Thiền Quán của Những Lo Âu
và Thư Giãn
Nguồn : Suối nguồn Tâm từ
Trong cái
thế giới văn minh thiên về vật chất
xung quanh chúng ta, những con người phàm
trần tục mãi chạy theo nhịp kim đồng
hồ mà quên đi cái bản ngã của
chính mình, của yếu tố sức khoẻ
vô cùng quan yếu của mình, để
rồi con người chạy theo những mục tiêu
ngoài thân thể của ta, mà nó có
thể là tiền tài, danh vọng, quyền
bính, những xa hoa của vật chất,...
Đợi đến khi yếu tố sức khỏe
cằn cỗi hay lâm nguy thì con người quay
về với bản ngã của mình. Tôi
nói như vậy tôi xin phép không bao
gồm những nhà tu hành vì nghiệp dĩ
từ thuở trẻ mà họ có mục tiêu
tôn giáo cao thượng thiêng liêng. Do đó
bài này chỉ khảo sát khía cạnh
thiền quán và những hoạt động
thường nhật của xã hội người
phàm trọng khuynh hướng vật chất nói
chung.
Tôi tìm được quyển sách
hấp dẫn “Sức Mạnh của Trí Tuệ
Lành Bệnh: Những Thực Hành về Thiền
quán đơn giản cho Sức Khỏe, Hạnh
Phúc và Khai Tâm” (The Healing Power of Mind: Simple
Meditation Exercises for Health, Well-Being, and Enlightenment) của
tác giả Thondup, Tulku.
Thiền là sự tập trung tinh thần để
giải thoát những ràng buộc tâm linh,
những lo âu ám ảnh tâm thức. Thiền
sẽ là một sự thay đổi tự cơ
bản của khối óc và con tim. Điều
này chỉ có thể có khi ý thức
trực giác bên trong tâm ta hoàn toàn
thanh tịnh, vắng lặng và sự bình
yên, vắng lặng này dẫn một cuộc
sống quân bình và tâm tư trở
nên yên tịnh, thanh thản, thư thái
một cách tự nhiên. Điều này
bạn đang tạo một nguồn hạnh phúc cho
một cơ thể lành mạnh, một nội
tâm yên bình phi thường. Bạn phải khởi
đầu thay đổi cuộc sống và sự
mạnh dạn thay đổi này cho bạn kết
quả khỏe mạnh từ cơ thể đến
tâm linh, đó chính là sức mạnh
của Thiền.
Tôi xem bài sưu khảo của Hồ Bích
Vân bên Ý Đại Lợi, bài của Dr.
Tiffany Lê Hoang Vu bên Canada, hay anh Trần Ngọc
tại Houston, các bạn đều nghiên cứu
và viết về thiền theo nhận định
riêng của họ. Đối giáo sư tiến
sĩ Tâm lý học tại đại học
đường Wisconsin, tại Madison, Dr. Richard Davidson qua
những cuộc thử nghiệm thăm dò thì
phương pháp thiền định cho kết
quả tốt làm giảm sự căng thẳng tâm
hồn và lo âu thái quá. Những thử
nghiệm đo lường những hoạt động
giữa não bộ và hệ thống miễn
nhiểm của cơ thể. Khi não bộ ở trạng
thái tĩnh, thư thái, nhịp đập
của tim hoạt động bình thường theo
nhịp thở đem lượng oxygen từ ngoài
vào cho cơ thể. Một khi tim, phổi và
thận hoạt động ở điều kiện
bình thường sẽ làm cho hệ thống
miển dịch của cơ thể gia tăng mạnh
hơn.
Thiền là một trong những phương cách
trị bệnh thuộc khía canh tâm linh. Nó
được hiểu ngầm như một liều
thuốc bổ ích mà cội nguồn do não
bộ điều khiển cơ thể. Nhiều vị
bác sĩ tây y ngày càng tin tưởng
vào thiền định tâm linh. Ta có thể điểm
qua vài thí dụ như thiền sẽ tốt cho
việc trị bệnh cao áp huyết, mất ngủ,
bệnh lo âu, bệnh nóng nẩy, bệnh dạ
dày, bệnh hen suyễn,... hay bàn rộng hơn là
bệnh tim mạch và bệnh tâm thần,...
