Thiền định và Trị
liệu
Minh Phúc
Trên phương diện sức khỏe, thiền
định được xem như một nghệ thuật thư giãn, trong cố gắng
giảm thiểu sự căng thẳng bức xúc, đau đớn, tạo cảm giác an
lạc, giúp quân bình thân tâm và trị liệu các chứng bệnh.
Phật Thích Ca
, 2500 năm xưa, đã nguyện ngồi thiền dưới cội Bồ Đề cho đến
khi chứng đạt Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay thành
Phật. Thiền định gồm có nhiều phương pháp nhằm phát triển
chánh niệm, tập trung, thanh tịnh, tỉnh giác và tột đỉnh đạt
giác ngộ giải thoát. Những kỹ thuật hành thiền cơ bản được
ghi chép trong nhiều kinh sách, cũng như được truyền thừa và
đa dạng hóa qua hàng ngàn năm.
Trên phương
diện sức khỏe, thiền định được xem như một nghệ thuật thư
giãn, trong cố gắng giảm thiểu sự căng thẳng bức xúc, đau
đớn, tạo cảm giác an lạc, giúp quân bình thân tâm và trị
liệu các chứng bệnh.
Chỉ riêng
trong Phật giáo cũng đã có hơn 8 vạn 4 ngàn pháp môn tu tập
và số lượng phương pháp hành thiền cùng những chứng bệnh nan
y cứ tiếp tục leo thang theo đà phát triển của khoa học kỹ
thuật.
Trong 5 thập
niên qua khoa học và y học càng ngày càng chú ý đến thiền,
với nhiều nghiên cứu, để được xem như là phương pháp trị
liệu bổ sung-thay thế đối với nhiều bệnh trạng khác nhau
như trầm cảm, căng thẳng, lo sợ, mất trí nhớ, đau nhức, mệt
mỏi, mất ngủ, cảm cúm, ung thư, AIDS (Sida), tê khớp, tim
mạch, viêm gan, tiểu đường, suyễn, nghiện ngập, tăng tiến
tuổi thọ, vân vân. Ngay chính những tư tưởng tiêu cực, căng
thẳng, xúc động và ưu phiền trong cuộc sống làm cho bệnh
trạng càng thêm trầm trọng và nguy hiểm.Thiền định chú trọng
và có tác dụng làm cho thân tâm được lắng dịu thanh tịnh, từ
đó những trăn trở khổ đau do bệnh tật gây nên cũng được
thiên giảm hay tiêu trừ.
Đức Phật cũng
là bậc y sư khi thuyết về câu chuyện người trúng mũi tên
độc, không lo nhổ mũi tên, hút máu độc và dùng thuốc rịt vết
thương cho lành, mà cứ bâng khuâng muốn tìm hiểu ai đã bắn
mình và vì sao bị bắn, v.v.. thì e đã quá trể, không còn cứu
được sinh mạng. Thật ra trong câu chuyện ẩn dụ này, Đức Phật
muốn khuyên nhủ một tỳ kheo nên chuyên chú tu hành hơn là
mất thì giờ để tâm vào những tìm hiểu khoa học viễn vông như
thế giới này là hữu biên hay vô biên, nguồn gốc phát sinh
loài người, v.v.
Trong thời
buổi văn minh tiến bộ này, không phải tất cả mọi sự kiện đều
được khoa học giải thích rõ ràng, hoặc những gì được khoa
học chứng minh đều là đúng.Tuy vậy “nói có sách mách có
chứng” hay căn cứ vào những gì đã được nghiên cứu và công
nhận thì vẫn được nhiều người nghe hơn.
CƠ
CHẾ THIỀN ĐỊNH
Những tác
dụng và ảnh hưởng của thiền định có thể được thể hiện dưới 3
cơ chế sau đây.
Cơ Chế
Tín Ngưỡng
Tư tưởng Phật
giáo không chủ trương thần thánh hóa, tôn thờ một thần linh
hay đấng thượng đế nào. Do đó nhiều khi Đao Phật được xem
không phải là một tôn giáo để tín đồ cầu xin phép lành, ân
huệ, hay cứu rỗi như trong các đạo khác. Giáo lý nhà Phật
rất thực tiển và thấu triệt: mọi sự vật đều bị chi phối bởi
vô thường biến đổi, nhân qủa nghiệp duyên và trầm luân sinh
tử. Thiền định được xem như trái tim của nhà Phật và là
trung tâm của đời sống đạo hạnh giúp đạt đến mức độ cao xa
của tỉnh giác. Từ trạng thái vô minh hay tiêu cực mê mờ của
tâm tiến lên trạng thái tích cực sáng suốt hay minh tâm kiến
tánh. Mọi chúng sanh đều có Phật tánh (chơn tâm, bản lai
diện mục) hay cái tâm thuần khiết trong sáng, nhưng bị những
phiền não tham sân si che lấp như án mây đen phủ kín bầu
trời. Thiền định có công năng giúp tâm được thanh lọc dứt
trừ mọi cấu nhiễm, đạt an lạc thanh tịnh và giác ngộ giải
thoát như trời quang mây tạnh, trăng sáng rỡ ràng. Cũng
chính là lúc ông Phật hiện ngay trong tâm mình không phải
tìm kiếm đâu xa. Đó là ý niệm “tức Tâm tức Phật” của Đạo
Nhất Mã Tổ, hay hiện tượng đại ngộ “ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm” (Kinh Kim Cang) của Lục Tổ Huệ Năng, trụ tâm đến
không chỗ trụ mà sanh được tâm kia, cái tâm tĩnh tịch – tròn
đầy – trong sáng.
Vạn pháp do
tâm tạo, những bệnh tật khổ đau là do tâm duyên theo trần
cảnh, môi sinh ô nhiễm độc hại và cuộc sống bon chen hỗn tạp
đầy căng thẳng bức xúc, thì cũng chính tâm sẽ chữa trị chúng
qua thiền định.
Trong Đạo
Thiên Chúa, căn bản thần học trong thiền định được xem là
nằm tận đáy lòng con chiên, là tâm của Giêsu – người đang
cầu nguyện trong con chiên, với con chiên và cho con chiên.
Đây là sự quán chiếu diễn tả tột đỉnh đời sống tâm linh và
trí thức một cách tích cực trong trạng thái tỉnh giác hoàn
tòan.
