Thông Điệp
"Catvàriaryasatyàni"
Tia Nắng Đầu Tiên Trong Lịch Sử Triết
Học Và Tôn Giáo
Thích Tâm Thiện
Bức
thông điệp đó là "Tứ Diệu
đế" (Catvàriaryasatyàni), Bốn Sự
thật (The truth), bốn Chân lý về con
người và sự hiện hữu của con
người. Nó cũng là con đường
biện chứng thực tại mà qua đó con
người có thể vươn đến một
đời sống hạnh phúc chân thực ngay
tại cuộc đời này. Đây là
pháp thoại đầu tiên được
Đức Phật chuyển pháp luân hóa
độ năm anh em tôn giả Kiều Trần
Như (Kondanna) tại vườn Nai (Bénarès) sau
khi thành đạo.
Theo kinh
Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappa-vattana-sutta), nội
dung của Tứ đế được ghi lại,
đại khái như vầy :
"... Này các Tỳ
kheo ! Sự sinh thành, già nua, bệnh đau
và tử biệt là khổ, xa người
mình yêu, gần người mình ghét
là khổ; cầu mong không được là
khổ, năm uẩn (aggregates of the existence) hoại
diệt, bất toại là khổ. Như vậy
là Khổ thánh đế".
"Lại nữa, này
các Tỳ kheo ! Tâm lý nuối tiếc,
khát vọng và chấp thủ là con
đường đưa đến khổ đau, luân
hồi tái sinh, nơi nào có mặt tham
ái là có chấp thủ, ham muốn,
ước vọng, mong cầu..., như vậy là
Khổ tập thánh đế".
"Lại nữa, này
các Tỳ kheo ! Xa lìa, đoạn trừ tham
ái, chấp thủ, ước vọng... mọi
tâm lý dục vọng (nói trên) là
giải thoát, an lạc như vậy là Diệt
thánh đế".
"Lại nữa, này
các Tỳ Kheo ! Tám chi phần chánh
đạo, chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định là
con đường đưa đến diệt khổ;
tức là Đạo Thánh Đế".
Như
vậy nội dung của Tứ Đế là :
·
Sự thật về khổ đau
(Truth of the suffering).
·
Sự thật về nguyên
nhân của khổ đau (Truth of the cause).
·
Sự thật về chấm
dứt khổ đau (Truth of the extinction).
- Sự thật về con
đường đưa đến chấm dứt
khổ đau (Truth of path).
Kinh Sa
Môn Quả (Samannaphalasuttanta), Trường Bộ,
Đức Phật dạy về kinh nghiệm giác
ngộ của Ngài qua phương pháp Tứ
đế như sau :
"... Với cái tâm
an định, trong sạch, linh mẫn, điều
chế, xả hết nghiệp ác, nhu nhuận,
tùy ứng, kiên cố, không nao núng, thầy
Tỳ kheo phát tâm diệt trừ phiền
não. Thầy biết đúng như thực
(yathabhutam): "Đây là khổ";
"Đây là nguyên nhân của
khổ"; "Đây là sự diệt
khổ"; "Đây là con đường
đưa đến diệt trừ khổ". Thầy
biết đúng như thực: "Đây là
phiền não"; "Đây là nguyên
nhân của phiền não"; "Đây
là sự diệt phiền não" và
"Đây là con đường đưa
đến sự diệt trừ phiền não".
Biết như vậy, thấy như vậy, tâm
thầy được giải thoát các phiền
não lậu hoặc của dục ái (karma),
của hữu ái (bhava), của vô minh (avijja)
và được trí tuệ giải thoát.
