THIẾT LẬP HÒA HIỆP TRONG SỰ ĐA DẠNG TÔN GIÁO
His
Holiness the Fourteenth Dalai Lama
Nguyên
tác: Establishing Harmony within Religious Diversity
Anh ngữ:
Alexander Berzin
Chuyển
ngữ: Tuệ Uyển
MỤC LỤC
1- Những nguy hiểm của sự
thay đổi tôn giáo
2- Học hỏi từ những tôn
giáo khác
3-Chia sẻ kiến thức với
khoa học
1- NHỮNG NGUY
HIỂM CỦA SỰ THAY ĐỔI TÔN GIÁO
Có
nhiều tôn giáo và tôn giáo khác nhau trên thế giới và mỗi
tôn giáo đã phát triển để thích ứng với chính quần chúng của
nó. Do bởi điều ấy, chúng tôi luôn luôn khuyên rằng tốt
nhất là theo tôn giáo mà quý vị được sinh ra trong ấy. Ở
thế giới phương Tây, hầu hết mọi người là Ki Tô hữu, mặc dù
có một số theo Do Thái Giáo và một số là Hồi Giáo. Đối với
họ, hay cho bất cứ người nào, thay đổi tôn giáo là không dễ
dàng và đôi khi nó chỉ tạo thêm rối rắm.
Có
một thí dụ mà chúng tôi luôn luôn đề cập. Vào đầu những năm
1960, những người Tây Tạng chúng tôi đối diện với những khó
khăn vô cùng lớn lao. Vào lúc ấy, nhiều tổ chức Cơ Đốc Giáo
đã đến giúp đở chúng tôi. Có một người phụ nữ Tây Tạng có
vài đứa trẻ nhỏ và bà gặp phải một tình cảnh vô cùng khó
khăn. Rồi thì có một đoàn truyền giáo Cơ Đốc đến và chấp
nhận cho những đứa con của bà đến một trường học của đoàn
truyền giáo Cơ Đốc. Một ngày nọ bà đến và nói với tôi rằng
trong kiếp sống này bà sẽ là một tín hữu Cơ Đốc, nhưng trong
đời sống kế tiếp bà sẽ là một Phật tử. Điều này cho thấy
rằng bà có một số bối rối về tôn giáo.
Cũng
có một phụ nữ Ba Lan trọng tuổi, chúng tôi biết bà từ năm
1956. Từ năm 1959 trở đi, bà quan tâm tận tình đến giáo dục
và cấp học bổng cho vài học sinh Tây Tạng. Bà trở nên hứng
thú đến Phật Giáo, nhưng trước khi ấy bà là người theo
thuyết thần trí (1) ở Madras. Thế nên bà đã là người thuộc
loại không hẹp hòi về quan điểm, mà đã chấp nhận Phật Giáo
như tôn giáo của riêng bà. Vào thời điểm cuối cuộc đời của
bà, khái niệm về Thượng đế dường như gần tâm hồn của bà hơn
và điều này cũng chứng tỏ một dấu hiệu của sự rối loạn [hay
mơ hồ].
Tuy
nhiên, trong hàng triệu người, một số sẽ có sự hấp dẫn một
cách bẩm sinh đối với những tôn giáo Đông phương, đặc biệt
là Phật Giáo. Những người này cần suy nghĩ một cách cẩn
thận. Nếu họ cảm thấy rằng Phật Giáo thích hợp hơn đối với
khuynh hướng của chính họ, thế thì okay, tốt thôi. Giống
như trong 99% người Tây Tạng chúng tôi là Phật tử. Nhưng
hơn bốn thế kỷ gần đây, có một số người Hồi Giáo Ladakh sống
ở Tây Tạng, họ kết hôn với người Tây Tạng và con cái của họ
trở thành người Hồi Giáo. Cũng thế, có một số người Cơ Đốc
ở vùng Amdo. Thế thì, tốt thôi, với cả hai nhóm người ấy,
không có vấn đề gì rắc rối.