Ấn Độ là xứ
có truyền thống lâu đời về thiền định, ngay cả trước thời
Phật Thích Ca. Theo Ấn Giáo, danh từ thiền định được hiểu
như là một trạng thái tĩnh lặng, tỉnh táo và tập trung một
cách ráo riết, qua đó tri thức và tỉnh giác được đánh thức
dậy từ bên trong, khi chú tâm vào một sự vật hay một dòng tư
tưởng cho đến lúc đạt đến và hòa nhập vào sư bình yên thánh
thiện, đồng nhất với vũ trụ và thượng đế.
Trong phép
thiền quán niệm hơi thở (Anapana Sati), Đức Phật đã chỉ dạy
trong Đại Tạng Kinh Pali (Mahasatipatthana Sutta): Tỳ kheo
tìm đến khu rừng, dưới gốc cây hay nơi trống vắng, ngồi tréo
chân, giữ lưng thẳng, chú ý hơi thở ra vào nơi chóp mũi và
khởi lên chánh niệm trước mình.
Khi chánh
niệm được duy trì, hơi thở càng trở nên nhẹ nhàng lặng lẻ,
thân thể được êm dịu thanh thản như có cơn gió nhẹ thoáng
qua. Với sự tĩnh lặng của tâm, hơi thở càng trở nên vi diệu
cho đến lúc có cảm giác như ngừng thở, kéo dài trong nhiều
phút, nhưng thật sự hơi thở vẫn tồn tại. Dần dà tâm được
giải phóng khỏi 5 triền cái (ham muốn, giận hờn, hôn trần,
trào hối và nghi hoặc). Hành gỉa càng đạt thêm sự bình thản
và an lạc. Các thiền tướng bắt đầu xuất hiện báo hiệu thành
qủa của chánh định. Hành gỉa bắt dầu vào cận định (upacara
samadhi) và khi chánh định phát triển thêm nữa sẽ đạt đến
toàn định (appana samadhi). Đến đây khai thông cho sự chứng
đạt nhất thiền, và tiếp tục miên mật sẽ vào các qủa thiền
cao hơn: nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Hành giả tiếp tục
phát triển chánh niệm qua tuệ quán (Vipassana). Ở mức độ cao
hơn, tâm trạng như được thoát tục và bắt đầu vào giai đoạn
nhập lưu, rồi tiến lên các qủa vị thanh văn khác trong chánh
định. Khi mọi xiềng xích trói buộc không còn dính mắc, dứt
sạch ngã chấp, chứng quả vi thanh văn thứ tư - A La Hán, ra
khỏi luân hồi sanh tử. Hầu hết những đệ tử lớn của Phật đều
chứng đạt qủa vị này, ngoại trừ Đề Bà Đạt Đa mưu toan giết
Phật để được làm Phật.
Cơ Chế
Tâm Lý
Tâm lý chung
là khi những căng thẳng hay phiền não dấy lên báo hiệu sự
giày vò tâm trí, người ta có khuynh hướng làm cho chúng lắng
dịu thay vì phải chịu đựng. Khi một chuỗi tư tưởng loạn động
gây ra biến cố bức rức tâm trí, hành giả an trú trong thiền
định qua sự tập trung hay quán chiếu vào một đề mục làm cho
chúng tan biến đi. Từ đó đem tâm trở về trạng thái bình yên,
tạo dựng thái độ không còn sợ hãi khiếp nhược, là hiệu quả
và đặc tính căn bản của thiền định.
Một cơ chế
khác về tâm lý là sự thiếu lưu thông giữa các cơ năng tâm
thần, gây nên sự bức bách ứ đọng bên trong. Rất thường
xuyên, các hiện tượng như lời nói, tưởng tượng, xúc cảm là
những ngăn kín chật hẹp mà thiền định là nhịp cầu giúp chúng
được thông thoáng hòa hợp với nhau. Chẳng hạn thường xuyên
đặt sự chú ý của tâm vào những tác động lên thân-khẩu- ý là
một phương cách thông thoáng hữu hiệu nhất.
Trái lại, nếu
lạm dụng thiền định như một hành vi đè nén - ức chế tâm thì
có khi phải gánh chịu những hậu quả khốc hại, như trong
trường hợp qúa cuồng tín theo một phép thiền sai lêch. Chẳng
hạn khi hành giả niệm tên các vị thần linh hay các thần chú
vô nghĩa cả hàng ngàn lần, cho đến khi trở thành nhàm chán,
tâm trí mờ mịt, lạc vào thế giới mộng du ảo tưởng, không còn
lý luận hay phán đoán được gì. Từ đó phát sinh những cảm thọ
hỉ lạc giả tưởng, không thể phân biệt qúa khứ-hiện tại-vị
lai hoặc ngay cả sự chết. Đây là trường hợp bị “tẩu hỏa nhập
ma” mà chính đương sự không hề hay biết, chỉ có người ngoại
cuộc mới nhận thấy những hành vi bất thường - điên dại của
mình qua sinh hoạt hàng ngày. Do vậy, trong lúc ngồi thiền,
phải luôn cảnh giác, tỉnh thức, và giữ chánh niệm. Nếu cảm
thấy qúa si mê hôn trầm thì nên đứng lên hay rời khỏi bồ
đoàn.
Có một hiện
tượng tâm bệnh xảy ra cho một tu sĩ trẻ tuổi tại ngoại ô
Lhasa - Tây Tạng. Tu sĩ này sinh tâm không thích ngôi chùa
mình đang tu tập, nằm ngay dưới chân một ngọn đồi, mà lại
phóng tâm ưa thích một ngôi trường kế cận. Từ đó tu sĩ khởi
sinh một ý tưởng là mong cho ngọn đồi trượt xuống và đè bẹp
lên ngôi chùa trong khi ngôi trường thì vẫn còn nguyên vẹn.
Thế rồi cái tâm bất thiện này cứ bủa vây trong đầu óc người
tu sĩ, đến nổi biến thành chứng nhức đầu bức rức và thần
kinh khủng hoảng. Cuối cùng tu sĩ thú thật và xin vị trụ
trì ngôi chùa cứu giúp. Thầy trụ trì khuyên từ đây luôn luôn
quán niệm cho ngọn đồi thật sự đè nát ngôi chùa, đè bẹp mọi
thứ trong chùa kể cả thân mạng của chính mình. Người tu sĩ
trẻ làm y lời thầy và chỉ trong một thời gian ngắn thì hết
chứng đau đầu và không còn ảo tưởng này nữa.