Thầy Tỳ kheo biết: "Nghiệp tái sinh
đã xả trừ, phạm hạnh đã
tròn, việc gì phải làm nay đã
làm xong, sau kiếp này không còn thọ
thân nào khác". (With his heart thus serene, made
pure, translucent, cultured, devoid of evil, supple, ready to act, firm, and
imperturbale, he directs and bends down to the knowledge of the destruction of
the defilements (àsavà). He knows as it: "This is
pain"... "This is the origin of pain"... "This is the
cessation of pain"... "This is the path that leads to assation of
pain "... To him, thus knowing, thus seeing, the heart is set free from
the defilement of lusts (kàrma)... of existence (bhàva)... of
ignorance (avijjà)... In him, thus set free, there arises the knowledge
of his emancipation, and he knows: "Rebirth has been destroyed. The higher
life has been fulfilled. What had to be done has been accomplished. After this
present life there will be no beyond !"). (Samannaphala Sutta - Digha
Nikaya).
Trên
đây là nội dung của Tứ thánh
đế. Giờ đây chúng ta đi vào
nghiên cứu Tứ đế qua lăng kính
triết học. Có một điều cần ghi
nhận rằng: nói đến triết học Tứ
đế, không có nghĩa là đưa
giáo lý này từ một con đường
tu tập vào một hệ thống của luận
lý, mà ở đây, từ cơ sở
triết học, khảo cứu tính biện chứng
của Tứ đế, thông qua khuynh hướng
tư duy và hành động trong đời
sống tâm lý cũng như vật lý của
con người.
I.Tiền đề
triết học của Tứ đế
Như
đã trình bày (ở phần trích
dẫn), thông điệp của Tứ đế
hẳn là một giai trình mà ở
đó bao gồm cả hai mặt nhận thức
và hành động. Do vậy con đường
tu tập Tứ đế không thể chỉ xét
qua góc độ nhận thức luận (théorie
de la connaissance - gnoséologic) mà vấn đề
là mô thức biện chứng (dialectique) của
nó.
Đức
Phật trong suốt quá trình đi tìm con
đường giải thoát, những kinh nghiệm
khổ đau về con người và cuộc
đời là những gì mà tự thân
đức Phật đã trải qua và kinh
nghiệm một cách sâu sắc. Do đó,
pháp thoại Tứ đế được xem
như là một quá trình biện chứng
thực tại (dialectical reality) ngay trong đời sống
nội tâm của Đức Phật. Và cái
đỉnh cao tận cùng của con đường
ấy được Đức Phật đồ
giải (map-out) qua dạng thức của Tứ đế
trên cơ sở tương quan nhân quả sinh
vật (biological causation), và đây chính
là sự thăng chứng nội tại (inner
experience) mà Đức Phật đã đi qua.
Vì thế nó không phải là mẫu
thức lý tưởng (paradeigma), cũng không
phải là bản sao chép (mimesis) từ những
ý niệm; vì tự thân nó không hề
có cái ngã thể (ego) độc lập;
nó là sự kiến chiếu như thực,
là cái thấy như thực (yathabhutam) trong
dòng hiện hữu (dharana).
Từ nội dung thông
điệp này, Tứ đế được
Đức Phật giải minh theo một lộ trình
nhân quả tương quan thông qua bốn tiền
đề triết học cơ bản, đó là
:
1.
Tri nhận thực tại (Khổ
thánh đế).
2.
Sự chuyển hướng tư
duy (Tập thánh đế).
3. Sự chuyển hướng
hai chiều (Diệt thánh đế).
4. Giai trình tư duy
(Đạo thánh đế).