Cũng
thế, chúng tôi phải nói đến rằng khi một người nào đấy tiếp
nhận một tôn giáo mới, họ phải tránh quan niệm tiêu cực về
tôn giáo truyền thống của họ, điều thường thể hiện như một
bộ phận tự nhiên của con người. Thậm chí nếu quý vị thấy
rằng tôn giáo cũ của quý vị không thật lợi ích cho quý vị,
không nên hàm ý chung chung rằng nó đúng là chẳng ích lợi gì.
Tất cả những tôn giáo cung ứng một sự hổ trợ đến nhân loai.
Đặc biệt khi đối diện với những tình cảnh khó khăn, tất cả
tôn giáo trao cho niềm hy vọng. Do vậy, chúng ta phải tôn
trọng tất cả mọi tôn giáo.
2- HỌC HỎI TỪ
NHỮNG TÔN GIÁO KHÁC
Cũng
thế, hiện thực ngày nay có hơi khác thực tế ngày xưa. Trong
quá khứ, những người trong những truyền thống khác nhau sinh
sống ít hay nhiều cô lập hơn. Đạo Phật ở Á châu; đạo Hồi ở
Trung Đông và một số ở Á châu; và ở phương Tây hầu hết thờ
phượng Thượng đế Ki Tô giáo. Vì thế có rất ít sự tiếp xúc.
Nhưng bây giờ thời gian đã khác. Có nhiều làn sóng người di
cư xãy ra; có nền kinh tế toàn cầu và cũng có sự lớn mạnh
của kỷ nghệ du lịch. Có quá nhiều tin tức sẳn sàng, kể cả
thông tin về Phật Giáo. Do bởi những nhân tố đa dạng này,
cộng đồng thế giới chúng ta đã trở nên giống như một sự tồn
tại: một thực thể duy nhất đa tôn giáo, đa văn hóa.
Do
thế, ở đây có hai khả năng của những gì có thể xãy ra. Thứ
nhất là do bởi sự tiếp xúc gần gũi giữa những truyền thống
khác nhau, đôi khi có một cảm giác nho nhỏ về sự không an
toàn cho truyền thống của chính chúng ta. Truyền thống khác
trở nên tiếp xúc với chúng ta nhiều hơn, vì thế chúng ta cảm
thấy có một ít không thoãi mái. Đó là một khả năng tiêu cực.
Khả năng thứ hai là do bởi thực tế giao tiếp nhiều hơn,
những cơ hội để phát triển hòa hiệp chân thành giữa những
truyền thống đã lớn mạnh. Đây là một khả năng tích cực hơn
và do vậy bây giờ chúng ta phải làm một nổ lực để xây dựng
một sự hòa hiệp thật sự. Nếu chúng ta bỏ qua một bên những
tôn giáo không có bất cứ nền tảng triết học nào, mà chỉ đơn
thuần là tín ngưỡng trong sự thờ cúng mặt trời, mặt trăng
hay những loại như thế này, nếu chúng ta bỏ những thứ đó qua
một phía mà nhìn vào đại đa số tôn giáo – Ki Tô Giáo, Do
Thái Giáo, Hồi Giáo, Kỳ Na Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo,
truyền thống của Phật Giáo và Ấn Giáo, và v.v…- mỗi tôn giáo
này có một sự đặc biệt của nó. Do thế, qua tiếp cận gần gũi,
chúng ta có thể học hỏi những điều mới lạ từ mỗi tôn giáo
khác; chúng ta có thể làm giàu thêm truyền thống của chúng
ta.