Chung qui,
điểm căn bản trong tiến trình hành thiền là sư chú tâm, và
quan trọng hơn hết, chú tâm là một sự thực hành trong kiên
nhẩn chứ không phải lý thuyết gì xa xôi. Có một thiền sinh
cảm thấy rất khổ sở vì không đạt được thành qủa trong công
phu hành thiền nên đến yết kiến thiền sư của mình và nhờ chỉ
cho cách vượt qua chướng ngại. Vị thiền sư đang trong thời
kỳ tịnh khẩu nên chỉ viết ra trên giấy chữ “chú tâm”. Thiền
sinh không hiểu nên nhờ thầy giảng thêm. Thiền sư lại viết
thêm “chú tâm, chú tâm”và trao cho đệ tử. Người đệ tử vẫn
không đạt được ý thầy mình muốn nói gì nên đòi giải thích
thêm nữa. Cuối cùng thiền sinh nhận đươc toàn bài học trên
giấy: “chú tâm, chú tâm, chú tâm…có nghĩa là chú tâm”.
Cơ Chế
Sinh Lý
Thật hết sức
khó khăn khi phải sử dụng các kỹ thuật và dụng cụ khoa học
đề đo lường và kiểm nghiệm những biến chuyển của cơ thể
trong lúc hành thiền, nhưng người ta vẫn có thể thực hiện và
chứng minh được những tác dụng hữu ích của thiền.
Cơ thể con
người có những phản ứng tự động không qua ý thức để thích
ứng với môi trường sống như các phản ứng run rẩy khi rét
lạnh, tim đập nhanh khi chạy nhảy, toát mồ hôi khi trời nóng
nực, v.v. Tuy nhiên với những cố gắng có ý thức như qua
thiền định người ta cũng có thể điều khiển được những phản
ứng tự nhiên này.
Hành giả lần
đầu tiên khi thâm nhập sâu vào thiền định, hơi thở trở nên
chậm rãi, nhẹ nhàng, và có khi ngưng trệ hoàn toàn, chính
lúc này có thể trải nghiệm đối diện qua cơn sợ hãi bị ngừng
thở và sự chết. Nhưng mối nghi được xóa tan ngay qua sự chú
tâm vào hơi thở và giữ vững chánh niệm.
Sự hô hấp
giảm thiểu hoặc ngừng trệ gây nên tình trạng “hypoxia” -
lượng oxy trong máu giảm hạ, có tác dụng làm phóng thích các
hormone (endorphins) gây mê và tạo cảm giác êm ái dễ chịu.
Những chứng nghiệm cho thấy các đạo sĩ yogi Ấn Độ có thể
điều chỉnh lượng oxy trong máu theo ý muốn của mình và tự
chôn sống trong một thời dài mà không hề hấn gì. Các thiền
sư Nhật Bản cũng có thể làm giảm nồng độ oxy 20% trong lúc
hành thiền. Với thiền tiên nghiệm TM, lượng oxy có thể giảm
đến 40% và tỷ lệ hô hấp chỉ còn 50%, nhiều hơn gấp bội so
với lúc ngủ mê. Điều này chứng tỏ tác dụng hiệu qủa của
thiền định trong tiến trình biến hoá của thân-tâm.
Những khóa
thiền kéo dài 30-40 phút cho thấy lượng lactate giảm hạ và
lượng phenylalanine tăng lên 20% trong các cơ mô. Hành thiền
cũng làm cho lượng máu đến thận và gan giảm đi trong khi
lượng máu đến não gia tăng, huyết áp gia giảm tạo ảnh hưởng
tốt cho các bệnh tim mạch. Tính đối kháng của da cũng gia
tăng làm giảm hoạt động giao cảm và nhờ đó đem lại trạng
thái thư giãn.
Những kết qủa
thực nghiệm cũng cho thấy việc hành thiền làm giảm những
kích thích tố gây căng thẳng như cortisol và ATCH, hormone
kích thích tuyến giáp TSH và hormone tăng trưởng; trong khi
gia tăng hormone thư giãn serotonin và hợp chất arginine
vasopressin giúp cho trí nhớ và sự học tập.
Kỹ thuật điện
não đồ EEG (ElectroEncephaloGraphy) khám phá một điều mới lạ
qua hành thiền là làm giảm thiểu các sóng não kích động như
beta và delta trong khi gia tăng các sóng có tác dụng êm dịu
như alpha, gamma và theta.
Khoa học gia
thần kinh Richard Davidson công bố kết quả nghiên cứu vào
đầu năm 2005, khi sử dụng EEG để đo sóng não các vị sư Tây
Tạng trong lúc hành thiền từ bi quán. Kết qủa cho thấy các
nhà sư luôn luôn có sự hoạt động rất cao của sóng gamma so
với người bình thường. Trong thiền định, sự hoạt động của
não bộ tập trung ở vùng não phía trước (prefrontal cortex),
nơi đây các sóng liên hệ có tác dụng tạo nên sự an lạc và
tỉnh giác rất sâu và lâu bền.
Vài kỹ thuật
tinh vi hơn như fMRI (functional magnetic resonance
imaging), cho biết kết quả ngay trong một thời gian ngắn,
được sử dụng đo dòng máu trong não và sự hoạt động của não,
cho thấy thiền định không có tác dụng như khi ngủ nghỉ mà là
một trạng thái thư giãn trong tỉnh thức.
NHỮNG
PHÉP THIỀN TRỊ LIỆU
Hiện tại có
rất nhiều phương pháp hành thiền khác nhau của các tôn giáo
và trong dân gian, nhưng được nghiên cứu và áp dụng trị liệu
nhiều nhất là thiền Tập Trung CM (Concentrative Meditation)
và thiền Chánh Niệm MM (Mindfulness Meditation).
Thiền
Tập Trung
Thiền tập
trung thường được sử dụng như là phương pháp căn bản cho
hành giả mới bắt đầu và cũng dành cho bệnh nhân. Người tập
thiền chỉ cần chú tâm vào một sự vật như hơi thở, âm thanh,
lời niệm, vân vân. Một kỹ thuật đơn giản là có thể ngồi hay
nằm (bệnh nhân) thoải mái ở một nơi yên tĩnh, không khí
trong lành, mắt nhắm hay mở và chú ý theo dõi hay đếm hơi
thở ra vào, tiếng tí tách của đồng hồ, hoặc niệm một vài chữ
hay lời kinh mình ưa thích. Khi chú mục như vậy, vọng tưởng
lắng dịu, nhịp điệu hơi thở dần dà trở nên chậm rãi nhẹ
nhàng, giúp thân tâm được thanh tịnh và an ổn.