1) Tri nhận thực tại
(Recognition of reality)
Trước
hết Đức Phật dạy Khổ thánh
đế (Dukha-àryasatya). Ở đây khổ
đau là một thực tại như thực (truth of
the suffering) đối với con người. Thánh
đế (The truth) là một chân lý khách
quan - hiện thực. Khổ, hay hình thái của
sự bất an là một kết quả của
hàng loạt nhân duyên được tạo
tác từ tâm thức. Như vậy, tri nhận
thực tại là một cách trực tiếp
đi vào soi sáng mọi hình thái khổ
đau của con người. Nếu như logic thuần
lý đi từ bước thấp nhất của
tư duy - cảm giác cho đến khả thể
tư duy một cách tiệm tiến, thì sự tri
nhận thực tại là một suy thức năng
động đi thẳng vào bản chất của
hiện hữu, dù rằng đó là hiện
hữu của ý niệm (idea). Đây là xung
lực của tri kiến như thực, một năng
lực đánh thức con người đi ra
khỏi giấc mộng u huyền và trực tiếp
đối diện với những thăng trầm khổ
đau ngay nơi tâm thức của chính mình;
tại đây, qua lăng kính của "như
thị - tri kiến", sự thật được
nhìn nhận như là chính nó mà
không hề có vô luận một bóng
mờ nào của sự duy lý. Tuy nhiên,
để thấu triết cái căn nguyên của
khổ đau, con người không thể dừng
lại ở sự thật của khổ đau hay quay
mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi
sáng cái bản chất nội tại của
nó.
2) Sự chuyển hướng
tư duy (Change of thinking)
Sau khi tri
nhận sâu sắc về khổ đau như một
sự thật đang là, Đức Phật dạy
tiếp Tập thánh đế (Samudaya-àryasatya),
tức là đi tìm nguồn gốc của
khổ đau.
Thông
thường, đối với khổ đau,
người ta thường có xu hướng đi
tìm một sự bình an bên ngoài khổ
đau hay là đi ra khỏi cái khổ đau
hiện hữu. Lối tìm kiếm này đưa
con người về một trạng thái vọng
tưởng, chạy trốn thực tại hoặc
ẩn náu nơi một trú xứ hão
huyền mà căn nguyên khổ đau vẫn
cứ bám chặt trong tiềm thức. Do đó,
Tập thánh đế được gọi là
một sự chuyển hướng tư duy. Bởi
lẽ, thay vì tìm cách đi ra khỏi
cái khổ đau hiện thực theo thói quen
tìm kiếm sự bình an của con người,
Tập đế đề nghị tư duy quay về
tìm kiếm cái nguyên nhân của khổ
đau (truth of the cause); và cái nguyên nhân
đó đã được Đức Phật
xác định một cách rõ ràng
đó là tham ái (tanhà) và chấp
thủ (upadàna), hay nói một cách phổ thông
là Tham (greed) Sân (hatred) và Si (ignorance). Ở
đây, cái mấu chốt của khổ đau
là do mọi hành vi tâm lý của con
người được xây dựng trên nền
tảng của tự ngã (ego); rồi từ nơi
tự ngã tham lam, sân hận và si mê
trỗi dậy tạo thành vòng luân hồi
trầm luân. Cố nhiên, để đi ra
khỏi vòng trầm luân đó tất yếu
phải loại trừ mọi hình thái của
tự ngã như cái tôi (I), cái của
tôi (mine), cái tự ngã của tôi (myself).
Quá trình loại trừ này được
đề cập ở phần thứ ba, tiếp theo.
3) Sự chuyển hướng
hai chiều (Change of duality)
Khi nhận
ra rằng khổ đau xuất sinh từ suy thức
hữu ngã, nên con người lại có xu
hướng loại trừ cái hữu (existence)
để đi tìm cái vô (emptiness) rỗng tuếch,
mà thuật ngữ Phật học thường
dùng khái niệm hoặc hữu hoặc vô,
tất cả đều rơi vào biên kiến
(ditthi). Vì thế ở đây Diệt đế
(Nirodha-àryasatya) sẽ được khảo sát
theo một tiến trình chuyển hướng hai
chiều (lưu chuyển và hoàn diệt).
