Thiền
Định với cuộc sống hôm nay
---o0o---
|
Phật không
phải là một lư thuyết gia mà là thầy thuốc
giỏi. Do đó, lời dạy của Phật không
phải là triết lư mà là đạo lư về sự
thật nơi con người và cuộc đời
nhằm giúp con người giác ngộ.
Trong khi
hầu hết tôn giáo dạy con người thờ kính
thần linh và cầu xin ân huệ nơi tha lực th́
đạo Phật khuyên con người tự phát
triển khả năng giác ngộ giải thoát của chính
ḿnh. Nói cách khác, thần giáo bảo chúng ta ngước
mặt lên trời cầu xin thần linh ban ơn và cứu
rỗi, đạo Phật giúp chúng ta nh́n vào con
người và xă hội mà khai triển trí tuệ và từ
bi với mục đích xây dựng an lành cho ḿnh cho
người.
Có nhiều người, nhất là những người có
sẵn thành kiến về các tôn giáo không thấy
được sự sai khác giữa thần giáo và
đạo Phật nên xem đạo Phật cũng là
một thứ thần giáo có những lư thuyết duy
thần, nghi lễ duy tâm v.v...
Thật ra
nguyên nhân của sự hiểu lầm này không phải
chỉ do sự hiểu sai và sự xuyên tạc của
những người không Phật tử mà c̣n do chính
những người theo đạo Phật gây nên.
Chính
Phật đă tiên đoán rằng sau khi Phật viên tịch
độ 1000 năm th́ đạo lư cao siêu của Ngài
bị những người kém cỏi làm cho hoen ố và sai
lạc. Từ khi Phật viên tịch đến nay đă
hơn 2500 năm. Đạo lư của Phật đă
truyền từ Ấn độ sang các nước Trung Á,
Đông nam Á, Viễn đông, và bây giờ th́ sang Âu Mỹ.
Nhưng hiện tượng "tam
sao thất bổn", thêm thắt, chắp vá, "phương tiện"... làm
cho đạo Phật mất rất nhiều tính chất
nguyên thủy và độc đáo của nó.
Phật
đă bị thần hóa với những quyền năng ban
phước giáng họa mà Phật không hề có và không
cần có. Người ta đă sáng tạo thêm nhiều
Phật khác có uy quyền hơn Phật tổ, hoặc
đặt thêm trên bàn thờ Phật những tượng
thần, để thỏa măn nhu cầu tín ngưỡng
của những người ham chuộng lễ bái, cầu
xin ân huệ hơn là t́m đạo giác ngộ giải
thoát.
Pháp, lời
dạy trong sáng lợi ích của Phật, bị bỏ
quên. Người ta ưa thích tụng và giảng những
linh điển "tượng
pháp" hay "tà pháp"
thích hợp với sự hiểu biết thấp kém
của "tín đồ"
và thuận lợi cho việc thương măi hóa đạo
Phật.
Tăng,
những người tu hành thanh tịnh, lợi tha, không c̣n
giữ được địa vị "chúng trung tôn" của ḿnh.
Phần lớn đă trở thành giáo sĩ làm trung gian
giữa thần thánh oai quyền và người cầu xin
phước lộc. Một số khác, v́ lư do kinh tế,
trở thành phù thủy, thầy bói, thày đoán xăm
quẻ...
Nhiều
tổ chức Phật giáo, v́ mục đích gây thanh thế
cho tông phái ḿnh, có xu hướng xây dựng giáo quyền theo
kiểu ṭa thánh La Mă. Tệ hơn, có những người,
v́ tự ti mặc cảm đối với các thần giáo
phương tây, muốn hiện đại hóa đạo
Phật, từ giáo lư cho đến phương pháp tu
dưỡng, theo kiểu Tin lành Hoa kỳ hay Tân tăng
Nhật bản.
Những
hiện tượng trên đă làm cho đạo Phật
bị hiểu sai, trong khi đó Phật không phải là
thần linh, pháp không phải là giáo lư thần khải hay tín
điều (dogmatisme) và tăng chỉ là người tu hành
và hướng đạo cho những ai muốn sống
đạo.
Và một
nguyên nhân khác nữa, cũng làm cho người ta hiểu
lầm đạo Phật, là sự không hiểu rơ
đạo Phật vốn chủ trương Tâm Vật,
hai thành phần tuy khác nhau song không thể hiện hữu
một cách biệt lập, mà luôn luôn hiện hữu cùng
nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Tất cả
những phương pháp tu dưỡng trong đạo
Phật đều là trung đạo, không cực đoan
về lư thuyết cũng như trong thực hành.
Trong một
vài kinh, nhất là các kinh điển phát triển
(Đại thừa), thoảng hoặc có những lời
nói "có vẻ duy tâm"
song đó chỉ là nhấn mạnh để chận
đứng sự "vong thân"
hay "đối trị căn
cơ" mà không phải là lư thuyết duy tâm, duy
thức toàn diện. Hơn nữa, chữ
tâm (citta) trong Phật học không có nghĩa như chữ tâm của triết học Tây
phương. Bởi v́ toàn bộ giáo lư của
Phật dựa trên đạo lư Duyên khởi
(Paticcasamuppada), nghĩa là đạo lư chủ trương
vạn pháp do nhân duyên sanh chứ không do thần sanh, không do
tiền định hay có ra một cách ngẫu nhiên may
rủi.
Trở
lại vấn đề, mặc dù Phật xem tâm ư,
phần chủ động và sáng tạo nơi con
người là quan trọng, song không hề phủ nhận
sự hiện hữu của cảnh vật bên ngoài và
chủ trương rằng cấu trúc và hoàn cảnh xă
hội cũng như diều kiện kinh tế có
ảnh hưởng lớn đến sự suy tư, tâm
t́nh và ư chí con người.
Tâm ư vốn
là phần chủ động của sự sống và
cuộc sống cho nên phương pháp tu dưỡng trong
đạo Phật thường được xem là
phương pháp tu tâm, nghĩa là phương pháp giáo
dục cải tạo con người. Song người ta
cũng t́m thấy rất nhiều lời Phật dạy
về vấn đề cải tạo môi trường sinh
sống, xây dựng xă hội an lành theo nguyên tắc
hướng về giác ngộ giải thoát.
V́ thế,
ngay những vấn đề mà người đời
thường cho là quan trọng như Thượng
đế hiện hữu hay không hiện hữu, vật
chất sinh ra tinh thần hay tinh thần sinh ra vật
chất,... đối với phật tử không phải là
những vấn đề quan trọng.
Quan
trọng cho con người vẫn là vấn đề thanh
tịnh hóa tâm ư, nghĩa là gạn lọc và làm cho phần
sáng đẹp của tâm ư được phát triển trong
mục đích cải tạo con người và xă hội
loài người. Trong phạm vi giáo dục và cải
tạo con người, Phật dạy chúng ta hăy nh́n
thẳng vào tâm ư. Vui buồn, sướng khổ chỉ là
kinh nghiệm của tâm ư. Quan niệm về tốt
xấu, lợi hại, khôn dại cũng chỉ là
những kết quả của thái độ và cảm
giác cảm t́nh nơi con người. Kinh nghiệm cho
thấy đời sống tinh thần của con
người chỉ là sự tiếp nối của ḍng
cảm giác, nhận thức, tư tưởng và phân
biệt dựa trên những kinh nghiệm của quá
khứ; qua chúng, chúng ta thấy nào là thương ghét,
sợ buồn, điên say, kiêu ngạo... Đó là thực
tại trong đời sống con người cần
phải nh́n thấy, chuyển hóa, c̣n sự hiện hữu
hay không hiện hữu của thượng đế và
bản ngă không phải là vấn đề thiết
yếu:
"Tâm
dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tâm sử
Với tâm ư nhiễm ô
Nói năng hoặc hành động
Đau khổ theo liền ta
Như bánh xe theo ḅ.
Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tâm sử
Với tâm ư thanh tịnh
Nói năng hoặc hành động
Hạnh phúc theo liền ta
Như bóng không rời h́nh."
(Pháp cú 1,2)
V́ thế
trong đạo Phật chân lư vi
diệu thứ nhất là khổ (dukkha), chỉ cho
sự thiếu sót của cuộc đời như
buồn lo, đau đớn, thất vọng, thác loạn,
mất quân b́nh, giả dối, mong manh...
Chân
lư vi diệu thứ hai là Nhân khổ (samudaya), chỉ cho
tham ái (tanhâ) hay là ba độc: tham, sân, si; hay là năm
điều ngăn che tâm trí: tham dục, nóng giận, hôn trầm,
loạn động, lo âu, nghi ngờ; hay là mười dây
ràng buộc: chấp ngă, nghi ngờ, mê tín nghi lễ và
cố chấp vào giới điều, tham dục, tàn
bạo, tham sắc (vi tê), tham vô sắc, kiêu ngạo,
loạn động, vô minh.
Chân
lư vi diệu thứ ba là sự khổ diệt (nirodha) chỉ cho
sự an lành khi tham sân si bị tiêu diệt.
Chân
lư vi diệu thứ tư là con đường dẫn
dến khổ diệt (magga) gồm tám chánh đạo: chánh
kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định
được quy tụ vào ba điều học: Giới (sila), Định
(samadhi) và Tuệ (panna).
Có thể ví dụ bốn chân lư vi diệu như sau:
1
- Bệnh
2 - Nguyên nhân sinh bệnh
3 - Sự hết bệnh
4 - Phương thuốc chữa lành
bệnh.
Như
vậy, Phật, với giác ngộ giải thoát, chủ
trương rằng cuộc đời có khổ gây nên
bởi tham, sân, si và nếu muốn được an
lành, con người phải sống theo đạo.
Sống đạo tức là tu dưỡng hay thực hành
Giới Định Tuệ. - đây không bàn đến
Giới và Tuệ mà chỉ bàn đến Định,
tức là thiền định, có nghĩa là tu tâm
dưỡng tánh.
Người
ta thường lầm lẫn Thiền
định (dhyâna) với Yoga
của Ấn giáo (Hindouisme) có mục đích
luyện tập thân thể cho dẻo dai khỏe mạnh,
thôi miên, cầu phép lạ hay xuất hồn và cuối cùng
thông hợp với Đại ngă hay Thượng
đế. Tất cả những phương pháp tu
dưỡng không hướng về giác ngộ giải
thoát đều không dính líu ǵ với thiền định
của đạo Phật. Người tu thiền
định không bao giờ dùng các thứ thuốc kích thích
(drogue), không cầu mong sự điểm đạo
huyền bí hay thần thông phép lạ và không tụng
đọc cả những thần chú (mantra). Thiền
định liên quan mật thiết đến Tâm ư và
cuộc sống con người, rất thích hợp cho
những ai muốn thăng hoa đời sống
hướng về giác ngộ giải thoát.
"Người
hăy tự cố gắng
Như Lai chỉ dẫn
đường
Ai vào đạo tu thiền
Giải thoát khỏi lưới
ma." (Pháp cú 276)
Trước
khi bàn phương pháp thiền định, hăy nói
đến mục đích thiền định: "Tại sao tu thiền
định?" hay "Tu
thiền định được ích lợi ǵ?"
Mục
đích của thiền định cũng là mục
đích của đạo Phật. Ấy là thực
hiện giác ngộ giải thoát (nirvâna) hay diệt
trừ đau khổ như Phật nói: "Này các thầy, giống như bể cả
chỉ có một vị, ấy là vị mặn; cũng
vậy, giáo pháp và giới luật của Như Lai chỉ
có một vị, ấy là vị giải thoát." (An, 205).
Rơ ràng, chúng
ta đang bị đau khổ dày ṿ bởi v́ chúng ta có
bịnh tật, như Phật dạy: "Con người là kẻ có bịnh tật thân
thể và tinh thần. Bịnh tật nơi thân thể th́
xảy ra lúc này khi khác nhưng sức khỏe tinh thần
th́ không thể có được trong phút giây nên con người
chưa đạt được giải thoát." (An, II,
143). Khổ ở đây không chỉ là những
khổ đau thông thường như đói cơm, rách áo,
thiếu thuốc, không nhà, thương yêu mà phải xa ĺa,
oán thù mà phải gặp nhau, mong cầu mà không toại ư...
mà c̣n là sự khổ đau triết lư cội gốc v́ bị
ràng buộc trong ṿng sanh già bệnh chết gây nên bởi vô
minh, không giác ngộ sự giả hợp và biến
chuyển của sự vật (samkhâra dukkha, viparinama dukkha).
Nói cách khác
chữ Khổ trong kinh Phật có nghĩa là cuộc
sống không vừa ư, đầy khủng hoảng, mâu
thuẫn, mất quân b́nh vv... Câu chuyện sau đây có
thể nói thêm một phần nào nghĩa chữ Khổ
(dukkha) trong đạo Phật:
"Ngày
xưa, có một ông vua thông minh, hiếu học, lúc tuổi
về già, muốn t́m hiểu sự thật của con
người và cuộc đời. Nhà vua ra lệnh cho
học giả trong nước đi khắp nơi
để nhận xét và ghi chép những ǵ đă xảy ra
cho con người từ xưa đến nay. Vâng lệnh
vua, nhiều đoàn học giả ra đi và làm việc
suốt mấy mươi năm trời.
Một
ngày kia, thấy ḿnh không c̣n sống được bao lâu
nữa, nhà vua ra lệnh gọi các học giả trở
về. Số học giả ra đi th́ nhiều nhưng
trở về th́ rất ít. Phần đông đă chết v́
bệnh tật, già yếu. Trong lúc tiếp đón đoàn
học giả, nh́n thấy những xe ḅ chở đầy
sách sử nhà vua rất mừng. Nhưng bất giác nhà vua
rưng rưng nước mắt v́ thấy ḿnh không c̣n th́
giờ để có thể đọc hết các sử sách
ấy. Để làm vui ḷng nhà vua, các học giả già
trẻ trong nước họp nhau lại và cố gắng
toát yếu tất cả sử sách ấy và mong rằng vua
có thể đọc được những điều
hay việc lạ trước khi chết. Sau mấy năm
trời bàn luận, biên chép, các học giả thâu tóm ư
nghĩa của những xe ḅ sử sách trong một
quyển và đem tŕnh vua. Lúc bấy giờ nhà vua đang
nằm trên giường bệnh. Nh́n quyển sách quư giá, nhà
vua cảm động rơi lệ và nói: "Trẫm làm
sao c̣n có th́ giờ để đọc." Các học
giả lại vội vàng họp nhau để toát yếu
thêm một lần nữa. Cuối cùng tất cả các
học giả đều bằng ḷng cô đọng tinh hoa
của bao nhiêu xe sử sách trong một chữ: ấy là
chữ Khổ (Dukkha), nghĩa là cuộc đời
đầy cả những điều không vừa ư, không
chắc thật và luôn luôn biến đổi."
