|
|
Thiền
Học Trong Nghệ Thuật và Kiến Trúc
Thích Thái Không
|
|
Nghệ
thuật và kiến trúc thể hiện nếp sống và
hệ thống tư tưởng của từng thời
đại. Bởi vậy, muốn t́m hiểu về các
nền văn hóa, tôn giáo và phong tục trong nhân gian th́
nghệ thuật và kiến trúc đóng vai tṛ rất quan
trọng. Bất
cứ ai trong giới Thiền gia đều xem h́nh Bồ
Đạt Lạt Ma là một biểu tượng hùng
tráng, với đôi mắt trợn trừng nh́n thế
sự, hàm én kiêu hănh thể hiện nét phong trần,
đôi chân không đạp trên sóng đời cuồn
cuộn chảy. Hoặc là bức tranh Cửu niên
diện bích là một bài học lớn về pháp
Thiền Đại Thừa Bích Quán. Nghĩa là Bích Quán là
thế giới tuyệt đối của tâm, tất
cả đă để lại sau lưng để
trở về với thế giới tĩnh mặc. Bên
bức tranh đề bốn chữ Đại Thừa
Bích Quán không phải là điều đơn giản mà ai
cũng có thể lănh hội được. Đây là
một Thiền án cho tất cả các hành giả đang
thực tập Thiền. Nếu hiểu bức tranh Bích
Quán là ngó vào vách th́ thật là vô nghĩa. Qua bức tranh
đă nói lên một pháp hành, Bích Quán là Tâm Quán, không phải
nh́n vào vách như những người thường nh́n mà
chính là nh́n vào tâm để thấy được
điểm tận cùng của tâm, đó là lối về
bất nhị. Ngài Đạt Ma đă dạy Nhị
Tổ Huệ Khả về phép Bích Quán như sau: Ngoài dứt chư duyên Pháp hành Thiền quán được
thể hiện qua bức tranh. Tất cả yếu
chỉ của Thiền được cô đọng trên
từng nét chấm phá, như h́nh ảnh Ngài Huệ
Năng đốt sách là những lời nhắc nhở
cho những ai ôm lấy kiến thức để
nhốt ḿnh trong chấp ngă. Trong
Thiền tông c̣n có bộ tranh Thập Mục Ngưu
Đồ được phổ biến rộng răi qua
các Thiền viện và cũng là kim chỉ nam cho những
hành giả đang thực hành Thiền quán. Thiền
học c̣n có mặt trong lănh vực kiến trúc Á Đông.
Mỗi Thiền viện đều có một lối
kiến trúc ôn ḥa, khác hẳn với lối kiến trúc La
Hy của các Nhà thờ Thiên Chúa Giáo hay lối kiến trúc
Trung Đông của các nhà thờ Hồi Giáo. Kiến trúc
của các Thiền viện thể hiện nếp
sống trầm tĩnh thanh u nhưng vẫn mang dáng
vẻ oai nghiêm của các nơi thờ tự và mang
đậm màu sắc tôn giáo. Khi
bước vào Thiền viện Phật giáo, đầu
tiên chúng ta phải vào cổng Tam Quan. Không phải ngẫu
nhiên mà làm cổng Tam Quan, ngoài nghệ thuật kiến
trúc c̣n có ư nghĩa triết lư rất lớn trong Thiền
học, Tam Quan là Tam Giải Thoát Môn, là Tam Pháp Ấn, là
“Không” - “Vô Tướng” - “Vô Tác”. Trong
Thiền Viện Phật Giáo, kiến trúc và thiên nhiên ḥa
điệu với nhau bởi vậy khi bước vào
Thiền viện chúng ta có cảm giác thi vị và thanh toát.
V́ có một cuộc sống ồn ào náo nhiệt như
ở phồn hoa phố thị, mà phải là một
đời sống thanh đạm về vật chất
và có một tâm hồn thanh thoát. Các
Thiền viện ở Á Đông từ xưa đa số
được vua quan xây dựng nên phảng phất
đường nét của kiến trúc cung đ́nh, sự
tŕnh bày trang trí nội thất cũng tương tự
như các phủ đệ, nhưng bên cạnh đó
Thiền viện vẫn mang tính cách kiến trúc của
nhân gian tương tự như đ́nh làng miếu vũ
cho nên không phải là xa lạ đối với dân chúng.
Từ đó, kiến trúc của Thiền viện mang nét
ôn ḥa, khiêm tốn ẩn hiện dưới những
vườn đồi. . . Trải qua bao nhiêu thăng
trầm của lịch sử nhưng những nét tiêu
sơ của Thiền viện vẫn giữ nguyên như
cũ. Ở Trung Hoa, thời đại lục quốc
qua phân đă biến Trung Hoa thành nhiều mảnh,
đất nước này phải chịu ảnh
hưởng của nhiều nền văn minh trên thế
giới như Nga, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Nhật,
Mỹ và có thay đổi rất nhiều trong kiến
trúc, nhưng các Thiền viện ở đây vẫn
tồn tại và giữ được Thiền phong. Ở
Việt Chùa
chiền, Thiền viện mang tính nghệ thuật
kiến trúc và tính văn hóa Phật Giáo và văn hóa dân
gian. Ở Á Châu, đặc biệt là trung Hoa và Việt
Nam, luôn luôn lấy tứ linh là long, lân, quy, phung để
trang trí ở các nơi tôn nghiêm như cung đ́nh,
đền thờ miếu vũ và các Thiền viện. .