Thiền được người đời trân
quý về tác dụng và những công
hiệu của nó. Trở về khía canh lịch
sử xa xưa khi Phật Thích Ca đi tìm
chân lý cho chính mình qua phương
pháp tọa thiền nguyên khởi thuộc
niên kỷ thứ 6 trước Công Nguyên.
Phật giáo được truyền bá tại
Ấn Độ. Sau đó Đạt Ma Sư Tổ
từ Ấn Độ sang Trung Hoa phát triển môn
võ thuật thiếu lâm thiền tông thì
thiền được bành trướng sâu
rộng về miền Viễn Đông. Để
rồi thiền ngày nay đi sát với nhân
loại hơn.
Càng về sau lãnh vực tâm lý học
và y khoa nghiên cứu về phương pháp
thực dụng và ít tốn kém này.
Thiền càng được phổ thông hơn.
Ngày nay thiền không còn là sản
phẩm của Phật giáo, mà bên Ky tô
giáo khi người tín hữu trầm ngâm
(contemplation) cầu nguyện với tâm hồn
mình thì đây cũng là hình
thức rất gần gủi với thiền.
Trong bài “Thử Tìm Hiểu về Tâm
Thức và Thiền” của Trần Ngọc
tại
“Trong muôn loài muôn vật trên thế
gian, loài người được coi như
thượng đẳng hơn cả. Muôn loài
muôn vật sống nhờ ở thể xác
và bản năng, nhưng con người vượt
cao hơn hết thảy, nhờ có thêm phần
tâm hồn, hay còn gọi là phần Tâm Thức.
Nhơ ụ tâm thức, con người có
phần suy nghĩ, phần đạo đức và
phần trí tuệ. Hai chữ Tâm thức,
tiếng Anh gọi là Mind và tiếng Pháp
gọi là Esprit. Nói theo thuyết Duy Vật,
thì khi chúng ta chết đi, nghĩa là khi
phần xác bị hủy diệt, thì phần
hồn không còn nữa vàụ chết là
hết. Nhưng nói theo thuyết Duy Tâm, thì
phần hồn vẫn còn tồn tại dù
phần thân xác đã bị tiêu diệt.
Chả thế mà người ta vẫn nói
tới “Thế Giới Bên Kia” ý muốn
nói cuộc sống của phần hồn.
Chuyện về Thế Giới Bên Kia với những
hình ma bóng quế, với thiên đàng
địa ngục cùng với Thuyết Tái Sinh
hay Thuyết Luân Hồi (Reincarnation) đều
không thuộc phạm vi của bài này bởi
vì tính cách siêu linh của nó mà
người viết không đủ kiến thức
để lạm bàn. Chúng tôi chỉ muốn
nói tới Phần Tâm Thức là phần
hồn (Mind) còn đang hiện diện cùng
với phần xác thân (Body) của chúng ta.
Chúng ta sống là có sự vận hành
song song của cả phần xác lẫn phần
hồn, hay nói một cách khác, hai phần
cơ thể và tư tưởng con người tuy
hoàn toàn khác biệt về thể chất
và bản chất, nhưng cùng chung sống
với nhau và liên hệ mật thiết
đến nhau, giúp con người được
tồn tại. Những người bị bệnh Coma, tuy
thể xác vẫn còn và trái tim vẫn đập,
nhưng phần hồn hay phần tâm thức không
hoạt động, nên người đó
được coi như nửa sống nửa chết,
vì họ không còn tri giác.
Trở lại với cuộc sống, khi tâm hồn
chúng ta thoải mái, không âu lo ưu
phiền thì cơ thể khỏe mạnh an nhiên.