Những phép
tụng niệm như tụng kinh - niệm chú, thì hầu như các tôn giáo
đều áp dụng tương tự như nhau. Pháp môn niệm Phật cho đến
“nhất tâm bất loạn” cũng chẳng khác gì một phương pháp hành
thiền đạt đến sự định tâm. Nhiều Phật tử theo phép
Thiền-Tịnh song tu hay vừa tham thiền vừa tụng kinh niệm
Phật. Bên Thiền Tông cũng thường tụng Bát Nhã Tâm Kinh trong
các khóa thiền. Một thiền sư Việt Nam cho biết có lần mình
ngồi thiền niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” thì tự
nhiên cứ thấy phải niệm liên tục như vậy trong suốt cả buổi
sáng, không dừng lại được. Từ đó thiền sư này bắt đầu chú
trọng về phép niệm Phật. Các thiền đường Lâm Tế ở Nhật cũng
thường cho thiền sinh một thoại đầu hay công án để quán
tưởng. Như trong công án “vô”, thiền sinh trong lúc ngồi
thiền niệm thành tiếng kéo dài “mu…” Một công án khác là
“tiếng vỗ của một bàn tay”. Có một thiền sinh nhận công án
này rồi cứ phải suy tưởng là tiếng gì, sau đó đem trình thầy
những đáp án như tiếng chuông ngân, trẻ khóc, chó sủa, chim
hót, ngựa hí, còi hụ, v.v. nhưng đều bị từ khước và bắt phải
cố gắng nhiều hơn nữa. Thiền sinh tiếp tục quán chiếu đến
lúc tâm tư mệt mỏi chán chường, không còn sức phấn đấu muốn
bỏ cuộc, thì đột nhiên khởi lên một ý niệm và vội vã tìm đến
trình thầy… đó là tiếng vọng của sự im lặng, tương hợp với ý
thầy.
Trong thiền
tông Trung Quốc cũng có những thiền sư thích niệm một cái gì
trong lúc ngồi thiền như “Tĩnh tĩnh lặng lặng, Liễu liễu
thường tri” (Tĩnh tĩnh lặng lặng, Rõ ràng thường biết) để
nhắc nhở tâm luôn được tỉnh giác. Phật tử trong môn phái
Nhật Liên chỉ chú trọng vào Kinh Pháp Hoa và niệm một câu
duy nhất “Namu Myo Ho Len Ge Kei” (Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh). Trong phép niệm Phật thì “Namu Amita Buddha” (Nam Mô
A Di Đà Phật) hay niệm danh hiệu các vị Bồ Tát như Quan Âm,
Địa Tạng, v.v. Trong Mật Tông Tây Tạng và Mông Cổ, người tu
niệm sâu trong cổ họng âm thanh nghe rất trầm hùng câu chú
“Om Mani Pad Me Hong” (Án Ma Ni Bát Di Hồng).
Trong Thiên
Chúa Giáo, các con chiên cũng hành thiền khi tụng kinh cầu
nguyện vào mỗi tối trước khi ngủ.
Có một số
Phật tử Việt Nam tu theo phép thiền xuất hồn (thiền Ông
Tám), hiện tại được gọi là “Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí
Phật Pháp”. Theo nguyên văn ghi trong website chỉ dẫn về
phép thiền này “tập trung trí ý lên đỉnh đầu, với ý thầm
nguyện xuất hồn lên đảnh lễ Phật. Chỉ chú tâm lên xoáy óc
một chút thôi, rồi sau đó nhìn thẳng trung tâm giữa 2 chân
mày lâu chừng nào tốt chừng nấy, ý chí thả lỏng, tâm phẳng
lặng và ý dỗ cho ngủ. Ngồi càng lâu càng tốt. Khi thiền
định, ngứa mình, tê chân hay có ý động loạn thì chỉ niệm Nam
Mô A Di Đà Phật ngay trung tim bộ đầu”.
Trong Tịnh Độ
Tông cũng có rất nhiều phương pháp giúp tâm không bị vọng
động như niệm Phật theo hơi thở, niệm liên tục không gián
đoạn, tai lắng nghe âm thanh tiếng niệm, lần theo chuỗi hột,
tụng kinh theo tiếng mõ, quán tưởng hình ảnh chư Phật-Bồ
Tát, v.v..nhưng mục đích tối hậu là để đến phút giây lâm
chung được Tây Phương Tam Thánh (A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí)
đến rước về Cửu Phẩm Liên Hoa miền cực lạc.
Đặc biệt
trong 50 năm qua, các nước phương tây đã áp dụng thiền tiên
nghiệm TM (Transcendental Meditation) cho nghiên cứu y học
và ứng dụng trị liệu tại nhiều trung tâm thiền, bệnh viện,
công tư sở và học đường.
Thiền tiên
nghiệm TM do đạo sĩ Ấn Độ Maharishi Mahesh Yogi (1917-2008),
theo truyền thống Vệ Đà, mang đến Âu Mỹ từ năm 1958. Chủ
trương của Maharashi là tạo ra một trung tâm thiền TM cho
mỗi một triệu người. Ông đã đào tạo gần 10,000 giảng viên ở
khắp nơi. Nhờ kỹ thuật đơn giản trong ứng dụng nên loại
thiền này rất được phổ biến. Cho đến nay đã có chừng 600
nghiên cứu khoa học và y học về thiền TM liên quan đến trị
liệu đối với nhiều loại bệnh trạng khác nhau. Ngay trên đất
Mỹ có một đại học mang tên Mahashiri.
Phương pháp
chung là mỗi ngày hành thiền 2 lần, mỗi lần 15-20 phút,
truớc bửa ăn (bụng trống dễ hành thiền hơn) với mắt nhắm
lại. Phải do một người thầy hay giảng viên trực tiếp chỉ dạy
và đặc biệt truyền cho câu mật chú mantra, để hành giả có
thể niệm thầm hay niệm thành tiếng trong lúc hành thiền.