Theo
đạo Phật, đau khổ thông thường hay
đau khổ cội gốc đều do những nguyên
nhân phát xuất từ con người và xă hội loài
người. Con người nếu muốn và hội
đủ điều kiện th́ có thể diệt trừ
được đau khổ. Khác với các loài động
vật hữu t́nh khác, con người có thể ư thức
được ḿnh đau khổ và luôn luôn mong muốn
được an vui. Có điều t́m ra phương pháp và
diệt trừ được đau khổ không phải
là dễ dàng và không phải ai cũng làm được.
Phật là người đă t́m ra nguyên nhân đau khổ và
chỉ dạy phương pháp diệt trừ đau
khổ. Phật khuyên chúng ta cố gắng tập trung trí
tuệ và phương tiện cho mục đích diệt
khổ mà không nên miên man với những câu hỏi siêu h́nh
vô ích. Phật ví dụ người bị đau khổ dày
ṿ phải mau mau diệt trừ đau khổ, như
người bị tên độc bắn phải mau mau xin
nhổ tên độc mà không nên mất th́ giờ với
những câu hỏi vớ vẩn, xa vời: "Ai là người bắn tên
độc?", "Tên
độc làm bằng ǵ?" (xem Mn, 63).
Theo
đạo Phật, đau khổ thông thường có
thể diệt trừ được bằng thay
đổi cách sống, thăng hoa điều kiện xă
hội, kinh tế... Song đau khổ cội gốc
chỉ có thể bị diệt trừ với đạo
lư giác ngộ giải thoát mà thôi.
Tất cả phương pháp tu dưỡng của
đạo Phật đều nhằm đến giải
thoát những đau khổ cội gốc trong đó có
những khổ đau thông thường: Thiền
định là một trong ba điều học quan
trọng sau giới luật và trước trí tuệ.
Chỉ sống theo giới luật mà không tu tập
thiền định để phát triển trí tuệ th́
người tu hành chỉ có thể trở thành
người có tác phong đạo đức nhưng
vẫn chưa có căn bản để tiến tới
giác ngộ giải thoát. Hơn nữa, như Phật
dạy, dù hiểu biết đạo lư, có khả năng
giáo hóa kẻ khác, từng đọc nhiều kinh diển
cũng không thể gọi là sống đạo. "Chỉ khi nào tu tập thiền
định mới gọi là sống đạo"
(xem An, III, 85). Bởi v́ thiếu thiền định th́
không thể có trí tuệ. Mà không có thiền định và
trí tuệ th́ tham sân si tuy bị đè nén song vẫn c̣n
gốc rễ và có thể phát sinh trở lại khi có
điều kiện thuận lợi. Như vậy tu
thiền định là để giác ngộ giải thoát và
lợi ích của tu thiền định là an vui.
Thật là
khó hiểu thế nào là giải thoát an vui đối
với những ai đang bị ràng buộc bởi dục
lạc và sống chết, cũng như thật là khó
hiểu thế nào là lành mạnh sung sướng đối
với những ai đang bị ốm đau bệnh
tật. Muốn hiểu rơ giải thoát an vui, điều
cần thiết là nên tu tập Giới Định Tuệ
chứ không nên bàn suông về giải thoát, cũng như
muốn hiểu rơ lành mạnh điều cần thiết
là nên áp dụng phương pháp dưỡng sinh chứ
không nên chỉ đọc sách thuốc. Nghe người khác
giảng về giải thoát tuy cần song chưa
đủ để hiểu rơ giải thoát. Hơn nữa
có rất nhiều khó khăn trong việc diễn tả
bằng ngôn ngữ thông thường về một sự
việc khác thường. Hăy bớt đi những thắc
mắc về bản thân giải thoát mà nên thêm lên sức
mạnh trong công việc thực hiện giải thoát.
Nếu có những chân trời mới lạ chưa có
thể khám phá ngay được th́ hăy mở mắt nh́n xa
và cố gắng bước tới. Đừng nhắm
mắt dậm chân phủ nhận một cách hẹp ḥi
bừa băi để rồi phải chịu lưu
đầy trong ngục tù mê lầm thành kiến. Cuộc
nói chuyện giữa "rùa và
cá" sau đây cho chúng ta một vài suy nghĩ
về thực tế của ràng buộc đau khổ và
thực tế của giải thoát an vui:
"Ngày
xưa có một con cá, v́ nó là loài sống dưới
nước nên chỉ ở trong nước và ngoài
nước ra nó không biết ǵ hết. Một hôm nó đang
nhởn nhơ bơi lội trong hồ t́nh cờ gặp
một con rùa mà nó đă quen từ trước, du lịch
trên đất liền mới về. Nó liền chào
hỏi:
- Chào anh, lâu lắm tôi không gặp
anh. Vậy lâu nay anh đi đâu?
- -, tôi đi du lịch trên
đất liền. Trên ấy mặt đất rất khô
ráo.
- Đất khô! Anh nói cái ǵ lạ
vậy? Tôi chưa bao giờ nghe nói điều lạ
kỳ như vậy. Lẽ nào lại có đất khô?
- Xin thề là tôi không nói đùa
với anh. Nhưng nếu quả t́nh anh không tin
được th́ tùy anh, không ai ngăn cản
được anh. Nhưng dù sao tôi vẫn từ trên đó
về.
- Này anh, anh hăy cố gắng
diễn đạt lại cho hợp lư hơn, tôi nghĩ
rằng cách diễn đạt của anh chưa rơ ràng
lắm. Anh vui ḷng cho tôi biết đất mà anh nói
giống như cái ǵ trong thế giới chúng ta? nó có ẩm
ướt không?
- Không, nó không ẩm ướt.
- Thế nó có mát dịu và lạnh
không?
- Nó không mát, không dịu mà cũng
chẳng lạnh.
- Thế nó có trong suốt để
cho ánh sáng xuyên qua không?
- Không, nó không trong suốt và ánh sáng
không thể xuyên qua được.
- Thế nó có mềm và dễ bị
ép để cho tôi có thể quậy vi và bơi lội
dễ dàng không?
- Không, nó không mềm, không bị
dồn ép dễ dàng và anh cũng không thể bơi lội
trong đất được.
- Thế nó có lưu động và
đổ thành thác được không?
- Không, nó không lưu động và
không đổ thành thác được.
- Vậy th́ nó có dâng lên để
tạo thành những mũi sóng bạc đầu
được không?
- Không, tôi chưa bao giờ thấy
nó dâng lên thành làn sóng cả.
Đến đây con cá vênh váo tự
đắc và nói rằng:
- Tôi đă từng nói với anh
rằng: Đất mà anh nói không phải là cái ǵ cả. Tôi
cũng vừa hỏi anh về đất ấy và với
câu hỏi nào anh cũng trả lời không. Đất anh
đă nói là không giống bất cứ cái ǵ tôi nêu ra,
vậy th́ đất hẳn là "hư vô". Anh
đừng bịp tôi nữa!
- Tốt! Anh quả quyết
rằng không có đất liền. Tôi cũng không có cách nào
hơn là cứ để anh tiếp tục tin vào những
điều anh đă nghĩ. Nhưng một mai, có ai khác
hơn tôi đủ sức phân biệt cho anh thấy
sự sai khác giữa đất và nước th́ ngày
ấy anh sẽ thấy rằng anh chỉ là một con cá
ngốc!"
Kể
lại câu chuyện nầy không có ư nói là phải
đợi đến lúc nào giải thoát hoàn toàn
người ta mới hưởng thụ được
an vui. Bởi v́ giải thoát có thể thực hiện
từng phần cho đến toàn phần. Do đó
người tu tập thiền định có thể
hưởng thụ an vui từng phần cho đến toàn
phần, cũng như kiến thức rộng răi của
nhà bác học là cái ǵ do tích lũy lâu ngày; cứ một ngày
học hỏi là một ngày thêm được một ít
hiểu biết. Cũng như lành bệnh hoàn toàn là
trạng thái sức khỏe được phục hồi
qua nhiều ngày, cứ mỗi lúc bớt ốm đau là
một lúc thêm được an lành.
Người
tu tập thiền định, trước khi chứng
đạt giải thoát hoàn toàn, có thể an vui nhờ
sự diệt trừ được những tâm lư tiêu
cực như tham dục, nóng giận, hôn trầm, loạn
động lo âu, nghi ngờ..., phát triển được
những t́nh cảm tích cực như từ bi hỷ
xả, tâm trí trở nên thanh tịnh, dễ dàng tập trung
và luôn luôn thức tỉnh sáng suốt đối với
hoàn cảnh bên ngoài cũng như h́nh ảnh bên trong.
Tóm lại, mục đích của thiền
định là giải thoát. Có giải thoát th́ có an vui. Và
giải thoát an vui có thể thực hiện lần lần
ở đây và bây giờ.
"Vui
cười thế nào được
Khi biết ḿnh đang cháy
Bị bóng tối phủ vây
Sao không t́m ánh sáng" ( Pháp cú,
146 )
Thiền
sư Kosho Uchiyama kể lại câu chuyện như sau:
Hachiko
mới học cưỡi ngựa. Con ngựa khôn ranh
biết người cưỡi nó thuộc loại
tồi. Khi đi ngang qua một quán rau bên đường,
nó tự dừng lại ngoặm lấy rau cải ăn
ngay tại chỗ. Chủ quán tức giận đánh cho
mấy hèo. Nó kêu lên, nhẩy dựng rồi phi nước
đại. Hachiko hoảng hốt, cầm chặt lấy
cương và gáy ngựa để khỏi bị quăng
ngă. Bấy giờ, một người bạn của
Hachiko cũng đi cùng đường. Thấy Hachiko
đang bối rối, lo sợ v́ ngựa, người
bạn hỏi:
- Anh đi đâu mà vội vàng và nguy
hiểm thế?
- Tôi không biết... Hỏi con
ngựa ấy!
Đây có
thể là câu chuyện bịa song ư nghĩa của nó là giúp
chúng ta liên tưởng: Hachiko bất tài không chế ngự
được con ngựa khôn ranh hung hăn nên bị nó
"hành hạ", chẳng khác ǵ con người thiếu
khả năng, không điều khiển nổi và không
sử dụng tốt khoa học kỹ thuật nên
phải chịu lắm tai ương.
Chúng ta đều đồng ư rằng khoa học kỹ
thuật là cái ǵ thật là kỳ diệu trong vài thế
kỷ gần đây. Khoa học kỹ thuật tân tiến
đă thay đổi cuộc sống, đem lại cho con
người những kiến thức đúng đắn và nhiều
tiện nghi lợi ích. Khoa học kỹ thuật mở
rộng không gian đưa con người lên cao tận các
hành tinh xa xôi, giúp con người kéo dài đời sống
bằng cách chữa trị những bệnh tật
ngặt nghèo, thay tim ghép phổi...
Điều đáng trách là con người phần đông
chưa đủ khả năng để có thể
hướng dẫn khoa học kỹ thuật trong công
cuộc xây dựng hạnh phúc an lành. Không có ǵ quá đáng
khi chúng ta nói rằng ngày nay khoa học kỹ thuật
phần lớn nằm trong tay những kẻ quân phiệt
tài phiệt và trở thành khí giới độc hại,
phương tiện nguy hiểm cho sự sống c̣n
của loài người.
Không cần
phải bôi đen cuộc sống hiện tại bởi v́
thực tế nó đă không mấy tươi đẹp
rồi. Không kể bom đạn, thuốc độc
giết hại con người trong bao nhiêu cuộc
chiến tranh đây đó, những tệ nạn xă hội
như trộm cướp, hăm hại, tai nạn lưu
thông xe cộ, không khí ô nhiễm, môi trường sinh
sống bị hủy hoại, thất nghiệp, đói
thiếu... và những tai nạn cá nhân gây ra như tự
tử, rối loạn thần kinh, mất ngủ, áp
huyết cao, đau đầu kinh niên... càng ngày càng tăng,
nhất là trong những xứ khoa học kỹ thuật
phát triển.
Sự thật, chúng ta, nhất là những người
sống ở những đô thị cao lớn rùng rợn,
bệnh hoạn, đang sống trong thời kỳ có
rất nhiều ràng buộc đe doạ bên ngoài cũnh
như bên trong. Những sản phẩm thường dùng
của xă hội tiêu thụ như máy truyền h́nh, phát
thanh, phim ảnh thay v́ được dùng để nâng cao,
giải thoát con người, đă hạ thấp và nô
lệ hóa trí thức t́nh cảm con người.
Người ta ăn uống không phải để
sống khỏe, sống vui mà để thỏa măn
luyến ái về mùi vị; mặc áo quần không phải để
khỏi nóng lạnh mà để chưng diện kiêu hănh;
dùng xe cộ không phải để đi lại mà
để khoe khoang, lấn át kẻ khác. Người ta
bị lôi cuốn theo những thị hiếu thấp kém và
chạy theo những lối sống cầu kỳ xa xỉ
để rồi phải mang lấy xiềng xích và
chịu lấy khổ đau.
Nói thế
không có nghĩa là chỉ trích khoa học hay khuyến khích
từ bỏ kỹ thuật. Bởi v́ khoa học là
những phát hiện phù hợp sự thật, có khả
năng nâng cao trí tuệ con người; kỹ thuật,
trong chừng mực nào đó là phương tiện
thiện xảo có thể đem lại lợi ích cho
cuộc sống loài người.
Nguyên nhân
chính của sự không ổn không phải là khoa học
kỹ thuật mà là con người. Con người cho
đến nay chưa đạt được tŕnh
độ văn hóa tốt đẹp, xứng đáng.