Trước hết, nếu hiểu Diệt đế
là chân lý của sự tận diệt (truth
of extinction) thì cái cần phải tận diệt
ở đây là cái sở hữu tự
ngã, nó được phô diễn qua mọi hình
thái của tham, sân và si. Trong khi chiều
ngược lại của nó (tức không tham,
không sân, và không si) chính là
sự sinh khởi tri giác thực tại - giải
thoát, nó là mục đích cứu
cánh tối hậu (upmost reality) hay là cái
tâm thể tròn đầy vốn toàn năng
(omnipotent), toàn trí (omniscient) và luôn
luôn chiếu diệu ở khắp mọi nơi
(omnipresent). Cái tâm thể viên mãn ấy
là Phật tính vĩnh hằng. Vì ở
đó là một trạng thái bản
nguyên phi vô phi hữu, diệc vô diệc
hữu (Reductio Ad Absurdum - Middle Treatise); đó chính
là thể cách của sự toàn tri (giác
ngộ) - một cái nhìn chiếu diệu vào
hiện hữu (an illuminating view of things) và siêu
việt mọi trạng thái dị đồng (various
grades of diversity). Nếu không có chiều sinh
khởi ngược lại như thế, thì sự
tận diệt sẽ trở nên một chuỗi
dài của hư vô không tận. Do đó,
sự chuyển hướng hai chiều này sẽ
là một quá trình hiển lộ Niết
bàn ngay tại cuộc đời này và con
người này, mà không phải là ở
một cõi u huyền xa xăm nào khác.
Có thể hình dung Diệt đế, theo các
hệ tư tưởng Đại thừa, như là
cách ngôn nổi tiếng của kinh Niết
Bàn: "Muốn đến Niết bàn hãy
đi vào đường sinh tử" hay
"Phật pháp bất ly thế gian giác".
Như vậy, Diệt đế là Niết bàn,
mà Niết bàn thì chỉ hiện hữu khi
và chỉ khi nào siêu việt nhị nguyên
(non-dualism), thể nhập thực tại như thực
vốn không bản ngã.
4) Giai trình tư duy (Process
of thinking)
Muốn
đạt đến Diệt đế hay Niết
bàn (Nirvàna), con người cần phải đi
qua một giai trình tư duy và hành
động mà Đức Phật gọi là
Đạo đế (Mànga-àryasatya), tức
là con đường đưa đến Niết
bàn - sự tận diệt Tham, Sân và Si.
Ở đây, mô thức tu tập được
Đức Phật dạy rõ qua Bát thánh
đạo phần (Ariyàtthangikamagga), bao gồm:
Chánh tri kiến
(Sammà-ditthi)
Chánh tư duy
(Sammà-sankappa)
Chánh ngữ
(Sammà-vàcà)
Chánh nghiệp
(Sammà-kammanta)
Chánh mạng (Sammà-àjivà)
Chánh tinh tấn
(Sammà-vàyàma)
Chánh niệm
(Sammà-sati)
Chánh định
(Sammà-samàdhi)
Hay nói chung bao gồm:
Giới (Moral formation), Định (Concentration) và
Tuệ (Formation of the wisdom), tức Tam vô lậu
học.
Như thế,
từ các tiền đề trên, mỗi con
người cần phải nỗ lực tri nhận
và kinh nghiệm về sự thật đau hay
hạnh phúc của chính mình. Giác
ngộ thực chất không gì khác hơn
là một tiến trình đi từ tri nhận
thực tại, chuyển hướng tư duy từ
vọng tưởng sai lầm đến tri kiến
tuệ giác như thực. Thông qua Bát
thánh đạo phần, con người cần
thiết được đào luyện bởi
một giai trình tư duy của chính nó
để vươn đến trí tuệ. Ở
đây, điều quan yếu là tiến
trình thanh lọc (trạch pháp) tư duy, để
từ vọng thức hiển lộ chơn thức,
từ cái hữu hạn đi đến cái
vô hạn. Nhưng trong suốt quá trình
loại suy đó cho đến khi con người
đạt được một sự toàn tri cao
nhất, thì cái "sinh thức hiện
hữu" hay cái tâm thể bao la mênh mông
bất sinh, bất diệt này vẫn là nền
tảng của thực tại giải thoát. Do
đó, giai trình tư duy sẽ đưa con
người từ sinh địa hữu hạn
vươn đến vô biên, rồi từ vô
biên trở lại với cuộc sống
thường nghiệm sinh hữu này. Vì thế
gọi nó là một sự chuyển hướng
hai chiều trên cùng một thực tại bao
gồm cả hai mặt công ước và
tuyệt đối. Tiến trình này
được gọi là nội chứng tự
thân (individual inner experience) vốn mang theo một
giá trị miên trường. Đây cũng
là nội dung của bến bờ chân hạnh
phúc mà Đức Phật - ngay thời thuyết
pháp đầu tiên - Ngài đã truyền
trao cho con người để "kiến lập
nhân gian tịnh độ". Từ đây,
chúng ta đi vào khảo sát cấu trúc
biện chứng thực tại thông qua nội dung
thông điệp của Tứ thánh đế.