Chương trình gồm có 7 thứ mục với 2 bài học giới thiệu, một
cuộc phỏng vấn, và 4 buổi học (2 giờ) cho 4 ngày kế tiếp.
Phương pháp thiền TM được cho là khá giản dị, thiên nhiên và
không gượng ép. Qua tiến trình hành thiền, hành giả sẽ đạt
đến một ý thức tiên nghiệm được gọi là trạng thái chính yếu
thứ 4 của ý thức, một trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, khác
biệt với 3 trạng thái: thức tỉnh, nằm mơ và ngủ say.
Thiền tiên
nghiệm đã được đăng ký và bảo vệ với thương hiệu (trademark)
TM, nên đã trở thành một loại sản phẩm thương mại. Vào thời
điểm năm 2007, có nơi học viên phải đăng ký và đóng học phí
đến 2.500 đô la cho một khóa học, kèm theo điều kiện không
được tiết lộ câu mật chú mà người thầy đã truyền cho, với lý
do là mật chú sẽ mất linh nghiệm nếu bật mí cho người khác
biết. Tuy trung thành với chủ trương của hệ thống huấn luyện
thiền TM, nhưng một số giảng viên khi viết tài liệu hay nghị
luận cũng hé mở một số chi tiết về phép thiền này. Ví dụ
chọn một nơi yên tịnh, ngồi nhắm mắt, giữ hơi thở tự nhiên,
và tự chọn lựa cho mình một vài chữ mantra, có tính cách nhẹ
nhàng và trung tính, ví dụ như “tỉnh thức”, “thư giãn”,
v.v.. hay bất kỳ lời kinh câu kệ ưa thích nào của mình. Có
thể niệm thầm hay tụng lớn tiếng mantra này bằng cách lập đi
lập lại trong suốt thời gian hành thiền 15-20 phút. Khi tâm
xao động cần nhớ trở về với mantra và tiếp tục niệm như
trước. Chỉ giản dị vậy thôi, nhưng cũng có tác dụng thư thái
dễ chịu như một giấc nghỉ trưa 1-2 giờ.
Người tây
phương hành thiền TM tự do rất thích các danh từ, một hình
thức mantra, như “peace” (hòa bình) và “love” (yêu thương).
Nhưng cũng có khi đang niệm “love, love, love..” giữa chừng
bất chợt thành ra “I love candy” (tôi thích ăn kẹo) thì phải
làm sao? Đến lúc này chỉ cần nhớ lại mantra “love” và bắt
đầu niệm trờ lại cho tâm khỏi nhảy lăng xăng như con khỉ,
“tâm viên ý mã” là như vậy.
Một loại
thiền tân thời được gọi là thiền giải tỏa Avrassana của nhóm
Theohumanity do Daniel Stacy Barron - người Đức- sáng lập,
đang còn trong thời kỳ thử thách. Nhóm này chủ trương sự
giải thoát cảm thể (Emotional Body Enlightnment): những gì
khởi lên trong lúc hành thiền được làm cho tan biến đi trước
khi rơi chạm vào người, tương tự như những vẩn thạch hay sao
rơi bị tan loãng trong bầu trời trước khi va chạm vào trái
đất.
Thiền
Chánh Niệm
Danh từ chánh
niệm (sati) cũng được biết là phát xuất từ chi thứ 7 trong
Bát Chánh Đạo (bao gồm đầy đủ Giới Định Huệ) thuộc phần Đạo
Đế của Tứ Diệu Đế (Khỗ Tập Diệt Đạo) mà Phật Thích Ca sau
khi chứng đạt dưới cội bồ đề đã tìm đến vườn Lộc Uyển khai
thị và hóa độ cho năm anh em Kiều Trần Như. Thiền chánh niệm
đặt căn bản trên ý niệm về sự hiện diện đầy đủ của tâm trong
tỉnh giác khi nương theo hơi thở ra vào. Tâm luôn nhận thức
dòng cảm thọ, tư tưởng, âm thanh, mùi vị, v.v.. mà không gắn
bó và liên lụy với chúng. Hành gỉa ngồi thiền trong yên lặng
và tỉnh táo, quan sát một cách vô tư những gì đang xảy ra
xuyên qua tâm; không phản ứng và dính mắc với những kỷ niệm,
hồi tưởng về quá khứ hay những suy tư, toan tính đến tương
lai. Hậu qủa là tâm đạt được trạng thái tĩnh lặng, trong
sáng và an ổn. Tuy lúc mới khởi đầu hành giả cũng cần trải
qua một thời gian thực hành phép thiền tập trung để luyện
tâm cho thuần thuật, rồi dần dà không còn chú mục vào một đề
mục duy nhất nào. Trên thực tế việc ứng dụng trị liệu của
thiền chánh niệm được giản dị hóa đi nhiều, không bó buộc
phải tuân thủ triệt để các phép thiền chỉ (Samatha) và thiền
quán (Vipassana) của giới tu sĩ.
Kỹ thuật
thông thường là tự tìm một nơi yên tịnh, thoáng sạch, vào
sáng sớm hay chiều tối, ngồi xếp bằng thẳng lưng trên sàn
nhà có kê gối đệm (bồ đoàn), hoặc cũng có thể ngồi trên ghế
và đặt 2 chân thoải mái trên sàn nhà. Hai bàn tay chồng ngửa
lên nhau trên đùi với 2 ngón cái chạm nhau, mắt có thể nhắm
lại hay hé mở tùy nghi. Nếu ngồi được theo thế kiết gìa hay
bán gìa thì càng tốt, nhưng rất dễ bị đau chân cho người mới
tập. Bắt đầu hít thở một cách tự nhiên và đều hòa. Nếu tâm
bị chi phối do vọng tưởng khởi lên thì nên tập trung vào hơi
thở bằng cách đếm hay theo dõi hơi thở, hoặc niệm một vài
chữ như “chánh niệm”, “tỉnh giác”, v.v..Trong những ngày
đầu chỉ cần tập 5-10 phút, sau đó tăng lên từ từ 15-20-30
phút hay nhiều hơn tùy theo khả năng. Khi tâm trở nên ổn
định hơn, chỉ cần quan sát ghi nhận một cách khách quan
những gì đang xảy ra. Hãy để cho những vọng tưởng, hình ảnh,
âm thanh, v.v.. khơi dậy, lưu lại và biến đi một cách tự
nhiên, không kích động, không đè nén hay xua đuổi chúng,
không thêm không bớt và không quan tâm gì đến chúng. Sau khi
xả thiền nên làm những vận động cơ thể nhẹ nhàng như các thế
tập hatha-yoga, khí công, taichi hoặc đi kinh hành, để giúp
thân trở lại trạng thái bình thường và máu huyết lưu thông.