Đặc tính của nền văn minh hiện đại
là thác loạn và thiếu quân b́nh. V́ thế con người
dễ dàng bị "tha hóa" và khổ đau. Máy
điện thoại là một phương tiện liên
lạc thông tin rất tiện lợi, song thay v́ dùng nó
để thăm hỏi nói chuyện lại dùng để
chửi mắng nói xấu đe dọa nhau. Văn hóa là
thành quả của giáo dục nghiêm túc. Vốn là
phương tiện đào luyện con người,
thế mà giáo dục học đường ngày nay ở
một số nơi đă trở thành phương tiện
mua bán hay được tổ chức trong tin thần
hẹp ḥi, vụ lợi để đáp ứng nhu
cầu thương mại quá thực dụng của xă
hội tiêu thụ. Người ta chỉ chú trọng
việc đào tạo chuyên viên để phát triển
kỹ nghệ tiêu thụ, mà quên đi việc đào
tạo con người hiểu biết khoa học, yêu thích
nghệ thuật và sử dụng kỹ thuật cho
hạnh phúc con người. Những người lỗi
lạc ngày nay phần lớn là những người
biết nhiều nhưng hiểu ít. Do đó con
người mất đi rất nhiều khả năng
suy tư phán đoán cũng như phát biểu, choáng váng
trước sự rầm rộ của đám đông manh
động, đơn giản hóa sự việc, chấp
nhận nhăn hiệu giả dối và giá trị áp
đặt một cách dễ dàng, đồng hóa mau chóng
với sức mạnh mù quáng và bạo tàn. Bởi yếu
đuối và nghèo nàn như vậy nên con người
tự bằng ḷng co rút trong vỏ ốc bản ngă nhỏ
hẹp, trở nên ích kỷ, thiếu t́nh thương, xem
thường đạo đức, không có lư tưởng,
đầu hàng trước chủ nghĩa thực
dụng; do đó những đức tính cao thượng
lần lần bị phá sản và chỉ c̣n lại
những ác tính thấp hèn. Giáo dục học
đường đă thế c̣n giáo dục gia đ́nh
cũng không có ǵ đáng kể. Cha mẹ bận bịu
với sinh kế khó khăn, thiếu khả năng và
nhất là không có th́ giờ để dạy dỗ con cái.
Có những cha mẹ tuy có lưu tâm đến vấn
đề nầy nhưng kết quả cũng không
được bao nhiêu v́ ảnh hưởng của giáo
dục học đường quá lâu dài mạnh mẽ và
ngôn ngữ h́nh ảnh thác loạn mất quân b́nh của xă
hội qua máy phát thanh, truyền h́nh tràn ngập và ăn sâu
vào đầu óc thơ ngây của trẻ con.
Đến
khi vào đời th́ sự phát triển khả năng
tốt đẹp cá nhân lại càng khó thực hiện. Là
xă hội thương mại tiêu thụ th́ mọi tổ
chức đều chú trọng vấn đề phát
triển vật chất theo nguyên tắc "phóng
dục", "khôn sống bống chết" hay
"mạnh được yếu thua". T́nh trạng
không lành mạnh này thể hiện qua hiện tượng
quảng cáo tốn kém, ồn ào, thấp kém trên các
tường phố, màn ảnh và máy phát thanh. V́ thế
chỉ những người có ư chí vững vàng mới
biết "ḥa mà không đồng" và có thể giữ
ǵn được ít nhiều bản lănh. Phần đông
c̣n lại đều bị thua thiệt và trở nên
mất quân b́nh; dù được sống c̣n th́ cũng
chỉ là những con ốc nhỏ bé trong guồng máy
khổng lồ phức tạp, không t́nh không nghĩa,
bị điều kiện và thao túng bởi những
thế lực tham lam bóc lột, si mê bạo tàn.
Tóm lại,
chúng ta không thể tin tưởng hoàn toàn vào nền giáo
dục của thời đại mới này để phát
triển con người toàn diện và thăng hoa cuộc sống
riêng chung. Lẽ dĩ nhiên chúng ta cũng không nên dại
khờ buông tay để rơi vào vực thẳm tiêu
cực đen tối, mà phải t́m lấy con
đường sống: ấy là con đường
tự giáo dục bằng phương pháp thiền
định, trong mục đích tu dưỡng bản thân,
nghĩa là chuyển đổi tham lam bạo tàn thành
thương yêu giúp đỡ (Bi), si mê lầm lạc thành
giác ngộ sáng suốt (Trí), hèn nhát thụ động thành
tinh tấn quả cảm (Dũng); giáo hóa gia đ́nh
nghĩa là khuyến khích giúp đỡ con cái thân quyến tu
dưỡng như ḿnh, để gia đ́nh có hạnh phúc,
và cải tạo xă hội nghĩa là xây dựng cuộc
sống chung có ḥa b́nh hạnh phúc thật sự.
Có
được tŕnh độ giáo dục như vậy
tức là có văn hóa và xứng đáng là con người.
Nói khác đi, một khi chúng ta đă chọn lư tưởng
đào luyện theo tinh thần giác ngộ giải thoát và có
đủ Bi, Trí, Dũng th́ tự nhiên khoa học kỹ
thuật do chúng ta phát minh và sử dụng sẽ là
phương tiện quư báu để xây dựng hạnh
phúc an lành cho ḿnh cho người.
"Như
nước hồ sâu thẳm
Trong xanh và yên lặng
Cũng vậy khi nghe pháp
Hiền đức được
an tịnh" ( Pháp cú, 82 )
Ngày nay, ngay
cả ở những nước phương Đông có
tiếng là trầm lặng, bảo thủ, cũng không c̣n
giữ được cuộc sống ngày xưa cách
đây nửa thế kỷ. Quan niệm về thiện ác,
đạo đức cũng đă đổi thay. Lối
nh́n người, xét vật không c̣n như trước
nữa.
Đặc
tính chung của đời sống mới chính là sự
ồn ào, vội vàng. Không cần nói đến tiếng
động đau đầu nhức óc của xe
điện, máy bay mà ngay cả âm nhạc ca hát mới
cũng làm cho người ta điếc tai mệt óc. Không
phải chỉ ở ngoài đường, mà ở trong nhà
cũng vậy, tiếng ồn ào bên ngoài vọng vào,
tiếng xe rù, tiếng súng nổ, tiếng la hét từ máy
phát thanh, truyền h́nh inh ỏi suốt ngày suốt đêm.
Sống măi trong không khí ồn ào, người ta không c̣n để
ư rằng sự ồn ào có hại rất nhiều cho
sức khỏe thân thể cũng như tinh thần.
Sống măi với ồn ào, nên lúc nào thần kinh cũng
căng thẳng, tâm trí đần đừ, cộng thêm
những lo âu về tài chính, nghề nghiệp, giao tế,
nên người ta dễ dàng mắc phải những
chứng bệnh hiểm nghèo như mất ngủ kinh niên,
thần kinh rối loạn, áp huyết cao, tim đập
không đều, ung nhọt, lở loét, mệt nhọc
thường xuyên...
Cuộc
sống không chỉ ồn ào mà c̣n vội vàng. Cứ
đứng yên vào một góc phố hay ngă tư nào của
Paris, Tokyo, New York vv... cũng thấy rơ sự rộn
rịp, gấp gáp của những làn sóng người qua
lại vội vàng; mỗi người mang theo ḿnh một
nỗi lo lắng, bất an, bơ phờ mệt nhọc.
Tất cả tạo cho thành phố vốn đă rộn
rịp, hấp tấp, lại thêm nặng nề khó
thở. Ngày nay, những người ở các thành phố
lớn khó mà t́m được một khung cảnh xanh mát
an lành, cũnh như khó gặp được những
người thoải mái vui tươi điềm tĩnh.
Hầu hết những thành phố lớn đều là
những tổng hợp của những ṭa nhà cao ngất
đen nghịt, trong đó người ta chen chúc trong
những gian pḥng hộp quẹt thiếu không khí và màu xanh,
với những gịng xe cộ chạy như thác đổ,
thải ra những hơi khói cay mắt ngột ngạt,
độc hại. Có nhiều đô thị mà ở đó
người ta phải mua dưỡng khí để
thở.
Đời
sống mới ồn ào vội vàng, cộng thêm những
thú vui thấp kém, lại có sức hấp dẫn rất
mạnh với những người hời hợt. Người
ta bị bắt buộc chạy theo tốc độ
của máy móc, tiền bạc để được
sống c̣n. Nhưng trong thực tế, có mấy ai
được sống vui, sống đẹp. Thật là
kỳ quái khi người ta làm lụng quần quật
để sống, song ít có th́ giờ để ăn
ngủ, tṛ chuyện, giao tiếp. Thật là lạ lùng khi
người ta được khoa học kỹ thuật
cung cấp rất nhiều phương tiện sinh
sống và giải trí th́ lại rất ít người
được sống khỏe sống vui. Sau một ngày
làm việc và di chuyển, người ta thường
mệt nhoài, không c̣n tha thiết đến ăn uống,
tṛ chuyện. Đó là chưa nói đến tai nạn
ồn ào vội vàng qua nẻo phát thanh truyền h́nh, luôn
luôn lôi cuốn và đe dọa con người. Cuộc
sống bên ngoài khó thở thác loạn được phim
ảnh thu hẹp rút ngắn. Loại phim ảnh diễn
tả t́nh yêu vội vàng, rắc rối, hành động
giận dữ tàn bạo, ảnh hưởng rất
mạnh những tâm ư mệt nhọc của con người,
ngay cả trong giấc ngủ. Cuộc sống mới và
phim ảnh rẻ tiền làm cho con người mất
đi sức suy nghĩ, phán đoán và quyết định,
nhất là sức tập trung của tâm trí ngày càng yếu,
năng suất làm việc ngày càng giảm đi.
Người ta trở nên dễ dàng chấp nhận, nóng nảy,
cau có, la lối, gây gỗ. Người ta cũng dễ dàng
đau đầu, mệt mắt, tức ngực, giấc
ngủ đầy ác mộng... Nghĩa là người ta
phải sống thường xuyên trong Stress.
Những
triệu chứng sức khỏe hao ṃn, thần kinh suy
nhược này, chứng tỏ rằng con người
của thời đại mới cần được
nghỉ ngơi và tỉnh dưỡng. Như vậy,
sự an tịnh của cả tâm lẫn thân quả
cần thiết và rất quư báu. Do đó, các tổ chức
xă hội và y tế cần lưu ư đến vấn
đề dưỡng sinh, bằng cách giúp con người
xa bớt sự ồn ào vội vàng, sống gần thiên
nhiên. Điều quan trọng vẫn là mỗi cá nhân
phải biết quư trọng sự sống của ḿnh,
bằng cách tự tạo cho ḿnh một cuộc sống
riêng, an tịnh, quân b́nh. Hễ lúc nào có dịp tốt hăy
cố gắng ra khỏi thành phố, bớt thấy, nghe,
những h́nh ảnh tiếng động thác loạn, không
la hét vô ích, bớt nói năng ồn ào, tập sống theo
nguyên tắc "yên lặng là vàng". Sự tĩnh
lặng nơi cảnh vật và trong tâm hồn giúp chúng ta
tăng cường sức khỏe, nghị lực.
Nhờ sống trong tĩnh lặng chúng ta mới có dịp
xem xét rơ ràng và chế ngự t́nh cảm, tư
tưởng, và nhất là khám phá và phát triển khả
năng sáng tạo. Nếu phải sống trong thành phố
với cuộc sống ồn ào vội vàng, chúng ta cũng
nên giữ ǵn an tịnh và thanh thoát trong tâm ư dù chỉ trong
năm, mười phút, vài lần trong một ngày cũng
quư.
Thiền
định là phương pháp tu dưỡng thích hợp
giúp chúng ta sống trong an tịnh hoàn toàn.
"Người
tâm ư an tịnh
An tịnh cả ngôn, hành
Giải thoát bởi chánh trí
Luôn luôn được tĩnh
lạc" ( Pháp cú, 96 ).
"Người
hăy tự cố gắng
Như Lai chỉ dẫn
đường
Ai vào đạo tu thiền
Giải thoát khỏi lưới
ma." ( Pháp cú 276 )
Thiền
định là phương pháp tu dưỡng dành cho
những ai muốn thực hiện giác ngộ giải
thoát. V́ thế, muốn đạt được mục
đích cao đẹp ấy, hành giả phải chuẩn
bị thật chu đáo. Trước hết xin nói về
chuẩn bị tinh thần.
1 -
Hướng về giác ngộ.
Hành giả
nên ư thức rằng tất cả khổ đau phiền
lụy trong cuộc đời mà con người phải
chịu, phần lớn do vô minh nơi chính ḿnh gây nên. Vô
minh nghĩa là si mê lầm lạc đối với sự
thật thông thường cũng như đối với
đạo lư. Nay muốn thoát khỏi khổ đau,
trước hết, tự ḿnh phải hướng về
giác ngộ rồi mới tiến tới việc thực
hiện giải thoát. Không nên đặt ḷng tin vào bất
cứ người nào hay thần linh nào không giác ngộ mà
chỉ nên nương tựa vào các bậc giác ngộ hoàn
toàn, có đủ phẩm chất và giá trị lịch
sử chứng minh. Phật Gotama hay Thích Ca Mâu Ni là một
người như chúng ta, nhưng đă do tu tập
thiền định mà trở thành bậc giác ngộ hoàn
toàn, và phương pháp thiền định do Phật
chỉ dạy đă được chứng nghiệm qua
ḍng lịch sử lâu dài hơn 2500 năm. Xem Phật
như h́nh ảnh lư tưởng giác ngộ tức là
tự tin vào khả năng giác ngộ chính nơi bản
thân chúng ta. Tin Phật tức là tự tin mà không hề
bị tha hóa. Tin Phật cũng c̣n có nghĩa tin rằng
ḿnh có thể giác ngộ như Phật. Và do đó khả
năng giác ngộ nơi ḿnh được phát khởi và
nâng cao.
2 -
Học hỏi đạo lư như thật.
Thiền
định là lối sống đạo phù hợp với
chân lư do Phật thuyết minh, cho nên muốn tu tập
thiền định một cách đúng đắn và
rốt ráo chúng ta cần phải học hỏi đạo
lư của Phật, ít nhất là những giáo lư căn
bản. Nếu không gặp được minh sư
chỉ dạy trực tiếp th́ có thể học hỏi
qua kinh điển. Lẽ dĩ nhiên nên đọc tụng
các kinh điển nói về thiền định hay liên
hệ thiền định. Có người, nhờ tuệ
căn đặc biệt, tuy không biết văn tự song
vẫn thông hiểu chân lư như tổ sư Huệ Năng.
V́ thế không nên lầm lẫn chân lư với văn tự.
