Nội san
Hoằng Pháp số 12
Nội dung
Thiền Sư và Bậc Vương Giả
Minh Đức
Đức
vua Milinda quyền uy hiển hách, vang bóng một
thời, khi đối thoại với Tỷ kheo Nāgaseṇa, nhà
vua đã tự tướt bỏ cái lốt
“vương giả” để xin được
hầu chuyện như một bậc “trí
giả”.
Ở Việt
Bây giờ, chúng ta
hãy “trước đèn lần giở
cảo thơm”, đọc lại cuộc đàm
đạo giữa Thiền sư Thiền Lão và
vua Lý Thái Tông thử xem.
Vào
khoảng niên hiệu Thống Thụy (1034-1038), vua
Lý Thái Tông nghe danh Thiền Lão là
bậc cao Tăng đắc đạo, môn sinh theo
học hàng ngàn, bèn xa giá lên
núi Thiên Phúc, Tiên Du bái yết.
Sau khi được diện
kiến, vua thấy vị sư già có dung
mạo, cốt cách như tòng như hạc,
tuyết sương đã cỗi, lễ độ
cung tay thưa rằng:
- Lão thiền sư ở
núi này bao lâu rồi?
Khẽ
đưa mắt ngước nhìn bậc vương
giả: Oai nghi đường bệ, nhưng khí
sắc trầm hùng, bình hòa.
Sư bèn thử“sự thâm chứng thiền
học” của nhà vua, nên đáp:
“Đản
tri kim nhật nguyệt
Thùy
thức cựu xuân thu”
(Chỉ
biết tháng ngày này
Xuân thu
thuở trước ai hay làm gì!)
Nhà vua
ngơ ngác. Ông sư già này lẩm
cẩm rồi, hỏi một đường, đáp
một nẻo. Nhưng dẫu sao, bậc vương
giả vốn hay thơ, nghe thiền sư đọc
thơ thì cảm thấy thú vị, chẳng
chấp gì, hỏi tiếp:
- Vậy thì hằng
ngày, Lão thiền sư làm việc gì?
Thiền sư nhìn vua,
rồi nhìn hoa cảnh viên môn, tủm tỉm
cười, bắt đầu hai tứ thơ xuất
hiện, dường như chưa đi qua sự
khúc xạ của trí năng:
“Thúy
trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch
vân, minh nguyệt hiện toàn chân”
(Trúc
biếc, hoa vàng-không ngoại cảnh
Trăng
trong, mây trắng-hiện toàn chân).
Thật
tiếc cho tâm huyết của vị thiền sư
già. Bậc vương giả kia đã không
hiểu, không thấy “thiền sư có
ý chỉ gì”, hỏi, thì Thiền
Lão không muốn nhiều lời.
Và,
thiền sư không muốn nhiều lời là
đúng. Nhiều lời là nhiều ý,
nhiều ý là chất chồng khái niệm,
là “đầu thượng trước
đầu”, là “tuyết thượng gia
sương”!
Kẻ
đạt ngộ, bất cứ dòng phái
nào, quốc độ nào, màu da chủng
tộc nào, luôn sống trong giây khắc
hiện tại. Chỉ có hiện tại là
“thực”. Chỉ có cái hiện tại:
“Ở đây và bây giờ”- đang
chảy trôi, đang dịch hóa mới chính
là cái “pháp hiện tiền” cho ta “hiện
quán” để thâm ngộ duyên sinh,
vô ngã tính:
"Đản
tri kim nhật nguyệt Thùy thức cựu
xuân thu."
“Chỉ biết tháng
ngày này, giây khắc này”. Không
truy tầm quá khứ, không vọng móng
tương lai, xuân thu thuở trước ai hay
làm gì! Còn gì rõ hơn thế
nữa? Tuy đã quá rõ nhưng bậc
vương giả của chúng ta vẫn cứ loay
hoay, lăng xăng, muốn hỏi hằng ngày
thiền sư làm việc gì! Sao phải làm
việc gì! Có “cái gì” nữa
sao? Cứ sống trong giây khắc hiện tiền
thì “làm gì” hay “không làm
gì” đều là đạo cả,
đều sống trong thiền, thở trong thiền,
đi đứng trong thiền cả...
"Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt
hiện toàn chân."
Hoa vàng
kia, trúc biếc kia đâu phải là cái
ở bên ngoài tâm. Thực tại,
“yếu tính của thực tại” không
ở trong, không ở ngoài, chẳng có
chủ thể, chẳng có khách thể. Trăng
trong kia, mây trắng kia... tất cả chúng
đều hiện ra như chân, như thực,
đại mỹ, châu toàn... Kẻ mê thì
tầm cầu Đông Tây Nam Bắc, những
cảnh giới phi thực; kẻ đạt ngộ
họ sống với các pháp đang là,
với mọi hiện hữu tương quan muôn
đời như thị...
Một
thời, thiền sư và bậc vương giả
của chúng ta là thế ấy. Tuy ta không
có được nhiều thông tin do sử
liệu ít ỏi, nhưng chỉ cần một
vài câu, một vài đoạn, ta có
thể hình dung ra diện mạo văn học của
một thời. Hãy thử tưởng tượng
một ngàn đệ tử vây quanh, những
cuộc đối thoại, nhàn đàm giữa
thầy và trò, của người hỏi
đạo, học đạo... đều hàm
chứa văn, triết, thiền học. Chúng
không chỉ cho ta thấy trình độ tri
thức, kiến thức của họ mà còn
toát lên nội lực tâm linh từ dòng
thiền uyên áo; biết tiếp thu, chọn
lọc, sáng tạo; biết giữ gìn và
phát huy, tạo nên một bản sắc
đặc trưng của Phật giáo Việt
Ôi! Cao đẹp thay!