Hẳn nhiên, ở góc độ biện chứng,
Tứ đế sẽ không được xem là
khuôn mẫu triết lý, mà nó biểu
thị cho cơ cấu thuyên thích nội tại
(implicit hermentical structure), một diễn trình của
tri thức về hiện hữu (dharma) hay thực tại
tuệ giác.
II. Biện chứng
Tứ đế
Nếu
như tính biện chứng (dialectical) được
xem như qui trình tương tác giữa lý
tưởng và thực tại, giữa ý thức
và hành động, giữa luận lý
và thực tiễn, thì tính biện chứng
Tứ đế là một tiến trình
điều hướng tư duy một cách năng
động tối ưu, nhằm phấn khích mỗi
tự thể tri kiến vươn lên đỉnh cao
của tuệ giác như thực đối với
hiện hữu (to their appearances as they really are), siêu
việt mọi biên độ hữu hạn, phủ
dẫm mọi định kiến hư ảo và
mở ra một cảnh giới của tự do trong
dòng tương tục của tâm - tức
làm cho sinh khởi năng lực của trí
tuệ vô biên ngay trong những cái hữu
biên, hạn cuộc. Do vậy, biện chứng Tứ
đế được xem như là một năng
thức hướng thượng bao quát cả
hữu biên và vô biên trên căn
bản của dòng sinh thức hiện hữu
"hữu tận mà vô tận" này.
Từ đó, ánh sáng tuệ giác sẽ
soi sáng mọi góc cạnh bí mật của
dòng đời, mà kẻ trí giả với
logic tư duy hữu ngã không làm sao thể
nghiệm được. Năng thức hướng
thượng, đó là "khát vọng
giác ngộ", một dòng động mạch
tâm linh thúc giục con người tiến về
phía trước biên giới của nhị
nguyên, mở toang mọi bí ẩn của khổ
đau và sự hiện hữu của chính con
người, nó được định danh là
"Tập đế" hay "12 nhân duyên";
và con đường soi sáng "Tập
đế" hay "12 nhân duyên" chính
là "Đạo đế". Do vậy, tính
biện chứng Tứ đế là nền tảng
của cấu trúc thực nghiệm. Ở
đây, biện chứng Tứ đế bao gồm
một cái nhìn tổng thể, mối tương
duyên của các phạm trù và bán
phạm trù, qui trình logic tri kiến, thể
thức của hiện hữu, và thể tính
thường trú của hiện hữu. Để
cụ thể hơn, cần thiết đi vào soi sáng
năm bước biện chứng của Tứ
đế như sau :
1. Cái nhìn tổng
thể
Mọi suy
tưởng trên căn bản của các phạm
trù về sự hữu, trước hết phải
được soi sáng ngay trên cái sinh thể
hiện hành. Đức Phật, trong kinh Rohitarsa
tuyên thị rằng :
"Trong
chính cái xác thân dài một
trượng này, cùng với tri giác tư
tưởng, Như Lai tuyên bố thế gian, nguồn
gốc của thế gian, sự chấm dứt thế
gian và con đường dẫn đến sự chấm
dứt thế gian". (In this very one - fathom long body, along
with its perceptions and thoughts, I proclaim the world, the origin of the
world the cessation of the world, and the path leading to the cessation of the
wordl" - Rohitarsa Sutta).