Nếu dùng phương tiện văn tự để
thấu triệt chân lư rồi quên văn tự đi th́
cũng không có ǵ trở ngại cho việc tu tập
thiền định. Ví dụ có thể nhờ tụng kinh
Chuyển Pháp Luân mà hiểu rơ Bốn chân lư vi diệu th́ chúng
ta biết chắc rằng thiền định là một
trong ba điều học (Giới, Định, Tuệ) và
thuộc về chơn lư vi diệu thứ tư và cũng
là Trung đạo sanh ra sự thấy sự hiểu và
đưa đến an tịnh, thắng trí giác ngộ,
Niết bàn. Thiếu kiến thức căn bản về
đạo lư của Phật, chúng ta dễ lạc vào
thiền ngoại đạo với những lư thuyết có
vẻ ly kỳ, hấp dẫn song không có phẩm chất
giác ngộ, có thể đưa hành giả đến
chỗ điên loạn.
Có
người đă sáng tạo ra "Zen catholique"
để thích nghi với thời trang song không thể xem
đó là thiền định của đạo Phật v́
nó không phù hợp với đạo lư Duyên khởi, Vô ngă, Vô
thường. Như vậy, có
hiểu đạo Phật th́ mới có thể hành
thiền Phật, c̣n không th́ chỉ hành thiền
phàm phu hay thiền ngoại đạo mà thôi.
3 -
Cần có minh sư thiện hữu.
Học
hỏi kinh nghiệm về thiền định qua kinh sách
vở chưa đủ, hành giả c̣n cần phải
được các vị minh sư trao truyền và ấn
chứng cho. Muốn đi sâu vào thiền định, hành
giả nên thân cận một thiền sư vừa tinh thông
đạo lư vừa chuyên tu thiền định để
cậy làm bổn sư. Trường hợp đă có
bổn sư nhưng bổn sư không chuyên tu thiền
định th́ có thể thân cận một thiền sư
khác. Nếu nơi ḿnh sinh sống không có thiền sư th́
có thể nhờ sự giúp đỡ trực tiếp
của đạo hữu có kinh nghiệm về tu tập
thiền định. Song cũng nên cố gắng t́m cho
được một thiền sư dể thỉnh
thoảng được tham vấn trực tiếp
hoặc gián tiếp, chính thiền sư, sau khi quan sát
căn cơ của thiền sinh, giúp đỡ thiền
sinh lựa chọn phương pháp hay chủ đề
thiền định, chỉ dạy cách thức thực
hành, thường xuyên nhắc nhở, giải quyết
những thắc mắc hay trở ngại trong lúc tu
tập thiền định. Với phương tiện
truyền thông hiện đại, việc nầy có thể
thực hiện dễ dàng. Có thể tóm tắt các ư trên vào
những bài kệ do Phật nói ra sau đây:
"Ai
nương tựa đức Phật
Chánh pháp và Tăng đoàn
Thấy rơ bốn chơn lư
Bằng trí tuệ chơn chánh
Thấy
khổ và nhân khổ
Thấy khổ bị tiêu diệt
Và thánh đạo tám nẻo
Th́ sẽ được hết
khổ
Ấy
là nơi nương tựa
An ổn và cao nhất
Nếu nương tựa như
thế
Mới giải thoát khổ
đau" ( Pháp cú, 190-191-192
)
4 -Nếp sống đạo đức.
"Không
làm các điều ác
Thành tựu mọi việc lành
Thanh tịnh tâm ư ḿnh
Là đạo lư các Phật"
( Pháp cú, 183 )
Khi đă có
lư tưởng Phật giáo dẫn đạo, người
muốn tu thiền định cần xây dựng cho ḿnh
một nếp sống đạo đức. Đạo
đức nhà Phật lấy giới luật giải thoát
làm nền tảng và đạo lư như thật làm kim
chỉ nam. Những quan điểm sau đây có thể tóm
tắt được tinh thần đạo đức
nhà Phật:
a
- Con người vốn có tự do hay ư chí trong sự
bỏ ác làm lành.
b
- Sanh mạng sau khi chết c̣n tái sanh và lưu chuyển, do
đó ḍng nhân quả hay nghiệp báo vẫn tiếp tục
diễn tiến.
c
- Con người là một tổng hợp tâm vật lư
(năm uẩn) luôn luôn biến đổi cho nên con
người và cuộc sống có thể được
thăng hoa và thanh tịnh hóa.
d
- Nơi mỗi chúng sanh, khi phiền năo bị tiêu diệt
th́ đau khổ không c̣n và an vui tự tại hiện ra.
Tinh thần
đạo đức như vậy thật là vững
chắc để cho chúng ta nương theo trên con
đường cao đẹp mà thăm thẳm của tâm
linh.
Có
người nói rằng tu thiền không cần giới
luật, đạo đức. Ấy là chủ
trương sai lầm và cũng là sự hạ giá
thiền định. Tu thiền mà không bắt đầu
từ đời sống đạo đức là tu
thiền ma chứ không phải tu thiền Phật v́
hầu hết phương pháp tu hành trong đạo
Phật bất cứ hệ phái nào, cũng căn cứ
theo ba học: Giới, Định, Tuệ. Giới bao
giờ cũng là căn bản để tu Định và
phát Tuệ, như Phật dạy: "Bắt
đầu của các cảnh thiền cao hơn là ǵ?
Sự thanh tịnh hoàn toàn của giới."
(Tương ưng bộ, V, 143).
Giới
luật không phải là những điều răn cấm
của thần thánh, những sự kiêng cử mê tín dị
đoan mà là kỷ luật cao đẹp hướng
dẫn chúng ta sống theo đạo đức, nhằm
xây dựng an lành cho ḿnh và cho người. Do đó muốn
đạt được giác ngộ giải thoát bằng
phương pháp thiền định không thể không
trừ bỏ những tập quán xấu ác và phát triển
những hành động lành ích theo giới luật.
Như
chơn lư vi diệu thứ hai thuyết minh: Nhân khổ là ái
dục, mà ái dục là lửa cháy và hành động xấu
ác là nhiên liệu. Ái dục lớn mạnh là do sự tái
phạm các tội ác. Do giận dữ người ta
chửi mắng, đánh đập kẻ khác. Sau mỗi
lần chửi mắng, đánh đập, các tâm không sân,
hổ thẹn... (gọi tắt là lương tâm) không c̣n phản
ứng mạnh mẽ như lần đầu tiên và chúng
yếu dần. Một ngày kia, khi không c̣n tự chế
được nữa th́ người ta có thể giết
hại một người, rồi nhiều người.
Như
vậy, không thể nào giải thoát an vui nếu chúng ta không
dập tắt lửa ái dục bằng cách bớt dần
rồi vứt bỏ nhiên liệu (nghiệp ác).
Giới
luật có hai mặt: tiêu cực - trừ bỏ những
điều xấu ác, tích cực - thực hiện
những việc tốt lành. Ví dụ giới "không
giết hại" được diễn tả một
các đầy đủ như sau: "Nó
không chém giết, quăng bỏ gậy và kiếm (tiêu
cực), đầy ḷng từ bi, nó sống v́ phúc lợi và
hạnh phúc của tất cả chúng sinh (tích cực)."
(Trường bộ, I, 63).
Hầu
hết giới luật nhà Phật đều có mục
đích giảm bớt hoặc diệt trừ những
điều xấu ác phát xuất từ tham lam, giận
dữ, si mê, phát triển và tích lũy những điều
tốt lành phát xuất từ nhân từ, lợi tha,
giác ngộ.
Thật là
khó cho những người đắm say dục lạc,
thích sống trong ác mộng mà trong phút chốc có thể yên
tâm tu thiền. Không nói đến sự loạn
động, bất an mà ngay hối hận, ray rứt
cũng là trở ngại cho sự tập trung tư
tưởng trong bước đầu của chỉ quán.
Giới luật giúp chúng ta không những khỏi rơi
xuống hố sâu, vực thẳm của tội ác mà c̣n
rửa sạch phiền năo, đem lại an vui. Giới
luật cũng giúp chúng ta tránh khỏi tên độc
hối hận như Phật dạy: "Này
Ananda, ích lợi của giới hạnh là không hối
hận." (Tăng chi bộ, V, 1). Nếu không
giải thoát tâm ư ra khỏi ràng buộc của phiền năo
th́ không thể nào nâng cao tâm trí được.
5 -
Giữ ǵn giới luật.
Có thể
nói rằng tất cả lời dạy của Phật liên
hệ đến vấn đề giải thoát con
người đều là giới luật. Song vẫn có
những giới điều đặc biệt, cũng do
chính Phật chế ra cho từng loại người có
tŕnh độ dấn thân và kinh nghiệm tu dưỡng
khác nhau. Tổng quát th́ có hai thứ giới luật:
giới luật của người xuất gia và giới
luật của người tại gia. Giới luật
của người xuất gia, nhất là giới bổn
của tỳ kheo và tỳ kheo ni, với nhiều giới
điều chi tiết rất thuận ích cho việc tu
thiền. - đây chỉ bàn đến giới luật cho
người tại gia liên hệ với thiền
định v́ nó là căn bản và điển h́nh cho
phần đông người muốn tu thiền
nhưng phải sống với đời. Giới
luật của người tại gia th́ có năm giới
và tám giới.
Năm
giới:
-
Không giết hại
- Không trộm cướp
- Không tà hạnh
- Không dối trá
- Không dùng rượu và thuốc làm
say loạn.
Trong năm
giới, bốn giới đầu là những giới
căn bản, nếu phạm tức là có "tội".
C̣n giới thứ năm là giới có tính cách ngăn
ngừa sự phạm tội, song nếu không giữ ǵn nó
th́ khó mà giữ ǵn các giới căn bản kia. Vả
lại, nếu tâm ư say loạn th́ không thể nào tu
thiền được. Thật khó cho những
người quen uống rượu mạnh và dùng các
loại thuốc kích thích có thể đạt
được hiệu quả trong việc tu thiền.
Hơn nữa, một người luôn luôn phạm năm giới
không phải là một người b́nh thường.
Chưa phải là người b́nh thường th́ không
thể trở thành người "phi thường".
Trong thực tế, nếu một người b́nh
thường sống theo năm giới th́ có thể dễ
dàng tu thiền. Song nếu muốn chứng đạt
được hiệu quả trong sự tu thiền th́ nên
giữ ǵn tám giới, nhất là trong những ngày trai
giới đặc biệt.
Tám giới:
-
Không giết hại
- Không trộm cướp
- Sống phạm hạnh
- Không dối trá
- Không dùng rượu và thuốc làm
say loạn
- Không ăn trái thời
- Không múa hát xem nghe và trang sức
- Không nằm giường cao
đẹp
Trong tám
giới, hai giới đầu giống hai giới
đầu của năm giới, giới thứ ba giúp cho
thiền sinh dồn năng lực vào việc thiền quán.
Giới thứ tư và thứ năm th́ giống năm
giới. Giới thứ sáu giúp thiền sinh không bị
đần đừ và hôn trầm v́ ăn quá nhiều,
nhất là sau giờ ngọ. Giới thứ bảy giúp cho
thiền sinh không bị tán loạn tinh thần. Giới
thứ tám giúp thiền sinh bớt sự ngủ nghỉ
buông lung.
Tám giới
này là căn bản cho đời sống tu dưỡng
thanh tịnh. Chúng giúp cho thiền sinh, nếu chưa
xuất gia tạm thời trừ bỏ tham đắm
dục lạc phiền lụy, tán loạn để cho tâm
ư an tịnh mà tu thiền.
Khi đă có
một nếp sống giới luật thanh tịnh,
người muốn tu thiền nên hội những
điều kiện vật chất thế nào để
việc tu thiền được thuận ích. Mỗi
người mỗi cảnh do đó các bạn tùy theo
khả năng và hoàn cảnh tự quyết định
lấy công việc chuẩn bị này. Dù sao những
chỉ dẫn đại cương sau đây vẫn là
cần thiết:
1 -
Nơi chốn tu thiền.
"Vui
thích thay núi rừng
Phàm phu th́ không ưa
Người giải thoát lại
thích
V́ không t́m dục lạc" (
Pháp cú, 99 )
"Làng
mạc hay rừng cây
Đồng bằng hay núi cao
Chỗ nào la-hán ở
Đều là nơi tịnh
lạc." ( Pháp cú, 98 )
Thiền
viện là nơi thích hợp nhất, bạn có thể t́m
những thiền viện gần nơi ḿnh ở và
đến đó trong những dịp nghỉ để tu
thiền. Cảnh trí thanh tịnh, không khí an lành, sẵn
thầy có bạn, bạn có thể tinh tấn dễ dàng và
thành tựu mau chóng.
Viện
Phật học Nâlandâ (Bihar - Ấn độ) nay chỉ c̣n
lại những nền gạch, gồm có nhiều
thiền viện. Trong mỗi thiền viện, ở
giữa là giảng đường, nơi trao đổi
kinh ngiệm giữa thiền sư và thiền sinh, chung
quanh là thiền pḥng cá nhân. Lối xây dựng của
thiền viện này vừa tạo được cuộc
sống ḥa hợp giữa thầy tṛ, bạn bè, vừa
giữ được sụ yên tĩnh cho mỗi cá nhân.
Nhiều thiền viện ở Nhật bản, với
những thiền đường quá rộng lớn
chỉ chú trọng đến những khóa thiền tập
thể cho hàng trăm, hàng ngàn người, trong khi đó các
thiền thất hay cốc riêng lẻ ở Việt nam th́
quá chú trọng đến cá nhân, không giúp thiền sinh có
cơ hội lănh thọ kinh nghiệm nơi thầy
bạn.
Điều
cần lưu ư, ở Việt Nam nhiều chùa
được xây dựng với mục đích phục
vụ lễ bái cho thập phương nên không thích hợp
cho việc tu thiền. Các thiền sư thường khuyên
các tăng sĩ chuyên tu thiền không nên thường trú
ở các chùa lớn, công việc bề bộn, nhiều
người lui tới rộn ràng.