Nhưng nếu chúng ta sống mà tâm hồn
đầy rẫy những hỉ nộ ái ố,
những dục vọng, những mưu toan, những
thù hận, thì tâm hồn chúng ta bị
quá nhiều áp lực (stress) khiến cơ thể
bị suy yếu và dễ sinh bệnh hoạn,
chẳng hạn như chứng đau tim, loét bao
tử, bệnh thoái hóa khớp xương,
bệnh ung thư hay những bệnh về tâm
thần, nhẹ thì chẳng hạn như bệnh
trầm cảm, nặng thì như bệnh điên
cuồng...v.v.“
Trần Ngọc đem lý thuyết toán học Nhị
Nguyên của Descartes ra so sánh với thuyết
Âm Dương của vũ trụ:
“Ngày trước, hồi thế kỷ thứ 17,
nhà toán học và triết gia người
Pháp, René Descartes (1596- 1650), đã đề
ra thuyết Nhị Nguyên (dualisme/dualism), trong đó
ông nói rõ sự tương phản và
biệt lập của hai bản thể (entity) hoàn
toàn khác biệt nhau như Âm với
Dương, như phần thể xác (body) và
tâm hồn (mind) của con người... Ngày nay
thuyết Nhị Nguyên đã không còn
được khẳng định như trước,
bằng chứng là chính khoa học Tây
Phương đã khám phá ra rằng
những tình cảm con người như yêu
thương giận ghét, như vui sướng
khổ đau, như thảnh thơi hay lo lắng ưu
phiền... đều ảnh hưởng đến
thân xác, khiến con người có thể
được mạnh khỏe hay bệnh tật... Sự
công nhận này đã đi gần
đến triết thuyết của Đông
Phương cả ngàn năm về trước,
chủ trương âm với dương, thể
xác với tâm hồn là hai bản thể tuy
khác nhau, nhưng có liên hệ mật
thiết với nhau và phối hợp cùng nhau
để tạo nên một tổng thể duy nhất
như sự hiện diện của vũ trụ hay
sự sinh tồn của con người ( thuyết
Nhất Nguyên- monisme/monism).
Lão Tử hơn 2000 năm trước, đã
khuyên con người không nên nhìn sự
vật bằng cặp mắt nhị nguyên, chia
phân “Nhĩ Ngã”, mà mà phải
nhìn thấy tất cả đều chỉ là
Một. Theo lý thuyết của Đạo Gia, thì
Tâm Thức hay Tâm Thần của con người
đều ở vào ba nơi. Một ở Óc
(đầu), hai ở Tim (ngực) và ba ở Dạ
Dày ( bụng). Ba nơi ấy Đạo Gia gọi
là Tam Thi gồm Thượng Thi, Trung Thi và Hạ
Thi...
Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chưa
dám nói đến chân tu, chúng ta chỉ
xin bàn đến sự vận dụng Tâm
Thức sao cho tâm hồn được thanh tịnh
và có ảnh hưởng tốt đến
sức khỏe: Đấy là việc tu tâm
dưỡng tính hay tu dưỡng tâm linh. Vẫn
biết rằng sống trên đời va chạm
với thực tế, chúng ta không thể nào
tránh khỏi những phiền toái muộn
phiền bởi đó là bản chất của
cuộc sống...”
Thiền định trong Tâm thức:
“Vậy chúng ta nên đành chấp
nhận cuộc đời là bể khổ, mà
chấp nhận thì chúng ta phải
đương đầu với những phiền
toái, những ràng buộc và những đau
đớn ê chề đó . Nhưng dĩ
nhiên không phải là bất cứ giây phút
nào chúng ta cũng khổ đau. Bởi vì
một ngày chúng ta có những 24 giờ
đồng hồ kia mà, chúng ta vẫn có
thể, trước và sau giây phút khổ
đau, có những giây phút khác an
nhàn thoải mái. Vấn đề là
chúng ta phải biết tìm kiếm những giờ
phút thanh thản đó. Và điều
cần biết là những giờ phút thanh
thản ấy, chúng ta không nên kể những
thú vui giải trí tầm thường có
tính cách tạm bợ. Chúng ta hãy
tìm đến những thanh thản có tính
cách cao quý hơn, chúng tôi muốn
nói tới sự tu dưỡng tâm hồn có
mang tính cách triết lý và đạo
lý. Đó là Thiền. Thiền (meditation)
có thể hiểu là đem tâm hồn
tìm đến tĩnh lặng để suy
tưởng về đạo qua phương pháp
hít thở thật sâu và chậm. Chữ
đạo ở đây không nhất thiết
phải là một tôn giáo nào, mà nên
hiểu có khi chỉ là một khai lối đi
đến sự vô vi thanh tịnh, đem tâm
hồn thoát ra khỏi mọi phiền não và
tham sân si của cuộc đời... Thời gian
hành Thiền có thể nhiều ít tùy
theo hoàn cảnh cá nhân của mỗi
người, nhưng cần nhất là phải
có sự kiên nhẫn, sự chú tâm
và phải đều đặn hàng ngày.