Ở
đây, chân lý Tứ đế bao phủ
đời sống con người qua các mặt
thiện và bất thiện, chân đế và
tục đế. Mặt khác, cái nhìn
tổng thể là cái nhìn bao quát
cái cấu trúc của sự hữu, trong
đó nhân duyên và quả là mối
liên hệ mang tính phổ biến khách quan.
Mọi hiện hữu trên cuộc đời này,
con người này, thế giới này đều
được qui định bởi định luật
nhân quả. Do đó, thấy được
nhân quả của một sự thể tức
thấy được hai mặt của một vấn
đề. Tất nhiên, nhân quả ở
đây chỉ được dùng trên
bình diện chân lý công ước
(conventional truth); nghĩa là nó chỉ mang chức
năng định hướng chứ không phải
là mô tả.
2. Sự liên hệ
giữa các phạm trù
Tứ
đế, ở một phương diện nào
đó đã nói lên mối tương
quan nhân quả (relative causation), nhưng sự
tương quan trong nhân quả chính là sự
tương quan Duyên khởi (paticcasamùppàda),
mà định lý tổng quan của Duyên
khởi thì bảo rằng :
"Do A hiện hữu nên
B hiện hữu
Do A không hiện hữu
nên B không hiện hữu.
Do A sinh khởi nên B sinh
khởi.
Do A đoạn diệt nên
B đoạn diệt".
Từ
căn nguyên triết lý này, Tứ đế
là cấu trúc hiện hữu thúc đẩy
tư duy con người đi qua mọi vấn nạn
thuần lý để vươn đến cái
tri kiến như thực (yathabhutam). Cấu trúc
Tứ đế, tại đây đóng vai
trò tương quan, tương hệ giữa các
cặp phạm trù: Hữu (process of becoming) - Vô
(becominglessness), Sinh (production) - Diệt (destruction),
Thường (eternal) - Đoạn (annihilation), Khứ (death)
- Lai (birth)... và đi qua thời gian của Sinh,
Trụ, Dị, Diệt, hay Thành, Trụ, Hoại,
Không. Thông qua các phạm trù mang thể
tính không và thời này, chúng ta tri
nhận cái bản chất vô thường
đoạn diệt của từng sự hữu,
để rồi từ vô hữu đi vào
hiện hữu, từ cái giả hiển bày
cái chân; thành ngữ Đại thừa
thường gọi là "Dĩ huyễn độ
chân". Các phạm trù bản thân
nó là đối lập, nhưng cấu trúc
Tứ đế đã xây dựng cho nó
một mối duyên sinh không đối lập,
nghĩa là nhân quả tương tác. Mối
tương quan nhân quả này được
thể hiện theo hai chiều sinh khởi và đoạn
diệt; và địa vị của nó y cứ
trên hai cơ sở: trần gian và xuất thế
gian. Do đó, hiểu Tứ đế sẽ khai
thông mọi mâu thuẫn nội tại do tri
kiến thiết lập và phê bác giả
tạo hình thành.
3. Qui trình logic tri kiến
như thực
Nói
đến logic tri kiến như thực là nói
đến Chánh tri kiến (right view). Ở
đây, nó không phải là logic tư duy
hữu ngã - trên căn bản cái "tôi
là", mà tri kiến như thực chỉ
có thể thể nghiệm và lãnh hội khi
chúng ta thấu tri bản chất của ngôn
ngữ, thông qua sự vận hành của qui
tắc Tứ đế nhằm siêu việt ngã
thể để vươn đến cái tri kiến
như thực hay tri kiến vô kiến - tức
cái "không là" trong khái niệm. Tuy
nhiên, bước tiên khởi của qui trình
này đi từ hữu cực đến vô
cực (from the finite to the infinite), từ kiến lập
đến phá vỡ (from building up to pulling down) của
một sinh thể hiện hữu. Do đó, Tứ
đế chủ trương nhìn nhận sự
thật bằng sự thật. Vả lại, trong
hình thái của sự bất an, bất toại, khổ
đau, nó không đơn giản chỉ có
một nhân duyên, mà trong nó bao hàm
hàng loạt hệ thống nhân duyên
tương tác, từ vật lý đến
tâm lý. Vì thế cần có một
cái nhìn toàn diện về bản chất
của năm uẩn (aggregates): Sắc (corporeal group),
Thọ (feeling), Tưởng (perception), Hành (mental
formation), Thức (consciousness) của các xứ (six
spheres of organs) và các giới (six spheres of relic
chamber). Từ đó mới khả dĩ thành tựu
Diệt đế - Niết bàn, như chính
lời khai thị của Đức Phật: "Trong
cái xác thân dài một trượng
này , cùng với tri giác và tư
tưởng, ta tuyên bố thế gian nguyên
nhân của thế gian, sự chấm dứt thế
gian, và con đường đưa đến sự
chấm dứt thế gian".