Thí
dụ chúng tôi là những Phật tử Tây Tạng, chúng tôi duy trì sự
cô lập sau dãy Hy Mã Lạp Sơn; chúng tôi chẳng biết điều gì
đang xãy ra ở thế giới bên ngoài. Nhưng bây giờ tình cảnh
đã thay đổi hoàn toàn. Bây giờ, sau gần năm mươi năm như
những người tị nạn không nhà, chúng tôi đã tìm thấy những
ngôi nhà mới và nhiều cơ hội để học hỏi từ những truyền
thống khác trên những quốc gia khác. Điều này đã cực kỳ lợi
lạc. Trong quá khứ, chúng tôi đã từng thiết lập những
chương trình trao đổi ở nơi đây, Ấn Độ: những anh chị em Cơ
Đốc giáo đã đến Ấn Độ để học hỏi từ chúng tôi và một số tu
sĩ Tây Tạng nam nữ đã đến phương Tây và đã có kinh nghiệm
trong Cơ Đốc giáo, hầu hết là trong những tu viện Thiên Chúa
giáo. Do vậy, với những tiếp xúc gần gũi trong cách ấy, nếu
chúng ta không giữ đôi mắt khép lại mà mở ra, rồi thì chúng
ta có thể học hỏi những điều gì đấy lẫn nhau. Trong cách ấy,
chúng ta có thể phát triển một sự thông hiểu và tôn trọng hổ
tương. Và dù sao đi nữa, một thực tế mới là đấy. Thế nên,
chúng tôi nghĩ rằng sự phát triển hòa hiệp hổ tương giữa
những tôn giáo khác nhau là rất quan trọng. Đây là một
trong những chí nguyện (2) của chúng tôi cho tới khi chết,
và đấy là thúc đẩy sự hòa hiệp tôn giáo. Điều này rất hữu
ích.
Do
vậy, khi chúng tôi diễn thuyết về Phật Giáo đến những thính
chúng ở phương Tây, hầu hết là những tín đồ của những tôn
giáo khác, thế thì, khuynh hướng ấy là để giúp cho những
người này mở mang thêm một ít kiến thức về Phật Giáo. Điều
ấy có thể lợi ích cho việc phát triển lòng bao dung. Rồi
thì, có lẻ giống như Đức Giáo Hoàng hiện tại nhấn mạnh, tầm
quan trọng cần có là cả tín ngưỡng và lý trí phối hợp với
nhau. Điều ấy rất quan trọng. Không có lý trí, đôi khi tín
ngưỡng tồn tại đôi chút không thích đáng. Nhưng với lý trí,
tín ngưỡng có thể trở thành một bộ phận của đời sống và điều
ấy vô cùng thích ứng. Thí dụ, tín ngưỡng trên Thượng Đế có
thể vô cùng lợi ích, giống như khi một người đang trãi qua
những thời điểm cực kỳ khó khăn, nó ban cho người ấy một
niềm hy vọng lớn lao. Và nếu chúng ta nghĩ trong những hình
thức giận dữ, thù hận, ghen tị, ý muốn lừa dối và bắt nạt kẻ
khác, thế thì nếu chúng ta có tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo
sẽ bảo vệ chúng ta chống lại những cảm xúc và hành động tiêu
cực như vậy. Khi chúng ta nhận ra điều này, thế thì tín
ngưỡng trở nên rất quan trọng trong đời sống hằng ngày.
Trong truyền thống Phật Giáo, chúng ta đặt sự nhấn mạnh một
cách tương xứng trên tín ngưỡng và lý trí. Thế nên, một số
sự giải thích Phật Giáo, đặc biệt những điều căn cứ trên lý
trí có thể rất hữu ích cho những hành giả của những truyền
thống khác.
3- CHIA SẺ KIẾN
THỨC VỚI KHOA HỌC
Trong
sự muôn màu muôn vẻ của những truyền thống tôn giáo hiện hữu
trong thế giới ngày nay, có hai đặc trưng: những tôn giáo
hữu thần và những tôn giáo vô thần. Phật Giáo là một tôn
giáo vô thần. Theo những tôn giáo vô thần, điều nhấn mạnh
là trên luật nhân quả. Do thế, một cách tự nhiên, có một sự
giải thích rộng rãi về luật của nguyên nhân và hiệu quả
trong Phật Giáo, và đây là một điều gì đấy rất lợi ích để
biết. Nó hữu ích trong ý nghĩa rằng nó giúp chúng ta hiểu
biết hơn về chính chúng ta và về tâm thức chúng ta.