Ở các
nước vùng nhiệt đới, các ẩn sĩ
thường sống trong rừng và tu thiền dưới
gốc cây. Nhưng ở xứ lạnh việc tu thiền
dưới rừng cây chỉ có thể thực hiện
trong những tháng hè thu. Các bạn có thể lựa chọn
một khu rừng khoảng khoát, không ruồi muỗi, ít
người lui tới, để thiền quán trong
những ngày nắng ráo đẹp trời. Cây cối xanh
mát, không khí trong lành của núi rừng giúp các bạn dễ
dàng tịnh tâm và thiền quán. Chính Phật tổ ngày
xưa rất thích và ca ngợi cảnh núi non hùng vĩ, xanh
mát của núi Linh thứu ở Ấn độ. Trúc lâm
(Veluvana) dưới chân núi, bên suối nước nóng,
ở ngoài thành Vương xá cũng là nơi Phật đă
sống với các đệ tử và tu thiền ở
đó nhiều năm. Trúc lâm vùng Paris cũng là một
cảnh đẹp thuận ích cho việc tu thiền. Do
đó nhiều khóa thiền dưỡng sinh đă
được tổ chức tại đây.
"Dưới
rừng thông
Mấy mươi người
ngồi
Không một tiếng động
Thiền"
(Thiện Châu 81)
Ngoài ra, các
Phật tử tại gia chuyên tu thiền nên sắp xếp
thế nào để ngay nơi ở của ḿnh có một
căn pḥng nhỏ thanh tịnh trang nghiêm, trống trải,
giản dị để có thể thiền quán hằng
ngày. Trong thiền pḥng không nên bày biện quá nhiều
đồ thờ, tranh ảnh. Một tượng hay tranh
Phật, một bát hương, hai chân đèn sáp và một
lọ hoa là đủ. Các thiền sư thường nói: "Phật trong nhà không thờ, thờ
Thích ca ngoài đường." Song h́nh
tượng Phật tổ vẫn là một trong nhiều
nhân duyên phát khởi khả năng giác ngộ (phật tính)
trong mỗi chúng sinh. Do đó, thiền sinh nên thờ
Phật và thường đọc những kinh sách
thuộc chánh pháp để học hỏi kinh nghiệm giác
ngộ giải thoát của Phật tổ.
Thiền
sinh không những phải lựa chọn nơi chốn
thích hợp cho việc tu thiền mà c̣n phải lựa
chọn môi trường sinh sống. Môi trường sinh
sống có ảnh hưởng rất nhiều trên việc
tu thiền. Trong nghĩa hẹp, môi trường dinh
sống là nhà ở của ḿnh và của gia đ́nh. Một
ngôi nhà trên mảnh vườn có cây cối, ao nước,
xa đường xe chạy nhiều, gần cảnh
vật thiên nhiên, đó là nơi ở lư tưởng
của thiền sinh. Song nếu không có điều kiện
thực hiện được th́ nên xếp đặt
trong nhà thế nào để được thoải mái và
có nhiều hứng thú tu thiền. Đồ đạc
lộn xộn, trang trí rườm rà, không khí nặng
nề, âm thanh náo loạn là những trở ngại lớn
cho việc tu thiền. Môi trường sinh sống
ở đây c̣n có nghĩa là xă hội hay phạm vi sinh
hoạt của thiền sinh. - những xứ phương
đông, nhất là những xứ có văn hóa Phật giáo,
tuy vật chất có thiếu thốn, song đời
sống tâm linh được xem nặng là nơi có
nhiều thiền viện thanh tịnh, nhiều thiền
sư giàu kinh nghiệm, chánh pháp đuợc phổ biến
và dân chúng thường bàn đến thiền định.
Nhờ thế mà thiền sinh được khuyến khích
và dễ tiến bộ.
Trái lại
ở các nước Âu Mỹ, phương pháp thiền
định vẫn c̣n bị nghĩ sai, bị xuyên tạc
và bị xem như lối tu thần bí xa lạ có tính
chất mê tín dị đoan. V́ thế mà nhiều thiền
sinh phải kín đáo trong sự tu tập để
khỏi bị người chung quanh hay trong gia đ́nh phê
b́nh chỉ trích, nhạo báng.
Như
vậy, nếu sống ở những nơi không có
thiền viện, thiền sư và thiền hữu th́
thiền sinh nên tạo cơ hội để
được sống một thời gian ngắn trong các
thiền viện hay ít nhất được tham dự các
khóa thiền để được hướng dẫn
đúng đắn và thấm nhuần thiền phong,
thiền vị.
"Xuyên
lá, nắng vàng reo
Chim hót, thông già reo
Người thiền trên lưng
đá
Chung quanh giây hoa leo."
(Thiện Châu 81).
2-
Thức ăn và nước uống.
Người
ta thường nói: "Có thực
mới vực được đạo."
Phật cũng minh xác rằng: "Tất
cả hữu t́nh đều nhờ thức ăn mà
sống c̣n." V́ thế, thiền sinh muốn
sống c̣n để thực hiện lư tưởng
cũng phải ăn nhưng không tham ăn hay thích ăn.
Tuy nhiên, thức ăn không phải chỉ có một thứ
mà có đến bốn thứ: Đoàn thực: đồ
ăn thức uống có chất dinh dưỡng, Xúc
thực: sự tiếp xúc của các giác quan đối
với cảnh vật và con người, Tư thực: ư
chí muốn sống c̣n và vươn lên, Thức thực: tâm
thức gồm nghiệp lực. Những thức ăn này
đều có chức năng nuôi sống thân mạng.
Ở
đây chúng tôi chỉ bàn về thức ăn thứ
nhất mà chính Phật, sau những năm khổ hạnh
ép xác bỏ ăn uống, thân thể tiều tụy, tinh
thần suy yếu, đă dùng trở lại và nhờ đó
mới đủ sức khỏe và tiến tới giác
ngộ hoàn toàn. Như vậy, chủ trương tuyệt
thực lâu ngày để tu thiền và để
đắc đạo là chủ trương sai lầm và
nguy hiểm.
Ngày xưa,
Phật và các đệ tử xuất gia sống theo
lối khất thực nên ăn tất cả những ǵ
do dân chúng cúng dường, trừ thịt sống và
đồ ăn nấu bằng thịt cá mà ḿnh thấy,
nghe và nghi người khác giết v́ ḿnh. Ngày nay, tăng
sĩ Phật giáo ở các xứ theo đạo Phật
nguyên thủy như Tích lan, Miến điện, Thái Lan, Cam
pu chia, Lào... Phần lớn vẫn c̣n giữ lối
sống khất thực. Người cư sĩ ở các
xứ này dùng tất cả thức ăn như dân chúng ngay
cả trong những ngày trai giới.
Chỉ có
phật tử ở các xứ theo đạo Phật
đại thừa như Việt Nam, Trung Quốc,
Triều tiên... mới ăn chay. V́ phát triển ḷng từ
bi, nhất là các tăng sĩ sống trong các tu viện,
chùa chiền phần nhiều tự túc lấy vấn
đề ăn uống th́ lại càng nên ăn chay
để tránh sát sinh và nhận thịt cá sống. Các
phật tử tại gia th́ nên ăn chay kỳ tức là
ăn chay 2, 4, 6 hay 10 ngày mỗi tháng hoặc 1 hay 3 tháng
mỗi năm.
Đối
với thiền sinh, ăn mặn hay ăn chay không phải
là quan trọng lắm, mà quan trọng là vấn đề "thanh tịnh hóa tâm ư". Dù
sao, ngày nay thiền sinh, nhất là tăng sĩ sống theo
lối tự túc trong tự viện chùa chiền và cư
sĩ trong những ngày trai giới đặc biệt th́
th́ ăn chay với tinh thần không cực đoan như
Devadatta (Devadatta chủ trương ăn chay v́ phe phái và
để chống Phật) th́ vẫn tốt hơn
bởi v́ ăn chay th́ dễ phát triển ḷng từ bi,
nhất là trong khi tu tập về chủ đề "phát triển từ bi" (mettâbhavana):
"Bỏ
gậy với chúng sanh
Yếu kém hay mạnh mẽ
Không giết, không bảo giết
Ấy là bậc hiền
triết." ( Pháp cú, 405 )
Không
những thế, trong các thức ăn từ thực
vật rất giàu các chất dinh dưỡng như gluci,
protit, chất xác cellulose và sinh tố. Hơn nữa
chất đạm nơi thức ăn chay ít độc
hơn chất đạm trong đồ ăn mặn, và
chất đạm chay giúp thiền sinh có sức khỏe và
dẻo dai. Khi nấu chay không nên dùng nhiều đồ gia
vị mạnh. Có thể dùng sữa và các thức ăn làm
từ sữa song chỉ nên dùng vừa phải khi cần
thiết.
Dù ăn chay
hay ăn mặn cũng nên tiết độ trong sự
ăn uống: Không nên ăn quá nhiều lần và quá no. Nên
ăn nhẹ vào buổi sáng.Ăn đủ vào buổi
trưa. Về buổi chiều nên uống nước có có
đường mật trái cây. Nếu ở xứ lạnh
chịu đói không nổi th́ có thể dùng cháo, xúp, trái cây
hay các thứ hột. Buổi tối, nếu ăn quá no th́
thân thể nặng nề uể oải, tinh thần
đần đừ, tŕ trệ, dễ buồn ngủ khó
mà tu thiền được.
Về
thức uống th́ tuyệt đối không nên dùng
nước uống có tửu tinh. Cà phê kích thích rất
mạnh nếu chưa ngừng được th́ nên
uống rất ít. Trà nếu uống vừa phải th́ tinh
thần minh mẫn. Nếu có thể nên uống một hai
chén trà trước khi ngồi thiền.
Về
thuốc lá th́ nên bỏ hút nếu muốn thâu hoạch
kết quả tốt trong sự tu thiền. Ngoài ra,
tuyệt đối không nên dùng các thứ thuốc uống,
hút hay chích làm cho tinh thần tuy được sảng khoái
trong một thời gian ngắn nhưng sau đó th́ lại
bị mệt mỏi, đần đừ, say loạn.
3- Cách
ngồi đứng đắn.
Phật
ngồi thiền dưới gốc bồ đề,
lưng xây về phía thân cây, mặt hướng ra bên ngoài
do đó khi sao mai mọc th́ Phật nh́n thấy và chứng
Lậu tận minh - giác ngộ hoàn toàn. Tổ sư
Bodhidharma th́ ngồi trong động núi xoay mặt vào vách
đá. Chúng ta có thể ngồi thiền trong núi, giữa
rừng, ở nhà, trước bàn thờ Phật...
Trước khi ngồi thiền hăy trải tọa cụ
rồi ngồi trên gối thiền và xếp chân lại
theo kiểu hoa sen như Phật. Không nên ngồi giữa
gối thiền mà ngồi thế nào đề hai
đầu gối chạm trên tọa cụ và bàn tọa
chạm trên một phần gối thiền. Nếu chân
mềm mại th́ ngồi kiết già: để chân
phải trên vế trái và chân trái trên vế phải. Cách
ngồi này hơi khó cho người lớn tuổi,
nhất là người phương tây mới tu thiền.
Lúc đầu mới ngồi th́ toàn thân đau rần, hai
chân tê lạnh v́ máu chảy không đều, song về sau
th́ thoải mái, vững vàng, nhất là có thể ngồi lâu
mà thân thể không lay động và tâm ư dễ tập trung.
Nếu
chưa ngồi được kiết già th́ hăy tập
ngồi bán già: để chân trái trên vế phải. Cách
ngồi này dễ tập hơn. Trong truường hợp
hai chân vẫn c̣n đau th́ có thể chèn vào giữa hai chân
một miếng vải mềm nhẹ và thỉnh thoảng
có thể thay đổi chân.
Sau khi đă
xếp hai chân một cách ổn thỏa, hăy thẳng
lưng và đặt bàn tọa vững vàng trên gối
thiền. Giữ cổ cho thẳng và dựa cằm vào bên
trong. Ngậm miệng lại và đừng để
một khoảng không khí nào trong miệng. Đưa
lưỡi lên đụng với hàm trên. Ngẩng
đầu về phía trần nhà. Buông hai vai cho thoải mái.
Hai cánh tay thơng xuống một cách tự nhiên. Để bàn
tay phải lên trên bàn tay trái sao cho hai ngón cái hơi ngẩng
lên chạm vào nhau (về cách để hai bàn tay có sự
khác nhau tùy theo hệ phái thiền. Song cách để tay trên
đây là truyền thống Phật giáo nguyên thủy.
Hầu hết các tượng Phật xưa ở Ấn
độ, Tích Lan đều để bàn tay phải trên
bàn tay trái.) Hai cổ tay thẳng hàng với lỗ rốn.
Mắt nhắm nhẹ hay mở vừa vừa và nh́n
xuống xa không quá 7 tấc hay nh́n vào tường. Làm
thế nào để có cách ngồi vững vàng xem từ bên
ngoài như trái núi nhưng bên trong thân thể th́ các thớ
thịt hoàn toàn thư thái.
4-
Gạn lọc tâm ư.
Sau khi đă
chuẩn bị đầy đủ điều kiện,
thiền sinh tiến tới việc giữ ǵn tâm thức
an tĩnh, ít nhất là trong lúc ngồi thiền vào giờ
nhất định hằng ngày. Chỉ khi nào tâm thức
không bị những cảm giác, cảm t́nh không lành quấy
nhiễu th́ thiền sinh mới có thể an tịnh và sáng
suốt.
Những
cảm giác cảm t́nh không lành ẩn núp dưới đáy
sâu của tâm thức và thường hiện khởi
một cách đột ngột mà lặng lẽ. Nếu
không nhận thấy và loại trừ ngay khi chúng mới
hiện khởi th́ chúng nẩy nở mau chóng, ḅ lan khắp
nơi và che lấp mặt đất tâm thức, không
để cho một loại hoa thơm cỏ đẹp
nào có thể mọc lên.
Khi tâm
thức an tịnh sáng suốt th́ cảm giác, cảm t́nh
không lành mạnh không hiện khởi; ngược lại
khi cảm giác, cảm t́nh không lành mạnh không hiện
khởi th́ tâm thức an tịnh sáng suốt.
Những
cảm giác cảm t́nh không lành không những chỉ hoạt
động tích cực trong phạm vi tâm thức mà c̣n
đi xa hơn: thúc đẩy lời nói và hành động
theo chiều hướng xấu mà kết quả là đem
lại tai hại, khổ đau cho người cho ḿnh.
Nếu bị chúng quấy nhiễu, thiền sinh sẽ
loạn động và trở nên tiêu cực. H́nh ảnh con
"khỉ điên" tham ăn trái cây nhảy nhót hết
cành này sang cành khác và khi quá mệt th́ nằm xoài xuống
đất để cho người thợ săn bắt
giết có thể lấy làm một ví dụ cho thiền
sinh không thể chế ngự được sự
quấy phá của những cảm giác cảm t́nh không lành.