Và nói đến Thiền là phải nói
đến sự điều hòa hơi thở vì
điêù hòa hơi thở là phương
pháp hữu hiệu nhất chống lại sự
âu lo (anxiety) và chống lại những áp
lực về tinh thần (stress). Khi ta hoàn toàn
chú tâm đến hơi thở, đến
luồng khí vận hành trong cơ thể sao cho
đúng cách, nghĩa là thở sâu,
thở chậm và thở đều hòa trong
tĩnh lặng thì chúng ta sẽ đương
nhiên thoát ra khỏi những âu lo, những
stress hay gọi chung là tạp niệm đang làm
khổ chúng tạ Đương nhiên thoát
khỏi tạp niệm ? Chắc có người sẽ
hỏi làm sao đương nhiên được?
Xin trả lời: được lắm chứ. Bởi
vì một lẽ rất giản dị là tâm
thức chúng ta chỉ có thể làm
được “một việc” trong “một
lúc”. Tâm thức không thể làm
được hai việc khác nhau trong cùng
một lúc. Hãy nhớ lại những khi
chúng ta lo lắng về nhiều chuyện chẳng
hạn như công ăn việc làm, nhà
cửa, xe cộ, thuế má, vợ chồng, con
cại..v.v., tâm hồn chúng ta chỉ nghĩ
được một chuyện trong một lúc. Xong
chuyện này rồi mới tới chuyện khác.
Bởi vậy mới có câu “suy nghĩ
miên man”. Trong Thiền cũng thế, nếu chúng
ta hoàn toàn chỉ chú mục vào
phương pháp thở và hoàn toàn theo
dõi hơi thở trong lúc thiền, thì
tâm thức sẽ không còn chỗ để
bị xao động bởi những tạp niệm.
Tâm thức lúc đó chỉ còn biết
về hơi thở mà thôi.”.
Theo tác giả Hoang Vu bên
thì:
“Sự liên quan giữa Stress và Bịnh:
Tất cả chúng ta đều biết Stress gây
ra rất nhiều bịnh. Cái list của những
căn bịnh thời đại đó càng
ngày càng dài ra tưởng như không bao
giờ hết.
Cái Stress cao độ (intense) và kéo dài
(prolonged) làm yếu đi khả năng đề
kháng của cơ thể (immunity defense), làm
mệt mỏi trái tim, làm hư hoại những
tế bào của não bộ (memory’s brain cell),
làm tăng mỡ đọng ở eo và mông
(1 trong những risk factor của heart desease (nghẽn tim,
infartus…), cancer và diabetese ( đái
đường). Stress cũng dự phần lớn
vào những bịnh thoái hoá như
polyarthritis rhumatoide – thoái hóa khớp
xương), những bịnh tâm thần –
depression , và góp phần làm cho các tế
bào mau già.
Các cơ cấu giữa Stress và Disease chỉ
mới được hiểu khá tường tận
từ khoảng đầu thập niên này
(vào khoảng năm 1990, những bài học
về Stress còn nằm trong phần Psychiatric mà
không phải là phần Diagnosis – bịnh
lâm sàng).
Stress là gì ?:
Trước hết ta hãy thử lược sơ qua,
để hiểu rõ hơn Stress là gì ? Stress
là 1 trong những khả năng sinh tồn của
loài ngươì . Nói khác đi, Stress
là 1 phản ứng tự vệ của cơ thể
trước các nguy cơ. Stress là 1 phản
xạ tự nhiên giúp con nguòi đối
phó với caí xã hội đầy bất trắc
bên ngoài. Khi gặp nguy hiểm – đối
đầu với con sư tử chẳng hạn –
cô thể con nguòi cần phải nhanh chóng
sẵn sàng để “đương
đầu“ hay “chạy trốn“ (fight or flight
reponse).
Khi não bộ đánh hơi được 1
sự nguy hiểm, 1 tín hiệu được
báo ngay cho:
A- Adrenal glands (nằm trên chóp thận) để
tiết ra 2 loại hormones:
1- Adrenaline ( epinephrine)
2- Glucocorticoids & cortisol
B- Các tế bào thần kinh vùng hypothalamus
để tiết ra chất :
1- Nor-epinephrine
Các loại hormones này là những chất
hoá học cực mạnh, có tác dụng
làm cho:
1- Các giác quan nhạy bén hơn các
cơ bắp (muscle) săn chắc lên, giảm
thiểu khả năng tiêu hoá (tác dụng
của nor –epinephirine)
2- Tim đập nhanh hơn, phổi: hô hấp nhanh
hơn, chuẩn bị đưa oxygen tới các
tế bào ( thí dụ của epinephrine)
3- Độ đường tăng trong máu để
cung cấp nhiệt lượng cần thiết,( cortisol ).