Thí
dụ, chúng ta cần nhận ra rằng những cảm xúc và quan niệm
tiêu cực là cội nguồn của những khỗ não và đau thương của
chúng ta. Để loại trừ đau thương và khổ não, chúng ta cần
tập trung không chỉ trên những tình trạng thân thể và lời
nói, nhưng cũng trên thể trạng tinh thần. Năng lực đối trị
với chúng hầu hết cũng là tinh thần.
Trong
truyền thống Phật Giáo, sự giải thích về tâm thức rất chi
tiết. Cũng thế, chúng ta tìm thấy một số điều tương tự
trong truyền thống cổ truyền của Ấn Độ. Do vậy hiện tại bây
giờ, khoa học hiện đại đang khảo sát sâu ngày càng sâu hơn
trong lĩnh vực này. Thí dụ, y học đang bắt đầu tiến hành
nghiên cứu về cảm xúc, vì chúng rất quan trọng trong liên hệ
đến sức khỏe của chúng ta. Một thân thể khỏe mạnh có quan
hệ đến những cảm xúc. Do thế, điều đặc biệt quan trọng cho
những nhà thần kinh học khảo sát những hoạt động của não bộ
như thế nào để quán sát rõ hơn về những cảm xúc. Trong
những lĩnh vực chuyên môn khác cũng thế, cũng có một sự hấp
dẫn lạ thường đối với tâm thức và xúc cảm. Do vậy, những
tin tức về tâm thức và cảm xúc của Phật Giáo và từ những tôn
giáo cổ truyền của Ấn Độ là rất hữu ích cho những sự nghiên
cứu của họ.
Thông
thường chúng tôi phân biệt ba bộ phận của Phật Giáo: khoa
học Phật Giáo, triết học Phật Giáo, và tín ngưỡng Phật Giáo.
Hãy nhìn vào kiểu mẫu của chính Đức Phật. Đức Phật đầu tiên
là một chúng sinh bình thường, một con người giới hạn (3).
Ngài đã dạy làm thế nào để chuyển hóa những cảm xúc và tâm
thức phàm tình của chúng ta từng bước từng bước một và, bằn
đi theo con đường ấy của chính Ngài, Ngài cuối cùng đã trở
nên giác ngộ, và đấy là một Đức Phật. Do vậy, sự tiếp cận
của Phật Giáo là bắt đầu trên cấp độ này, trình độ của những
con người bình thường, và rồi thì tiến bước trên trình độ ấy
[vượt thẳng đường lên đến tột cùng] của Phật quả.
Do
bởi điều ấy, thế thì trước nhất, chúng ta phải biết thực tế
ngày nay: đấy là yêu cầu khoa học Phật Giáo. Rồi thì, trên
căn bản ấy, chúng ta thấy khả năng của thay đổi, của chuyển
hóa. Chúng ta thấy rằng đổi thay là có thể và đấy là triết
lý Phật Giáo. Khi điều ấy trở nên rõ ràng đối với chúng ta
và chúng ta đã có sự tin cậy trong tiến trình chuyển hóa nội
tại, rồi thì chúng ta có thể bắt đầu thực hành tín ngưỡng
Phật Giáo.
Do
thế, nếu chúng ta nhìn lại khoa học Phật Giáo, có hai lĩnh
vực mà nó đối diện: nội tại, tâm thức, và ngoại tại với
những nguyên tử, vũ trụ, và v.v… Khoa học Tây phương cống
hiến nhiều trên trình độ ngoại tại: dường như nó cực kỳ phát
triển trên lĩnh vực ấy. Những người Phật tử chúng tôi có
thể học nhiều điều từ nó về những hạt bụi trần, làm thế nào
chúng hoạt động, về di truyền học, về vũ trụ - những điều
này rất hữu ích cho chúng tôi như những người Phật tử. Tối
thiểu trong những hình thức của hành tinh này, rõ ràng rằng
không có núi Tu Di. Do vậy, một số những sự diễn đạt cổ
điển của chúng tôi cũng phải được thay đổi. Thế nên, những
khám phá đặc thù của khoa học trong lĩnh vực vũ trụ học, vật
lý hạt, vật lý lượng tử, và v.v…, là rất cần thiết cho những
người Phật từ chúng tôi học hỏi.