Kiên nhẩn
thực tập sau vài ba tháng thì có thể hội nhập được với thiền
tùy căn cơ của mỗi người. Hành giả có thể chia làm 2 thời
hành thiền khác nhau: (1) chính thức nên dành một thời biểu
nhất định cho việc ngồi thiền hàng ngày, (2) bán chính thức
là thực tập theo tuệ quán tứ niệm xứ (Vipassana) vào bất cứ
lúc nào thuận tiện. Ví dụ như khi ăn chỉ chú ý vào việc ăn,
biết mình đang gắp thức ăn, nhai, nuốt, mỗi động tác đều
biết rõ ràng như vậy. Khi đi để ý theo những bước chân, khi
nằm chú tâm vào hơi thở ra vào theo sư phồng xệp lên xuống
của bụng, vân vân. Nên bỏ dần những thói quen làm nhiều việc
cùng một lúc như vừa ăn cơm, vừa xem tivi, vừa nghe điện
thoại. Thêm vào đó lúc thuận tiện cũng có thể tập xen kẻ
thêm phép quán từ bi hay trải lòng thương của mình đến người
khác, bắt đầu từ bản thân mình rồi vươn dần ra đến những
người thân, bạn bè, bà con họ hàng, kẻ thù, muôn loại chúng
sanh.
Đối với những
nghiên cứu khoa học và y học, người ta thường thực hành
thiền chánh niệm theo phương pháp 8 tuần lễ thư giãn của
tiến sĩ Jon Kabat-Zinn trong chương trình MBSR (Mindfulness
Based Stress Reduction), được phát họa từ năm 1979 tại đại
học Massachusetts - nước Mỹ. Học viên tham gia khóa thiền 2
gìờ mỗi tuần, nhưng về nhà tự thực tập 45 phút mỗi ngày theo
hướng dẫn trong đĩa ghi âm, và sau cùng tham dự một ngày dài
thảo luận về kết quả. Có trên 250 cơ sở như bệnh viện,
trường học, trung tâm cộng đồng, v.v.. ở khắp nơi, hoặc làm
công tác nghiên cứu, hoặc ứng dụng trị liệu, hoặc cho cả hai
theo phương pháp này.
TRỊ
LIỆU
Những triệu
chứng và bệnh trạng sau đây đã được nghiên cứu và trị liệu
qua ứng dụng thiền định như một phương pháp bổ sung – thay
thế.
AIDS
(Sida)
Bệnh AIDS là
do vi khuẩn HIV (human immunodeficiency virus) tấn công và
giết hại những tế bào hồng huyết cầu lymphocytes (CD4T) -
giữ nhiệm vụ bảo vệ hệ miễn nhiễm (immune system). Loại vi
khuẩn này dần dà làm cho cơ thể mất khả năng kháng lại sự
nhiễm trùng và vài loại ung thư. Nhiều biến chứng do HIV gây
ra gồm cả tử vong là do hậu quả của nhiễm trùng chứ không
phải trực tiếp từ HIV. Khi số lượng tế bào CD4T giảm sút
dưới mức 200 hay với những triệu chứng phát khởi rõ ràng là
bệnh nhân đã thực thụ nhiễm bệnh.Vi khuẩn có thể được truyền
nhiễm qua máu hay dịch thể giao cấu, rồi phát triển, lây
lan, phá hoại các tế bào, mà nhiều khi bệnh nhân không hề
hay biết trong vòng vài tháng cho đến nhiều năm. Có chừng 40
triệu bệnh nhân niễm bệnh AIDS trên toàn cầu.
Kết qủa
nghiên cứu mới đây (7/2008) tại đại học California – Los
Angeles cho biết một kẻ thù khác của AIDS là sự căng thẳng
bức xúc (stress) càng làm tăng tốc sự giảm sút các tế bào
hữu ích CD4T. Ứng dụng thiền chánh niệm có tác dụng gia tăng
số lượng tế bào này, do đó làm chậm lại hay chận đúng tiến
trình bệnh AIDS.
Những bệnh
nhân AIDS được chia thành 2 nhóm: nhóm tập thiền theo chương
trình 8 tuần lễ MBSR của Kabat-Zinn và một nhóm khác không
tập thiền để so sánh. Kết quả đạt được là bệnh nhân nhóm tập
thiền trung bình tăng thêm 20 CD4T trong khi bệnh nhân nhóm
kia mất đến 185 CD4T. Những chương trình huấn luyện thiền
chánh niệm cho tập thể được xem là ít tốn kém và có triển
vọng trở thành một phương pháp trị liệu bổ sung – thay thế
cho những bệnh nhân AIDS.
Ung
Thư
Nguyên nhân
của ung thư là do một nhóm tế bào bộc phát bất bình thường
vươt qúa giới hạn, xâm nhập phá hủy các mô kế cận và lan
truyền đến những nơi khác của cơ thể tạo thành các bướu ung
thư. Bệnh ung thư ảnh hưởng mọi lứa tuổi ngay cả bào thai,
nhưng thường gia tăng với tuổi tác. Chứng ung thư gây tử
vong 13% trên tổng số các loại bệnh trạng khác.
Những nghiên
cứu y học đã xác minh thiền định giúp giảm thiểu lo lắng,
bức xúc, đau nhức, huyết áp, mất ngủ và từ đó có thể được áp
dụng giúp bệnh nhân ung thư vượt qua những cơn đau, căn
thẳng, hoảng sợ, v.v..cũng như tăng cường sức phòng thủ và
đề kháng của hệ miễn nhiễm hầu bảo vệ cơ thể người bệnh.
Có những
phương pháp trị liệu hiện đại như sử dụng các kỹ thuật đốt
bằng tia phóng xạ hay qua phẫu thuật cắt bỏ phần mô ung thư,
nhưng đây là loại bệnh trạng chí mạng cần được phát hiện sớm
sủa và chữa trị kịp thời.