4- Nói tóm lại cơ thể chúng ta đang
ở trong tư thế sẳn sàng tác chiến
hay… chạy trốn.
Một khi cái Stress đã qua đi, (như trong
ví dụ này, con sư tử đã
đi… chỗ khác chơi) thì các hormons
trở về trạng thái cũ.
Thế nhưng trong xã hội ngày nay, Stress
biến đổi hình thức, nó không
còn đơn thuần là 1 con sư tử, nanh
dài móng nhọn , mà nó thiên biến
vạn hóa ra hàng triệu tình huống
khác: 1 ông boss khó tánh, 1 ông xã
(hay bà xã) ưa cằn nhằn, 1 cuộc
tình sóng gió, 3 tiếng đồng hồ
kẹt xe trên xa lộ, 50 cm tuyết sáng thứ
hai…v.v. Cái phản ứng “đánh“
hay “chạy“ (fight or flight) của cơ thể
vẫn không thay đổi nhưng caí Stress
ngày nay đã khác với cái stress
ngày xưa. Và không phải trong tình
huống nào mình cũng có thể...
Đánh hay Chẩu được, mà phần
nhiều là phải… Chịu trận!!!. Vì
vậy cơ thể con người gần như luôn
luôn đầy ắp những thứ hormones nạy
Chính sự hiện diện lâu dài , ngày
này qua ngày khác, và ở nồng
độ cao (high concentration) của các stress hormones
mà tạo ra các nguy cơ tác hại cho cơ
thể:
1- Tổn thương các mạch máu, đưa
đến các bịnh về tim mạch (heart disease)
2- Giảm khả năng đề kháng của cơ
thể (immunity system), đưa đến cancer, bịnh
nhiễm trùng (infectious disease)...
3- Mất calcium trong xương, gây ra osteoporosis ở
phụ nữ lúc mãn kinh (menopausis)
4- Làm tăng mỡ đọng ở eo và
mông - heart disease
5- Diabetese, đái đường, mất trí
nhớ...
6- Cái liste của những tác hại vì Stress
còn rất là daì , đó là chưa
kể đến những căn bịnh thần kinh
như depression, Parkinson's disease , Alzheimer's disease, stroke v.v.
và v.v....
Thiền - Quán sổ tức, và Stress:
Theo Dr. Andrew Weil (University of Arizona) thì cách
điều hoà hơi thở là cách thức
hữu hiệu nhất để chống lại sự
âu lo (anxiety) và stress, và ngay đối với
cả những thể loại nặng nhất của
bịnh khủng hoảng thẩn kinh (panic disorder) Vì
khi bạn chú tâm vào hơi thở, và
thở sâu, chậm, yên lặng và đều
đặn thì bạn không thể nào... stress,
hay lo âu được. Bởi lẽ rất dễ
hiểu là cơ thể bạn không thể
nào cùng 1 lúc làm được nhũng
việc trái ngược nhau. Như chúng ta
biết, ngược lại với Stress, sự điều
hoà hơi thở sẽ làm cho tim đập
chậm, giảm huyết áp, làm an tĩnh hệ
thần kinh. Khi não bộ không nhận
được tín hiệu nguy cơ nữa thì
cơ thể trở lại với trạng thái
điều hoà, các bộ phận điều
tiết những stress hormone không còn
được kích thích cũng sẽ trở
về trạng thái bình thường, và
cơ thể bạn không nằm trong trạng thái
chuẩn bị ứng chiến như ta đã
thấy ở trên. Và như thế, bạn
vừạ... "shut down" những tác hại
của stress.
Hiện nay những Bịnh viện lớn như Columbia
Medical center ở New York city, những bịnh nhân
trước khi giải phẩu tim, đều
được mời tham dự những buổi
thiền, Meditation. Ở những bịnh nhân có
tham gia thiền quán, người ta nhận thấy
ít lo âu trước khi mổ, ít mất
máu trong khi mổ và hồi phục nhanh hơn sau
khi mổ”.