Không biết rơ điều này, người ta thường
cho là hiện tượng "tẩu hỏa nhập ma"
hay "Ma vương thử thách".
Phật cho
biết có năm thứ ràng buộc và ngăn che
đối với thiền sinh, thường gọi là 5
triền cái (Nirvarana). Nếu không diệt trừ chúng th́
thiền sinh không thể thành tựu được tĩnh
chỉ (samatha) và tuệ quán (vipassana):
"
Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời,
sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm
hết tham dục. Từ bỏ sân hận, ḷng từ
mẫn thương xót tất cả hữu t́nh, gột
rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm
thụy miên, hướng về ánh sáng, chánh niệm tĩnh
giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên.
Từ bỏ loạn động lo lắng, vị ấy
sống không trạo cử hối tiếc. Từ bỏ
nghi ngờ, vị ấy sống thoát ly khỏi nghi
ngờ. Không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm
hết nghi ngờ đối với thiện pháp."
(Trung bộ kinh).
Như
vậy có năm triền cái là những trở ngại
cần phải diệt trừ để tiến tới
thiền quán. Năm triền cái ấy là:
1-
Tham dục (kâmacchanda) : Đắm say những thứ vui
qua các giác quan và ư thức (mắt, mũi, tai, lưỡi,
thân và ư), nếu không chế ngự được nó th́
thiền sinh không thể thiền quán. Ví dụ trong khi
ngồi thiền, sự đắm say mùi thơm của hoa
lôi kéo thiền sinh ra khỏi sự chú tâm vào hơi thở
rồi dẫn dắt vào cảnh giới ma vương. Do
đó khi nhận thấy sự có mặt của tham
dục nơi tâm, thiền sinh lập tức quán niệm
về sự bất tịnh (không sạch, không đẹp)
của thân thể và của sự vật để
đối trị.
2-
Sân hận (vyapâda) : Giận dữ thể hiện qua
nhiều h́nh thức như tức tối, hờn lẫy,
hận thù... lúc ngồi thiền, hoặc do nhớ lại
những lời nhiếc mắng nào đó mà tức
giận; tức giận làm cho thiền sinh nóng nảy,
bực bội, khó chịu, và mất b́nh tĩnh để
thiền quán. Khi biết sân hận có mặt, hăy đề
khởi từ bi quán (tư tưởng hiền lành,
thương yêu và giúp đỡ) để đối
trị.
3-
Hôn trầm thụy miên (thana-middha) : Trạng
thái đần đừ ngây ngủ khi tâm thức quá
mệt nhọc, làm cho thiền sinh có thể trở nên
biếng nhác, uể oải, tối tăm rồi ngủ
thiếp đi. Nếu nhận thấy ḿnh không tỉnh táo,
sáng suốt và thiếu hứng thú thiền quán th́ nên mở
mắt hướng về ánh sáng đồng thời
đề khởi những tư tưởng tích cực,
sự vui thích thiền quán để đối trị.
Nếu không thấy có kết quả th́ hăy đứng
dậy rửa mặt, uống trà rồi đi thiền
hành, vừa đi chậm răi vừa chú tâm và nhịp nhàng
với hơi thở ra hơi thở vào vừa tuệ
quán.
4-
Loạn động lo lắng (uddhacca-kukkucca) : Pḥng túng,
giao động, tâm ư chạy rong, nhảy từ đối
tượng này qua đối tượng khác, lo buồn
tiếc nuối (có thể là hối hận). Bị
loạn động và lo lắng quấy nhiễu, thiền
sinh không thể thiền quán được cũng như
con ong mải dao động và sợ sệt th́ không hút
được mật hoa. Để đối trị
loạn động, lo lắng nên đề khởi sự
an tịnh trong tâm thức, buông xả mọi cố
chấp.
5-
Nghi ngờ (vicikicchâ) : Phân vân lưỡng lự, không tin
tưởng ở đạo lư nói chung và hiệu quả
của thiền quán nói riêng. Nghi ngờ làm tê liệt
mọi cố gắng hướng thượng. Nếu
chưa chắc chắn rằng thiền quán sẽ
đưa đến giác ngộ giải thoát và c̣n phân vân:
không biết ḿnh có đủ khả năng thiền quán
không th́ khó mà tiến bộ được. Cũng như
người đứng bên bờ này, nếu cứ phân vân
không tin rằng ḿnh có đủ sức bơi sang bờ bên
kia th́ khó mà vượt qua được ḍng sông. Do đó,
khi nghi ngờ hiện khởi, hăy kiện toàn niềm tin.
Niềm tin có vững chắc th́ thiền quán mới có
kết quả.
Trong Tăng
chi bộ, V, 193, Phật ví dụ tham dục như là
nước lẫn với nhiều màu sắc; sân hận,
nước sùng sục sôi; hôn trầm thụy miên,
nước bị rong rêu bao phủ; loạn động lo
lắng, nước nổi sóng v́ gió; nghi ngờ,
nước bị khuấy động và có bùn.
Như
vậy, khi 5 trạng thái trên không c̣n th́ nước mới
trở lại trong trẻo yên lắng và có ánh trăng
hiện ra. Khi 5 triền cái bị diệt trừ, thiền
sinh không những được an vui mà c̣n có nhiều
thuận lợi trong việc thiền quán giống như
người
1) nhờ
làm việc không những có tiền trả nợ mà c̣n nuôi
được gia đ́nh và có thêm tài sản
2) nhờ uống thuốc, không những được
lành bệnh mà c̣n có thêm sức khỏe
3) ra khỏi ngục tù, không những được tự
do an vui, mà c̣n được tự do đi lại, sinh
hoạt thoải mái
4) qua khỏi sa mạc, không những yên ổn mà c̣n
khỏi bị mất mát tiền của.
Để
đạt đến quả vị giác ngộ giải
thoát, chúng ta không có con đường nào khác hơn là tu
dưỡng theo con đường Phật chỉ dạy
gồm 37 phẩm trợ đạo (bodhipakkhiya-dhamma):
1-
Bốn niệm xứ (Satipatthâna)
2- Bốn chánh cần (Padhâna)
3- Bốn như ư túc (Iddhi-pâda)
4- Năm căn (Indriya)
5- Năm lực (Bala)
5- Bảy giác chi (Bojjahanga)
6- Tám thánh đạo (Magga)
Trong 7 thành
phần của 37 phẩm trợ đạo này, thành phần
thứ nhất Bốn niệm xứ là căn bản
phải được thực hành trước hết,
nhất là đối với những thiền sinh với
mục đích giác ngộ giải thoát.
Bốn
niệm xứ được Phật dạy trong hai
bản kinh quan trọng: Kinh số 10 thuộc Trung bộ
(Majjahima Nikâya) và kinh số 22 thuộc Trường bộ
(Digha Nikâya). Kinh thứ hai, có tên là kinh Đại niệm
xứ (Mahâ-Satipatthana) dài hơn kinh thứ nhất v́ có thêm
phần bốn chân lư vi diệu, dài tất cả 15 trang.
Các phật tử theo Phật giáo Nguyên thủy (Theravâda)
không kể người xuất gia hay tại gia đều
thường tụng đọc và thực hành kinh này,
nhất là trong những ngày trai giới (uposatha). Ngay
những người không hiểu hết ư nghĩa của
kinh cũng chú tâm lắng nghe những lời Phật
dạy qua nội dung của kinh. Chư tăng nguyên
thủy thường tụng kinh Đại niệm xứ
này bên cạnh người sắp lâm chung với mục
đích giúp người gần chết nghe được
lời Phật dạy để tâm thức
được thanh tịnh. Mở đầu và kết
thúc kinh, Phật tuyên bố:
"
Đây là con đường duy nhất, này các thầy,
đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt
qua khỏi sự sầu năo, diệt trừ khổ ưu
thành tựu chánh trí, chứng ngộ đạt Niết bàn.
Đó là 4 Niệm xứ." (Trung bộ, 290, 315)
Nội dung bốn Niệm xứ là:
1-
Quán niệm về thân : Quán niệm hơi thở vô hơi
thở ra, về 4 cử động: đi, đứng,
nằm, ngồi; về 32 phần của thân như
thịt, xương, máu... phân tích 4 yếu tố:
đất, nước, gió, lửa và quán niệm thây
chết nơi nghĩa địa.
2- Quán niệm về thọ (vedanâ) :
quán niệm cảm giác, cảm t́nh vui buồn, không vui
buồn nơi thân và tâm, cảm giác có tham dục và cảm
giác không tham dục.
3- Quán niệm về tâm (citta) :
quán niệm tất cả trạng thái nơi tâm thức
hoặc có ham dục hay không, giận hờn hay không,
đần đừ hay không, giao động hay không, nghi
ngờ hay không.
4- Quán niệm về pháp : quán
niệm các triền cái, về sanh diệt của 5 uẩn,
sự sinh hoạt của tâm thức qua 12 xứ (ayatana),
về sinh diệt của các kiết sử (samyojana),
về sự hiện khởi của 7 yếu tố giác
ngộ (bojjahanga), về 4 chân lư vi diệu.
Bốn
niệm xứ này cần được tu tập một
cách dung thông mà không riêng lẻ, nhất là trong lúc vào
thiền (jhâna).
Bốn
niệm xứ là phương pháp duy nhất để
được giác ngộ giải thoát cần phải
được tu tập trong mọi thời gian và mọi
hoàn cảnh, nghĩa là trong cuộc sống hằng ngày,
nhất là cuộc sống của những người
xuất gia. Chúng ta không thể nào t́m ra một phương
pháp nào khác hơn hay dễ hơn mà phù hợp với
Phật pháp và có thể đưa đến giác ngộ
giải thoát. (Muốn hiểu rơ hơn về 4 Niệm
xứ hăy đọc hai kinh trên trong bản dịch từ
Pali ra Việt văn của Ḥa thượng Thích Minh Châu.)
Phương
pháp tổng hợp :
Ngoài hai kinh
trên, c̣n có hai kinh khác: kinh số 118 tên là "Quán niệm
hơi thở vô hơi thở ra" (Anâpânasatisuttam) và kinh
số 62 tên là "Kinh Đại Giáo Giới
La-Hầu-La" (Mahâ-Rahulovâdasuttam) đều thuộc Trung
bộ (Majjhimanikâya), trong đó Phật dạy phương
pháp tổng hợp: vừa quán niệm hơi thở vào ra
vừa quán niệm 4 Niệm xứ. Chính Phật cũng tu
tập phương pháp này mà thành tựu đạo
quả.
Phương
pháp đặc biệt này rất thuận lợi cho
người muốn ngồi tu thiền quán trong thời
gian nhất định như kinh nói:
"
Ở đây, này các Tỳ kheo, tỳ kheo đi đến
khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến
ngôi nhà trống và ngồi kiết già, lưng thẳng và trú
niệm trước mặt. Chánh niệm vị ấy
thở vô; chánh niệm vị ấy thở ra." (Trung
bộ, 221).
Quá tŕnh của phương pháp là tu tập 16 chủ
đề trong 4 nhóm:
1-
Quán niệm thân
2- Quán niệm thọ
3- Quán niệm tâm
4- Quán niệm pháp
Do đó
thiền sinh, tùy theo căn tánh và tŕnh độ, có thể
theo thứ lớp hay không, tu tập theo 16 chủ
đề sau đây:
I
1-
Thở vô dài, vị ấy biết: Tôi thở vô dài
Thở ra dài,
vị ấy biết: Tôi thở ra dài
2- Thở vô ngắn, vị ấy
biết: Tôi thở vô ngắn
Thở ra
ngắn, vị ấy biết: Tôi thở ra ngắn
3- Cảm giác toàn thân, tôi
thở vô
Cảm giác
toàn thân, tôi thở ra
4- An tịnh thân hành, tôi
thở vô
An tịnh
thân hành, tôi thở ra
II
5-
Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô
Cảm giác
hỷ thọ, tôi thở ra
6- Cảm giác lạc
thọ, tôi thở vô
Cảm giác
lạc thọ, tôi thở ra
7- Cảm giác tâm hành, tôi
thở vô
Cảm giác
tâm hành, tôi thở ra
8- An tịnh tâm hành, tôi
thở vô
An tịnh tâm
hành, tôi thở ra
III
9-
Cảm giác tâm, tôi thở vô
Cảm giác
tâm, tôi thở ra
10- Với tâm hân hoan, tôi thở vô
Với tâm hân
hoan, tôi thở ra
11- Với tâm thiền định,
tôi thở vô
Với tâm
thiền định, tôi thở ra
12- Với tâm giải thoát, tôi
thở vô
Với tâm
giải thoát, tôi thở ra
IV
13-
Quán niệm vô thường, tôi thở vô
Quán niệm
vô thường, tôi thở ra
14- Quán niệm ly dục, tôi thở
vô
Quán niệm
ly dục, tôi thở ra
15- Quán niệm khổ diệt, tôi
thở vô
Quán niệm
khổ diệt, tôi thở ra
16- Quán niệm xả ly, tôi thở
vô
Quán niệm
xả ly, tôi thở ra.
Về
đặc điểm của phương pháp nầy th́:
-Nhóm
I đưa đến tịnh chỉ (samatha)
-Nhóm II đưa vào ngưỡng
cửa tuệ quán
-Nhóm III phát triển tuệ quán
-Nhóm IV thành tựu tuệ quán
(vipassana)
Như
vậy phương pháp trên có mục đích phát triển
tịnh chỉ mà chức năng là diệt trừ
triền cái và dẫn tới chánh định (samadhi) và
tuệ quán mà chức năng là đưa đến chánh
kiến (sammaditthi) và chánh tư duy (sammasankappa) và sau hết
là đưa đến bốn đạo quả Niết
bàn.
