh
của người mới chết để tìm
phương cứu độ.
2. Xác định theo
biểu hiện lâm chung
Con
người sau khi chết tùy nghiệp mà
tái sanh vào cảnh giới tương ưng. Do
thần thức cảm nhận cảnh giới tái
sanh khổ đau hay hạnh phúc mà tâm
thức có lo âu hay sung sướng, biểu hiện
qua hình thức trước khi chết. Cho nên,
nhìn vào biểu hiện lâm chung của
người sắp chết, hoặc chết đau khổ
hay chết nhẹ nhàng, chúng ta có thể
đoán định được cảnh giới
tái sanh của họ.
Đại
để người nào sắp sanh về cảnh
giới Tịnh độ, thì chánh niệm
phân minh, biết trước giờ chết, nói
bài kệ từ biệt đại chúng...
Người nào sắp tái sanh về cõi
trời... thì biểu hiện sung sướng,
thân tâm thơ thới, miệng mỉm
cười... Người nào sắp đọa
vào một trong tứ ác thú, thân thể
biểu hiện có sự run sợ, mình mẩy
xú uế, tay chân quờ quạng... Chung quy, do
cảnh giới tái sanh có đau khổ hay
hạnh phúc khác nhau, mà người chết
có những biểu hiện lâm chung không
giống nhau (Vấn đề này chúng tôi
sẽ trình bày kỹ nơi tiết “Các
cảnh giới tái sanh”)
Trong kinh
Pháp cú câu 253, đức Phật dạy:
“Thân ông bây giờ như lá héo!
Sứ giả thần chết đang chờ ông!
Ông đang đứng trước ngưỡng
cửa tử vong! Ông sắp phải làm cuộc
lữ hành trên đường trường
của cái chết. Vậy mà sao ông chưa
chuẩn bị lương thực gì cả?”
Chúng ta đang sống và chuẩn bị làm
lữ khách trên đường trường
của cái chết. Sống và chết luôn
là hai việc lớn nhất của đời
người, chúng ta dầu có muốn hay
không cũng không thể tránh khỏi cái
chết. Ai là người có chút lo xa
chẳng thể dửng dưng qua ngày, buông thả
đời mình trong nhục dục, mà ngay bây
giờ hãy chuẩn bị lương thực
Tín, Hạnh, Nguyện đừng để phải
rơi vào cảnh: “Tiền lộ mang mang vị
tri hà vãng” (Quy sơn cảnh sách).
Phật
lịch 2549 - Ban tu thư Phật Việt - Email: bantuthu@phatviet.net