Bác sĩ tâm
thần người Úc, Ainslie Meares, với những nghiên cứu riêng
của mình được tường trình từ năm 1976, đã đề nghị sử dụng
thiền định hoặc riêng rẽ hoặc cùng chung với các phép trị
liệu khác cho các chứng ung thư. Qua đó thiền định không
những làm tăng cường sức đề kháng của hệ miễn nhiễm mà quan
trọng hơn cả là giảm hạ những căn thẳng từ những cơn đau
cũng như những ưu phiền, lo toan, sợ hãi, số phận hẩm hiu
của bệnh nhân. Phép hành thiền gồm 3 yếu tố: thân an tịnh,
niệm mantra và vận động nhẹ, ít nhất tập một giờ mỗi ngày.
Đăc biệt tránh cho bệnh nhân sự giao tiếp qua chữ viết, âm
thanh hay lời nói có tính cách lý luận hay học hỏi, hầu
tránh làm nhiễu loạn tâm trí người bệnh. Ông ta tiến hành
trị liệu cho 17 bệnh nhân ung thư trong giai đoạn bệnh đã
phát triển khá cao hay ở giai đoạn cuối. Các bệnh nhân hoặc
không hề có sự trị liệu chính thống hoặc đã nhận sự trị liệu
từ thuốc hay phóng xạ vài tháng trước đó. Kết qủa cho thấy
họ đã có thể sống thêm trung bình một năm, trong khi các
phép trị liệu khác phải chịu bó tay và cho biết là chỉ chờ
ngày chết.
Vào tháng 11
năm 1979, trên tạp chí Medicine Journal Australia, bác sĩ
Mearses báo cáo về một trường hợp ung thư ruột kết (colon)
của một người đàn ông 64 tuổi, một nhà tâm ly học. Ông ta
không chịu giải phẫu mà thích hành thiền trung bình 3 giờ
mỗi ngày. Chỉ sau 2 tuần lễ đã thấy có sự cải thiện. Sau 6
tuần thì chấm dứt sự trợ lực bôm thụt vào hậu môn – giúp
lưu thông ruột kết. Sau 2 tháng không còn chứng thức giấc
giữa đêm. Sau 6 tháng phân trở lại kích thước bình thường và
sau 1 năm thì dứt hẳn chứng ung thư.
Phương pháp
ứng dụng thiền chánh niệm trong chương trình thư giãn MBSR
của Jon Kabat-Zinn đã được sử dụng khá nhiều trong nghiên
cứu ung thư, trong số đó một thí nghiệm trên 90 bệnh nhân
cho thấy giảm được 31% các triệu chứng căng thẳng bức xúc và
67% tính khí bất thường khi so sánh với các bệnh nhân không
hành thiền.
Nhiều nghiên
cứu y học về thiền định cho đến nay thường chỉ giới hạn thời
gian hành thiền rất ngắn, nên không có cường độ tác dụng lớn
như thời gian 3 giờ hay nhiều hơn. Một điều dễ hiểu là những
bệnh nhân ung thư, tuy có nhiều thì giờ, nhưng lại không còn
đủ ý chí vững mạnh, kiên nhẩn và sức chịu đựng với thời gian
hành thiền quá dài nếu không nhận được sự khuyến khích và
chỉ bày thích đáng.
Tim
Mạch
Bệnh tim bao
gồm nhiều hình thức khác nhau, là bệnh gây tử vong nhiều
nhất ở các nước phát triển, như ở Mỹ cứ 34 giây là có một
ngươì chết về bệnh này. Nguyên nhân thông thường là những
mạch máu bị thu hẹp hay tắc nghẽn do chất mỡ tích tụ bên
trong thành mạch, gây khó khăn cho máu lưu thông và cung cấp
oxy đến tim. Các cơ thịt của tim bị thiệt hại do một nguyên
nhân nào đó làm giảm sút khả năng bôm máu của tim đến các
nơi khác trong hệ tuần hoàn. Khi tín hiệu nội điện (internal
electrical signal) của tim bị xáo trộn làm tim không thể bôm
máu một cách bình thường, nhịp tim trở nên rối loạn lúc
nhanh lúc chậm gây vấn đề cho tim.
Sự bất thường
của van tim là một nguyên nhân khác, 4 van tim thay nhau
điều khiển lưu lượng máu vào hay rời khỏi tim. Van tim bị
hẹp làm tim khó đẩy máu đi và nếu van tim bi hở làm máu bị
rò rỉ trở lại, không bôm hết lượng máu.
Các triệu
chứng thông thường của bệnh tim là thở gấp, hồi hộp đánh
trống ngực, yếu đuối, chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, ra mồ
hôi, cảm giác muốn ngất xỉu, vùng tim ngực bị đè ép, nặng
nề, đau nhói và có khi lan ra kế cận đến lưng, quai hàm và
tay.
Có 2 cuộc thử
nghiệm ở Mỹ ứng dụng thiền tiên nghiệm TM vào những thập
niên 1980 và 1990 cho thấy những người bị bệnh tim có thể
giảm tỉ lệ tử vong xuống 30%. Bác sĩ Robert Schneider thuộc
đại học Maharishi đã lên tiếng rằng đây là sự kiện phát hiện
có ý nghĩa đáng kể, chứng tỏ thiền định có thể được sử dụng
như một phương pháp trị liệu hữu hiệu cho bệnh tim.
Một thử
nghiệm khác (3/2007) tại đại học Pennsylvania qua tập thiền
TM trong 3 tháng và 6 tháng đối với bệnh nhân sung huyết tim
(congestive heart failure) cũng cho thấy rõ những cải thiện
về phẩm chất đời sống, chứng trầm cảm, và sự giảm bớt số lần
trở lại bệnh viện. Thiền định giúp giảm hạ tác động của hệ
giao cảm (gây căng thẳng bức xúc) trong khi tăng cường khả
năng của hệ phản giao cảm với tác dụng ngược lại.
Tương tự, tại
trung tâm y khoa Cidars-Sinai, Los Angeles, Paul-Labrador
hướng dẫn một thử nghiệm khác với 103 bệnh nhân vành mạch
tim (coronary heart disease). Trong số này, 52 bệnh nhân tập
thiền TP trong 16 tuần lễ và 51 bệnh nhân khác không tập
thiền để so sánh. Trước và sau cuộc thử nghiệm, bệnh nhân
được thử máu, xét lý lịch y khoa, thử chức năng mạch máu, và
sự biến đổi nhịp tim. Kết qủa là những bệnh nhân tập thiền
giảm hạ huyết áp rất đáng kể, cải thiện lượng đường và
insulin trong máu, cũng như ổn định chức năng của hệ thần
kinh tự động. Ngoài ra còn có những nguyên nhân phụ thuộc
ảnh hưởng bệnh tim như thiếu vận động, thức ăn không lành
mạnh, sự béo phì, sư căng thẳng búc xúc trong xã hôi đa tạp,
tạo ra những kích thích tố có hại như cortisol và những chất
tác động truyền dẫn thần kinh, rất tai hại cho hệ tim mạch.