Phương
pháp thiền định do Phật truyền dạy khác
hẳn với các phương pháp thiền định
của ngoại đạo. Ngày nay người ta
thường nhắc đến phương pháp
"kiềm chế hơi thở" (prânâyâma) của
Hathayoga. Đây là phương pháp rất xưa
thường được các ẩn sĩ Ấn
độ tu tập. Trong kinh Mahâsaccaka (Mn, I, 243), Phật có
nhắc đến phương pháp này với danh từ
"thiền không thở" (appânaka jhâna). Chính Phật có
tu tập trước khi giác ngộ và nhận thấy nguy
hại của nó - thân thể đau đớn và không
dẫn đến giác ngộ. Do đó Phật từ
bỏ và trở lại tu tập phương pháp mà
Phật đă thực hành lúc c̣n bé, khi ngồi dưới
gốc cây Jambu xem vua cha cày ruộng trong ngày lễ khai mùa,
và chứng được sơ thiền. Kinh nghiệm về
phương pháp trên như Phật cho biết :
"Các
thầy, ta bèn thường tu tập phương pháp quán
niệm hơi thở này trong hầu hết thời
giờ của ta. Và nhờ sống trong tu tập
phương pháp này mà thân thể và đôi mắt ta không
hề mệt nhọc; nhờ kết quả ấy mà tâm ta
giải thoát các lậu hoặc." (Sn, V, 317)
hay :
"Các
thầy, phương pháp quán niệm hơi thở, nếu
được tu tập, dẫn đến b́nh an, cao
cả, ngọt ngào, hoan hỷ ; nó làm tiêu mất các tư
tưởng xấu ác và làm tâm ư an tịnh." (Mn, III, 82 ;
Sn, V, 321-322 ; Vin, III, 70).
Hai
đoạn kinh trên diễn tả những nét đặc
thù của phương pháp "quán niệm hơi thở
". Nó cũng khác hẳn với các phương pháp
thiền định khác do chính Phật truyền dạy
như 10 đề mục bất tịnh, bất tịnh
nơi thân thể.v.v. . .
Các phương pháp thiền định khác, dù rất sâu
sắc và có khả năng điều trị tham dục
song đồng thời gây nên sự nhàm chán, ghê tởm
nơi thiền sinh và có thể đưa đến tự
hủy diệt đau đớn, trong khi đó
phương pháp quán niệm hơi thở làm cho thiền
sinh cảm thấy mát mẻ, khỏe khoắn, trầm tĩnh,
không giao động. Ngay từ khi mới tu tập,
thiền sinh cả thân và tâm được b́nh an, tĩnh
lặng, phiền năo tan biến, tuệ quán phát triển
một cách dễ dàng và cuối cùng là chứng đạt
an lành trọn vẹn của Niết bàn.
Phương
pháp thiền định chú ư hơi thở gồm 16
chủ đề, chia làm 4 phần, mỗi phần gồm
4 chủ đề. Phần 1 là phần mở đầu
của thiền quán, cần thiết và thích hợp cho
người mới tu thiền. Trong khi đó 3 phần sau
nhằm phát triển tuệ quán. Mục đích của
phần một là xây dựng sự chú ư để làm
căn bản cho sự phát triển trí tuệ. Bốn
phần của toàn bộ phương pháp bao gồm
tuần tự 4 niệm xứ : thân, thọ, tâm và pháp.
Phần 1 có thể dẫn đến chứng
đạt 4 bậc thiền. Và sau đó, bằng phát
triển tuệ quán có thể chứng đạt A la hán
với 4 vô ngại trí (Patisambhidâ) : hiểu nghĩa,
hiểu đạo, hiểu tiếng và biện tài.
Phần một
Như trong
phần chuẩn bị đă nói, thiền sinh nên sắm
sửa hành trang cho cuộc đi xa, với đời
sống giản dị, lành mạnh, nơi chốn tu
tập thích hợp, dụng cụ và tư thế ngồi
thiền đúng đắn, rồi bắt đầu
thực tập phương pháp " Quán niệm hơi
thở ".
.
Chủ đề 1
1-
Hít vô dài, vị ấy biết :" Tôi thở vô dài "
Thở ra dài, vị
ấy biết :" Tôi thở ra dài "
2- Hít vô ngắn, vị ấy
biết :" Tôi hít vô ngắn"
Thở ra ngắn, vị ấy
biết :" Tôi thở ra ngắn"
Trong
thực tập phương pháp "Quán niệm hơi
thở", có hai hoạt động khác nhau về hơi
thở : hít vô và thở ra. Sự biết rơ và phân biệt
này dẫn thiền sinh đến sự chú ư. Theo Patisambhidâmagga,
I, 177, có 9 cách hít vô và thở ra mà thiền sinh biết rơ ḿnh
đang làm như vậy.
1. Hít vô dài
2. Thở ra dài
3. Hít vô dài, thở ra dài, mỗi hơi thở choán một
khoảng thời gian.
Thực
tập như thế, thiền sinh cảm thấy hơi
thở dần dần trở nên an ḥa ; rồi sự ưa
thích tiếp tục khởi lên. Như thế, với
sự ưa thích, thiền sinh :
4. Hít vô dài
5. Thở ra dài
6. Hít vô và thở ra dài
và hơi
thở trở nên an ḥa hơn trước. Trong giai
đoạn này, thiền sinh trở nên hoan hỷ; với
tâm ư hoan hỷ, thiền sinh :
7. Hít vô dài
8. Thở ra dài
9. Hít vô dài và thở ra dài
và tâm ư
trở nên an ḥa một cách tuyệt đối. Tâm ư
thiền sinh lúc này không c̣n có quán niệm về hơi
thở dài nữa và như vậy được thanh
thản tự tại. Trong giai đoạn này, hơi
thở trở nên nhẹ nhàng vi tế; do đó không c̣n
thấy có hơi thở thô tháo như lúc mới bắt
đầu. Hơi thở dài gồm 9 cách như trên gọi
là Thân (kâya) ; sự hiểu rơ 9 cách trên gọi là Niệm
(sati) ; quán chiếu về tính chất vô thường, vô ngă
của hơi thở là trí tuệ. Thiền sinh chứng
đạt trí tuệ trong thực tập về 9 cách này là
thành tựu được phương pháp Niệm thân
gồm cả Niệm tức (anâpânasati) của
phương pháp bốn niệm xứ (satipatthana).
.
Chủ đề 2
Thực
tập chủ đề 2 về hơi thở ngắn
cũng gồm có 9 cách như đă giải thích ở trên.
Sự sai khác đối với chủ đề 1 là
hơi thở nhẹ nhàng vi tế hơn. Bởi v́ hơi
thở ngắn chỉ choán một khoảng thời gian
ngắn tương ứng với điều kiện thân
thể của thiền sinh.
Như
vậy thiền sinh có thể xây dựng sự chú ư theo 2
chủ đề và mỗi chủ đề gồm 9 cách
thở khác nhau. Thiền sinh chứng các thiền vị
nhờ phương pháp thiền định và đạt
tuệ quán nhờ phương pháp niệm xứ. Tất
cả kết quả này đều dựa trên 4 hoạt động
(2 hít vô dài ngắn, 2 thở ra dài ngắn) thuộc về
yếu tố không khí (không đại), diễn biến trên
đầu mũi trong h́nh thức hơi thở vô ra dài ngắn.
.
Chủ đề 3
"Cảm
giác toàn thân (hơi thở) , tôi hít vô
Cảm giác toàn thân (hơi
thở), tôi thở ra."
Chủ
đề thực tập này khó hơn hai chủ đề
trước. - đây thiền sinh phải thực tập
ba điều :
1. Chú ư
hơi thở khi hít vô và thở ra
2. Phân biệt 3 giai đoạn nơi hơi thở ;
đầu, giữa và cuối
3. Tu luyện tâm ư
Trong
trường hợp chú ư luồng hơi hít vô th́ nơi
đầu mũi là đầu, tim là giữa và lỗ
rốn là cuối. Khi chú ư luồng hơi thở ra th́
lỗ rốn là đầu, tim là giữa và đầu
mũi là cuối.
Chú ư như thế, thiền sinh hít vô và thở ra trong lúc tâm
ư liên hệ với sự hiểu biết dựa trên
cảm giác về toàn bộ hơi thở. Do đó chủ
đề ba này được diễn tả trong nghĩa
tinh thần :
"Cảm
giác toàn thân (hơi thở), tôi hít vô
Cảm giác toàn thân (hơi thở),
tôi thở ra"
Sở
dĩ đồng bộ hơi thở được
gọi là Thân v́ nó là một thành phần thuộc những
yếu tố cấu tạo thân thể. Với một
số người, bắt đầu của toàn thân
hơi thở tỏa ra trong những hạt nhỏ
được nhận thấy rơ ràng nhưng khoảng
giữa và phần cuối th́ lại không. Với một
số người khác, khoảng giữa hơi thở
được nhận thấy rơ ràng nhưng bắt
đầu và phần cuối th́ lại không. Với
một số người khác nữa, phần cuối
hơi thở được nhận thấy rơ ràng,
nhưng bắt đầu và khoảng giữa th́ lại
không. Với một số ít người, cả ba phần
đều được nhận thấy rơ ràng và không
nhầm lẫn.
Tuy nhiên
bất cứ thiền sinh nào cũng mong muốn và cố
gắng thành tựu hoàn toàn chủ đề thực
tập này.
.
Chủ đề 4
"
An tịnh thân hành, tôi hít vô
An tịnh thân hành, tôi thở
ra."
Nhờ
thực tập chủ đề IV này, thiền sinh
tiến tới giai đoạn cuối cùng của chánh định.
Trong giai đoạn này thiền sinh thực nghiệm
đầy đủ sự an tịnh nơi thân thể và
do đó chứng đạt đầy đủ chánh
định (sự an tịnh hoàn toàn nơi thân thể luôn
luôn dẫn đến an vui và do đó tâm ư chứng
được chánh định).
Trong
thực tế, động tác vô ra nơi hơi thở tuy
được điều khiển bởi tâm ư song không
thể hiện hữu nếu không có thân thể cũng
như động tác lên xuống của gió trong ống
bễ là do cả người thợ lẫn ống bễ
mà có. V́ thế, mặc dù động tác hơi thở
được điều khiển bởi tâm ư song vẫn
được gọi là thân hành điều này có nghĩa
là đồng bộ thân thể hay là nhân tố thuộc
về thân thể.
Khi thân
thể nặng nề, tâm ư sầu năo hay không
được chế ngự th́ thân hành trở nên thô tháo,
trầm trệ và hơi thở trở nên gấp rút,
hổn hển đến nỗi mũi không đủ
để thở ra và người ta phải thở thêm
bằng miệng. Trái lại, khi thân thể nhẹ nhàng, tâm
ư an vui hay được chế ngự th́ hơi thở
trở nên an tịnh, vi tế và người ta có thể
nhận thấy rơ ràng động tác của nó.
Khi
người ta chạy mau, mang nặng hoặc có những
động tác quá mạnh th́ hơi thở trở nên thô
tháo. Song khi thân thể được nghỉ ngơi,
thư thái th́ hơi thở trở nên an tịnh, vi tế.
Nói cách khác, nhờ tu tập thiền định, thân
thể trước kia thô tháo nay an tịnh và hơi thở
hổn hển lần lần được điều
ḥa. Trong giai đoạn đầu, hơi thở
điều ḥa làm cho thân thể thư thái, bộ năo an
tịnh và hoạt động một cách êm ái. Lần
lần thiền sinh chế ngự được hơi
thở bằng cách không cần thiết phải lấp
đầy khoảng trống của hai lỗ mũi
với khối lượng lớn không khí. Thiền sinh hít
vô thở ra với ư niệm giảm bớt sự thô tháo nơi
hơi thở và cố gắng giữ đều
đặn nhịp thở cho đến lúc chứng
được thiền vị. Sự thật, hơi
thở vốn do tâm ư điều khiển cho nên trạng
thái hoạt động của nó tùy thuộc tâm trạng
trong thời điểm nào đó : hơi thở thô tháo khi
tâm ư loạn động và hơi thở nhẹ nhàng khi tâm
ư an tịnh. Khi thiền sinh chứng được
thiền vị th́ tâm ư trở nên an tịnh và hơi
thở trở nên vi tế hơn trong các thiền vị
kế tiếp quá tŕnh tu của bốn bậc thiền :
sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và khi chứng
được tứ thiền th́ thân hành của hơi
thở vô ra không hoạt động nữa.
Theo Thanh
tịnh đạo luận (Vism, 283) th́ có 8 trạng thái
ở trong đó không có hơi thở : 1. Trong thai
mẹ, 2. Khi chết đắm dưới
nước, 3. Trong loài hữu t́nh vô thức, 4. Khi
chết, 5. Trong lúc tu thiền, 6. Trong cơi trời Vô
tưởng, 7.Trong cơi trời Vô sắc, 8.Trong Diệt
tận định (chứng đạt sự diệt
tận hết cảm thọ và nhận thức).
Như
vậy, hơi thở thuộc thành phần thân thể thô
tháo trước khi tu tập thiền định lần
lần được điều ḥa bắt đầu
từ sơ thiền và trở nên hoàn toàn an tịnh khi
chứng được tứ thiền.
Trong
trường hợp thiền sinh tu theo phương pháp
Tuệ quán (Vipassanâ) th́ hơi thở thuộc thành phần
thân thể trước khi tu tập một chủ
đề tuệ quán là thô tháo. Song trải qua quá tŕnh phát
triển tuệ quán hơi thở trở nên vi tế và an
tịnh. Khi tâm ư chứng đạt đầy đủ
tuệ giác và thông ngộ ba pháp ấn (khổ, vô
thường, vô ngă) th́ lúc bây giờ hơi thở tiến
vào giai đoạn cuối cùng của an tịnh và tâm ư
chứng đạt đầy đủ chánh định
về chủ đề quán niệm hơi thở.
Như
thế là trong cả hai trường hợp: trường
hợp tu tập quán niệm hơi thở và chứng
được tứ thiền ; trường hợp tu
tập chủ đề tuệ quán và thông ngộ ba pháp
ấn, hơi thở thuộc thân hành hoàn toàn an tịnh.
Đó là mục tiêu mà thiền định mong đạt
được khi tu tập chủ đề quán niệm
hơi thở. V́ thế mà chủ đề IV được
diễn tả :
"An
tịnh thân hành, tôi hít vô
An tịnh thân hành, tôi thở
ra."
Phần hai
Phần hai
cũng gồm 4 chủ đề với phương pháp
phát triển "quán niệm hơi thở" để
tiến tới "tuệ quán" tức là thọ
niệm xứ gồm cả định và tuệ.
.
Chủ đề 5
"Cảm
giác hỷ, tôi hít vô
Cảm giác hỷ, tôi thở
ra."
Chủ
đề hành thiền này và những thiền đề
tiếp theo thuộc hệ thống thiền quán có chủ
đề v́ chúng liên hệ với quá tŕnh tâm lư của
những người đă chứng đạt các bậc
thiền nhờ sự tu tập trước kia.