Trong bài viết "Căng thẳng và Thư
giãn" của Hồ Bích Vân, Milano, Italy, tác
giả đưa ra lập luận rằng:
“ ”Stress”: có thể hiểu là bao
gồm cả căng thẳng do huyết áp cao;
mọi vọng động thuộc ba thể là
thể trí , thể vìa , thể phách…;
mọi rối loạn phiền não gây ra bởi
thất tình lục dục, mọi kích
đông vào bản thể con người từ
nội giới đến ngoại giới).
- Sự căng thẳng có thể hiểu là
tình trạng mà tâm trí luôn ở
trạng thái giữa con người thật hiện
tại của chính mình và con người
mà mình mong muốn trở thành.
- Nếu chúng ta không mong muốn trở thành
bất kỳ ai khác hơn là sống với con người
thật của mình thì tâm hồn sẽ
giải thoát và có an lạc, thanh tịnh.
Không có khoảng cách, không có sự
căng thẳng thì chúng ta mới thực sự
giải thoát và tự tại.
Căng thẳng thần kinh là một trạng
thái của tâm trí khi tập trung quá
nhiều vào tính chất thuần lý trí
và bỏ quên cảm giác của mình
đưa đến trạng thái mất quân
bình.
Những người sống bằng đầu óc
dễ trở nên căng thẳng. Sự thư
giãn đến qua trái tim. Con người có
khả năng di chuyển dễ dàng từ
đầu đến tim. Đầu óc và
trái tim giống như hai bến bờ mà
chúng ta là giòng sông và chúng ta
không nên chỉ bám víu vào riêng
một bên nào hết nếu không đời
sống sẽ mất quân bình. Nhiều
người đau khổ vì quá căng thẳng
đầu óc vì đã quên mất
ngôn ngữ của trái tim. Trái tim mới
biết cách thư giãn và biết yêu
thương, mới biết ca ngợi và
thưởng thức ca hát. May mắn thay cho những
ai biết quân bình cả hai thứ con tim và
khối óc của chính mình trong cuộc
sống.
Khi căng thẳng, chúng ta cần sử dụng
nó như một năng lực sáng tạo
và nên chấp nhận nó, vì sự
căng thẳng nếu hiểu theo nghĩa đơn
giản thì đó chỉ là một dấu
hiệu chứng tỏ cơ thể sẵn sàng
chống đối. Nếu chúng ta cố gắng
thư giản hay loại bỏ sự căng thẳng
làm ra vẻ yên tĩnh thì sẽ vô
tình chống lại cơ thể rồi.
Vậy phải làm sao ? Hãy tự nhiên
hoặc vui đùa với thách thức xảy ra
khi cơ thể sẵn sàng đối phó với
những tình huống nào đó."
Giấc ngủ cần thiết cho cơ thể:
“Chúng ta thường quan niệm là mỗi
người phải ngủ 8 tiếng mỗi ngày.
Điều đó tùy thuộc vào hoàn
cảnh và cơ thể, sức khỏe của
mỗi người. Có những tình huống cần
phải thức hơn là ngủ và sau khi
đã giải quyết xong việc cần thiết
trước mắt, mọi việc đã ổn
định khá tốt thì chúng ta có
thể ngủ thật lâu. Mỗi người
đều khác nhau, không có một chừng
mực nhất định nào bắt buộc cả
(một vài người có thể ngủ bốn
tiếng, hai tiếng, bảy tiếng, mười
tiếng hay mười hai tiếng đồng hồ
là thường). Chúng ta hãy nên chấp
nhận tính chất của chính mình,
đó là niềm vui và hãy chấp
nhận căng thẳng vì khi chúng ta chấp
nhận, nó sẽ biến mất. Chúng ta sẽ cảm
thấy hạnh phúc vì mình đã
bắt đầu sử dụng được nó:
đó cũng là một loại năng lực.
Chúng ta cần hiểu rõ mình thuộc về
loại người nào, khi hiểu rõ rồi
thì không còn vấn đề căng thẳng
hay thư giãn nữa, phải thế không ?
Nếu trường hợp sống thường xuyên
bị căng thẳng thì ta nên áp dụng
lối thư giãn tự động và hiểu
rõ tình huống này hơn: chúng ta
chỉ có thể hoạt động lâu hơn,
sau đó cơ thể sẽ tự động thư
giãn."