Việc hành thiền có tác dụng điều hợp hữu hiệu những căng
thẳng, giảm hạ sự tiết ra các kích thích tố này. Thêm vào
đó, phương pháp từ bi quán (compassion mediattion), hay trải
tình thương đến những chúng sanh khác, được xem là có công
năng tác động lên hệ phản giao cảm (parasympathetic) giúp
tim chậm lại và gia tăng hệ số biến đổi của nhịp tim, nhờ đó
tim được khỏe mạnh hơn và giảm nguy hiểm bị bệnh.
Bác sĩ Vermon
Barnes cũng hướng dẫn một thử nghiệm trên 111 trẻ vị thành
niên và tìm thấy những em tập theo những khóa thiền TM -15
phút có khả năng làm tăng sự mở rộng huyết quản thêm 21%
trong khi những em không tâp thiền lại bị giảm đi 4%. Do đó
đi đến kết luận rằng hành thiền có thể thay thế cho các liều
thuốc làm giảm hạ lượng mỡ trong cơ thể.
Liên hệ đến
bệnh tim có các chứng cao huyết áp và đột qụy (tai biến mạch
máu não).
Trung bình cứ
trong 8 người là có một người bị cao huyết áp, loại bệnh âm
thầm thường không có triệu chứng rõ ràng nhưng lại rất nguy
hiểm, có thể dẫn đến suy tim hay đột qụi bất ngờ. Huyết áp
do sức ép của máu lưu thông lên thành mạch khi tim co thắt
đẩy máu đi. Số đo huyết áp bình thường là 120/80. Huyết áp
trên giới hạn 135-140/85-90 được xem như bắt đầu có triệu
chứng cao huyết áp. Bệnh này thường do các chất kết tụ bên
trong mạch máu như cholesterol làm nghẽn sự lưu thông và do
đó làm tăng huyết áp. Cũng cần kể thêm các yếu tố di truyền
hay môi trường và hoàn cảnh sống dễ gây căng thẳng làm cơ
thể tiết ra những kích thích tố bất lơị làm tăng huyết áp.
Một trong những nghiên cứu cho thấy tập thiền TM có thể làm
giảm huyết áp đến 10.7/6.4 (ví dụ 140/90 – 10.7/6.4 =
129.3/83.4).
Chứng đột qụy
là do một hay nhiều mạch máu trong não bị tắc nghẽn vì các
chất như cholesterol tích tụ, gây bán thân bất toại hoặc,
tàn tật suốt đời hay tử vong.
Những nghiên cứu và ứng dụng
thiền định trong y học, nhất là cho chứng cao huyết áp, trực
tiếp ảnh hưởng đến bệnh tim và đột qụi, mang lại kết quả rất
hữu ích và khích lệ.
Tê Khớp (Thấp Khớp)
Có hàng trăm thứ bệnh tê khớp,
nhưng tổng quát có 3 loại chính yếu là do khớp xương có mô
sụn bị vỡ, viêm khớp do mô sụn bị xóa mòn gây sưng nhức và
chấn thương khớp xương do tai nạn gây nên. Những triêu chứng
đau nhức có thể thường xuyên hay cách quảng. Cơn đau thường
xảy ra trong lúc di động nhưng cũng có thể vào lúc nghỉ ngơi.
Người bệnh cảm thấy đau nhức chỉ một nơi hay lan tỏa khắp cơ
thể, các khớp xương có vẻ như cứng lại và mất sự uyển chuyển.
Vùng da trên khớp xương đau có thể sưng đỏ lên. Bệnh tình
thường gây mệt mỏi chán nản và đi đứng vận động khó khăn.
Y học hiện đại không có
phương cách điều trị dứt căn bệnh mà chỉ có thể làm giảm hạ
các triệu chứng đau nhức như dùng các loại thuốc chống đau,
chống viêm và thuốc an thần, tập luyện các môn vận động nhẹ
giúp cơ thể linh hoạt, giảm đau và sau cùng là dùng phẫu
thuật.
Một thí nghiệm nghiên cứu ứng
dụng thiền chánh niệm trên chứng tê khớp kinh niên (rheumatoic
anthritis) tại đại học Maryland tháng 10/2007 cho thấy rằng
mức độ căng thẳng và trầm cảm của bệnh nhân giảm hạ 35% sau
6 tháng tập thiền.
Ứng dụng thiền chánh niệm
bằng cách ngồi thoải mái ở một nơi yên tĩnh, mắt nhắm, chú ý
vào sự phập phồng của bụng theo hơi thở ra vào (bụng phồng
khi hít vào và bụng xệp khi thở ra) với cảm giác như đang
trôi theo dòng hơi thở, nếu tâm giao động, chỉ đơn thuần trở
về chú ý vào hơi thở. Ví dụ như bất chợt nghe một âm thanh,
tiếng nhạc, chuông điện thoại, v.v. chỉ cần biết như vậy,
nghe như vậy mà không suy nghĩ phán đoán gì thêm. Cần chú
tâm vào sự im lặng giữa các âm thanh xảy ra. Cách hành thiền
chánh niệm như vậy có thể giúp làm mất tác dụng của sự căng
thẳng và cơn đau nhức.
Một thí nghiệm khác được thực
hiện ở trung tâm y khoa đại học Massachusetts trên 90 người
mang chứng đau nhức kinh niên. Sau 10 tuần lễ tập thiền, các
cơn đau, việc sử dụng thuốc và các triệu chứng lo buồn giảm
hạ trong khi sự tự tin, hoạt bát và lạc quan gia tăng. Những
phản ứng thuận lợi này còn được duy trì cho đến 15 tháng sau,
trong khi nhóm những người không tập thiền không cho thấy
dấu hiệu cải tiến nào.
Tiểu Đường
Hầu hết thức ăn được hấp thu vào máu dưới dạng thức glucose,
chất đường hữu dụng trong