4. Thể thức của
hiện hữu và thể tính thường
trú của hiện hữu
Trong Tứ
đế, đây là phần cốt lõi
và quan trọng nhất. Vì nó chính
là cái kinh nghiệm cá thể nội tại
(individual inner experience) trong dòng sinh hiện của
mỗi con người và cuộc đời của
con người ấy. Nếu thiếu vắng nó -
cái thể thức và thể tính
thường trú của hiện hữu (dharma) -
thì mô thức suy tưởng sẽ trở
thành khuôn mẫu triết lý (philosophical
pattern). Nhưng khuôn mẫu triết lý và
thực tại đang là thì hoàn toàn
khác nhau; một bên là logic luận lý,
trong khi bên kia bến bờ của logic luận lý
là sự thể nghiệm, thăng chứng thực
tại tuyệt đối (absolute reality). Tuy nhiên
cả hai, thể thức của hiện hữu và
thể tính thường trú của hiện
hữu, là một dòng sinh hiện tương
tục bất khả phân ly. Từ đó, trong
khổ đau hiển lộ Niết bàn giải
thoát, mà không phải là lìa khổ
đau để đi đến Niết bàn. Do
vậy, Tứ đế là một giáo lý
thực tiễn bao quát hai mặt thế gian và
xuất thế gian. Về mặt thế gian, thể
thức của sự hữu (nàma-rùpa) gồm
danh (mentality) và sắc (corporeality) không đơn
giản chỉ được qui ước vào
tính chất vô thường đoạn diệt,
mà chính trong cái vô thường
đoạn diệt đó, đồng thời,
cũng mang thể tính thường trú. Vì
lẽ đó, văn hệ Đại thừa
dùng cách ngôn "Nhất thiết pháp
giai thị Phật pháp" hay "Pháp nhĩ
như thị" v.v... Do đó, một sự thể
sẽ là Tathata - tức như như hay chân
như (suchness, the real truth of things) - khi nó không
phải là đối tượng của nhận
thức.
Chính
trong giai trình tư duy theo qui tắc vận hành
của Tứ đế này mà con người
tạo được một sự chuyển y
(Paràvrtta) hay một sự đột biến (sudden
change) từ trong đáy thẳm tận cùng
của tâm thức, rồi từ đó
bước vào sinh địa của tuệ giác
vô thượng - mở ra một thế giới quan
hoàn toàn mới lạ ngay trên chiếc
thân héo hắt vô thường và trần
thế mông lung hương khói này.
Tóm lại, qua góc
độ triết học, Tứ đế có thể
được xem như là một phương
pháp biện chứng thực tại Phật giáo mà
lần đầu tiên, cách đây hơn 25
thế kỷ, Đức Phật đã tuyên
thuyết, khai thị, minh thị cho các vị
đệ tử của Ngài. Cho đến ngày
nay, Tứ đế vẫn là một pháp
thoại không tiền khoáng hậu trong lịch
sử tôn giáo và triết học của
nhân loại.
(Trích
"Vấn đề cơ bản của triết
học")
Source: LotusNet Production, <http://www.lotuspro.net/index.shtml>