Tuy
nhiên, một số khám phá của khoa học hiện đại và Phật Giáo là
giống nhau. Thí dụ, ban đầu, người ta tin rằng có một loại
một tính chất tự cung, độc lập nào đấy, bên cạnh những đối
tượng. Nhưng bây giờ, theo sự khám phá của khoa vật lý học
lượng tử, chúng ta thấy rằng không có điều gì như thế.
Những người Phật tử chúng tôi đã có sự thông hiểu như thế
hàng nghìn năm qua. Phật Giáo dạy rằng không có điều gì tự
sinh khởi hay tự tồn tại (3), nhưng đúng hơn là mọi thứ sinh
khởi một cách phụ thuộc [vào nhau](duyên khởi).
Bây
giờ, trong hình thức của kiến thức nội tại, khoa học hiện
đại đang bắt đầu để chỉ đạo một số khảo sát, do thế có thể
có lợi ích hổ tương. Những người Phật tử có thể học về
những hiện tượng ngoại tại từ khoa học và khoa học có thể
học hỏi để ứng phó với những cảm xúc tiêu cực và những hiện
tượng nội tại từ những người Phật tử. Thế nên, khi chúng
tôi nói với những nhà khoa học, không phải là nói về những
kiếp sống tương lai hay niết bàn. Chúng tôi không nói về
những khía cạnh tôn giáo, mà đúng hơn là chúng tôi nói về
tâm thức và những cảm xúc. Đây là bởi vì chúng ta có cùng
phương pháp: chúng ta khám phá những sự kiện nhầm để tìm ra
thực tại.
Do
vậy, những ai trong những ngưởi Tây phương quý vị hấp dẫn
trong Phật học, điều ấy hữu ích để mang đến cho sự nghiên
cứu khoa học của chính quý vị. Vì thế, trên căn bản của sự
cung ứng cơ hội để khảo sát những giáo lý Phật Giáo với một
thái độ khoa học, và dường như không có gì trở ngại cho
chúng tôi để có những buổi diễn thuyết về Phật học đến những
thính chúng không phải Phật tử. Do bởi điều ấy, thế thì
xin hãy nhìn vào những buổi nói chuyện của chúng tôi phần
nào đấy gọi là những thuyết trình chuyên môn. Ngoại trừ một
số tán tụng lúc bắt đầu, không có nghi lễ, không có khía
cạnh tôn giáo trong những bài thuyết giảng của chúng tôi.
Chúng tôi đúng là thuyết giảng về những đề tài khoa học Các
bạn nghĩ thế nào?
Phụ
giải:
(1)
Theosophist
(2) Commitment: một sự thực hành tâm linh mà một người hứa
làm. Nhân tố tinh thần với điều mà một người làm hứa làm
như thế. Sự hứa hẹn có thể được làm hoặc là một cách nguyên
tắc với một nghi lễ hay một cách tự nhiên không cầu kỳ, và
hoặc là bằng lời nói hay không lời nói. Trong trường hợp
của một lời hứa nguyện trước một vị đạo sư tâm linh, nhân tố
tinh thần với điều mà một người hứa hẹn liên hệ tới vị đạo
sư ấy trong một hình thức và nội dung lành mạnh, tùy theo sự
diễn tả kinh điển truyền thống. Thuật ngữ không bao hàm một
ý nghĩa của bổn phận hay nghĩa vụ.
(3) Existing: tồn tại, hiện hữu – những hiện tượng có thể
biết một cách có căn cứ
(4) a limited being: một con người có sự tỉnh thức vẫn giới
hạn. Bất cứ một cá thể nào khác hơn một vị Phật. Thường
được diễn tả như ‘chúng sinh.’
Establishing Harmony within Religious Diversity
His Holiness the Fourteenth Dalai Lama
Nantes, France, 15 August 2008
transcribed and slighted edited by Alexander Berzin
http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/
Tuệ Uyển chuyển ngữ
01-01-2010
Source: thuvienhoasen.org