Có hai cách
diễn tả về "cảm giác hỷ" trong khi
thiền sinh chứng đạt định tâm bằng
phương pháp "quán niệm hơi thở". Thứ
nhất, khi thể nhập thiền vị thứ nhất
và bậc thiền thứ hai, thiền sinh cảm giác
hỷ nhờ thành tựu trong sự chứng đạt
đầy đủ các thiền đề (chủ
đề hành thiền). Thứ hai, vượt lên từ
hai bậc thiền đầu (I và II) mà trong ấy hỷ
có mặt, thiền sinh chú ư hỷ vốn liên hệ với
các thiền vị và nhận thức rằng hỷ là vô thường.
Ngay trong lúc thông hiểu tính chất vô thường của
hỷ nhờ tuệ quán, thiền sinh cảm giác hỷ
một cách không lầm lộn.
Về quán
điểm này Patisambhidâ, I, 187 diễn tả như sau : " Do hít vô dài, thiền sinh chứng
đạt định tâm và nhận thức rằng tâm ư
đang hướng về một điểm. Do hiểu
biết và định tâm ấy mà hỷ phát khởi. Do
thở ra dài. . . hỷ phát khởi. Do hít vô ngắn và
thở ra ngắn. . ., do hít vô, thở ra và cảm giác toàn
thân. . ., an tịnh thân hành. . . mà hỷ phát khởi."
Như
vậy thiền sinh cảm giác hỷ và toàn thân thấm
nhuần hỷ suốt quá tŕnh hành thiền qua những giai
đoạn : quán niệm, cảm giác, minh sát, tin
tưởng, tinh tấn, chú ư, định tâm. . . V́ thế
mà chủ đề diễn tả :
"Cảm
giác hỷ, tôi hít vô
Cảm giác hỷ, tôi thở
ra."
.
Chủ đề 6
"Cảm
giác lạc, tôi hít vô
Cảm giác lạc, tôi thở
ra."
Thiền
đề này vốn liên hệ với ba thiền vị
đầu (I, II, III) trong đó thiền sinh cảm giác lạc
phát xuất từ đối tượng của quán
niệm hơi thở và nơi sự nhận thức rơ
rệt của tâm ư. Về chi tiết, chủ đề này
không khác chủ đề trên.
.
Chủ đề 7
"Cảm
giác tâm hành, tôi hít vô
Cảm giác tâm hành, tôi thở
ra."
Với
thiền đề này, thiền sinh nhận thức
đầy đủ tâm hành vốn liên hệ với các
thiền vị. Danh từ tâm hành ở đây áp dụng cho
hai uẩn : thọ (lạc, khổ và trung tính),
tưởng (nhận thức đối tượng qua 6
giác quán).
.
Chủ đề 8
"An
tịnh tâm hành, tôi hít vô
An tịnh tâm hành, tôi thở
ra."
Với
thiền đề này, thiền sinh tu luyện nhằm làm
cho các yếu tố tâm lư trở nên an tịnh và tinh
tế. Các yếu tố tâm lư vốn quấn chặt
thọ và tưởng trong khi thọ và tưởng lại
liên hệ hỷ, lạc. Tuy nhiên, lạc lại hệ
thuộc thọ và có khả năng ràng buộc thiền
sinh trong các thiền vị và làm trở ngại cho thiền
sinh trong sự chứng đạt cao hơn. Do đó, các
yếu tố tâm lư hệ thuộc thọ là những t́nh
cảm mà tính chất là thô kệch thấp kém. V́ thế
thiền sinh phải nhận thức tính chất của
chúng là vô thường và phát triển tuệ quán và như
vậy vượt khỏi những cảm giác cảm t́nh
vui thích tầm thường trong các thiền vị. V́
thế chủ đề diễn tả :
"
An tịnh tâm hành, tôi hít vô
An tịnh tâm hành, tôi thở
ra."
Bốn thiền đề trên
được phát triển trong tŕnh tự của Thọ
niệm xứ. Và v́ thế chúng thuộc phần hai của
Bốn niệm xứ.
Phần ba
Phần ba
gồm 4 thiền đề thuộc phần III trong
Bốn niệm xứ, tức là quán niệm về tâm.
.
Chủ đề 9
"Cảm
giác tâm, tôi hít vô
Cảm giác tâm, tôi thở
ra."
Khi đă
chứng đạt các thiền vị, thiền sinh quán
niệm tính chất vô thường của tâm ư trong mỗi
thiền vị và nhận thức rằng tâm ư vốn thay
đổi trong từng giây từng phút. Với tư duy
này, thiền sinh hít vô và thở ra.
.
Chủ đề 10
"Với
tâm hân hoan, tôi hít vô
Với tâm hân hoan, tôi thở
ra."
Trong khi tu
luyện thiền đề này, thiền sinh hít vô, thở
ra với sự vui vẻ, sung sướng và thanh thoát. Trong
giai đoạn này, hân hoan phát khởi bằng hai cách :
1. Thiền
sinh thể nhập hai thiền vị đầu (I, II) trong
đó có hỷ. Trong lúc chứng đạt hai thiền
vị này, thiền sinh với hỷ, vui vẻ, sung
sướng trong tâm
2.
Vượt lên từ mỗi thiền vị, thiền sinh
quán niệm tính chất vô thường của hỷ
vốn liên hệ các thiền vị. Như vậy ngay trong
lúc quán niệm, thiền sinh xem hỷ như là đối
tượng của tâm ư và vui vẻ, sung sướng
với tâm ư. V́ thế chủ đề diễn tả :
"
Với tâm hân hoan, tôi hít vô
Với tâm hân hoan, tôi thở
ra."
.
Chủ đề 11
"
Với tâm thiền định, tôi hít vô
Với tâm thiền định,
tôi thở ra."
Trong lúc tu
luyện thiền đề này, tâm ư thiền sinh cần
phải chú ư vào đối tượng (hơi thở)
bằng phương tiện của thiền bậc
nhất, thiền bậc hai. . . Thể nhập thiền
bậc thấp rồi tiến lên thiền bậc cao
hơn, thiền sinh quán niệm tính chất thay đổi
của tâm ư liên hệ với các thiền vị. Trong quá
tŕnh tiến lên của thiền quán có lúc tâm ư
được chú định do sự nhận thức tính
chất vô thường nơi tâm ư. Bằng phương
thức này, thiền sinh chú tâm trong khi quán niệm hơi
thở. V́ thế chủ đề diễn tả :
"Với
tâm thiền định, tôi hít vô
Với tâm thiền định,
tôi thở ra."
.
Chủ đề 12
"Với
tâm giải thoát, tôi hít vô
Với tâm giải thoát, tôi
thở ra."
Thiền
đề này có nghĩa là thiền sinh trong khi tu luyện
nhằm cởi mở tâm ư ra khỏi mọi sự ràng
buộc. Trong bậc thiền thứ nhất, thiền sinh
cởi mở được những triền cái ngăn
che (tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo
hối, nghi ngờ) ; trong bậc thiền thứ hai,
thiền sinh cởi mở được tầm và tứ
; trong bậc thiền thứ ba, thiền sinh cởi mở
được hỷ ; và trong bậc thiền thứ
tư, thiền sinh cởi mở được lạc và
khổ. Thể nhập các thiền vị thấp rồi
tiến lên các thiền vị cao, thiền sinh quán niệm
tâm ư vốn liên hệ các thiền vị và nhận thức
rằng tâm ư là vô thường. Ngay trong khi thiền quán,
thiền sinh hít vô, thở ra, thiền sinh cởi mở
khỏi tâm ư những kiến chấp thường c̣n
bằng quán niệm vô thường, lạc bằng quán
niệm khổ, ngă bằng quán niệm vô ngă, tịnh
bằng quán niệm bất tịnh, luyến ái bằng quán
niệm từ bỏ, nguồn gốc sống chết
bằng quán niệm khổ diệt, cố chấp bằng
cách xả ly. V́ thế chủ đề diễn tả :
"Với
tâm giải thoát, tôi hít vô
Với tâm giải thoát, tôi
thở ra."
Trên đây là 4 thiền đề nhằm quán
niệm tâm, thuộc về phần ba của Niệm
xứ.
Phần bốn
Phần
bốn cũng là phần chót của phương pháp quán
niệm hơi thở gồm bốn chủ đề
thuộc phần IV quán pháp trong 4 Niệm xứ :
.
Chủ đề 13
"Quán
niệm vô thường, tôi hít vô
Quán niệm vô thường, tôi
thở ra."
Chủ
đề này liên hệ đạo lư vô thường. Vô
thường là tính chất thiên nhiên của 5 uẩn, sanh
diệt và đổi thay nơi con người, cả thân
thể lẫn tâm thức. Thiền sinh vừa hít vô thở
ra vừa quán niệm mỗi uẩn (sắc thân, cảm
giác, nhận thức, ư chí, hiểu biết) là vô
thường.
.
Chủ đề 14
"
Quán niệm ly dục, tôi hít vô
Quán niệm ly dục, tôi
thở ra."
Ly dục có
hai nghĩa :
- Giải thoát mọi ràng buộc do tham đắm cuộc
đời giả dối, mong manh.
- Giải thoát hoàn toàn là Niết bàn. Xa ĺa tham dục là
điều kiện tất yếu dẫn đến
giải thoát hoàn toàn. Thiền sinh vừa hít vô thở ra
vừa quán niệm ly dục với hai nghĩa trên.
.
Chủ đề 15
"Quán
niệm khổ diệt, tôi hít vô
Quán niệm khổ diệt, tôi thở ra."
Có hai
loại khổ diệt : khổ diệt giai đoạn,
chỉ cho sự trừ bỏ lần lần các lậu
hoặc trong những thiền cảnh khác nhau, khổ
diệt vĩnh viễn chỉ cho sự tiêu diệt hoàn
toàn khổ đau trong khi đạt được mục
đích cuối cùng (Niết bàn). Thiền sinh vừa hít vô
thở ra vừa quán niệm hai loại khổ diệt
trên.
.
Chủ đề 16
"Quán
niệm xả ly, tôi hít vô
Quán niệm xả ly, tôi thở
ra."
Xả ly
trong chủ đề cuối cùng này được áp
dụng trong tuệ quán và chánh đạo với hai ư
nghĩa : trừ bỏ và vượt qua.
Trong tuệ
quán, theo quá tŕnh phát triển lần lần, thiền sinh
trừ bỏ những tâm ư nhiễm ô do nhận
thức lầm lạc gây nên bởi chấp
trước các pháp hữu vi, thiền sinh hướng tâm
đến Niết bàn và do đó vượt qua những
giai đoạn tu chứng thấp kém và những chấp
trước vốn là những trở ngại cho sự
chứng đạt Niết bàn.
Chánh
đạo là c̣n đường đưa đến
nơi cao cả, v́ thế cũng đưa đến
sự trừ bỏ các lậu hoặc và sự
hướng tâm đến Niết bàn ; xả ly trong chánh
đạo là sự vượt qua tất cả những
điều kiện thuộc thế gian. Như thế,
xả ly có hai nghĩa : trừ bỏ và vượt qua. Tu
tập chủ đề này, thiền sinh vừa hít vô
thở ra vừa quán niệm xả ly với hai nghĩa
trên.
Phần
bốn của phương pháp quán niệm hơi thở
này thuộc tuệ quán trong khi đó ba phần trên thuộc
cả định tâm lẫn tuệ quán.
Như
vậy, phương pháp quán niệm hơi thở gồm 4
phần, 16 chủ đề, mỗi phần liên hệ
với 1 phần trong Bốn niệm xứ, mỗi
niệm xứ được khai triển trở thành
một hệ thống độc lập về thiền
định Phật giáo, là phương pháp tu hành chủ
yếu có khả năng đưa đến giác ngộ
giải thoát. Với ư nghĩa này, phương pháp quán
niệm hơi thở quả là phương pháp căn
bản cho giác ngộ giải thoát. Điều này
được Phật minh xác trong đoạn kinh sau
đây :
"
Các Tỳ kheo, phương pháp thiền định và quán
niệm hơi thở là cho 4 niệm xứ được
thành tựu. Khi 4 niệm xứ phát triển th́ bảy giác
chi được thành tựu. Khi bảy giác chi
được thành tựu th́ giác ngộ giải thoát
được thành tựu." (Mn, III, 82)
Hơn
nữa, ai có tu tập phương pháp thiền định
này th́ biết rơ sự dừng nghỉ của những
hơi thở cuối cùng như Phật nói rơ trong
đoạn kinh sau đây :
"
Rahula, khi quán niệm hơi thở phát triển theo cách
thức này th́ những hơi thở cuối cùng
được biết khi chúng dừng nghỉ chứ chúng
không dừng nghỉ một cách không hay biết." (Mn, I,
425).
Điều
này có nghĩa là những người tu tập phương
pháp quán niệm hơi thở, lúc chết, hay biết
sự dừng nghỉ của hơi thở cuối cùng ;
do đó có thể chết một cách tự tại trong
tư thế nằm, ngồi hoặc đi tùy theo ư
muốn. Tuệ Trung Thượng Sĩ chết rồi
lại ngồi dậy khuyên dạy thân quyến, rửa
tay, uống trà rồi lại viên tịch trong tư thế
nằm một cách yên lặng ; Điều Ngự Giác Hoàng
Trần Nhân Tông, sau khi dạy bảo đệ tử, viên
tịch theo tư thế ngồi của sư tử ;
một đại đức ở chùa Cittalapabatta (Srilanka)
viên tịch trong lúc đi kinh hành nơi hành lang tu viện.
Những
thiền sinh tu tập phương pháp quán niệm hơi
thở một cách đúng đắn chắc chắn thành
tựu được nhiều lợi ích tức khắc
như sức khỏe, quân b́nh... dứt bỏ
được các giây ràng buộc và chứng đạt bốn
thiền vị căn bản để hướng
đến Niết bàn giải thoát an lạc trong quả
vị A la hán và nếu muốn có thể thực hiện
giác ngộ hoàn toàn, bằng cách thành tựu sung măn bảy
giác chi, trong quả vị Phật đà.
---o0o---
Chân thành cảm ơn Cư sĩ Nguyên
Đạo đă gởi tặng phiên bản điện
tử tập sách này.
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)
---o0o---
| Thư mục Tác
Giả |
Cập nhật : 01-02-2002