. Về mặt kiến trúc, khi gắn những h́nh
rồng, phượng. . . trên mái nhà là để cho cân
đối nghệ thuật, về mặt triết lư th́
những h́nh tượng này c̣n có những ư nghĩa tùy
theo bối cảnh. H́nh ảnh con Rồng làm để
tượng trưng cho sự hưng thịnh, thăng
hóa và bền vững. Lân tượng trưng cho sự
hùng mạnh, uy vũ. Phụng tượng trưng cho
người quân tử, có dáng tao nhă, đời sống
thanh cao. Quy tượng trưng cho đức nhẫn
nhục, nhu ḥa và sự trường cửu. Từ
văn hóa nhân gian, những biểu tượng này cũng
được các Thiền viện sử dụng
để trang trí đồng thời cũng có những ư
nghĩa tôn giáo riêng, thể hiện những đức
tính trong sự tu tập như tinh tấn, vô úy, thanh
tịnh, nhẫn nhục. . . Lại
nữa, có một h́nh ảnh trong kiến trúc rất
đặc biệt ở Á Đông mà chúng ta thường
thấy ở các nơi mang màu sắc văn hóa như cung
đ́nh, miếu thờ, hoặc chùa chiền, đó là h́nh
Long Mă. Ở trường Quốc Học - Huế, có b́nh
phong Long Mă, đó là tượng trưng cho sự phát
triển một nền văn hóa của đất
nước. Chúng ta cũng thấy h́nh Long Mă trên bức
phù điêu của Tổ Đ́nh Từ Hiếu - Huế,
nhưng h́nh ảnh Long Mă ở đây, ngoài nét nghệ
thuật tiêu biểu cho thời đại c̣n có ư nghĩa
rất lớn, đó là sự tu tập, đầu
rồng tượng trưng cho trí tuệ, đôi chân
tuấn mă tượng trưng cho sự tinh tấn, trên
lưng tuấn mă chở một ḥm thư, đó là
tượng trưng cho những pháp hành. Một
người tu tập phải như con long mă, phải có
sự suy xét đúng đắn theo Chánh đạo, phải
có sự kiên tŕ bền chí như đôi chân tuấn mă và
phải có một pháp hành nhất định và xem pháp hành
đó là tính mệnh của ḿnh. Kiến
trúc Phật giáo cũng như các công tŕnh kiến trúc
ở Trung Hoa hay Việt Các mái
chùa cong vút ẩn ḿnh dưới những tàn cây, tiếng
chuông chùa u trầm vọng lên làm thanh thản ḷng
người. Kiến trúc các Thiền viện mang tính cách
oai hùng của cung đ́nh làm nơi nương tựa tinh
thần cho những người dân Á Đông, đồng
thời cũng có nét dân dă để ḥa ḿnh với
quần chúng. Cho nên, h́nh ảnh chùa làng, đ́nh miếu
đă dễ dàng đi sâu vào ḷng của người dân. Trong
nền kiến trúc Á Đông có một điều đáng
chú ư nhất là kiến trúc lăng tẩm và tháp.
Đối với quan niệm lăo - Nho, cho rằng Sanh
viết kư nhi tử viết quy, cuộc sống này là
giả tạm, chỉ có chết mới thực sự là
trở về. Từ quan niệm đó cho nên, lăng
tẩm của những người quyền quư ở Á
Đông là những công tŕnh kiến trúc lớn và mang tính
văn hóa. Trong Phật giáo, khác với quan niệm trên, các
tháp thờ tượng Phật hoặc xá lợi của
Phật, là để cho các Phật tử đến chiêm
bái. Hoặc khi các vị tổ sư viên tịch, các
đệ tử và tín đồ xây dựng tháp là
để thể hiện ḷng tôn kính và tưởng nhớ
công đức của vị đó. Cho nên, các tháp thờ
Phật và tháp Tổ trong Phật giáo đều có một
ư nghĩa riêng. Các tháp thờ Phật đa số
đều được xây bảy tầng, trong đó
tôn trí bảy tượng Phật, tượng trưng
cho bảy đời các Đức Phật, và số
bảy trong Phật giáo là tượng trưng cho trung
đạo, một ngôi tháp xây bảy tầng không cao
cũng không thấp. Các tháp Tổ, thường
được xây ngay trên mộ phần của các vị
Tổ. Hoặc có những nơi xây những tháp vọng,
do những vùng có vị Tổ đó đến giáo hóa,
nhưng khi viên tịch th́ ở chỗ khác và hài cốt được
tôn trí ở một nơi khác, nên các đệ tử và
tín đồ đă ghi nhớ công đức và xây dựng
tháp thờ vọng. Tháp các vị Tổ thường là
năm tầng, tượng trưng cho Ngũ đức
sư, đó là năm phẩm tính tạo nên một vị
Ḥa Thượng: Không thiên ái; Không sợ hăi; Không sân si; Giáo
hóa đúng thời, đúng nơi và đúng đối
tượng; Dùng Pháp thích hợp để giáo hóa. Tháp
những vị A Xà Lê thường được xây ba
tầng, tượng trưng cho Tam vô lậu học, là
Văn - Tư - Tu. Trên đỉnh tháp có hoa sen hoặc
bầu hồ lô, hoa sen tượng trưng cho sự thanh
tịnh, hồ lô tượng trưng cho sự ḥa
hợp âm dương và kết tinh của trời
đất. Trong
kiến trúc thể hiện tâm hồn của những
người dân Á Đông, những tâm hồn trầm
tĩnh và sâu lắng là nền tảng của những
đường nét kiến trúc nhu ḥa nhưng rất trang
nghiêm. Cập nhật: 04-08-2006, 08:21 bởi hiếu
tâm |
|
|
|
|
|
|