Về khía cạnh Thư giãn theo Bích Vân
viết như sau:
”Thư giãn là bước đầu tiên
dẫn đến thiền định. Với sự
thư giãn càng lúc càng sâu xa hơn
và thực hành đều đặn thì
sẽ trở thành thiền định. Thư
giãn hoàn toàn là khoảnh khắc của
tâm thức thấu suốt, tâm giác
ngộ.Chúng ta không thể thư giãn
hoàn toàn ngay tức khắc được
bởi tự đáy lòng sâu kín, mối
căng thẳng của chúng ta vẫn còn tồn
tại. Nhưng chúng ta hãy tự bắt
đầu thực hành thư giãn , bắt
đầu từ phạm vi bên ngoài là nơi
chúng ta đang sống hàng ngày. Nên
thư giãn thể xác, trong thái độ,
hành vi của mình: đi đứng thong thả,
ăn uống, nói năng , lắng nghe theo cách
thư thả, đừng vội vàng.
Căng thẳng có nghĩa là sợ hãi,
vội vã, hoài nghi, là luôn lo chuẩn
bị cho ngày mai ngay hiện tại hay cho tương
lai hoặc kiếp sau. Căng thẳng là quá
khứ mà chúng ta đã không sống
một cách thật sự, đã bỏ qua
nhiều điều cần làm hoặc có
lúc đã làm chưa đúng nhiều
thứ… những điều này vẫn tồn
tại và vây quanh chúng ta, nó như
thầm nhắc nhở rằng cần phải hoàn
tất những điều đó đi vì
mỗi kinh nghiệm vốn có khuynh hướng
muốn được trọn vẹn. Khi được
trọn vẹn thì nó tự tan mất, còn
khi chưa hoàn tất thì nó lôi cuốn
sự chú tâm của mình và ta không
có sự thanh thản.
Chúng ta có thể tập thư giãn từ
bên ngoài. Đầu tiên là thư
giãn thể xác và thư giãn một
cách có ý thức, hãy chú ý xem
mình đã tạo ra căng thẳng ở
vùng nào trên cơ thể (ở cổ, ở
đầu, ở chân…), nên lắng nghe và
thư giãn nó một cách nhẹ nhàng.
- Kế tiếp là thư giãn tâm trí
vì tâm trí là một hiện tượng
phức tạp hơn và cần nhiều thời gian
hơn.
- Khi tâm trí đã thư giãn rồi
chúng ta kế tiếp bắt đầu thư
giãn trái tim vì trái tim là thế
giới của cảm giác và xúc
động, rất phức tạp và tinh vi.
ở Khi bịnh hoạn thì nên uống thuốc
để giúp vết thương cơ thể mau
lành. Khi căng thẳng trong công việc hay
tình cảm trong cuộc sống thì nên
tìm hiểu nguyên nhân từ đâu
để có sáng suốt giải quyết vấn
đề, nên tập thư giãn, xã bỏ
phiền não và thiền định.”
Về quan điểm Thiền định:
“Thiền định là hàn gắn giúp
con người chúng ta có sự quân bình
trong thân, tâm và trở nên hoàn
thiện hơn, thánh thiện hơn, có nghĩa
là trong sâu thẳm tâm hồn con người
được trọn vẹn hơn theo năng lực
của chính mình. Từ đó chúng ta
sẽ vui sống hơn, biết mở rộng tâm
và đời sống tâm linh không nghèo
nàn, biết thông cảm với người chung
quanh và hiểu thế nào là nguồn yêu
thương chân tình.“ .
Như đã trích dẫn, thiền ngày nay
được xem là khá phổ thông. Nó
được nhìn nhận rộng rải trong cung
cách trị bệnh hiệu quả trong lãnh
vực tâm lý học và y khoa. Thiền
không còn chỉ cô đọng trong giáo
lý nhà Phật của thuở xa xưa. Nó di
ra khỏi biên cương của tôn giáo
để hoà đồng trong nếp sống dân
gian khắp địa cầu. Điều đúng muôn
thuở vẫn là sự nối kết chặt
chẽ với tâm linh, hay nói khác hơn
một sự giải thoát bản ngã của
tâm thức khổ đau, âu lo hay phiền muộn
sang trạng thái yên tĩnh, thanh thản hay thư
giãn cho con người. Thiền là nhu cầu
tâm linh của cuộc sống vậy.
Việt Hải,
(Riêng tăng hai anh Phạm Văn Vĩnh Paris và
Dương Bé Los Angeles cho những ngày hè
nóng quá mất ngủ triền miên nỗi
lòng văn thơ... huhu...)
Việt Hải